100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX

Chia sẻ: Dao Huy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:112

0
1.580
lượt xem
1.041
download

100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu 100 bài thơ hay nhất thế kỷ 20, của nhiều tác giả nổi tiếng của Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX

  1. 100 BÀI THƠ HAY NHẤT THẾ KỶ XX M ục Lục 1. Nguyên tiêu - Hồ Chí Minh 2. Ngày hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc 3. Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính 4. Tạm biệt Huế - Thu Bồn 5. Vào chùa - Đồng Đức Bốn 6. Sư đoàn - Phạm Ngọc Cảnh 7. Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc - Văn Cao 8. Núi đôi - Vũ Cao 9. Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm 10. Tràng Giang - Huy Cận 11. Dọn về làng - Nông Quốc Chấn 12. Quê hương - Nguyễn Bá Chung 13. Say đi em - Vũ Hoàng Chương 14. Miền trung - Hoàng Trần Cương 15. Đường về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ 16. Anh đừng khen em - Lâm Thị Mỹ Dạ 17. Nguyệt cầm - Xuân Diệu
  2. 18. Cô bộ đội ấy đã đi rồi - Phạm Tiến Duật 19. Tây tiến - Quang Dũng 20. Lên Côn Sơn - Khương Hữu Dụng 21. Đò lèn - Nguyễn Duy 22. Chiều - Hồ Dzếnh 23. Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà 24. Cha tôi - Lê Đạt 25. Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm 26. Núi Mường Hung dòng sông Mã - Cầm Giang 27. Mắt buồn - Bùi Giáng 28. Hai sắc hoa Tigon - TTKH 29. Đọc thơ Ức Trai - Sóng Hồng 30. Bài thơ tình ở Hàng Châu - Tế Hanh 31. Trở về quê nội - Ca Lê Hiến 32. Đêm mưa - Hoàn 33. Những đứa trẻ chơi trước cửa đền - Thi Hoàng 34. Cửu Long giang ta ơi - Nguyên Hồng 35. Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ 36. Nỗi niềm Thị Nở - Quang Huy 37. Đường khuya trở bước - Đinh Hùng 38. Người về - Hoàng Hưng 39. Đồng chí - Chính Hữu
  3. 40. Khi con Tu hú - Tố Hữu 41. Lên Cấm Sơn - Thôi Hữu 42. Lời nói dối nhân ái - Trang Thế Hy 43. Gánh nước đêm - Á Nam Trần Tuấn Khải 44. Tỳ Bà - Bích Khê 45. Gửi Bác Trần Nhuận Minh - Trần Đăng Khoa 46. Thu điếu - Nguyễn Khuyến 47. Bến Mi Lăng - Yến Lan 48. Tháp Chàm - Văn Lê 49. Ông đồ - Vũ Đình Liên 50. Đèo cả - Hữu Loan 51. Viếng bạn - Hoàng Lộc 52. Tiếng thu - Lưu Trọng Lư 53. Nhớ rừng - Thế Lữ 54. Một vị tướng về hưu - Nguyễn Đức Mậu 55. Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây 56. Dặn con - Trần Nhuận Minh 57. Hội Lim - Vũ Đình Minh 58. Khóc người vợ hiền - Tú Mỡ 59. Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ 60. Quê hương - Giang Nam 61. Thị Màu - Anh Ngọc
  4. 62. Nhớ - Hồng Nguyên 63. Trời và Đất - Phan Thị Thanh Nhàn 64. Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi 65. Nhớ máu - Trần Mai Ninh 66. Mẹ - Nguyễn Ngọc Oánh 67. Bông và Mây - Ngô Văn Phú 68. Muôn vàn tình thương yêu trùm lên khắp quê hương - Việt Phương 69. Đợi - Vũ Quần Phương 70. Tên làng - Y Phương 71. Lời mẹ dặn - Phùng Quán 72. Có khi nào - Bùi Văn Quốc 73. Tự hát - Xuân Quỳnh 74. Áo lụa Hà Đông - Nguyên Sa 75. Bài thơ của một người yêu nước - Trần Vàng Sao 76. Người đẹp - Lò Ngân Sủi 77. Đồng dao cho người lớn - Nguyễn Trọng Tạo 78. Tống biệt hành - Thâm Tâm 79. Dấu chân qua trảng cỏ - Thanh Thảo 80. Đất nước - Nguyễn Đình Thi 81. Những người đàn bà gánh nước sông - Nguyễn Quang Thiều 82. Nghe tiếng cuốc kêu - Hữu Thỉnh
