30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV

Chia sẻ: dhdungha

30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV/AIDS 1. Bạn hãy cho biết, kết qủa xét nghiệm HIV(+) được thông báo cho đối tượng nào sau đây: A.Trưởng khu hành chính của người được xét nghiệm. B.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: 30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV

30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV/AIDS
1. Bạn hãy cho biết, kết qủa xét nghiệm HIV(+) được thông báo cho đối tượng nào sau đây:
A.Trưởng khu hành chính của người được xét nghiệm.
B. Người được xét nghiệm.
C. Cán bộ Thông tin- văn hoá xã.
D. Cả 3 đáp án trrên đều đúng.
Đáp án: B.
Khoản 1 điều 30 Luật phòng, chống Hội chứng suy gi ảm mi ễn dịch mắc ph ải ở ng ười quy định:
1. Kết quả xét nghiệm HIV dương tính chỉ được thông báo cho các đ ối t ượng sau:
a. Người được xét nghiệm;
b. Vợ hoặc chồng của người được xét nghiệm, cha, mẹ, hoặc người giám h ộ của ng ười đ ược xét nghi ệm là
người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân s ự.
c. Nhân viên được giao nhiệm vụ trực tiếp tư vấn, thông báo kết quả xét nghiệm HIV d ương tính cho ng ười
được xét nghiệm.
d. Người có trách nhiệm chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV t ại các CSYT, bao gồm tr ưởng khoa, tr ưởng
phòng nơi người nhiễm HIV điều trị, nhân viên y t ế được giao trách nhiệm trực ti ếp đi ều tr ị, chăm sóc cho ng ười
nhiễm HIV tại CSYT.
e. Người đứng đầu, CB phụ trách y tế, nhân viên y t ế được giao nhi ệm vụ trực ti ếp CSSK cho ng ười nhi ễm HIV
tại cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ s ở bảo trợ xã hội, trại giam, tr ại t ạm giam.
f. Người đứng đầu và cán bộ, công chức được giao trách nhiệm của các cơ quanquy đ ịnh t ại khoản 1 Đi ều 28
của Luật này.
2. Bạn hãy cho biết, ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục truyền thông về phòng, chống HIV/ AIDS cho
đối tượng nào sau đây?
A. Người nhiễm HIV và gia đình họ.
B. Người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
C. Phụ nữ có thai.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D
3. Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?
A. Đường tình dục.
B. Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…).
C. Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: B
4. Bạn hãy cho biết, ở nước ta hiện nay tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất nằm trong độ tuổi nào?
A. Dưới 20 tuổi.
B. Từ 20- 29 tuổi.
C. Từ 30- 39 tuổi.
D. Trên 40 tuổi.
Đáp án: B.( Tỷ lệ nhiễm HIV ở độ tuổi dưới 20 là 10%; 20-29 là 55%; 30-39là 24% và trên 40 chi ếm 10%).
5. Bạn hãy cho biết tình dục an toàn là gì?
A. Sống chung thuỷ một vợ một chồng.
B. Dùng bao cao su đúng cách.
C. Thủ dâm.
D.Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D.
6. Bạn hãy cho biết, các bước trong quy trình tư vấn và xét nghiệm tự nguy ện HIV/AIDS?
A. Tư vấn trước xét nghiệm.
B. Tư vấn trong xét nghiệm HIV.
C.Tư vấn sau xét nghiệm.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D
7. Bạn hãy cho biết ở Việt Nam hiện nay, xét nghiệm kháng thể khẳng định nhiễm HIV tr ẻ em có th ể
tiến hành khi nào?
A. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi.
B. Trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên.
C. Trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên.
D. Trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên.
Đáp án: D. ( Xét nghiệm phát hiện HIV ở trẻ em chỉ có giá trị trên 18 tháng tuổi. Vì khi trẻ d ưới 18 tháng tu ổi két
qủa dương tính có thể là “dương tính giả”, do kháng thể HIV của m ẹ truy ền cho con qua nhau thai nên k ết qu ả
xét nghiệm không chính xác).
8. Theo bạn, thời gian dự phòng lây nhiễm HIV tốt nhất là trong thời gian nào?
A. Ngay sau 2-3 giờ đầu.
B. Sau 1 tuần.
C. Sau 10 ngày.
D. Khi xác định rõ nguồn lây nhiễm HIV của người lây nhiễm.
Đáp án: A ( Thời gian điều trị dự phòng tốt nhất là ngay từ những giờ đầu tiên, t ức là khoảng 2-3 gi ờ sau khi
xẩy ra tai nạn, muộn nhất không quá 7 ngày).
9. Bạn hãy cho biết, thời gian điều trị thuốc kháng vi rút HIV ( ARV) cho bệnh nhân AIDS là bao lâu?
A. 1 năm.
B. 3 năm.
C. 5 năm.
D. Suốt đời.
Đáp án: D ( Hiện nay trên thế giới chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh AIDS, ch ỉ có thuốc kháng vi rút HIV, là
thuốc ức chế sự phát triển của vi rút HIV do đó khi bệnh nhân AIDS đã dùng thu ốc kháng vi rút HIV thì ph ải
dùng suốt đời).
10. Bạn hãy cho biết dấu hiệu lâm sàng chính của AIDS?
A. Sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể.
B. Sốt kéo dài trên 1 tháng.
C. Ỉa chảy kéo dài trên 1 tháng.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D.
11. Bạn hãy cho biết, các giai đoạn lây truyền HIV từ mẹ sang con?
A. Khi mang thai.
B. Khi sing con.
C. Khi cho con bú.
D Cả 3 đáp án trên.
Đáp án D.
12. Bạn hãy cho biết Luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy gi ảm miễn d ịch m ắc ph ải quy đ ịnh
người nhiễm HIV có những nghĩa vụ nào dưới đây:
A. Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác.
B. Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho vợ, con, ch ồng hoặc ng ười chuẩn b ị k ết hôn bi ết.
C. Thực hiện các quy định về điều trị bằng thuốc kháng Hiv.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án D ( Điểm 2, Điều 4 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định nghĩa vụ của ng ười nhi ễm HIV).
Người nhiễm HIV có các nghĩa vụ sau đây:

a. Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác.
b. Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính của mình cho v ợ, ch ồng ho ặc cho ng ười chu ẩn b ị k ết
hôn biết;
c. Thực hiện các quy định về điều trị bằng thuốc kháng vi rút HIV;
d. Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật.

13. Bạn hãy cho biết, Nghị định 108/2007/NĐ- CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 c ủa chính ph ủ là văn b ản
có nội dung như thế nào?
A. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y t ế.
B. Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, ch ống HIV/AIDS.
C. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, ch ống HIV/AIDS.
D. Quy định chi tiết thi hành Luật vệ sinh an toàn thực ph ẩm.
Đáp án: B
14. Bạn cho biết Luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm mi ễn dịch m ắc ph ải ở ng ười quy
định người nhiễm HIV có các quyền nào sau đây?
A. Học văn hoá, học nghề, làm việc.
B. Sống hoà nhập với cộng đồng, xã hội.
C. Từ chối khám chữa bệnh khi đang điều trị bệnh AIDS trong giai đoạn cuối.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D ( Điểm 1 Điều 4 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định quyền của ng ười nhiễm HIV).
Người nhiễm HIV có các quyền sau đây:

a. Sống hoà nhập vào cộng đồng và xã hội.
b. Được điều trị và chăm sóc sức khoẻ.
c. Học văn hoá, học nghề và làm việc
d. Được giữ bí mật riêng tư liên quan đến HIV/AIDS.
e. Từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang điều trị bệnh AIDS trong giai đoạn cuối.
f. Các quyền khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

15. Khi bị bơm kim tiêm dính máu đâm vào tay, bạn c ần làm gì ngay sau đó?
A. Băng kín vết thương bằng băng vô trùng;
B. Uống ngay kháng sinh và đến cơ sở y tế nơi gần nhất.
C. Nặn máu, rửa tay bằng xà phòng nhiều làn dưới vòi nước ch ảy rồi đến ngay Trung tâm phòng, ch ống HIV/
AIDS.
D. Không cần xử trí.
Đáp án: C
16. Bạn hãy cho biết nguyên nhân gây ra HIV/ AIDS là gì?
A. Vi khuẩn.
B. Nấm.
C. Vi rút.
D. Ký sinh trùng
Đáp án: C ( HIV là Vi rút thuộc họ Retroviridae. Chúng có dạng hình cầu, kích th ước khoảng 80- 120 nanômet).
17. Theo bạn, loại dịch nào trong cơ thể sau đây có nhiều vi rút HIV?
A. Nước bọt.
B. Nước mắt.
C. Tinh dịch.
D. Mồ hôi.
Đáp án: C ( Trong nước bọt, nước mắt và mồ hôi, nước tiểu cũng có HIV, nh ưng với s ố l ượng r ất ít, không đ ủ “
Ngưỡng” nên không đủ khả năng làm lây truyền HIV t ừ người này sang ng ười kia khi ti ếp xúc tr ực ti ếp v ới các
loại dịch thể này)
18. Bạn hãy cho biết, người nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vào năm
nào? ở đâu?
A. Năm 1995 tại Thành Phố Vĩnh Yên.
B. Năm 1998 tại Huyện Tam Dương.
C. Năm 1995 tại Thị xã Phúc Yên.
D. Năm 1990 tại Thị xã Phúc Yên.
Đáp án: C ( Hiện nay người này vẫn còn sống)
19. Theo bạn những nhóm người nào sau đây có nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS?
A. Người mua bán dâm.
B. Người tiêm chích ma tuý.
C. Trẻ mới đẻ có mẹ bị nhiễm HIV.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D ( Người mua bán dâm có nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình d ục, ng ười tiêm chích ma tuý có
nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường máu và trẻ mới đẻ có mẹ bị nhiễm HIV có nguy cơ lây nhi ễm HIV t ừ m ẹ
sang con).
20. Bạn hãy cho biết những dấu hiệu nào thường thấy ở bệnh nhân AIDS giai đoạn muộn?
A. Ỉa chảy kéo dài.
B. Ho kéo dài.
C. Lở loét toàn thân.
D. Cả 3 đáp án trên
Đáp án: D ( Ở giai đoạn này, lượng kháng thể trong cơ thể người nhiễm HIV suy giảm m ạnh, ng ược l ại l ượng
HIV tăng lên nhanh chóng, hệ thống miễn dịch bị suy giảm hoàn toàn và ng ười nhi ễm HIV chuy ển sang giai
đoạn AIDS với các bệnh cảnh của nhiễm trùng cơ hội và ung th ư d ẫn đ ến t ử vong).
21. Theo bạn người nhiễm HIV nên được chăm sóc tốt nhất ở đâu?
A. Tại nhà.
B. Tại bệnh viện.
C. Tại khu cách ly.
D. Tại các cơ sở y tế.
Đáp án: A.
22. Bạn hãy cho biết, khả năng điều trị HIV/ AIDS hiện nay cảu y học?
A. Chữa khỏi được bằng tây y.
B. Chữa khỏi được 1 thời gian sau đó lại tái phát.
C. Chữa khỏi được bằng đông y.
D. Chữa chữa khỏi được.
Đáp án: D
23. Khi bạn bị tai nạn rủi ro lây nhiễm HIV ( Kim tiêm người nhi ễm HIV đâm vào tay, b ị máu ho ặc d ịch
của người nhiễm HIV bắn vào niêm mạc hoặc vết thương hở). B ạn có thể được điều trị dự phòng ph ơi
nhiễm ở đâu?
A. Tại BVĐK tỉnh.
B. Tại BVĐK khu vực.
C. Tại trung tâm phòng, chống HIV/ AIDS của tỉnh.
D. Tại trung tâm y tế dự phòng của tỉnh.
Đáp án: C.
24. Bạn hãy cho biết, Điều mấy trong luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội ch ứng suy gi ảm mi ễn
dịch mắc phải ở người quy định quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV?
A. Điều 3.
B. Điều 4.
C. Điều 5.
D. Điều 7
Đáp án: B.
25. Bạn hãy cho biết luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy gi ảm mi ễn d ịch m ắc ph ải ở
người có hiệu lực kể từ ngày nào?
A. 01/01/2005.
B. 01/01/2006.
C. 01/01/2007.
D. 10/01/2007.
Đáp án: C.
26. Bạn hãy cho biết, Bộ Luật hình sự quy định người nào biết mình bị nhiễm HIV mà c ố ý lây truy ền
bệnh cho người khác sẽ bị xử lý như thế nào?
A. Phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng.
B. Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng.
C. Phạt tiền từ 30.000.000 đến 50.000.000 đồng
D. Phạt tù từ 1- 3 năm.
Đáp án: D ( Điều 117).
Điều 117. Tội lây truyền HIV cho người khác:

1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho ng ười khác, thì b ị ph ạt tù t ừ m ột đ ến
3 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đ ến 7 năm:


a. Đối với nhiều người.
b. Đối với người chưa thành niên;
c. Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữ bệnh cho mình;
d. Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

27. Bạn hãy cho biết ở nước ta hiện nay, tỷ lệ nhiễm HIV giữa nam và nữ như thế nào?
A. Tỷ lệ nữ cao hơn nam;
B. Tỷ lệ nam nữ ngang nhau;
C. Nam cao hơn nữ 2 lần;
D. Nam cao hơn nữ 4 đến 5 lần;
Đáp án: D ( Tỷ lệ nam nhiễm HIV là 84%, nữ là 14%, không rõ là 2%).
28. Bạn hãy cho biết, hiện nay tỉnh ta đã tổ chức điều trị thuốc kháng vi rút HIV (ARV) cho b ệnh nhân
AIDS tại cơ sở y tế nào?
A. Bệnh viện đa khoa tỉnh;
B. Trung tâm phòng, chống HIV/ AIDS tỉnh;
C. Bệnh viện đa khoa khu vực Mê Linh;
d. Trung tâm y tế dự phòng tỉnh.
Đáp án: B.
29. Bạn hãy cho biết, giai đoạn cửa sổ trong nhiễm HIV thường kéo dài bao lâu:
A. Dưới 1 tháng;
B. Từ 1 đến 3 tháng;
C. Từ 4- 6 tháng;
D. Từ 6 đến 12 tháng.
Đáp án: B.
30. Bạn hãy cho biết tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con khi không được điều trị dự phòng là bao
nhiêu?
A. 10- 24%;
B. 25- 40%;
C. 41- 70%;
D. 71- 90%;
Đáp án: B.



1/ HIV lây truyền qua các con đường nào sau đây ?
A. Ho, hắt hơi, dùng chung bơm kim tiêm.
B. Bắt tay người nhiễm HIV, quan hệ tình dục.
C. Dùng chung nhà vệ sinh, truyền máu.
D. Mẹ truyền sang con, truyền máu, quan hệ tình dục.
2/ Chúng ta nên đối xử với người nhiễm HIV như thế nào?
B. Sợ hãi
A. Xa lánh
C. Ghét bỏ D. Gần gũi để động viên, giúp đỡ.


Người có HIV là một người không còn giá trị
Câu số 1:
gì?