  5. 83. Bao giờ trở lại - Hoàng Trung Thông 84. Bờ sông vẫn gió - Trúc Thông 85. Bến đò ngày mưa - Anh Thơ 86. Thăm lúa - Trần Hữu Thung 87. Cổ lũy cô thôn - Phạm Thiên Thư 88. Nói sao cho vợi - Thu Trang 89. Mưa đêm lều vó - Trần Huyền Trân 90. Bên mộ cụ Nguyễn Du - Vương Trọng 91. Nhớ Huế quê tôi - Thanh Tịnh 92. Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ 93. Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử 94. Nhớ vợ - Cầm Vĩnh Ui 95. Em tắm - Bạc Văn Ùi 96. Một ngày ta ngoái lại - Đinh Thị Thu Vân 97. Tổ quốc ta bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên 98. Bếp lửa - Bằng Việt 99. Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ 100. Thương vợ - Trần Tế Xương Nguyên tiêu (Hồ Chí Minh)
  6. Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên Yên ba thâm sứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. (1948) Dịch nghĩa Rằm tháng riêng Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền (Dịch: Xuân Thuỷ) Ngày hòa bình đầu tiên (Phùng Khắc Bắc) Những sợi nắng xuyên qua nhà mình Thành những mũi tên Thành những viên đạn Bắn tiếp và anh không gì che chắn Phải nhận tất cả Vẫn anh Hôm qua chưa nhận được một viên đạn Hôm nay nhận được lỗ thủng Anh về quê không mang súng Vũ khí lúc này là hai bàn tay... Mẹ giục ăn cơm no Hoà bình trong canh cua, rau mồng tơi, cà
  7. Và Mùi ổ rơm Những bóng người trên sân ga (Nguyễn Bính) Những cuộc chia lìa khởi từ đây Cây đàn sum họp đứt tuôn dây Những lời bèo bọt, thân đơn chiếc Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày Có lần tôi thấy hai cô bé Sát má vào nhau khóc sụt sùi Hai bóng chung lưng thành một bóng Đường về nhà chị chắc xa xôi Có lần tôi thấy một người yêu Tiễn một người yêu một buổi chiều ở một ga nào xa vắng lắm Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau Kẻ ở sân ga kẻ cuối tàu Họ giục nhau về ba bốn bận Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu Có lần tôi thấy vợ chồng ai Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài Chị mở khăn trầu anh thắt lại Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi! Có lần tôi thấy một bà già Đưa tiễn con đi một chốn xa Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng Lưng còng đổ bóng xuống sân ga Có lần tôi thấy một người đi Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
  8. Một mình làm cả cuộc phân ly Những chiếc khăn màu thổn thức bay Những bàn tay vẫy những bàn tay Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt Buồn ở đâu hơn ở chốn này Tôi đã từng chờ những chuyến xe Đã từng đưa đón kẻ đi về Sao nhà ga ấy sân ga ấy Chỉ để cho lòng dấu biệt ly Tạm biệt Huế (Thu Bồn) Bỡi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu Những lăng tẩm như hoàng hôn Chống lại ngày ngày quên lãng Mặt trời vàng và mắt em nâu Xin chào Huế một lần anh đến Để ngàn lần anh nhớ trong mơ Em rất thực nắng thì mờ ảo Xin đừng lầm em với cổ đô Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền Nón rất Huế mà đời không phải thế Mặt trời lên từphía nón em nghiêng Nhịp cầu cong và con đường thẳng Một đời anh tìm mãi Huếnơi đâu Con sông dùng dằng con sông chảy ngược Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng Anh trở về hoá đá phía bên kia.