1. Đúng

2. Không đúng, người có HIV vẫn là người có ích

3. Không biết
Hiện nay chưa có thuốc điều trị HIV nên một người nhiễm HIV có nghĩa là
Câu số 2:
hết?

1. Đúng, nhiễm HIV là chết

2. Không đúng, một người nhiễm HIV vẫn có thể sống bình thường trong một thời gian dài

3. Không biết

Có thể xác định một người có HIV bằng cách nào dưới
Câu số 3:
đây?

1. Nhìn là biết người có HIV

2. Đi khám bệnh

3. Siêu âm, chụp phim

4. Xét nghiệm máu tìm vi rút HIV

5. Không biết

Cách phòng tránh lây nhiễm HIV?
Câu số 4:



1. Sử dụng riêng bơm kim tiêm, dụng cụ y tế

2. Dùng bao cao su khi có quan hệ tình dục

3. Dùng riêng đồ dùng cá nhân

4. Kiêng quan hệ tình dục

5. Dự phòng lây truyền mẹ sang con

6. Không sử dụng chung dao cao râu

7. Cách ly người có HIV

8. Không biết

Người ta nói tỉ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục vào khoảng 1% có
Câu số 5:
nghĩa là

1. 100 lần quan hệ tình dục chỉ có một lần có khả năng lây nhiễm HIV

2. Mỗi lần quan hệ tình dục không an toàn sẽ có xác suất 50/50 có thể nhiễm HIV

3. Không biết

HIV lây truyền qua những hành vi nào dưới
Câu số 6:
đây?

1. Sử dụng chung đồ ăn

2. Sử dụng chung nhà tắm, bồn tắm
3. Sử dụng chung bơm kim tiêm

4. Quan hệ tình dục không dùng bao cao su

5. Sử dụng chung dao cao râu

6. Bơi chung bể bơi, dùng chung bồn tắm

7. Sử dụng chung dụng cụ phẫu thuật

8. Không biết

Những ai là người có khả năng nhiễm
Câu số 7:
HIV?

1. Người làm nghề mại dâm

2. Người tiêm chích ma túy

3. Người hít heroin

4. Phụ nữ có thai

5. Ai cũng có thể có HIV

6. Không biết

HIV lây truyền qua những con đường
Câu số 8:
nào?

1. Qua đường máu

2. Bắt tay, ôm hôn người có HIV

3. Quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su

4. Từ mẹ sang con qua mang thai, sinh con

5. Sử dụng chung nhà vệ sinh

6. Sử dụng chung quần áo

7. Không biết

AIDS là gì ?
Câu số 9:



1. Là tên viết tắt của vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người

2. Là hội chứng suy giảm miễn dịch ở người

3. Không biết

HIV là gì?
Câu số 10:



1. Là tên viết tắt của vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
2. Là hội chứng suy giảm miễn dịch ở người

3. Không biết

Quan hệ tình dục đường hậu môn có khả năng lây nhiễm HIV ít hơn quan
Câu số 1:
hệ tình dục đường âm đạo, Đúng hay sai?

1. Đúng

2. Sai

3. Không biết

Cho người khác quan hệ đường miệng (thổi) không có khả năng lây nhiễm
Câu số 2:
HIV?

1. Đúng

2. Sai, vi rút vẫn có thể xâm nhập qua những tổn thương trên niêm mạc ở lỗ miệng sáo và trên da dương vật

3. Không biết

Dùng miệng để quan hệ tình dục với người
Câu số 3:
khác không có nguy cơ nhiễm HIV?

1. Đúng

2. Sai, vi rút HIV có trong tinh dịch vẫn có thể xâm nhập vào tổn thương ở niêm mạc miệng và chân răng

3. Không biết

Khi có bệnh lây truyền qua đường tình dục thì
Câu số 4:
khả năng lây nhiễm HIV sẽ:

1. Tăng lên do có tổn thương trên da, niêm mạc

2. Giảm đi do có dịch tiết nhiều

3. Không biết

Quan hệ tình dục đồng giới có nguy cơ lây nhiễm HIV rất cao vì người đồng
Câu số 5:
giới có nhiều bạn tình?

1. Đúng, người có tình dục đồng giới có nhiều bạn tình

Không đúng, nhiễm HIV liên quan đến hành vi tình dục không an toàn, chứ không liên quan đến số lượng bạn
2. tình

3. Không biết

Quan hệ tình dục đồng giới có nguy cơ lây nhiễm HIV ít hơn
quan hệ với gái mại dâm?

1. Đúng vì người đồng giới không có HIV
Không đúng, nguy cơ lây nhiễm HIV liên quan tới hành vi tình dục có an toàn hay không, không liên quan đến
2. đối tượng tình dục là ai

3. Cả hai đối tượng này đều là đối tượng có nguy cơ cao

4. Không biết

Khả năng lây nhiễm HIV có thể tăng
Câu số 7:
lên nếu một người:

1. Có nhiều bạn tình và không sử dụng bao cao su khi quan hệ

2. Sử dụng chất gây nghiện

3. Sử dụng chất kích thích rượu bia

4. Buồn chán, ức chế

5. Quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su

6. Không biết

Sử dụng chất bôi trơn
Câu số 8:
sẽ:

1. Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV do hạn chế tổn thương khi quan hệ tình dục

2. Chất bôi trơn nhớt và khó chịu, chả có ích gì

3. Không biết

Sử dụng bao cao su
Câu số 9:
sẽ:

1. Mất thời gian tìm kiếm

2. Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV

3. Giảm khoái cảm và gây khó chịu

4. Gây phiền toái cho người sử dụng

5. Không biết
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai vị thành niên khá cao. Tỷ lệ này và tỷ lệ
nhiễm HIV/AIDS đang ngày càng gia tăng đã đặt ra một nhiệm vụ cấp bách đó là cần tiến hành giáo
dục giới tính, sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi học trò.Trước đây “giới tính” là thuật ngữ duy nhất để
phân biệt nam và nữ trong xã hội với tư cách vừa là thực thể sinh học, vừa là một thực thể xã hội. Mãi
tới nửa đầu của thế kỷ 20, “giới” mới được sử dụng ở các nước. Đến nay đã hình thành hai thuật ngữ
“giới tính” và “giới” để phân biệt nam và nữ trong xã hội, trong đó “giới tính” (sex) đồng nghĩa với
“giống” chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, còn “giới” (gender) nói đến mối quan hệ xã
hội và tương quan địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể.
Do quan niệm chưa
đúng về giới tính nên đã từng có quan niệm phiến diện cho rằng giáo dục giới tính chỉ là việc khai sáng
những kiến thức về sinh lý và tình dục, nên nó đã từng bị phản đối thậm chí còn bị gán là “vẽ đường
cho hươu chạy”. Nhưng thực tế đã cho thấy do không biết và không được giáo dục để có hành vi đúng
nên dẫn đến thanh thiếu niên có những quan hệ thiếu trách nhiệm, thiếu văn hóa và đạo đức trong
quan hệ giới tính. Đã đến lúc chúng ta không thể né tránh mà phải chủ động trong việc giáo dục giới
tính để con em chúng ta phát triển đúng và toàn diện. Mỗi đứa trẻ sẽ phải biết trở thành một người đàn
ông hay đàn bà, biết cư xử đúng đắn và có trách nhiệm đối với giới khác. Như vậy giáo dục giới tính
còn hàm chứa cả giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) vì trong nội dung giới tính có một phần giao thoa
với nội dung SKSS, thể hiện rõ nhất khi phân biệt cấu tạo và chức năng các cơ quan sinh sản của nam
và nữ. Một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh thế kỷ AIDS là do quan hệ tình dục
không an toàn, vì vậy giáo dục giới tính chính là một trong những biện pháp hạn chế sự lây truyền
HIV/AIDS trên cơ sở của việc xây dựng lối sống lành mạnh, có trách nhiệm để tránh bị lây nhiễm
HIV/AIDS qua đường tình dục, bảo vệ SKSS.
Trong giáo dục giới tính cho lứa tuổi thanh thiếu
niên, vai trò của gia đình và nhà trường cực kỳ quan trọng. Thời gian qua Tổ chức cứu trợ Anh đã tài
trợ cho Viện chiến lược và Chương trình giáo dục - Bộ giáo dục và đào tạo tiến hành Dự án “Can thiệp
và quản lý HIV/AIDS tập trung vào trẻ em” tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Thực tế cho thấy
HIV/AIDS là vấn đề của trẻ em, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của các em, do vậy có thể tăng
cường các biện pháp bảo vệ trẻ em thông qua lồng ghép quyền trẻ em, giới và HIV/AIDS. Trẻ em cần
được nâng cao khả năng, kiến thức, kỹ năng và dễ dàng tiếp cận các dịch vụ để biết cách tự bảo vệ
khỏi lây nhiễm HIV/AIDS và các ảnh hưởng của đại dịch. Các thử nghiệm của quá trình lồng ghép giáo
dục giới tính với phòng chống HIV/AIDS đã được hướng vào 3 nhóm tuổi: Nhóm học sinh tiểu học (từ
6-11 tuổi) tập trung chủ yếu vào các nội dung về quyền trẻ em và các nguyên tắc cơ bản về an toàn
thân thể; Nhóm học sinh trung học cơ sở (từ 12-15 tuổi) giới thiệu về các khái niệm liên quan đến tình
dục, phát triển thể chất, HIV/AIDS và quyền trẻ em; Nhóm học sinh phổ thông trung học (từ 16-18 tuổi)
với nội dung về tình dục và các mối quan hệ, quyền trẻ em và tình dục an toàn. Kết quả dự án đã giúp
cho các chuyên gia giáo dục xây dựng bộ tài liệu về “Giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học, trung
học cơ sở và phổ thông trung học qua các hoạt động ngoại khóa”. Việc giáo dục giới tính cho học sinh
thực sự là một biện pháp hữu hiệu hạn chế nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong giới trẻ hiện nay


Theo thống kê của Ủy ban dân số quốc gia, Việt Nam là một nước có dân số trẻ hiện có trên 84 triệu người, trong đó: Số người có độ 
tuổi từ 10 đến 29 chiếm 40,2% . Ở đất nước đang phát triển như Việt Nam, thì lực lượng thanh thiếu niên là nguồn nhân lực chủ yếu 
của đất nước trong tương lai. Trong gia đình, thanh thiếu niên có vai trò quan trọng, họ là “người kiến tạo nên sự bền vững của mỗi tế 
bào của xã hội” và dần thay thế cho bố, mẹ để đảm bảo đời sống và sự tồn tại của mỗi gia đình
Ngày nay, do ảnh hưởng bởi nguồn dinh dưỡng tốt, môi trường thuận lợi để phát triển về thể chất và tinh thần và được tiếp xúc với 
cuộc sống hiện đại, nên tuổi vị thành niên kéo dài hơn trước đây, tuổi dậy thì đến sớm hơn, nhưng tuổi dựng vợ, gả chống thì lại 
muộn hơn, trễ hơn do đó có một thời gian dài trong khi các bạn nam, nữ đã có khả năng sinh sản, có nhu cầu tình dục, nhưng vẫn 
chưa kết hôn, vì vậy số thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng trở nên phổ biến.
Viện khoa học dân số, gia đình trẻ em đã khảo sát, đánh giá kết quả giáo dục SKSS cho học sinh THPT, với 3402 em tham gia trả 
lời các câu hỏi về giới tính, tình dục, tình bạn, tình yêu, phòng tránh thai, phòng tránh bệnh lây nhiễm qua đường tình dục thì.
­ Đa số học sinh THPT và VTN (94,4%) có nghe nói đến tuổi dậy thì, tuy nhiên vẫn còn 25,5% VTN chưa bao giờ nghe đến khái 
niệm này
­ có 84% các em trả lời là không nên có người yêu khi còn ở độ tuổi VTN và 79,9% không đồng ý với việc quan hệ tình dục trước khi 
cưới. Tuy vậy 11,1% các em vẫn còn băn khoăn chưa thể hiện rõ thái độ của mình và 9% các em hoàn toàn đồng ý với việc quan hệ 
tình dục trước hôn nhân, coi chuyện này là lẽ đương nhiên.
­ Có 68% các em trả lời là nạo, phá thai dễ dẫn đến hậu quả vô sinh và 60,9% cho rằng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, trong khi đó 
vẫn còn 14,2% các em không biết việc nạo phá thai là nguy hiểm
­ Giáo dục sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên là khái niệm và lĩnh vực khá mới mẻ, hơn nữa nó lại là vấn đề tế nhị, chịu ảnh 
hưởng của tập quán dân tộc, văn hóa, xã hội. Vậy, hiện nay thực trạng về phương pháp tuyên truyền, giáo dục sức khỏe sinh sản 
như thế nào?
Quá trình chuyển đổi với những mặt trái đã và đang mang đến nhiều đe dọa đối với sức khỏe sinh sản vị thành niên, với tâm lý bạn 
trẻ luôn thích khám phá những điều mới, thích mình “hiện đại” trong lối sống, trong khi cha, mẹ lại rất bận rộn với công việc ít khi chú 
ý đến việc giáo dục con cái về nhân cách, lối sống, tình dục hoặc ngại ngùng né tránh, không muốn trao đổi cởi mở, chỉ dẫn tận tình 
vì sợ rằng: “Vẽ đường cho hươu chạy”. Còn 1 số bậc phụ huynh thì lại nghĩ “chỉ cần giử thật chặt con, kiểm soát thời gian của nó, bắt 
nó học càng nhiều càng tốt, không có thời gian yêu đương nhăn nhít là an toàn rồi”. 
1 Ở nước ta, giáo dục giới tính cần phải đi từ gốc, Về phía gia đình, cần phải làm thế nào để các bậc cha mẹ cũng có những nhận 
thức đầy đủ về vấn đề đạo đức, giới tính, SKSS để có thể chia sẻ với con cái những chuyện thường nhật và nhất là giúp con trong 
những giai đoạn đặc biệt của cuộc sống.
2 Nhà trường là môi trường cực kì quan trọng đối với mỗi người, ở đó, trẻ vị thành niên không chỉ được học kiến thức mà còn được 
học về nhân cách, lối sống lành mạnh. Nhưng hiện nay, các kiến thức về đạo đức ­ giới tính được giảng dạy tại nàh trường thường 
khô khan và kém hấp dẫn, không ít học sinh THPT bày tỏ việc không muốn học kiến thức về giáo dục giới tính vì phương pháp dạy 
của thầy cô chưa sinh động và có khi còn khiến học sinh phải ngượng ngùng. 
3 Chính vì thế, cần phải giáo dục cho đội ngũ làm công tác giáo dục trước; thường xuyên thay đổi các hình thức, phương pháp giảng 
dạy để trẻ vị thành niên có cái nhìn tòan diện và sâu sắc hơn.
4 Các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều yếu tố tích cực cũng như tiêu cực đối với tuyên truyền, giáo dục SKSS cho vị thành 
niên. Qua các kênh thông tin đó, giới trẻ được tiếp thu nhiều nền văn hóa, lối sống khác nhau. Thế nhưng, dạo quanh các nhà sách 
lớn, độc giả có thể đếm được hàng trăm đầu sách liên quan đến tâm lý bạn gái, bạn trai, gia đình. Tuy nhiên tìm kiếm một quyến 
sách dành riêng cho tuổi vị thành niên, chuyên hẳn về giới tính hay SKSS lại là chuyện khó khăn. Thiết nghĩ, cần có nhiều hơn 
những quyển sách về giới tính để giúp cha mẹ có thể giáo dục cho con em, còn bản thân giới trẻ có thể tự học học và định hướng 
hành vi.
5 Hiện nay, trên mạng điện thoại di động đang có nhiều dịch vụ “giáo dục giứoi tính và SKSS”. Việc giáo dục giưói tính trên điện 
thoại di động khắc phục được yếu tố ngại ngần khi đề cập đến chuyện thầm kín. Tuy nhiên, nó cũng có mặt tiêu cực là những thông 
tin mang tính giáo dục này được các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra nhằm mục đích câu khách với những câu hỏi và lời giải đáp chẳng 
dựa trên cơ sở khoa học nào. Những thông tin kiểu này đã gây nhiều sự tò mò và phản ứng không tốt đối với trẻ vị thành niên bởi 
ranh giới giữa tư vấn SKSS và kích dục là mong manh.
6 Tin nhắn tư vấn tình cảm và giáo dục giới tính là dịch vụ viễn thông gia tăng, Vụ viễn thông thuộc Bộ BCVT cấp phép, nhưng việc 
quản lý nội dung thuộc về Bộ VHTT­TT­DL. Vậy ai là cơ quan quản lý?
7 Những sáng kiến trên đã được áp dụng tại Trung Quốc, một đất nước khá giống Việt Nam về tập quán, văn hóa. Nên chăng chúng 
ta cần có những quán café hay công viên dành cho người lớn?
Phương pháp tuyên truyền.: 
1. Nội dung tuyên truyền :
­ Nguyên nhân dẫn đến sai lầm.
­ Tình huống sai lầm.
­ Suy nghĩ , tư tưởng lệc lạc.
­ Hậu quả
­ Cách để ngăn chặn, kịp thời sủa đổi sai lầm.
­ Học cách yêu quý bản thân, thấy được tầm quan trọng trong suy nghĩ và tâm tư tuổi mới lớn định hướng cho họ bít những vấn đề 
(dúng sai)mà họ gặp phải và cách giải quyết tình huống ấy như thế nào để không xảy ra những hậu quả đáng tiếc.
Tuyên truyền cho tre kỹ năng sống Theo định nghĩa của WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ 
năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với 
người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận phê phán, ra quyết định, giao tiếp 
hiệu quả và thương thuyết.
Không áp đặt cấm đoán, vì khuynh hướng càng cấm thì họ càng tò mò, muốn tự tìm hiểu…Thay vì vậy hãy chỉ cho họ cái đúng, cái 
sai….
Để tuyên truyền tốt thì nên học cách lắng nghe tốt, đối với người lớn phải dành thời gían quan tâm nhiều hơn đến tuổi vị thành niên, 
nhất là trẻ đang ở tuổi dậy thì. Và phải cân nhắc trong hành động, đôi khi ở một khía cạnh nào đó hãy nói chuyện và xem những bạn 
ấy như những người lớn thật sự. 
­ 
Hình thức tuyên truyền, giáo dục:

Để tuyên truyền tốt, trước hết kênh truyền thông về phía gia đình về hướng giáo dục skss cho tuổi vị thành niên phải được phổ cập 
tốt, bởi đối với lứa trẻ thanh thiếu niên mới lớn , tâm sinh lý còn chưa phát triển đầy đủ, nhưng cách suy nghĩ của họ đã thiên trọng về 
những vấn đề người lớn.Họ muốn được tìm hểu, có nhiều thắc mắc về những thay dổi trong tâm sinh lý muốn được trao đổi nhưng ai 
sẽ là người giúp họ trang bị những kiến thức ấy. Chính Gia đình là chỗ dựa tin cậy mà họ tìm đến đầu tiên để chia sẻ, tâm sự những 
vấn dề của tuổi mới lớn, tuỳ vào từng lối sống của gia đình mà có những cách giải quyết khác nhau, có gia đình bố mẹ chính là 
những chuyên gia tâm lý tốt nhất đối với họ, nhưng cũng có gia đình bố mẹ khiến họ có cảm giác sợ hãi và muốn trốn tránh vì cha 
mẹ họ quan niệm rằng đối với lứa tuổi ấy thì chưa đến lúc hiểu biết quá nhiều vì chuyện này, cũng bởi có những suy nghĩ hạn chế 
như zậy mà là một trong những nguyên nhân làm cho tuổi vị thành niên có khuynh hướng tìm đến với bạn bè, người ngoài tâm sự, tự 
tìm hiểu khôg chọn lọc qua sách báo internet…Điều đó, dẫn đến sai lầm trong nhận thức, lệch lạc về lối sống vì thiếu sự quan tâm, 
và họ dễ bị sa ngã khi va chạm với xã hội có khi chỉ vô tình, để rồi hối hận chỉ vì không hiểu bíêt. 
Tiếp đến là kênh truyền thông ngoài xã hội, mà truớc hết là nhà trường nơi mà họ học tập và được trang bị kiến thức về xã hôi, văn 
hoá cơ bản và sâu sắt nhất. Thầy cô giáo hãy là những người bạn chia sẻ, đầy tâm lý với họ qua những giờ sinh hoạt ngoại khoá về 
SKSS­ Tuỏi VTN. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, cho họ xem tư liệu về cách sống sai, hiểu biết sai và cái chính là cho họ thấy được 
hậu quả gì, tác hại gì sau những hành động ấy. Mở các lớp tư vấn tình cảm , kịp thời uốn nắn những sai lệch trong suy nghĩ và lối 
sống của họ. Mời những chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm…Ngoài ra, nên lồng ghép vào những môn học chính như sinh học, địa lý, 
giao duc công dân………
"Giáo viên phải được trang bị và thực hành thành thạo các phương pháp giảng dạy kỹ năng sống, đồng thời phải gần gũi, thân thiện 
với học sinh và gia đình các em, và bằng kinh nghiệm sống của mình mới có thể giúp học sinh vận dụng tốt những kỹ năng này vào 
cuộc sống", nguyên Vụ trưởng Giáo dục thể chất (Bộ GD&ĐT) nói 
­ Tuyên truyền tại những nơi cư trú địa phương, xã phường, tổ xóm làng…..
­ Tuyên truyền qua báo chí sách ảnh, film, truyện, …
­ Tuyên truyền qua các tổng đài điện thoại.chia sẻ tâm sự 
­ …………………………………………?  ? ? …………….

Một học sinh lớp 12 (Hà Nội) phân trần: “Ở trường em, chưa bao giờ có buổi học riêng về giáo dục giới tính mà chỉ xen kẽ trong các 
giờ sinh học. Nhưng các thầy cô giáo cũng chẳng nói nhiều. Trường thì chật chội, không có khuôn viên rộng, nếu muốn tổ chức các 
hoạt động văn nghệ lớn một chút cũng phải chạy đi mượn địa điểm thì làm sao mà mời các chuyên gia tư vấn tâm lý về nói chuyện 
được. Chúng em muốn biết thì phải tìm sách mà đọc hoặc hỏi bạn bè, xem phim thôi”.

Ví dụ: Ở tiểu học, nội dung này được lồng ghép vào môn khoa học, lên cấp hai, nội dung này có ở môn Sinh học lớp 8, cấp ba cài 
vào môn Giáo dục công dân, môn Địa lý. Lên đại học có rải rác ở các môn: Kinh tế chính trị, Địa lý, Tâm lý... và tên gọi không phải là 
SKSS mà là dân số. Lồng ghép như vậy dẫn đến thực trạng là môn nào giảng thì nội dung này sẽ được viết và dạy theo cách của 
môn học đó. Ví dụ, ở môn Địa lý sẽ chú trọng vào vấn đề dân số và sự khác biệt về địa lý, môn Kinh tế chính trị nhấn mạnh vào việc 
di cư, nhập cư và những ảnh hưởng của nó đến dân số… Không có một môn học riêng biệt, độc lập nên không có sự toàn diện, có 
tính hệ thống. Cũng vì lý do này mà giáo viên kinh tế chính trị cũng phải dạy về sức khỏe sinh sản, giáo viên địa lý cũng phải dạy về 
SKSS.
Quỹ Dân số thế giới trước khi thực hiện các dự án đều khảo sát và điều tra tình hình giáo dục SKSS tại các trường phổ thông. Kết 
quả khảo sát đã phát hiện nhiều câu chuyện "cười như mếu": Một cô giáo dạy giáo dục công dân khi dạy về SKSS, phải nhận những 
câu hỏi đại loại: “Thưa cô, sử dụng bao cao su như thế nào” hay là “Tính vòng kinh ra sao?”…
Thực tế, vẫn chưa có giáo viên có thể đứng lớp với tư cách một chuyên gia về lĩnh vực này để giải đáp những thắc mắc cho học sinh. 
Các trường khắc phục thiếu sót này bằng việc mời chuyên gia uy tín về nói chuyện để “mở mang” cho các em. Đây được xem là biện 
pháp tích cực nhưng không phải trường nào cũng làm được và làm đều đặn. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Dân số thế giới, Ngày Thế giới 
phòng chống HIV/AIDS… các trường mời chuyên gia, trung tâm y tế dự phòng hoặc trung tâm phòng chống AIDS đến nói chuyện 
cho vài trăm học sinh một khối lớp. Tuy nhiên, biện pháp tích cực này vẫn bị hạn chế, một phần vì sự “rào trước, đón sau” của chính 
các thầy cô.
TS Đinh Đoàn sau một số lần được các trường phổ thông mời về nói chuyện với học sinh về vấn đề SKSS đã chia sẻ: “Khi xuống các 
trường nói chuyện về chủ đề “Tình bạn – Tình yêu – Sức khỏe sinh sản”, tôi vẫn thường được nhắc nhở rằng: Đừng nói chuyện tình 
dục với các em, chỉ nên khuyên bảo các em cố gắng học, học, học!”.
Bài học giới tính dành cho học sinh hiện nay chưa lớn kịp sự trưởng thành của thanh thiếu niên. Và vì lẽ đó, theo ý kiến nhiều chuyên 
gia, nên chăng các trường cần thay đổi quan điểm về việc đưa tài liệu cũng như phương pháp giảng dạy các kiến thức về SKSS cho 
học sinh .



Ngày 8­11, tại Hà Nội, Bộ Y tế Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) đã khởi động dự án phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam từ năm 
2005 đến 2011, tổng kinh phí 35 triệu USD do WB hỗ trợ. 
Đây là lần đầu tiên WB hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực này. Đại diện WB tại Việt Nam cho biết mục tiêu của dự án nhằm hỗ trợ Chiến 
lược phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. 

Tham gia dự án có một số Bộ, ngành liên quan cùng 20 địa phương trong cả nước, gồm An Giang, Bắc Giang, Bến Tre, Cao Bằng, 
Đồng Nai, Hải Phòng, Hậu Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Kiên Giang, Lai Châu, Nam Định, Nghệ An, Sơn La, Thái 
Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tiền Giang, Vĩnh Long và Yên Bái. 

Dự án tập trung vào các lĩnh vực Chương trình quốc gia phòng chống HIV, điều trị và chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV, truyền thông 
thay đổi hành vi, chính sách và thực hiện chính sách, tăng cường năng lực cán bộ và khuyến khích các sáng kiến phòng chống HIV.

Từng địa phương, Bộ, ngành sẽ chịu trách nhiệm nguồn kinh phí và đề xuất Kế hoạch hoạt động của dự án. 

Tại hội nghị khởi động dự án, ông Trịnh Quân Huấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Trưởng Ban chỉ đạo Dự án phòng phòng chống HIV/AIDS ở 
Việt Nam đã ký kết Kế hoạch hoạt động phòng chống HIV/AIDS với lãnh đạo 10/20 tỉnh, thành phố.

Theo TTXVN
seudaudo
01­12­09, 07:28 AM
Ngày chủ nhật (4­10) vừa qua, Chi cục Dân số ­ Kế hoạch hóa gia đình (DS­KHHGĐ) Bình Dương tổ chức buổi truyền thông 
HIV/AIDS cho 200 học sinh ­ sinh viên (HS­SV) lớp đại học liên thông ở trường Trung cấp nghề Dĩ An. Buổi truyền thông thật sự bổ 
ích, giúp cho các em còn trong độ tuổi thanh niên có kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, để tự bảo vệ mình và tuyên truyền cho các đối 
tượng khác. 
Đầu tiên, các em được bác sĩ Võ Thị Thu Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn tình yêu ­ Hôn nhân­ gia đình (trực thuộc chi cục) giới 
thiệu những kiến thức cơ bản như HIV, AIDS là gì, HIV có ở đâu trong cơ thể, những con đường lây, các giai đoạn phát triển của HIV, 
phòng tránh nhiễm HIV... 
Bạn phải đăng nhập mới có thể xem được nội dung.