  9. ( Huế, 1980) Vào chùa (Đồng Đức Bốn) Đang trưa ăn mày vào chùa Sư ra cho một lá bùa rồi đi Lá bùa chẳng biết làm gì Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày. Sư đoàn (Phạm Ngọc Cảnh) Sẽ có những sư đoàn thép Bất kỳ nơi đâu Không khuất phục tù đày chém giết Nơi đâu Người sống nợ nần người đã chết Bất kỳ nơi đâu Từ một cây "mút nhét" Một sải xuồng bơi Một nọc ong châm góp làm sự nghiệp Gốc tre xanh thắng trận cả ba đời Ba mươi triệu tấm lòng xông ra tuyến lửa Vạch lối điều quân Vai chảy xe thồ Trồng cây xanh che chở Mỗi bước quân đi Đánh trận trường kỳ Đêm trước nấp trong lùm bắn tỉa Sớm sau dàn trận chính qui Đến trận bão hiệp đồng cả nước Mỗi sư đoàn mang gió lốc bay đi ... Đất giải phóng thênh thang Sẽ cho ta dàn đội ngũ - sư đoàn Phía trước gọi ta Những Điện Biên vòng đai thép tung ra làm chiến dịch
  10. Đòn gánh hậu phương vượt đèo đi phản kích Hành quân Hành quân Trùng điệp những sư đoàn Đi lên phía Bắc Tràn về hướng Nam Những vị tướng lại cầm quân đi đánh giặc Trải bản đồ Còn nguyên Vạch chỉ đỏ thắt quanh hầm giặc Pháp Bài học chiến tranh nhân dân Lại tiếp Trang Ấp Bắc - Plây me Và chiến công lên ngực áo những binh nhì Đất nước sẽ cho ta Những chùm con số đẹp Làm tên gọi khai sinh sư đoàn thép Này đây Doi cát Cửu Long xanh Sư đoàn Châu Thổ Giữa bãi sú, rừng tràm Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ Sư đoàn Tây Nguyên Từ hầm chông bẫy đá cung tên Này đây Cực Nam Phan Rang - Phan Thiết Này đây Quảng Ngãi - Phú Yên Trên nguồn xa Ô Lâu - Thạch Hãn Sẽ tiến về Sư đoàn Trị Thiên Lại có một ngày Mọi cửa ô xanh Sài Gòn hớn hở Như Hà Nội đã từng Ba mươi sáu đường hoa tung sóng đỏ Phất rừng cờ thổi hồng ngọn gió Đón con em Đón những sư đoàn Mang chiến thắng trở về Rập bước Ca vang !