Phát tài liệu tuyên truyền HIV/AIDS cho thanh niên

Vốn đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, bác sĩ Thu Hà đã biến buổi truyền thông thành một cuộc thảo luận. Các HS­SV ban 
đầu còn rụt rè, e ngại, sau đó đã sôi nổi tham gia phát biểu ý kiến, nêu lên những thắc mắc về vấn đề này.... Có em thắc mắc: Nước 
mắt có vi­rút HIV không? ­ Có, nhưng với số lượng 6 lít mới có khả năng lây sang người khác. Nếu đạp bơm kim tiêm thì xử lý ra sao? 
Xử lý ngay bằng xà bông, nặn máu chỗ vết thương hoặc xử lý bằng ô xy già... Những câu hỏi khác như: Quan hệ qua những đường 
nào dễ lây nhiễm HIV nhất, vì sao quan hệ đồng tính dễ lây nhiễm HIV?... các em cũng được bác sĩ Thu Hà giải đáp thỏa đáng. 
Sau buổi tư vấn, các em còn được nhận tài liệu truyền thông về HIV/AIDS, những em có nhu cầu còn được phát bao cao su miễn 
phí. Em Nguyễn Phúc Bình An, học sinh lớp trung cấp điện tâm sự: “Thời gian qua, tụi em cứ nghĩ rằng mình hiểu nhiều về HIV, 
nhưng thực sự khi tham gia buổi truyền thông này em mới thấy mình biết chưa nhiều. Từ nay, em đã có được nhiều kiến thức về 
HIV/AIDS để bảo vệ bản thân và tuyên truyền cho người thân, bạn bè”. 
Theo bà Nguyễn Thị Sen, Trưởng phòng Truyền thông Chi cục DS­KHHGĐ, Thư ký dự án phòng chống HIV/AIDS trong thanh niên: 
Đây là một trong những hoạt động của dự án phòng chống HIV/AIDS trong thanh niên tỉnh năm 2009. Dự án được triển khai giai 
đoạn 2008­2010, do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ, tập trung vào 4 hoạt động chủ yếu: vận động phòng chống 
HIV/AIDS, truyền thông đại chúng và sản xuất các tài liệu truyền thông trực tiếp, phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng, quản lý ­ 
giám sát ­ đánh giá và nâng cao năng lực. 
Riêng tại Bình Dương, dự án triển khai tại 2 huyện Dĩ An và Thuận An. Dự án đẩy mạnh các hoạt động truyền thông đại chúng, 
nhằm tăng cường sự nhận thức và ủng hộ phòng chống HIV/AIDS thông qua các chương trình phát thanh truyền hình, các tài liệu 
truyền thông trực tiếp. Dự án còn đào tạo và tập huấn cho các giáo dục viên, giáo dục viên đồng đẳng tại cộng đồng, cho cán bộ 
đoàn khu ấp ở các địa bàn triển khai dự án. 
Từ tháng 6 đến tháng 9, dự án đã mở được 29 lớp tập huấn cho các đối tượng: cộng tác viên, Đoàn thanh niên, HS­SV, giáo viên 
THPT và dạy nghề, thanh niên đường phố, thanh niên khu công nghiệp, nhân viên dịch vụ giải trí ­ nhà hàng khách sạn ­ karaoke, 
thanh niên nghiện chích ma túy; 3 buổi truyền thông cho công nhân ở Khu công nghiệp Sóng Thần 1, Việt Hương và học sinh trường 
Trung cấp Nghề Dĩ An. Bà Sen còn nói: “Qua các lớp tập huấn, truyền thông đã giúp các đối tượng nêu trên có thêm kiến thức, kỹ 
năng, có thể tham gia làm giáo dục viên, giáo dục viên đồng đẳng. 
Theo kế hoạch, dự án sẽ chọn ra 60 giáo dục viên và 20 giáo dục viên đồng đẳng cùng chúng tôi tham gia truyền thông về 
HIV/AIDS trong thời gian tới. Họ sẽ được hỗ trợ kinh phí, cấp các phương tiện như túi xách, áo mưa, tranh lật, tài liệu tuyên truyền 
cho đối tượng có nguy cơ cao, cấp bơm tiêm và bao cao su miễn phí, thời gian thực hiện từ nay đến năm 2011”. 
Hiện nay, Bình Dương có 100% huyện, thị có người nhiễm HIV, trong đó có 81/89 xã, phường, thị trấn có người nhiễm, tập trung 
nhiều ở TX.TDM, Thuận An, Dĩ An. Mỗi năm, tỉnh có 200 ­ 300 ca nhiễm mới. Qua giám sát, tỷ lệ nhiễm HIV trên đối tượng ma túy 
giảm, mại dâm tăng, 0,8% thanh niên khám nghĩa vụ quân sự nhiễm HIV, phụ nữ có thai là 0,26 ­ 0,47% nhiễm HIV. 

HỒNG THÁI
seudaudo
01­12­09, 07:32 AM
Theo ước tính của UNAIDS (Chương trình Liên hợp quốc về phòng, chống HIV/AIDS), hiện nay trên thế giới có hơn 35 triệu người 
nhiễm HIV; mỗi năm có hơn 2,5 triệu trường hợp nhiễm mới và khoảng 2 triệu người chết vì AIDS. Ở nước ta, từ trường hợp đầu tiên 
phát hiện (năm 1990) tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến 30­9­2009 đã ghi nhận được 156.802 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó 34.391 
bệnh nhân AIDS và 44.232 người tử vong do HIV/AIDS. Các chuyên gia dịch tễ học cho rằng, đây chỉ là con số thống kê được, còn 
thực tế cao hơn nhiều lần. Ước tính năm 2009, cả nước có khoảng 254.387 người đang sống với HIV/AIDS.
Bạn phải đăng nhập mới có thể xem được nội dung.
Phó thủ tướng Chính phủ Trương Vĩnh Trọng cùng lãnh đạo Bộ Y tế thăm, tặng quà trẻ em nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 
tại Trung tâm Giáo dục­Lao động­Xã hội số 2 Ba Vì, Hà Nội.Ảnh: Trần Thanh Tùng.



Nếu như trước đây, căn bệnh thế kỉ chủ yếu tập trung ở nhóm đối tượng tệ nạn xã hội (nghiện chích ma túy, mại dâm), thì nay HIV 
đã len lỏi trong cộng đồng dân cư, đe dọa tới cuộc sống bình yên của mỗi gia đình. Giờ đây, số người nhiễm HIV còn xuất hiện ở cả 
nhóm phụ nữ mang thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự… Không giống năm 2000, đại dịch tập trung chủ yếu ở các khu 
vực thành thị­nơi có nền kinh tế phát triển, nay đã có mặt gần như mọi miền đất nước kể cả những khu vực khó khăn, các thôn, bản ở 
vùng núi cao. Theo Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), hiện nay số người nhiễm HIV/AIDS phát hiện ở hơn 70% số xã, phường, 
tập trung ở 97% số quận, huyện trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố. Tỉ suất người nhiễm bình quân trên phạm vi toàn quốc là: 183 
người/100.000 dân. Tỉ suất nhiễm HIV trên 100.000 dân khác nhau theo khu vực địa lý: Cao nhất là khu vực miền đông Nam Bộ với 
323 người/100.000 dân; miền núi phía Bắc: 253 người/100.000 dân; thấp nhất là khu vực Tây Nguyên: 46 người/100.000 dân và 
Duyên hải miền Trung: 44 người/100.000 dân. 
Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS, đại dịch HIV/AIDS ở nước ta hiện đang có dấu hiệu chững 
lại và không tăng nhanh như những năm trước đây, song nó đang chứa đựng các nguy cơ bùng nổ một đợt dịch mới nếu không triển 
khai sâu, rộng các biện pháp can thiệp một cách hiệu quả. Nhận định trên xuất phát từ cơ sở thực tế là kết quả giám sát hành vi, 
trong đó cho thấy hai hành vi nguy cơ làm lây nhiễm HIV chủ yếu là dùng chung dụng cụ tiêm chích và quan hệ tình dục không sử 
dụng bao cao su. Các chuyên gia còn nhấn mạnh: Ai cũng có thể nhiễm vi­rút HIV nếu không biết cách phòng, tránh. Muốn phòng, 
tránh HIV/AIDS một cách hiệu quả thì mỗi người tự phải biết bảo vệ mình, bảo vệ người thân và cộng đồng. Bên cạnh việc nâng cao 
nhận thức và thực hiện hành vi an toàn trong dự phòng lây nhiễm HIV, vấn đề chống kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến 
HIV/AIDS cũng là một trong những biện pháp then chốt trong ngăn chặn đại dịch.
Với chủ đề: "Tiếp cận phổ cập và quyền con người", Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2009 diễn ra từ ngày 
10­11 đến ngày 10­12 với nhiều hoạt động phong phú, rộng khắp tại 63 tỉnh, thành phố. Mục tiêu tập trung vào việc đáp ứng các nhu 
cầu cấp thiết về tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị và dự phòng lây nhiễm HIV cho tất cả mọi người, không phân biệt 
giới tính, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo... Một trong những hoạt động tiêu biểu hưởng ứng Tháng hành động là tổ chức mít tinh và 
diễu hành đồng loạt ở các địa phương vào cùng một thời điểm là 7 giờ 30 phút chủ nhật, ngày 29­11­2009. Hoạt động này nhằm tạo 
ra phong trào quần chúng sâu rộng, thể hiện sự đồng tâm hiệp lực của cả hệ thống chính trị và của toàn dân tham gia phòng, chống 
HIV/AIDS. 
Đại dịch HIV/AIDS tuy nguy hiểm nhưng chúng ta hoàn toàn có thể chủ động phòng tránh. Hiện nay, Bộ Y tế có tổ chức các hoạt 
động phòng, chống HIV/AIDS thiết thực như: Giới thiệu và quảng bá rộng rãi các cơ sở cung cấp dịch vụ dự phòng, chăm sóc, điều 
trị HIV/AIDS sẵn có để mọi người dân, nhất là người nhiễm HIV/AIDS dễ dàng tiếp cận và sử dụng. Tăng cường cung cấp dịch vụ y 
tế, dịch vụ xã hội, chăm sóc sức khỏe, tư vấn và các phương tiện dự phòng lây nhiễm HIV như bao cao su, bơm kim tiêm sạch cho 
các đối tượng có nhu cầu. Vận động các tổ chức, cá nhân tham gia ủng hộ và chăm sóc người nhiễm HIV; vận động người nhiễm 
HIV và gia đình tích cực tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Bên cạnh đó, các địa phương đã và đang tổ chức nhiều 
hoạt động truyền thông như: Phổ biến Luật Phòng, chống HIV/AIDS; nói chuyện sức khỏe với cá nhân, với nhóm, thăm gia đình, tổ 
chức sinh hoạt của các câu lạc bộ phòng, chống HIV/AIDS, các nhóm giáo dục đồng đẳng…
Với quân đội, mắt xích quan trọng của hệ thống chính trị, ở đây có một số lượng khá đông cán bộ, chiến sĩ trẻ. Mặc dù đã được 
tuyển chọn kỹ lưỡng trước khi nhập ngũ và hoạt động trong môi trường kỷ luật cao, nhưng vẫn không tránh khỏi sự đe dọa của đại 
dịch. Để bảo đảm 100% quân số khỏe, không mắc HIV, các đơn vị trong toàn quân, mà cơ quan quân y các đơn vị phải là đầu mối 
triển khai hoạt động truyền thông đến tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị mình nhằm nâng cao nhận thức về HIV/AIDS và biện pháp 
dự phòng bệnh thế kỉ.
Bác sĩ QUỐC TUẤN


Để vị thành niên tự phòng tránh HIV/AIDS 
Cập nhật ngày: 22/08/2005


Ở  Việt Nam, hiểu biết về  các bệnh lây truyền qua  đường tình dục của vị  thành niên, thanh niên chưa cao, do vậy các em  
chưa có kỹ năng về an toàn tình dục để bảo vệ mình tránh lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, nhất là HIV/AIDS. 




Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lứa tuổi từ 10 đến 19 là vị thành niên (VTN), thanh niên (TN) trẻ tuổi từ 19 đến 24. Chương trình  
chăm sóc sức khoẻ  sinh sản và sức khoẻ  tình dục VTN – TN của khối Cộng đồng chung Châu  Âu (EU) và  Qũy Dân số  Liên hiệp  
quốc (UNFPA) coi  độ tuổi này từ 15  đến 24.  Ở Việt Nam, VTN từ 10 đến 16 tuổi, TN từ 16 đến 24 tuổi. Độ tuổi VTN có nhiều thay  
đổi về mặt sinh lý học và tâm lý học. Cơ thể lớn nhanh, các cơ quan sinh dục phát triển, tâm lý, nhận thức thay đổi, đặc biệt là xung  
động tình dục phát triển mạnh. Các em thường đặt nhiều câu hỏi để khám phá  thế giới của người lớn theo cách riêng của mình. Vì 
vậy việc giáo dục cho VTN những hiểu biết về mọi mặt là rất cần thiết, sao cho phù hợp với giai đoạn phát triển của VTN, trong  đó 
cần quan tâm đến sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục. Ở nước ta hiện nay có khoảng 50% dân số ở độ tuổi dưới 20, trong đó có 
20%  ở   độ  tuổi từ  10 – 19, với khoảng 15 triệu người. Theo số  liệu  điều tra của các cơ  quan chức năng, 50% số  người nhiễm  
HIV/AIDS ở lứa tuổi thanh niên, trong đó có 14% dưới 15 tuổi. Xu hướng người nhiễm HIV/AIDS “trẻ hoá” ngày càng rõ. Một số nguy 
cơ thúc đẩy xu hướng này là quan hệ tình dục trước hôn nhân và mức độ thay đổi bạn tình của VTN – TN ngày càng tăng. Số này có  
rất ít hiểu biết về các nguy cơ sức khoẻ do hành vi không an toàn, nhất là hành vi tình dục…hầu hết VTN nhiễm HIV/AIDS do tiêm 
chích ma tuý, qua  đường tình dục,  đặc biệt là  ở  các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh biên giới với Campuchia. Theo số  
liệu nghiên cứu của các tổ chức y tế, khoảng 13% VTN chưa biết tên một bệnh nào lây truyền qua đường tình dục. Mỗi năm nước ta 
có cả  triệu VTN thử  chức năng sinh sản của mình, nhiều em không có  kỹ năng an toàn tình dục  để  bảo vệ  mình, bảo vệ  bạn tình 
khỏi các bệnh lây truyền qua  đường tình dục và HIV/AIDS. 300.000 ca nạo thai/năm là VTN – TN chưa lập gia  đình ­ hậu quả  của 
nó rất nguy hiểm, ảnh hưởng rất lớn đến việc sinh đẻ sau này, đồng thời đây cũng là số có nguy cơ cao mắc các bệnh về tình dục.  
Đối tượng nhiễm HIV/AIDS  đang dần trẻ,  đòi hỏi các bậc cha mẹ, nhà  trường và  xã  hội quan tâm và có những hành động kịp thời  
ngăn chặn nguy cơ. Hiện nay, quan niệm và hiểu biết của VTN – TN về HIV/AIDS chưa đầy đủ do tâm lý, động cơ, hoàn cảnh khác 
nhau. Nhiều trường hợp do hiếu kỳ, đua đòi, buông thả, ưa tìm cảm giác mạnh, không biết tự kìm chế trong quan hệ tình cảm và tình  
dục dẫn đến các tệ  nạn xã hội, ma tuý, mại dâm và  HIV/AIDS. Thời gian qua, việc các cơ  quan chức năng  đang vào cuộc để  dẹp  
nạn “sử dụng thuốc lắc” trong giới trẻ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ­ số sử dụng thuốc lắc đều là VTN – TN còn rất trẻ, sống rất  
thiếu trách nhiệm với bản thân, gia  đình và xã hội. Cơ  hội nhiễm HIV/AIDS của số này là rất lớn. Trong những năm qua, công tác  
giáo dục y tế được đẩy mạnh để  mọi người thấy rõ  tác hại của bệnh lây truyền qua  đường tình dục, đặc biệt là  HIV/AIDS. Chương  
trình giáo dục chăm sóc sức khoẻ  sinh sản cho học sinh phổ  thông trung học và  VTN – TN  được quan tâm hơn trước rất nhiều.  
Nhưng điều khó  khăn nhất và  chủ  yếu vẫn là  mọi người phải có lối sống lành mạnh, biết tự kiềm chế  trong quan hệ  tình cảm, tình  
dục. Bố mẹ, người trong gia đình phải gương mẫu, hướng dẫn con em mình đấu tranh với các tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, công tác  
truyền thông thay đổi hành vi cho VTN – TN là hết sức cần thiết. Các gia đình, cán bộ y tế cơ sở cần hướng dẫn các em đến với các  
trung tâm tư vấn để được trao  đổi, hướng dẫn cách sống, quan hệ tình dục lành mạnh, với trường hợp VTN – TN đã có những quan  
hệ tình dục bất bình thường, với đối tượng nguy cơ cao nên khuyến khích VTN – TN xét nghiệm tự nguyện dấu tên, khuyến khích đối  
thoại về  hành vi nguy cơ..VTN – TN chính là lực lượng lao  động trong tương lai không xa. Nếu VTN –TN  được trang bị  những kiến  
thức bổ ích nhất, được nuôi dưỡng trong bầu không khí trong lành nhất, các em biết tự điều chỉnh hành vi của mình, biết dị ứng với  
tệ nạn xã hội, biết giúp cho người thân và cộng đồng tránh xa
Đưa giáo dục giới tính vào trường học: Cách nào?