  11. Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (Văn Cao) Ngả tư nghiêng ngiêng đốm lửa Chập chờn ảo hoá tà ma... Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục Tình tang... Não nuột khóc tàn sương Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể Ta đi giữa đường dương thế Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây... Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy Xác truỵ lạc rũ bên thềm lá phủ Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ Thanh xuân hờ thanh xuân Bước gần ta chút nữa thêm gần Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tuỷ Ai huỷ đời trên tang trống nhỉ? Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya! Đảo điên... mê say... Thể phách chia lìa Nghe reo mạnh, chuỗi tiền cười lạnh lẽo! Tiền rơi! Tiền rơi! Chùm sao huyền diệu Lấy lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi! Vàng mấy lá thừa đãi mây phủ chiếu Ngả tư nghiêng nghiêng chia nẻo Dặt dìucung bậc âm dương Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch Đầm đìa rả rích phương đông Mang mang thở dài hồn đốt trích Lưỡi thép trùng trùng khép cố đô Cửa ô đau khổ Bốn ngả âm u ( Nhà ta thuê néo gục tự mùa thu Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc ) Đêm đêm, dài canh tan tác
  12. Bốn vực nhạc động, vẫy người Giãy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời Ta về gác chiếu chăn gào tự tử Trên đường tối đêm khoả thân khiêu vũ Kèn nhịp xa diệu múa vô luân Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc Kiếp người tang tóc Loạn lạc đòi xương chất lên xương Một nửa kêu than, ma đói sa trường Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc Ngả tư nghiêng nghiêng xe xác Đi vào ngõ khói công yên Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền Hương nha phiến chập chờn mộng ảo Bánh nghiến nhựa đường nghe sào sạc Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực Mưa, mưa hằng thao thức Trong phố lội đìu hiu Mưa, mưa tràn trên vực Hang tối gục tiêu điều Mang linh hồn cô liêu Tiếng xe càng ám ảnh Tiếng xa dần xa lánh Khi gà đầu ô kêu. 1945 Núi đôi (Vũ Cao) Bảy năm về trước em mười bảy Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa Bữa thì anh tới bữa em sang. Lối ta đi giữa hai sườn núi Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
  13. Em vẫn đùa anh sao khéo thế Núi chồng, núi vợ đứng song đôi. Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn Ai ngờ từ đó mất tin nhau. Anh vào bộ đội lên Đông Bắc Chiến đấu quên mình năm lại năm Mỗi bận dân công về lại hỏi Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng. Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi Mỗi tin súng nổ vùng đai địch Sương trắng người đi lại nhớ người. Đồng đội có nhau thường nhắc nhở Trung du làng nước vẫn chờ trông Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm Em vẫn đi về những bến sông. Náo nức bao nhiêu ngày trở lại Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi Hành quân qua tắt đường sang huyện Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi. Mới đến đầu ao tin sét đánh Giặc giết em rồi, dưới gốc thông Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa Em sống trung thành chết thuỷ chung. Anh ngước nhìn lên hai dốc núi Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói Núi vẫn Đôi mà anh mất em. Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
  14. Mấy năm cô ấy làm du kích Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng. Từ núi qua thôn đường nghẽn lối Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy Sân biến thành ao nhà đổ chái Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay. Cha mẹ dìu nhau về tận đất Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau Nứa gianh nửa mái lều che tạm Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau. Anh nghe có tiếng người qua chợ Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu. Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ Oán thù còn đó anh còn đây Ở đâu cô gái làng Xuân Dục Đã chết vì dân giữa đất này? Ai viết tên em thành liệt sĩ Bên những hàng bia trắng giữa đồng Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí Một tấm lòng trong vạn tấm lòng. Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường Em sẽ là hoa trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm. Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm) Em ơi! Buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ Sông Đuống trôi đi
  15. Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm đồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu ? Ai về bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em xột xoạt quần nâu Bây giờ đi đâu ? Về đâu ?