Giáo viên không chỉ có nhiệm vụ giảng dạy, định hướng và phát triển tài năng, họ còn có trọng trách
là giáo dục giới tính cho học sinh.

Tuy vậy, truyền tải vấn đề nhạy cảm này bằng cách nào, phương pháp nào hiệu quả nhất... vẫn
đang là câu hỏi lớn cho ngành giáo dục. Bằng chứng là, không ít giáo viên còn đỏ bừng mặt khi nói
về vấn đề giới tính cho học sinh tại các buổi giảng, còn học sinh ở dưới thì cứ khúc khích cười...

Những quan điểm trái ngược...

Hiểu một cách đầy đủ, vấn đề giáo dục giới tính bao gồm rất nhiều nội dung, như sức khỏe sinh
sản, các mối quan hệ cá nhân, sự phát triển giới tính, tình cảm, ngoại hình... Để có được những kết
quả khả quan, các chương trình giáo dục giới tính phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, diễn ra trong
quá trình lâu dài và đây vẫn là vấn đề rất nhạy cảm, tồn tại những quan điểm khác, trái ngược
nhau.

Một số ý kiến thậm chí là chính những giáo viên trực tiếp giảng dạy các tiết học giáo dục giới tính
cho rằng, nếu cung cấp cho học sinh những thông tin và giúp chúng phòng ngừa thai cũng như các
bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ đẩy các học trò này vào hoạt động tình dục sớm và bừa bãi.
Nhiều ý kiến khác "tẩy chay" việc đưa giáo dục giới tính vào học đường, nhất là các học sinh có độ
tuổi từ 12 đến 16. Họ cho rằng, các em vẫn còn quá nhỏ, chưa đủ nhận thức để hiểu được vấn đề
một cách thấu đáo, thậm chí còn cho giáo dục giới tính là "con dao 2 lưỡi", "vẽ đường cho hươu
chạy"...

Không đồng tình với những quan điểm trên, TS. Nguyễn Thị Lâm - Viện phó Viện Dinh dưỡng Việt
Nam phân tích: "Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng các mặt của đời sống xã hội đã ảnh hưởng,
làm thay đổi một số quan điểm truyền thống. Nếu như trước đây, học sinh lớp 6 được coi là "quá
bé", "chưa biết gì" và chưa thể nhồi nhét những kiến thức về giới tính thì những năm trở lại đây,
với sự phát triển một cách ồ ạt các hệ thống truyền tải thông tin, như đài, báo, tivi, internet, phim
ảnh, chế độ dinh dưỡng được cải thiện... đã làm ảnh hưởng đến những quan điểm cũng như sự
trưởng thành sớm của các em học sinh".

Bên cạnh đó, để chứng minh tác dụng của việc đưa giáo dục giới tính vào học đường vừa qua, Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành khảo sát gần 20 chương trình giáo dục giới tính ở trường
học của nhiều quốc gia trên Thế giới và đã cho thấy các dấu hiệu rất khả quan. Tỷ lệ trẻ vị thành
niên hoạt động tình dục muộn hơn. Nội dung của chương trình hoàn toàn không thúc đẩy những học
sinh này hoạt động tình dục sớm.

WHO cũng khuyến cáo, các chương trình giáo dục giới tính nên tiến hành khi các trẻ chưa bước vào
độ tuổi hoạt động tình dục. Với hướng đi này sẽ giúp trẻ không hoạt động tình dục sớm và trang bị
được nhiều kiến thức tình dục an toàn, giảm thiểu tối đa tình trạng có thai ngoài ý muốn, hoang
thai...

Tiến sỹ y học Nguyễn Thu Hà còn có những đánh giá khả quan hơn khi cho rằng, giáo dục giới tính
không chỉ đem lại cho lớp trẻ sự tự tin, vững vàng về tâm lý, tế nhị về thái độ giao tiếp với bạn bè
cùng giới cũng như khác giới, các kiến thức để tự bảo vệ và phòng tránh, mà hơn thế, sẽ lưu giữ lại
trong mỗi học sinh một khát khao giữ gìn, sự lành mạnh về thể chất cũng như tinh thần.
Mặc dù bước đầu công tác giáo dục giới tính đã có được những nhận định, đánh giá, kết quả tương
đối khả quan, nhưng theo nhận định của các chuyên gia ngành giáo dục, bên cạnh những thái độ
đồng tình, ủng hộ của khá nhiệu phụ huynh học sinh, vẫn còn một số phụ huynh chưa nhận thức
được rỏ bản chất của vấn đề, hoặc có thái độ e dè, lo sợ những mặt trái của giáo dục giới tính.
Một số khác lại chưa dứt khoát phản đối hay hưởng ứng, chưa tạo được mối quan hệ hữu cơ giữa
nhà trường, gia đình và học sinh - đây thực sự là một khó khăn cho ngành giáo dục, qua đó, ít nhiều
sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giáo dục giới tính.

Thí điểm hoàn... "thí điểm"?!

Từ những năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã phối hợp cùng Tổ chức Unicef soạn
thảo Chương trình thực nghiệm Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sóng cho học sinh THCS với
9 chủ đề: Phòng tránh HIV/AIDS; Phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; Phòng tránh và ứng phó với
tình huống căng thẳng; Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; Quyền trẻ em; Bệnh lây qua
đường tình dục; Phòng tránh ma túy; Phòng tránh thuốc lá rượu bia và Sống khỏe mạnh.

Riêng với Hà Nội, đã áp dụng cho 20 trường THCS ở 3 quận Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàn Kiếm
(quận Đống Đa 10 trường, quận Thanh Xuân 5 trường và quận Hoàn Kiếm 5 trường). Nhưng theo ý
kiến của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, chương trình thực nghiệm này chỉ mới dừng lại là các
tiết học ngoại khóa, ngoài giờ. Các trường tranh thủ vào các ngày nghỉ, cuối tuần để tổ chức giảng
dạy cho các học sinh.

Lý giải cho cách "bố trí" này bà Trần Thị Liên, chuyên viên Phòng Giáo dục trung học, Sở giáo dục
và Đào tạo Hà Nội cho rằng, sở dĩ các em học sinh chỉ được học, tìm hiểu vấn đề giới tính trong
các tiết ngoại khóa, ngoài giờ chính là việc, chương trình nội khóa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành đã "kín lịch", không thể cho thêm vào được. Vì thế, để tranh thủ thời gian cũng như hiệu quả
của công tác giáo dục giới tính, hầu hết các trường đều áp dụng phương pháp giảng dạy lồng ghép,
như giáo dục phòng chống ma túy, chống HIV/AIDS, phòng chống xâm hại tình dục... đan xen với
các bài giảng của bộ môn Giáo dục công dân hoặc môn Sinh vật.

Điều này có nghĩa, các em học sinh không bị ràng buộc về kết quả học tập bởi đây là môn học
không chính khóa, không yêu cầu phải hoàn thành môn học. Với cách thức này, ít nhiều sẽ dẫn đến
những ảnh hưởng đến kết quả, mức độ nhận thức của các em học sinh về vấn đề giới tính.

Theo quan điểm của bà Liên: "Điều quan trọng là việc các giáo viên có thu hút được sự quan tâm
của các em hay không, có gây được những hứng thú, tích cực tham gia của các em hay không". Và
để làm tốt được điều này, các trường đã có sự điều chỉnh về phương pháp giảng dạy, phương pháp
tổ chức. Bà Liên dẫn chứng: "Rất nhiều học sinh tỏ ra thích thú với việc nhập, sắm vai vào các
nhân vật - một trong những nội dung giảng dạy của chương trình giáo dục giới tính". Qua hoạt
động sắm, nhập vai các giáo viên sẽ có cơ hội quan sát, nắm bắt được tâm tư, tình cảm, phản ứng
của các học sinh với vấn đề giới tính, qua đó giáo viên sẽ có những sự điều chỉnh, uốn nắn cho phù
hợp.

Mặc dù đã có những dấu hiệu khả quan, nhưng trên thực tế, khi chương trình giảng dạy về giáo
dục giới tính cho học sinh được triển khai, trong 4 năm đầu, mới chỉ vẻn vẹn có 3 quận của Hà Nội
áo dụng. Vậy nguyên nhân do đâu? Bà Liên lý giải: "Đầu tiên phải kể tới vấn đề kinh phí hoạt
động, như việc tổ chức cho hoạt động nhóm, giáo viên phải mua sắm các thiết bị, giấy tờ, sổ sách.
Hoặc, để công tác giáo dục đạt chất lượng, các trường còn tổ chức các cuộc thi hiểu biết về giới
tính... nhưng chưa biết lấy kinh phí ở đâu".

Bên cạnh đó, những trường học chưa có, thiếu địa điểm cũng rất khó tổ chức các buổi giảng ngoại
khóa. Để tháo gỡ, nhiều lớp học sinh được tổ chức vào các ngày nghỉ, cuối tuần và giải pháp này đã
gặp phải những phản ứng không ủng hộ từ phía phụ huynh học sinh, nhiều gia đình không cho con
em mình tham gia.

Với những khó khăn do xuất hiện những quan điểm khác nhau, trái ngược nhau về giáo dục giới
tính và với tình trạng xâm phạm tình dục ngày một gia tăng cùng với nó là tỷ lệ nạo phá thai ở giới
trẻ đang rơi vào tình trạng báo động. Bên cạnh đó, sự phát triển với tốc độ chóng mặt của nên kinh
tế thị trường cùng với những mặt trái của nó đã đặt giới trẻ, nhất là độ tuổi vị thành niên đứng
trước những thử thách vô cùng lớn. Vậy để tháo gỡ vấn đề, còn gì tốt hơn là trang bị cho học sinh
những thông tin, kiến thức, kỹ năng và phương tiện để đưa ra được những quyết định, quan điểm
đúng đắn về giới tính, góp phần hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu biết.

Nên chăng, đã đến lúc đưa vấn đề giáo dục giới tính trở thành một bộ môn chính khóa trong nhà
trường?

Gần đây, tình trạng tội phạm vị thành niên, nhất là các thế hệ 9x
ngày càng gia tăng, đặc biệt loại tội xâm phạm tình dục. Bên cạnh
đó, là hiện tượng yêu sớm, quan hệ tình dục sớm, gia tăng tỷ lệ
nạo phá thai ở vị thanh niên, rồi hàng loạt các biến tướng kéo theo
những hậu quả đau lòng đã gióng lên hồi chuông báo động cho nền
giáo dục nói chung cũng như công tác quản lý, chăm sóc, bồi dưỡng
tri thức cho thế hệ trẻ.

Có lẽ, một việc làm cần thiết với ngành giáo dục, đó chính là đưa
giáo dục giới tính vào trường học thành một môn học chính khóa,
giúp trang bị những kiến thức cần thiết cho các em học sinh - lứa
tuổi rấy nhạy cảm và đầy rẫy những cám dỗ xung quanh...
Hiện nay, ở vào thời kì hội nhập nhiều học sinh, sinh viên có ý chí vươn lên trong h ọc t ập, có hoài bão
khát vọng lớn. Tuy nhiên, cũng dưới tác động của nền kinh t ế thị tr ường và c ơ ch ế m ở c ửa và do nhi ều nguyên
nhân khác, hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên nước ta có xu h ướng ngày càng tăng. M ột s ố hành vi vi
phạm pháp luật của học sinh, sinh viên khiến gia đình và xã h ội lo l ắng nh ư: vi ph ạm giao thông, đua xe trái
phép, bạo lực nhà trường, quay cóp bài, mua đi ểm, cờ bạc, nghiện rượu… Trong gia đình tr ẻ em thi ếu kính trên
nhường dưới, không vâng lời cha mẹ, người lớn…. Một số hành vi lệch chuẩn khác về m ặt đ ạo đ ức nh ư: s ống
hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, l ười lao đ ộng và h ọc t ập, thi ếu ý th ức rèn luy ện, không dám
đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, vị kỷ…
Trong nghiên cứu của GS.TS Vũ Dũng – Viện trưởng Vi ện Tâm lý học nêu lên th ực tr ạng này: Theo th ống
kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nếu năm 1986 có 3.607 ng ười ch ưa thành niên ph ạm t ội b ị phát hi ện thì
đến năm 1996 con số này là 11.726 em (gấp 3 l ần). Trung bình m ỗi năm trên c ả n ước có 4.746 ng ười ch ưa
thành niên phạm tội bị phát hiện.
Một con số khác khiến chúng ta phải suy nghĩ là theo th ống kê c ủa B ộ Y t ế, hàng năm ở n ước ta có
14.000 ca nạo phá thai ở tuổi vị thành niên (chiếm 10% s ố ng ười n ạo phá thai), có 5% s ố tr ẻ em gái d ưới 18
tuổi đã phải làm mẹ, có 14% số người nhiễm HIV/AIDS là trẻ em d ưới 15 tuổi.
Sự gia tăng đột biến của tệ nạn ma túy học đường là vấn đề nhức nhối. Nếu
như năm 2004 chỉ có 600 học sinh, sinh viên nghi ện ma túy, thì đ ến năm 2007
con số này đã tăng lên 1.234 học sinh, sinh viên.
Kết quả điều tra 600 sinh viên của 5 trường đại học ở Hà N ội năm 2006 cho
thấy có 69,7% sinh viên được hỏi cho rằng sinh viên hiện nay có bi ểu hi ện ch ạy
theo lối sống thực dụng; 31,2% cho rằng sinh viên hiện nay ch ưa có khát v ọng
Giáo dục đạo đức cho học
cao về lập thân, lập nghiệp vì tương lai; 21,8% cho là sinh viên có bi ểu hi ện m ờ sinh, sinh viên là quan trọng
nhạt về hoài bão và lý tưởng… bên cạnh việc dạy kiến
thức, dạy nghề
Theo báo cáo của TS.Phạm Thị Kim Anh (Đại học Sư ph ạm Hà Nội) cho
thấy: năm 2007, cuộc điều tra khảo sát tại 30 trường ĐH-CĐ trong c ả n ước c ủa V ụ Văn hóa (Ban T ư t ưởng
Văn hóa Trung ương) phối hợp với Vụ Công tác HS-SV (B ộ Giáo d ục Đào t ạo) nói lên con s ố đáng lo ng ại
51,4% sinh viên cho rằng “sống thử trước hôn nhân là hi ện t ượng khá ph ổ bi ến”.

* Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên: cần sự liên kết gia đình – nhà tr ường – xã h ội

Để đi tìm giải pháp các chuyên gia, nhà khoa học tâm lý, giáo d ục cùng nhau phân tích nguyên nhân c ủa
thực trạng trên. Theo TS.Phạm Thị Kim Anh (Đại học Sư ph ạm Hà Nội) đã nêu lên 3 nguyên nhân ch ủ y ếu:
Thứ nhất là sự buông lỏng trong việc quản lý giáo dục con cái c ủa gia đình. Nhi ều b ậc cha m ẹ sau th ời gian đi
làm về, muốn rảnh nợ đã mở ti vi hoặc trò chơi trên máy vi tính cho con. C ứ nh ư th ế nh ững đ ứa tr ẻ ngày càng
tách khỏi thế giới thực và bị cuốn hút bởi những trò ch ơi b ạo l ực li kì, h ấp d ẫn mà quên đi nhi ệm v ụ h ọc t ập,
giúp đỡ gia đình. Nhiều gia đình cả cha l ẫn mẹ đ ều nặng về m ưu sinh, không có th ời gian qu ản lý d ạy d ỗ con
cái đành giao trách nhiệm cho ông bà hoặc phó thác cho nhà tr ường; Th ứ hai, vi ệc giáo d ục đ ạo đ ức trong nhà
trường từ bậc phổ thông đến đại học còn nhiều bất ổn. Các ch ương trình giáo d ục đ ạo đ ức còn n ặng v ề lý
thuyết, nhẹ giáo dục kĩ năng sống, không t ạo được d ấu ấn và đi ều ki ện thu ận l ợi đ ể hình thành nhân cách cho
học sinh; Thứ ba, tác động của nền kinh t ế thị trường, sự hội nh ập các n ền văn hóa và s ự h ấp d ẫn c ủa đ ời
sống đô thị đã làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị xâm h ại và mai m ột d ần.
Đó cũng là 3 nguyên nhân cơ bản nhất được đề cập, phân tích, đánh giá m ột cách sâu s ắc, t ỉ m ỉ t ại bu ổi
hội thảo.
Phân tích nguyên nhân dẫn đến vi phạm đạo đức của h ọc sinh, sinh viên ở
khía cạnh tâm lý, ThS. Tống Thị Hồng (Giảng viên trường Cao đ ẳng S ư ph ạm
Đồng Nai) cho rằng: Về mặt tâm sinh lý cho thấy ở tuổi nh ỏ các em không m ắc
phải sai lầm nhiều như lứa tuổi Mầm non, Tiểu học, nhưng l ớn lên thì do thi ếu s ự
dìu dắt và quan tâm đúng mức nên các em lại bị lôi cuốn vào nh ững cái mà các
em ưa thích đặc biệt vi phạm nhiều nhất là ở tuổi thi ếu niên, giai đo ạn c ủa l ứa
tuổi dậy thì, muốn vươn lên làm người lớn (tiếp thu nhanh cái l ạ và b ắt ch ước
Toàn cảnh hội thảo
nhân vật ưa thích trong phim truyện…) và về m ặt tâm lý thì cái gì đã thích thì d ẫn
đến say mê không suy nghĩ hậu quả.
Từ những nguyên nhân nêu trên, hội thảo bàn đến các gi ải pháp giáo d ục đ ạo đ ức cho h ọc sinh, sinh
viên. Điều cần thiết là phải có sự phối hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và xã h ội t ạo môi tr ường thu ận l ợi
để giáo dục một cách đúng mức cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, các nhà nghiên c ứu, nhà khoa h ọc tâm lý, giáo d ục
cũng nhất trí cho rằng cần phải có sự thay đổi nội dung ch ương trình giáo d ục đ ạo đ ức cho h ọc sinh, sinh viên
trong nhà trường. ThS. Tô Lan Phương (Đại học Sư phạm Hà Nội) nêu lên quan đi ểm: “Ngoài vi ệc d ạy ki ến
thức văn hóa việc dạy đạo đức cũng là vấn đề hết s ức quan tr ọng vì v ậy nên đ ưa nh ững bài gi ảng đ ạo đ ức
thiết thực vào chương trình của người học tránh những bài lý thuy ết suông, khô khan, không gây h ứng thú cho
người học”. ThS. Lê Minh Hoàng (Giám đốc Sở Giáo dục Đào t ạo t ỉnh Đ ồng Nai) cho r ằng: C ần coi tr ọng tính
thực tiễn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên. Để bài h ọc môn đ ạo đ ức, giáo d ục công dân và
pháp luật hiệu quả, thầy cô cần tích cực liên hệ thực ti ễn, đưa ra nhiều tình hu ống đ ể các em t ự gi ải quy ết, qua
đó các em nhận thức được giá trị sống, học được k ỹ năng c ơ bản và đ ịnh h ướng hành vi. N ội dung ch ương
trình các môn học khác cần được lồng ghép nội dung giáo d ục t ư t ưởng cho h ọc sinh, sinh viên m ột cách phù
hợp.

MỘT SỐ GỢI Ý VỀ ĐỀ TÀI CUỘC THI UPU 39

a. Nội dung chính mà bức thư cần đề cập:

Căn bệnh HIV/AIDS đã trở thành “đại dịch”, để ngăn ng ừa, m ỗi ng ười c ần ph ải nh ận th ức rõ đ ể tuyên truy ền
cho mọi thành viên của cộng đồng hiểu biết, phòng tránh, đ ồng th ời chính b ản thân cũng ph ải t ự b ảo v ệ mình
chống lại căn bệnh này.

Như vậy, mỗi cá nhân không chỉ hiểu biết mà còn là tấm gương trong việc phòng ch ống căn b ệnh HIV/AIDS.

b. Thể hiện nội dung:

- Cần hiểu rõ căn bệnh AIDS. Theo thuật ngữ quốc t ế : AIDS là ch ữ t ắt hi ểu theo ti ếng Vi ệt là: “H ội ch ứng suy
giảm miễn dịch mắc phải”.

- AIDS do một loại vi-rút gây suy giảm mi ễn dịch ở ng ười, g ọi t ắt là HIV, chúng xâm nh ập vào c ơ th ể qua quan
hệ tình dục, qua truyền máu và tiêm chích ma túy. Hi ện chưa có thuốc đ ặc tr ị.

- Vi-rút HIV là nguyên nhân gây ra bệnh AIDS. Chúng gây nhi ễm trên chính b ạch c ầu lympho T (lo ại b ạch c ầu
mạnh nhất trong cơ thể), gây rối loạn chức năng của tế bào này và d ẫn t ới h ội ch ứng suy gi ảm mi ễn d ịch (c ơ
thể mất khả năng chống lại các vi khuẩn, vi-rút…).

Hiểu rõ căn bệnh AIDS, chúng ta mới thấy tại sao th ế giới g ọi là “đ ại d ịch” và t ầm quan tr ọng c ủa công vi ệc
tuyên truyền, tự bảo vệ chống lại căn bệnh này.

c. Sơ bộ về căn bệnh AIDS

Chủ đề cuộc thi năm nay được UPU chọn về đại dịch bệnh HIV/AIDS. Đây là m ột căn b ệnh hi ểm nghèo đã
được thế giới phát hiện ra cách đây gần 30 năm, phát triển và lây lan nhanh chóng trên toàn c ầu. Trên th ế gi ới
có khoảng 33 triệu người sống chung với HIV/AIDS. Hàng ngày, có 7400 trường h ợp m ới ph ơi nhi ễm b ệnh. Cho
tới nay, vẫn chưa tìm ra vắc xin phòng chống căn bệnh này.

Hưởng ứng chiến dịch phòng chống HIV toàn cầu, Liên minh Bưu chính thế gi ới – UPU đã ph ối h ợp v ới
Chương trình về HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Lao đ ộng Quốc t ế (ILO) và T ổ ch ức Công Đoàn Th ế
giới chọn chủ đề HIV/AIDS cho cuộc thi Viết thư Quốc t ế UPU l ần th ứ 39 và phát đ ộng phong trào h ưởng ứng
chiến dịch phòng chống HIV tới các bưu cục trên toàn mạng Bưu chính toàn c ầu.

d. Tại sao cần hiểu biết về bệnh AIDS và tự bảo vệ mình chống lại căn bệnh này?

Sở dĩ AIDS phát triển với tốc độ khủng khiếp như trên vì thời kỳ nhi ễm HIV có th ể kéo dài t ừ 2-10 năm. Trong
thời kỳ này, người vẫn khỏe mạnh bình thường, không có tri ệu ch ứng gì rõ r ệt, nh ưng cũng chính vì vậy mà
khả năng lây nhiễm là rất lớn, do không biết phòng tránh.

Bởi vậy, việc hiểu biết đầy đủ về căn bệnh này từ tác hại đến quá trình phát tri ển, gây tử vong, thay đổi thái độ
và hành vi, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hết s ức cần thi ết. Việc kết hợp các biện pháp
xã hội và biện pháp chuyên môn kỹ thuật y t ế trong phòng ch ống HIV/AIDS trên nguyên t ắc l ấy phòng ng ừa là
chính, trong đó thông tin giáo dục, truyền thông nh ằm thay đổi hành vi là bi ện pháp ch ủ y ếu.

e. Việc hiểu biết và tự bảo vệ như thế nào?
Cha ông ta đã dạy: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Từ khi trên thế gi ới và Vi ệt Nam phát hiện ra căn bệnh này,
Chính phủ và các tổ chức xã hội, đoàn thể đã có nhiều ch ương trình, ho ạt đ ộng tuyên truy ền đ ể m ỗi ng ười
dân, thành viên trong cộng đồng hiểu rõ căn bệnh HIV/AIDS.

Đối với tuổi học trò, căn bệnh HIV/AIDS thực s ự trở thành nguy c ơ, m ối lo l ắng v ới m ỗi gia đình, nhà tr ường và
xã hội. Nguyên nhân: Do chủ quan, nhiều bạn học sinh ban đ ầu b ị r ủ rê, lôi kéo “th ử” cho bi ết; một số bạn
chạy theo lối sống hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi… b ởi v ậy mà sa ngã vào tiêm chích ma túy, quan h ệ tình d ục
bừa bãi… dẫn đến bệnh tật, gia đình tan nát…; Do khách quan: lây nhi ễm qua b ố m ẹ, qua ch ữa b ệnh t ại b ệnh
viện…

Ở bức thư của mình, các em nên chọn những câu chuyện, sự vi ệc xảy ra trong th ực t ế : gia đình, b ạn bè và
bản thân để khẳng định việc nhận thức và tự phòng tránh căn bệnh AIDS là vô cùng cần thiết. Cũng có thể là
một trường hợp, hoàn cảnh thương tâm nhưng đã vượt qua b ệnh t ật, hoàn l ương, tr ở v ề hòa nh ập v ới cu ộc
sống, đóng góp có ích cho xã hội. Cũng khuyến khích các em bày t ỏ s ự thân thi ện, chia s ẻ, đ ồng c ảm c ủa m ọi
người với người bị mắc bệnh, tránh kỳ thị, ghét bỏ. Qua b ức th ư, các em cũng c ần nh ấn m ạnh đ ến tác h ại c ủa
việc mắc phải căn bệnh này, như về thể xác (ốm đau, tiều t ụy, h ủy hoại sức lực…), về tinh thần (u mê, thiếu
sáng suốt…). Đồng thời ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội: Bản thân là m ột gánh nặng cho gia đình, c ộng
đồng; về lâu dài, con cái cũng bị lây nhiễm…

Đây là một đề bài mà chủ đề mang tính xã hội, đòi hỏi các em khi vi ết ph ải có s ự suy nghĩ, cái nhìn khách quan
với mỗi sự việc, câu chuyện đặt ra. Cần phê phán nhưng cũng đề cao các gi ải pháp, h ướng đi cho nh ững ai và
ngay cả bản thân mình nếu đã mắc phải căn bệnh này.

LTS. Bài viết dưới đây là một nghiên cứu được trình bày theo quan đi ểm chuyên môn c ủa Y h ọc hi ện đ ại.
Không nhất thiết là quan điểm luân lý tôn giáo

Hội nghị lần thứ 4 về HIV/AIDS do Hội Quốc tế AIDS (IAS) đã diễn ra t ại thành ph ố Sydney, Australia, t ừ ngày
22 – 25 tháng 7 năm 2007. Hội nghị quy tụ hơn 5000 đ ại bi ểu g ồm các khoa h ọc gia, các chuyên viên th ượng
thặng về HIV/AIDS đến từ 133 quốc gia. Các nhà chuyên môn đã trình b ầy k ết qu ả nhi ều nghiên c ứu m ới nh ất
về sinh bệnh học, điều trị và phòng ngừa HIV đồng thời cũng tìm cách áp d ụng m ột cách th ực t ế các k ết qu ả
đó, đặc biệt là tại các quốc gia trên đường phát triển, nơi mà dịch bệnh đang hoành hành tr ầm tr ọng.

Thực vậy, tháng 12 năm 2006, Tổ chức Y tế Thế Giới và Chương trình phối h ợp của Liên Hi ệp Qu ốc v ề b ệnh
nhiễm HIV/AIDS đã công bố bản cập nhật cuối năm về tình trạng b ệnh này. Báo cáo nêu ra nhi ều thành công
của y khoa học trong việc điều trị, chăm sóc cũng như phòng ngừa bệnh. Nh ờ có d ược li ệu công hi ệu, b ệnh
nhân có thể kéo dài cuộc sống tương đối khả quan hơn và lâu hơn.

Nhưng bệnh vẫn còn là vấn đề nan giải vì tại một số quốc gia, bệnh có chi ều h ướng gia tăng. H ơn n ữa, hi ện
nay vẫn chưa có thuốc chủng ngừa với những con virus nguy hại này, mặc dù HIV/AIDS đã đ ược bi ết t ới t ừ 25
năm nay.

Vài hàng lịch sử

Mặc dù chỉ mới xuất hiện cách đây hơn 25 năm, nhưng nhiễm HIV/AIDS đã trở nên m ột d ịch b ệnh có tính cách
quốc tế.

Ngày 5 tháng 6 năm 1981, ca đầu tiên về bệnh suy miễn dịch b ất bình th ường có th ể gây t ử vong đ ược phát
hiện ở một người nam đồng tính luyến ái và người nghiện dùng chung kim chích t ại California, Hoa Kỳ.

Năm 1982, danh từ AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) đ ược đ ặt tên cho b ệnh suy mi ễn d ịch này.
Trước đó bệnh có tên là GRID (Gay Related Immune Deficiency)

Năm 1983, siêu vi gây bệnh HIV (Human Immunodeficiency Virus) đ ược tìm ra.

Cũng trong thời gian này, dịch bệnh HIV/AIDS ở người hoạt động tình d ục d ị tính xu ất hi ện ở châu Phi.
1985: Thử nghiệm đầu tiên để tìm kháng thể HIV được áp dụng.

Tài tử Rock Hudson tiết lộ đang bị AIDS.

1986: Có hơn 38.000 trường hợp AIDS trên 85 quốc gia trên th ế giới.