  16. Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen Bãi Tràm chỉ người dăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi Đi bán lụa mầu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê Cầu Bây giờ đi đâu? Về đâu? Bên kia sông Đuống Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo Xì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèo Lá đa lác đác trước lều Vài ba vết máu loang chiều mùa đông Chưa bán được một đồng Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong Bước cao thấp trên bờ tre hun hút Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu? Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Bên kia sông Đuống Ta có đàn con thơ Ngày tranh nhau một bát cháo ngô Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn Lấy mẹt quây tròn Tưởng làm tổ ấm Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm Ú ớ cơn mê Thon thót giật mình
  17. Bóng giặc dày vò những nét môi xinh Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết nguôi hờn Đêm buông xuống dòng sông Đuống Con là ai? Con ở đâu về? Hé một cánh liếp Con vào đây bốn phía tường che Lửa đèn leo lét soi tình mẹ Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể Những chuyện muôn đời không nói năng Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống Bộ đội bên sông đã trở về Con bắt đầu xuất kích Trại giặc bắt đầu run trong sương Dao loé giữa chợ Gậy lùa cuối thôn Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn Ăn không ngon Ngủ không yên Đứng không vững Chúng mày phát điên Quay cuồng như xéo trên đống lửa Mà cánh đồng ta còn chan chứa Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân Gió đưa tiếng hát về gần Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa Tiếng bà ru cháu buổi trưa Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu "À ơi... cha con chết trận từ lâu Con càng khôn lớn càng sâu mối thù" Tiếng em cắt cỏ hôm xưa Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay "Thân ta hoen ố vì mày Hờn ta cùng với đất này dài lâu..." Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
  18. Cánh đồng im phăng phắc Để con đi giết giặc Lấy máu nó rửa thù này Lấy súng nó cầm chắc tay Mỗi đêm một lần mở hội Trong lòng con chim múa hoa cười Vì nắng sắp lên rồi Chân trời đã tỏ Sông Đuống cuồn cuộn trôi Để nó cuốn phăng ra bể Bao nhiêu đồn giặc tơi bời Bao nhiêu nước mắt Bao nhiêu mồ hôi Bao nhiêu bóng tối Bao nhiêu nỗi đời Bao giờ về bên kia sông Đuống Anh lại tìm em Em mặc yếm thắm Em thắt lụa hồng Em đi trảy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh. Việt Bắc, tháng 4, 1948 Tràng Giang (Huy Cận) Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy giòng. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang.
  19. Không cầu gợi chút niềm thân mật. Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc... Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa Lòng quê dờn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Dọn về làng (Nông Quốc Chấn) Mẹ! Cao - Lạng hoàn toàn giải phóng Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đồng như kiến, súng đầy như củi. Sángmai về làng sửa nhà phát cỏ, Phát ruộng nương rào vườn tược làm ăn. Mấy năm qua quên tháng giêng , quên rằm tháng bảy. Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi, Hôm nay Cao - Bắc - Lạng cười vang, Dọn lán, rời rừng người xuóng làng, Người nói cỏ lai trong rừng rậm, Cuốc đất dọn cỏ mẹ khuyên con. Đường cái kêu vang tiếng ôtô. Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ, Mờ mờ khói bếp bay trên máy nhà lá Từ nay không ngập cỏ lối đi Hổ không dám đến trẻ con trong vườn chuối Quả tên cành không lo tự chín tự rụng Ruộng sẽ không thành nơi máu chảy thành vũng. Mặt trời lên! Sáng rõ rồi mẹ ạ! Con đi bộ đội , mẹ ở lại nhà Giặc Pháp ,Mĩ còn giết người cướp của trên đất ta.
  20. Đuổi hết nó đi con sẽ về trong mẹ. Quê hương (Nguyễn Bá Chung) Ba mươi năm xa cách quê hương Bảy lần về thôi cũng là tạm đủ Nhớ lần đầu - tóc tang trời ủ rũ Đến bây giờ ánh sáng đã bừng lên Có cái gì là lạ không thể quên Như nỗi nhớ không biết tên mà gọi Như nỗi đau không thể làm dịu vợi Như ngôi nhà vẫn mãi mãi đi tìm Như bầu trời nửa xám nửa không quen Mảnh đất vỡ bồi máu xương ta đó Đỉnh Yên Tử hoa đại còn vết đỏ Những người xưa vì nước xả thân mình Con đường quê vẫn mãi mãi gập ghềnh Bao năm tháng những người làng chịu đói Năm Ất Dậu tất cả làng tụ lại Ăn cháo hoa suốt cả mấy tháng trời Bát cháo hoa mà ngọt cả một đời Quý hơn cả bao ngọc vàng cộng lại Xa ngàn dặm để mà còn nhớ mãi Vết thương đau chưa chôn đủ tháng ngày Để về đây nhận lại mặt người Để mình biết mình vẫn là mình cũ Bao đổi thay thăng trầm bong lớp vỏ Nhìn quê hương để lại nhận ra mình. Say đi em (Vũ Hoàng Chương)
Đồng bộ tài khoản