Hệ thống toàn cầu người nhiễm HIV/AIDS được thành lập

1987: Tổ Chức Y tế Thế giới phát động Chương Trình Toàn cầu Chống nhiễm HIV/AIDS.

1988: Thuốc trị bệnh AIDS đầu tiên zidovudine(AZT) được dùng ở Hoa Kỳ.

1990: Trên toàn thế giới có khoảng 8 triệu người s ống với HIV

1994: Các nhà khoa học khai triển phác đồ trị liệu để giảm lây lan HIV t ừ m ẹ sang con.

1996: Thuốc trị bệnh HIV/AIDS rất công hiệu (Active Antiretroviral Treatment) đ ược s ản xu ất và đ ược s ử d ụng
tại một số quốc gia đang phát triển.

1997: Có khoảng 30 triệu người sống với HIV trên thế giới.

Brazil là quốc gia đang phát triển đầu tiên trên thế gi ới cung cấp thuốc tr ị HIV/AIDS mi ễn phí cho b ệnh nhân
qua hệ thống y tế quốc gia.

2001: Nguyên thủ các quốc gia đặt kế hoạch lâu dài để đối phó v ới HIV/AIDS

2003: WHO và UNAIDS đặt kế hoạch phát thuốc chữa HIV cho 3 tri ệu ng ười khó khăn kinh t ế trên th ế gi ới t ừ
năm 2003 tới năm 2005.

2004: Hoa kỳ khởi sự chương trình PEPFAR để chống bệnh AIDS trên thế gi ới.

Hiện trạng

Hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 38.6 triệu người sống với HIV/AIDS, riêng khu v ực C ận Sahara ở châu
Phi có 25 triệu.

Trong năm 2006 có 4.3 triệu bệnh nhân mới và khoảng 2.9 triệu trường hợp t ử vong mà g ần ¾ ở châu Phi.

Kể từ khi ca bệnh đầu tiên được xác định vào năm 1981, số tử vong vì bệnh lên t ới trên 25 tri ệu ng ười.

Theo WHO, nếu không có biện pháp ngăn chặn, số t ử vong vì AIDS vào năm 2010 s ẽ là 45 tri ệu và tăng g ấp
đôi vào năm 2020.

Tại châu Phi, có 12 triệu trẻ em mồ côi vì cha mẹ thi ệt mạng do b ệnh AIDS.

Tới cuối năm 2006, trên toàn thế giới, có 17.7 triệu ph ụ nữ và 2,3 tri ệu trẻ em d ưới 15 tu ổi nhi ễm HIV.

Ở các quốc gia đang phát triển, nghèo khó, có khoảng 6,8 tri ệu ng ười cần thuốc tr ị b ệnh thì ch ỉ 1,5 tri ệu ng ười
nhận được thuốc.

Tại Việt Nam, số người sống với HIV tăng đáng ngại và bệnh xuất hiện ở hầu hết 64 tỉnh, thành phố. Bệnh
không chỉ giới hạn ở một số đối tượng như người mãi dâm, nghiện chích thuốc mà đã thấy ở dân chúng.

Từ năm 2000 tới năm 2005, số người nhiễm HIV tăng gấp đôi. Cho đến ngày 31 tháng 5 năm 2007, c ả n ước có
khoảng 126.543 người nhiễm HIV, tổng số chuyển sang AIDS là 24.788, t ổng s ố t ử vong vì AIDS là 13.874.

Theo ước lượng, số bệnh nhiễm sẽ lên tới 350.000 vào năm 2010.
Hai nguyên nhân chính đưa tới nhiễm HIV ở Việt nam là tiêm chích ma túy và quan h ệ tình d ục không an toàn
(mãi dâm, mua dâm, giao hợp nam/nam…), đặc biệt kể t ừ khi mở rộng kinh t ế thị tr ường và giao thông biên gi ới
mà không có biện pháp kiểm soát các tiêu cực kèm theo.

Việt Nam có khoảng hơn 20.000 bệnh nhân cần thuốc, nhưng mới có 7.000 ng ười nh ận đ ược thu ốc đ ặc tr ị. S ố
bệnh nhân cần thuốc sẽ tăng lên 57.000 vào năm 2008 và 73.000 vào năm 2010.

Ngân sách quốc gia dành cho việc phòng chống HIV năm 2006 là 82 t ỷ đ ồng, trong đó kho ảng 8 t ỷ đ ồng đ ể
mua thuốc điều trị, đủ cho 1000 bệnh nhân. Thuốc đi ều trị HIV rất đ ắt: mỗi năm chi phí cho thuốc bậc 1
khoảng 500 US đồng, bậc 2 hơn 2000 US đồng, bậc 3 lại cao hơn nữa. Do đó nguồn thuốc chính ở Việt
nam là do các tổ chức quốc tế tài trợ cho các tỉnh có nhiễm HIV cao. Tỉnh nhi ễm v ừa ph ải do ngân sách qu ốc
gia đài thọ (theo Cục Phòng Chống HIV/AIDS Việt Nam)

Theo báo cáo tại Hội nghị Phòng chống HIV tại Atlanta, Georgia ngày 12-15, 2005, cho t ới cu ối năm 2003, Hoa
Kỳ có từ 925.000- 1.025.000 người sống với HIV/AIDS. Trong số này, 366.000 người được xác định và sống
với HIV; 395.000 người sống với AIDS và 164.000-264.000 ng ười không bi ết mình s ống v ới HIV. M ỗi năm có
42.000 trường hợp nhiễm HIV mới. Tử vong vì AIDS từ khi b ắt đ ầu dịch b ệnh là trên 300.000.

Năm 2005, 74% trường hợp HIV/AIDS được xác định là nam và 26% là nữ.

Nhiễm HIV/AIDS ở nam giới: 67% do giao hợp nam/nam; 15% giao h ợp dị tính; 13% do dùng c ần sa ma túy.

Nhiễm HIV/AIDS ở nữ giới: 80% do giao hợp không an toàn, 19% do dùng c ần sa ma túy

Các tiểu bang có nhiều HIV/AIDS là California, Illinois, Maryland, Pennsylvania.

Năm 2007, ngân sách liên bang dành cho các chương trình HIV/AIDS là 22.8 t ỷ m ỹ kim, chia ra 18.9 t ỷ m ỹ kim
cho điều trị chăm sóc, trợ cấp tài chánh- nhà ở, phòng chống, nghiên c ứu t ại nội đ ịa Hoa Kỳ và 3.9 t ỷ m ỹ kim
hỗ trợ cho các quốc gia khác trên thế giới.

Hầu như mọi người bệnh tại Hoa Kỳ đều được điều trị với thuốc đặc trị ARV do ch ương trình b ảo trợ y t ế liên
bang hoặc tiểu bang, bảo hiểm tư nhân đài thọ…nên họ có th ể s ống lâu hơn và đ ời s ống c ủa h ọ t ương đ ối
cũng được bảo đảm. Tuy vậy hàng năm cũng có cả ngàn người không nh ận đ ược thuốc vì không h ội đ ủ các
tiêu chuẩn được trợ cấp. Trung bình, chi phí thuốc đặc trị cho m ỗi b ệnh nhân/ năm là 12.000 m ỹ kim.

Một điều đáng lưu ý là, ngay tại Hoa Kỳ với phương tiện truyền thông rộng l ớn, giáo d ục bệnh t ật r ất ph ổ bi ến
mà có tới ¼ những người sống với HIV không biết là họ đang bị nhiễm. Họ sẽ không tìm ki ếm đi ều trị chăm sóc
cho tới khi bệnh trầm trọng, khó chữa và họ cũng không áp d ụng các ph ương pháp phòng ch ống lây lan b ệnh
cho người khác. Do đó, gần đây chính quyền khuyến khích m ọi ng ười thử nghi ệm HIV để tìm ra ng ười đang b ị
nhiễm và giúp họ đừng truyền bệnh cho người khác.

Những yếu tố gây khó khăn cho phòng chống điều trị HIV/AIDS

Năm 1996, Liên Hiệp Quốc coi HIV/AIDS không chỉ là chuyện s ức khỏe riêng rẽ nh ưng là m ột v ấn đ ề quan
trọng cho nhân loại mà thế giới phải đương đầu, giải quyết. Họ cam kết s ẽ cùng nhau t ận l ực đ ể lo ại b ỏ d ịch
bệnh này vào năm 2015.

Tại hội nghị quốc tế về bệnh AIDS ở thành phố Sydney, Australia, trong tuần l ễ v ừa qua, các nhà h ữu trách có
nhiều kinh nghiệm đã tỏ vẻ bi quan về cuộc chiến chống lại bệnh này.

Thực vậy, mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng các biện pháp đối phó với b ệnh cho t ới nay v ẫn ch ưa đ ủ. Ch ỉ
trong vòng 25 năm, bệnh đã lan truyền từ một số điểm nóng tại vài quốc gia t ới h ầu nh ư m ọi n ơi trên th ế gi ới
với 65 triệu người bị bệnh và đã gây tử vong cho 25 triệu sinh m ạng. B ệnh đã gây rất nhi ều tr ở ng ại cho nhi ều
quốc gia trong việc giảm thiểu nghèo đói, nâng cao giáo d ục, thúc đ ầy bình đ ẳng nam n ữ, gi ảm t ử vong ở tr ẻ
em và chấn chỉnh sức khỏe các bà mẹ.
Việc phòng tránh và điều trị HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn trở ngại. Sau đây là m ột s ố y ếu t ố chính:

1- Thái độ kỳ thị, đối xử khác biệt với người nhiễm HIV/AIDS

Ngay từ khi được phát hiện, đã nẩy sinh ra một sự kỳ thị, phân biệt đ ối xử v ới ng ười b ị nhi ễm HIV.

Kỳ thị là có thái độ tiêu cực đối với một cá nhân hoặc nhóm ng ười vì b ản ch ất ho ặc nh ững đ ặc đi ểm c ủa h ọ.
Chẳng hạn kỳ thị nam nữ vì khác giống với mình, kỳ thị tuổi tác vì già trẻ h ơn mình, kỳ th ị ng ười khác màu da,
không cùng nghề nghiệp.

Kỳ thị với người bệnh HIV/AIDS có thể là xa lánh, hắt hủi và coi h ọ là:

- là những thành phần xấu trong xã hội

- là người đã có những hành vi không bình thường

- bệnh của họ là hậu qủa của không đạo đức, trách nhiệm

- họ đã gây ra tiếng xấu cho gia đình, lối xóm

- bệnh của họ nguy hiểm, dễ lây nếu tiếp xúc, t ới gần

Họ bị cô lập, loại trừ ra khỏi các sinh hoạt chung và giới hạn ti ếp nh ận các dịch v ụ c ần thi ết cho đ ời s ống,
không được giúp đỡ trong công việc, không được phục vụ tại các nhà hàng ti ệm ăn. T ại tr ường h ọc, con cái
của họ bị cho ngồi riêng, đôi khi bị t ừ chối...

Thường thường kỳ thị bắt nguồn từ sự không hiểu biết về nguyên nhân, cách lây lan và di ễn ti ến c ủa b ệnh.
Nhiều khi cũng có kỳ thị với nhóm người mang bệnh nhiều hơn như giới bán dâm, dân nghi ện ng ập, ng ười có
khuynh hướng tình dục khác thường.

Nhiều khi chính người bệnh cũng có thái độ tiêu cực về mình. Họ t ự cảm th ấy x ấu hổ, đáng trách v ề hành đ ộng
của mình, sợ bị coi thường miệt thị rồi tách xa xã hội, không tìm ki ếm giúp đ ỡ trị li ệu, không tìm hi ểu v ề b ệnh,
đôi khi lại xa lánh người đồng cảnh ngộ.

Nghiên cứu cho hay, tại nhiều quốc gia châu Phi, phụ nữ bị kỳ thị h ơn nam gi ới. H ọ b ị ng ười ch ồng truy ền
bệnh cho rồi còn bị chế diễu, quấy rối, đe dọa hành hung, không cho h ưởng tiện nghi đi ều tr ị, đôi khi b ị đu ổi ra
khỏi nhà.

Kỳ thị đưa tới các hậu quả tai hại như:

- Bệnh trở nên khó kiểm soát vì người bệnh không dám thảo luận về các ph ương thức phòng tránh b ệnh.

- Người bệnh không dám ra mặt chữa trị, phải loay hoay tự lo t ự liệu, s ống trong thi ếu thốn, buông xuôi, ch ờ
chết.

- Người nghi bị bệnh không đi thử nghiệm vì sợ bộc lộ dương tính, mất việc làm, b ị xa lánh

- Tạo ra sự chia rẽ trong cộng đồng dân chúng.

Riêng tại Việt Nam, theo tài liệu của Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương, có hai đ ịa đi ểm mà ng ười nhi ễm HIV
bị kỳ thị nặng nề nhất là gia đình và cơ sở y t ế.

Sự phân biệt đối xử và thành kiến này cần được xóa bỏ bằng cách phổ bi ến rộng rãi các ki ến thức c ần bi ết v ề
HIV/AIDS cho mọi tầng lớp dân chúng, khích l ệ s ự tham gia c ủa ng ười nhi ễm HIV, l ập ra các nhóm đ ồng b ệnh
để họ sinh hoạt giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường nhân viên tư vấn, cung c ấp d ịch v ụ ch ữa trị, thu ốc men.

2- Vấn đề dược phẩm
Cho tới bây giờ, chưa có thuốc chữa dứt HIV/AIDS. Các thuốc đang dùng có khả năng trì hoãn giai đo ạn nhi ễm
HIV sang giai đoạn bệnh AIDS bằng cách ngăn chặn s ự sinh sản của virus. Ng ười b ệnh ph ải u ống m ột h ỗn
hợp từ ba tới bốn loại thuốc mỗi ngày và uống suốt đời. Nhờ đó tuổi th ọ của h ọ có th ể kéo dài c ả vài ch ục
năm.

Tuy nhiên, vì giá thuốc quá cao nên đa số bệnh nhân tại các quốc gia đang phát tri ển không nh ận đ ược thu ốc.
Nơi đây, các cố gắng đều tập trung ở các dược phẩm giản dị để loại trừ các bệnh bội nhi ễm và gi ảm s ự đau
đớn của bệnh nhân.

Một trở ngại nữa trong việc dùng thuốc là, bệnh nhân cần được th ử nghiệm máu theo đ ịnh kỳ đ ể theo dõi k ết
quả điều trị. Thử nghiệm này rất tốn kém và cần nhân viên có chuyên môn cao. Ngoài ra, vi ệc đào t ạo nhân
viên biết sử dụng thuốc để trị bệnh cũng cần thời gian với nhi ều chi phí.

Cho tới tháng 12 năm 2006, có khoảng 7 triệu người nhiễm HIV t ại các quốc gia có thu nh ập kinh t ế trung bình
và thấp cần thuốc ARV để điều trị, vậy mà chỉ có hơn 2 triệu người nh ận đ ược thuốc.

Tại hội nghị Sydney, bác sĩ Pedro Cahn, Chủ tịch IAS, tuyên b ố: “ Ch ưa t ới 1/3 b ệnh nhân HIV t ại các qu ốc gia
có lợi tức thấp được điều trị với thuốc công hiệu và số người tiếp nhận được các ph ương th ức phòng ng ừa h ữu
hiệu như bao cao su, kim sạch lại càng ít hơn”.

Cơ quan Y Tế Thế giới và nhiều tổ chức thiện nguyện khác đã kêu gọi các công ty d ược ph ẩm giảm giá thuốc
để giúp đỡ cho bệnh nhân tại các quốc gia nghèo khó này. Vì, nh ư Federico Mayor, m ột gi ới ch ức c ủa
UNESCO, đã nói một cách cay đắng “Thực là đáng xấu hổ khi để cho b ệnh nhân HIV t ại các qu ốc gia nghèo
khó chết vì họ không được hưởng các phương thức trị liệu hữu hiệu có s ẵn cho dân chúng các qu ốc gia gi ầu
có”.

3- Mãi dâm

Tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở châu Phi và mấy quốc gia ở Đông Nam châu Á, lây nhi ễm HIV/AIDS qua sinh
hoạt tình dục không an toàn vẫn là con đường quan trọng.

Người mãi dâm có nhiều rủi ro mắc bệnh và lan truyền bệnh.

- Họ thường tiếp cận với nhiều khách và họ cũng như khách lại ít khi dùng bao cao su b ảo v ệ, do không có
hoặc không hiểu rõ ích lợi của bao cao su. Nhiều khi khách không chịu dùng vì mu ốn có c ảm giác th ực.

- Họ không được pháp luật bảo vệ nên khi bị khách hãm hiếp, lạm d ụng, không dám tìm s ự b ảo v ệ c ủa công lý.

- Họ thường bị kỳ thị, đối xử khác biệt, nên không dám tìm kiếm giúp đỡ y t ế, do đó d ễ dàng nhi ễm và truy ền
bệnh cho người khác.

- Họ hay dùng thuốc cấm để giải tỏa khó khăn đời sống, nghề nghiệp hoặc bán dâm đ ể l ấy ti ền mua thu ốc.
Dùng chung kim chích rất thường xảy ra và dễ dàng nhiễm, truyền HIV.

Theo WHO, để hoàn thành việc giảm thiểu rủi ro lây lan bệnh, cần ph ải ch ấm d ứt kỳ th ị tr ừng ph ạt ng ười mãi
dâm và phải khích lệ họ tham gia vào việc phòng ngừa lây lan và t ự b ảo vệ, chăm sóc. H ọ v ẫn còn quy ền h ạn
công dân nhưng chỉ vì hoàn cảnh phải làm một nghề mà chính h ọ không muốn.

Chính phủ phải cung cấp cho họ và khách hàng các kiến thức về HIV/AIDS, cách thức phòng tránh; thuy ết
phục họ sử dụng các dịch vụ mà nhà nước cung cấp và tích cực tham gia vi ệc giữ gìn s ức kh ỏe nh ư dùng bao
cao su, khám bệnh theo định kỳ.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý tới nhiễm HIV ở người mua dâm. Tại nhi ều quốc gia ở Á châu, s ố ng ười này lên t ới
15% dân chúng. Con số này tăng lên đến 44% nếu họ phải di động thường xuyên, nh ư tài xế xe v ận t ải, công
nhân các hầm mỏ hoặc làm việc trong rừng.
4- Nghiện chích thuốc

Dùng thuốc cấm dưới hình thức chích hoặc uống vẫn là rủi ro lớn đ ể gây lây lan nhi ễm HIV.

Theo ước đoán của Văn phòng Ma Túy và Tội Phạm Liên Hiệp Quốc (UNOCD), năm 2004 có 200 tri ệu ng ười
dùng cần sa ma túy trên thế giới, 13.2 triệu người dùng kim chích thuốc và kho ảng 1/10 ng ười nhi ễm HIV là do
dùng chung kim chích không an toàn. Đa s ố những người này s ống ở Đông Nam châu Á. Dùng chung kim chích
là con đường rất hữu hiệu và trực tiếp truyền các bệnh nhiễm virus máu nh ư HIV, viêm gan.

Uống hoặc hít cần sa, ma túy cũng dễ bị nhiễm HIV vì thuốc tăng d ục tính ng ười dùng, thúc đ ẩy h ọ có quan h ệ
tình dục không bảo vệ.

Đã có nhiều đề nghị để giảm thiểu nhiễm HIV ở người nghiện dùng chung kim chích nh ư:

- Giảm lưu hành số lượng thuốc cấm.

- Giảm số người dùng thuốc cấm bằng giáo dục học đường, phổ biến ki ến thức về ảnh h ưởng xấu c ủa nghi ện
thuốc.

- Giảm các nguy cơ nhiễm HIV khi dùng thuốc như phát hoặc đánh đổi ống chích s ạch, ch ữa tr ị ng ười nghi ện,
cổ võ dùng bao cao su, phổ biến thông tin về liên hệ gi ữa chích thuốc v ới HIV…

Ngoài ra, việc điều trị HIV ở lớp người này có một số trở ngại như một s ố l ớn không nh ận đ ược thuốc đ ặc tr ị,
một số khác có tương tác giữa thuốc trị HIV và thuốc cấm.

5- Chưa có vaccine với HIV

Các khoa học gia đã cố gắng rất nhiều, nhưng cho t ới nay vẫn chưa có vaccine đ ối v ới HIV. Lý do là có nhi ều
loại HIV khác nhau, lan truyền khác nhau và chúng luôn luôn thay hình đ ổi d ạng, d ấu mình trong t ế bào mà h ệ
miễn dịch không đụng tới được. Chúng mau chóng hủy hoại hệ thống miễn d ịch và ch ưa có b ệnh nhân nào
được chữa khỏi để biết nguyên lý của bệnh.

Trên đây là một số trở ngại chính trong việc phòng chống HIV/AIDS. Ng ười vi ết mong các v ị th ức gi ả khai tri ển
thêm.

Kết luận

Tại hội nghị Sydney, nhiều ý kiến trình bầy khiến cho mọi người phải e ng ại, quan tâm về tình tr ạng ch ữa tr ị và
phòng ngừa HIV/AIDS.

Tiến sĩ Anthony Fauci, Cố vấn của Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush về HIV, cho hay là đã có nhi ều ti ến
bộ nhưng cứ mỗi bệnh nhân HIV nhận được trị liệu thì có sáu bệnh nhân m ới đ ược phát hi ện.

Bác sĩ Brian Gazzard, Chủ tịch Hiệp Hội HIV Anh quốc, tuyên bố “Hiện nay, d ịch HIV không ki ểm soát đ ược ở
châu Phi, hoàn toàn không kiểm soát được ở châu Á”.

Theo bác sĩ Pedro Cahn, chủ trì hội nghị: “Các dữ kiện khoa học trình b ầy t ại hội ngh ị không ch ỉ là nh ững ti ến
bộ mới rất quan trọng về điều trị và phòng ngừa, mà còn về làm sao hỗ trợ các quốc gia đang m ở mang đ ể h ọ
có thể áp dụng các tiến bộ đó đối với những người đang cần và đang mang rủi ro b ị b ệnh. Chúng ta đang đ ối
phó với một căn bệnh có thể phòng ngừa được, vậy mà mỗi ngày vẫn có trên 10.000 ng ười nhi ễm b ệnh. Chúng
ta đang đối phó với căn bệnh có thể điều trị được, vậy mà mỗi năm có trên 3 tri ệu ng ười chết. Chúng ta đã
không áp dụng được các kết quả này vào thực tế và đây là điều đáng h ổ thẹn”.

Thực vậy, sự gia tăng dịch AIDS không phải là do thi ếu các k ế hoạch phòng ch ống, mà là do không s ử d ụng/áp
dụng được những phương tiện sẵn có để làm chậm sự lan tràn của HIV. Cả 25 năm sau khi d ịch đ ược phát
hiện lần đầu tiên, đa số những người có nhiều rủi ro nhiễm HIV đã không bi ết cách phòng ch ống HIV. Lý do là
tại nhiều quốc gia, nhà hữu trách đã không chịu áp dụng hoặc dân chúng không th ực hi ện nh ững ph ương pháp
được coi như hữu hiệu.

Hội nghị kết thúc với lời kêu gọi dồn nhiều nỗ lực vào việc cải thiện trị liệu ở trẻ em, vào nh ững h ứa h ẹn và
thách đố liên quan tới kế hoạch phòng chống sinh y học và các trở ng ại gây ra do kh ả năng chuy ển th ể c ủa
siêu vi HIV.

Giáo sư David Cooper, đồng chủ tọa hội nghị tuyên bố: ”HIV là một trong nhi ều thử thách khoa h ọc l ớn nh ất và
phức tạp nhất trong thời đại của chúng ta. Đối phó với th ử thách này đòi h ỏi m ột quy ết tâm chính tr ị lâu dài và
sự gia tăng nguồn tài nguyên cho các công trình nghiên c ứu về HIV”.

Hội nghị đã ra một tuyên ngôn kêu gọi dành 10% t ổng s ố các nguồn tài trợ cho HIV đ ược dùng trong vi ệc
nghiên cứu. Trong ngày bế mạc, trên 1.550 khoa học gia, giới chức y t ế, lãnh t ụ c ộng đ ồng đã đ ồng ý ký b ản
tuyên ngôn này.

“Chúng ta phải cố gắng hơn nữa để bảo vệ tương lai của chúng ta, tìm ph ương th ức h ữu hi ệu h ơn đ ể ch ữa tr ị
cho những người trẻ nhất trong số chúng ta và theo đuổi các kế hoạch phòng ch ống d ựa trên s ự thay đ ổi hành
vi và phương tiện y sinh học như chất tiêu diệt virus, phòng ngừa ti ền ti ếp c ận”, Bác sĩ Pedro Cahn, ch ủ t ọa h ội
nghị kết luận.

Hy vọng là tiến bộ của y khoa học và quyết tâm của mọi người s ẽ khống chế được HIV trong t ương lai thật
gần.

Hội nghị 5 về HIV/AIDS sẽ họp tại Cape Town, quốc gia Nam Phi, vào năm 2009.

Đưa kiến thức phòng chống HIV/AIDS vào trường học
Ngày cập nhật: 31-08-2009
Đây là một trong những vấn đề trọng tâm đã và đang được Ban giám hi ệu các
trường phổ thông ở huyện Châu Thành A quan tâm tập trung thực hiện…


Để trang bị những kiến thức cơ bản cho khoảng 3.000 học sinh về các biện pháp
phòng chống HIV/AIDS, trong thời gian qua Ban giám hiệu Trường THPT Tầm Vu 1,
huyện Châu Thành A luôn chú trọng đến công tác tuyên truyền thông qua các buổi sinh
hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp... Chương trình phòng chống HIV cũng được lồng ghép các
tiết học của những môn chính khóa như: giáo dục công dân, sinh học, văn học,... Tổng
Xé giấy dán tranh liên quan đến các
phụ trách Đội Trường THPT Tầm Vu 1 Đặng Lê Đắc Thắng, cho biết: “Đối với học sinh
con đường lây nhiễm HIV do Đoàn
Trường Tầm Vu 1 tổ chức. cấp 3, ngoài việc truyền đạt cho các em kiến thức về nguy cơ lây nhiễm, các biện pháp
phòng chống sự lây nhiễm của HIV/AIDS, nhà trường còn tạo điều kiện cho các em tìm hi ểu sâu hơn về căn bệnh này, nh ư:
thời gian ủ bệnh, những biểu hiện để phát hiện bệnh... Đối với học sinh cấp 2, nhận thức của các em chưa đ ầy đ ủ, nên vi ệc
tuyên truyền chủ yếu dùng các hình ảnh trực quan, tranh ảnh hoặc những câu hò, vè... liên quan đến HIV/AIDS”.


Song song đó, hàng năm trường đều tổ chức các cuộc thi hái hoa dân chủ với nhi ều hình thức phong phú nh ư xé gi ấy dán
tranh, tiểu phẩm... Năm học 2008-2009, Trường THPT Tầm Vu 1 còn tổ chức chi ếu những thước phim v ề nh ững em bé,
những gia đình có người bị nhiễm HIV để các em học sinh có ý thức tự bảo vệ mình; đồng thời cảm thông không phân biệt, kỳ
thị hoặc xa lánh những trường hợp đang mang trong mình căn bệnh thế kỷ. Em Phạm Thúy Vi, học sinh l ớp 7A11 nói: “Sau
khi được thầy cô truyền đạt lại những kiến thức phòng chống HIV/AIDS, em bi ết căn bệnh này lây qua đ ường nào và con
đường nào là không lây nhiễm HIV. Do đó, nếu bạn em ho ặc ng ười thân mắc căn b ệnh này, em v ẫn ăn c ơm chung, trò
chuyện bình thường...”.


Còn Trường THPT Tầm Vu 3, gần Trung tâm Y tế dự phòng, nên hàng năm trung tâm thường l ấy đi ểm tr ường này làm n ơi
phát động các cuộc mít-tinh, tuyên truyền liên quan đến phòng chống HIV/AIDS. Qua các cuộc mít-tinh, tuyên truyền các em
học sinh không chỉ là những người trực tiếp phát động phong trào, mà còn giúp các em tiếp thu đ ược kiến thức cơ bản trong
công tác phòng chống HIV/AIDS. Em Nguyễn Thị Huỳnh Dung, học sinh lớp 8A1, nói: “Qua các buổi sinh ho ạt v ề công tác
phòng chống HIV/AIDS tại trường, em đã hiểu căn bệnh HIV lây truyền qua ba con đ ường: đ ường máu, tình d ục và t ừ m ẹ
sang con. Để ngăn ngừa căn bệnh này, bản thân em kiên quyết không dùng chung bơm kim tiêm, thường xuyên đi ki ểm tra
sức khỏe...”.


Công tác tuyên truyền về các biện pháp phòng chống HIV/AIDS trong thời gian qua đ ược Ban giám hi ệu nhà tr ường xem là
nhiệm vụ trọng tâm. “Ngay từ những buổi sinh hoạt dưới cờ đầu năm học nhà trường đã phổ biến cho các em tác hại của các
tệ nạn xã hội, trong đó tập trung đề cập nhiều đến căn bệnh HIV. Qua đó, giúp các em tự nhận th ức và đi ều khi ển hành vi
của mình sao cho đúng chuẩn mực. Với sự quan tâm của nhà trường và sự hỗ trợ chuyên môn, tài li ệu, t ờ b ướm t ừ các c ơ
quan liên quan. Nhìn chung hiện nay không chỉ học sinh cấp 3, mà ngay c ả nh ững em h ọc sinh c ấp 2 cũng hi ểu rõ đ ược
những con đường lây nhiễm HIV” - Phó Hiệu trưởng Trường Tầm Vu 3, Nguyễn Hoàng Trung nói.


Việc tuyên truyền không chỉ giúp học sinh có kiến thức về các biện pháp phòng chống HIV/AIDS, mà còn giúp các em tự điều
khiển hành vi, lối sống của mình cho phù hợp với chuẩn mực. Chính các em sẽ là những cộng tác viên truyền thông tích cực
để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản