Angkor xưa và nay phần 2

Chia sẻ: Thuyvan Van | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
120
lượt xem
56
download

Angkor xưa và nay phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Angkor xưa và nay Angkor Wat Chúng tôi trước tiên đến thăm đền nổi tiếng và lớn nhất trong quần thể Angkor: Angkor Wat. Angkor là từ đọc trại từ chữ nokor nghĩa là thành phố (bắt nguồn từ chữ Sanskrit nagara).Tôi rất xúc động khi nhìn thấy đến từ đàng xa trên đường xe đến cửa đền hình ảnh quen thuộc từ xa với các cây thốt nốt thường thấy trong sách. Angkor huyền bí và mầu nhiệm mà bao lâu nay tôi đã mường tượng và ước ao có dịp được thăm viếng và chiêm ngưỡng nay đã...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Angkor xưa và nay phần 2

  1. Angkor xưa và nay Angkor Wat Chúng tôi trước tiên đến thăm đền nổi tiếng và lớn nhất trong quần thể Angkor: Angkor Wat. Angkor là từ đọc trại từ chữ nokor nghĩa là thành phố (bắt nguồn từ chữ Sanskrit nagara).Tôi rất xúc động khi nhìn thấy đến từ đàng xa trên đường xe đến cửa đền hình ảnh quen thuộc từ xa với các cây thốt nốt thường thấy trong sách. Angkor huyền bí và mầu nhiệm mà bao lâu nay tôi đã mường tượng và ước ao có dịp được thăm viếng và chiêm ngưỡng nay đã trong tầm tay và chỉ trong vài phút nữa sẽ được toại nguyện. Cách đây không lâu khoảng gần 150 năm, vào năm 1858, nhà thực vật học và thám hiểm Pháp Henri Mouhot đã khám phá ra Angkor hoang vắng chìm đắm trong rừng rậm từ bao thế kỷ. Đền bị các cây cổ thụ mọc phủ kín, rể cây khổng lồ chen vào các khe hở kiến trúc đá qua thời gian nhiều thế kỷ phá đổ và gây nên sự tàn phá đền. Trước cảnh hoang tàn âm u của các kiến trúc từ một nền văn minh chưa ai biết chìm sâu trong rừng rậm từ bao thế kỷ, Mouhot đã xúc động tràn ngập, ông viết một bài mô tả trong nhật ký, sau này in lại trong sách của ông “Voyages dans les royaumes du Siam du Cambodge et du Laos”. Sách này được xuất bản sau khi ông mất vì bệnh sốt rét năm 1861 trên sông Mekong gần Luang Prabang. Nă m 1861 cũng là năm Pháp đánh chiếm Saigon và các tỉnh miền nam. Trớ trêu thay như số phận trước đây của Angkor, mộ ông bị bỏ hoang biến mất trong rừng rậm và chỉ mới đây tình cờ tìm lại được vào năm 1990.
  2. Sau khi Mouhot mất, nhật ký của ông được các người hầu thân cận mang về Bangkok và từ đó được trao lại cho vợ ông. Tạp chí “Le Tour du Monde”, năm 1863, đã trích từ sách nhật ký một chương giới thiệu và mô tả khám phá Angkor của ông đã kích thích trí tưởng tượng, óc tò mò, sự khao khát khám phá, tìm hiểu học hỏi ở nhiều nơi trên thế giới. Nhà thám hiểm Louis Delaporte sau đó đã đến Angkor nghiên cứu, vẽ hoạ đồ các kiến trúc và mang về Paris một số hiện vật (nay trưng bày ở viện bảo tàng Guimet) Nhưng Mouhot không phải là người ngoại quốc đầu tiên tìm ra lại được Angkor. Trước ông rất lâu gần 3 thế kỷ là các giáo sĩ người Bồ Đào Nha (8). Một trong những người đầu tiên đó là Antonio da Magdalena, đến Angkor năm 1586. Năm 1589, ông đã đưa lại cho Diogo do Couto, sử gia chính thức của công ty Đông Ấn Bồ Đào Nha ghi lại tường trình của ông về chuyến thăm Angkor trước khi ông bị đắm tàu chết ở Natal năm 1589. Couto đã viết lại như sau về chuyến đi của Magdalena “.. Cách nửa dặm từ thành phố này là một đền gọi là Angar. Đây là một công trình ngoại hạng đến nổi không có thể diễn tả được bằng ngòi viết, nhất là đây là một kiến trúc không giống bất cứ kiến trúc
  3. nào khác trên thế giới. Angar có các tháp, kiến trúc trang trí và tất cả những cái tinh tuý mà thiên tài con người đã nghỉ ra được. Đền được bao bọc bởi hào nước, đi vào đền bằng một cầu, được bảo vệ bởi hai tượng cọp bằng đá rất lớn và dữ dằn làm cho du khách phải sợ hãi..". Những giáo sĩ Bồ Đào Nha khác cũng ngạc nhiên rung động trước sự vĩ đại mà họ đã chứng kiến. Marcello de Ribadeneyra đã viết như sau lần đầu tiên về Angkor bằng ngôn ngữ Tây phương xuất bản năm 1601: “..Chúng ta cho rằng những người lập ra vương quốc Siam đến từ thành phố lớn nằm giữa một sa mạc trên vương quốc Cambodia. Tai đó có một thành phố cổ xưa đã bị đổ nát mà một số người cho rằng đã được xây bởi Alexander Đại đế hay bởi người La Mã, thật kinh ngạc là không có ai sống ở đó hiện nay, chỉ có thú dữ trú ngự, và người địa phương nói rằng nó đã được xây bởi người ngoại quốc." Nhưng trước cả các giáo sĩ Bồ Đào Nha là sứ giả Trung quốc Châu Đạt Quan đã có mặt ở Angkor vào thế kỷ 13, lúc Angkor chưa bị bỏ hoang. Ông đã chứng kiến sinh hoạt của một xã hội, phong tục tập quán, vua chúa, đền đài. Tư liệu duy nhất vô cùng quí giá về vương quốc Angkor. Ngày nay Angkor Wat không còn là bí hiểm và khó khăn đi đến nữa, các khoảng đất rộng trước cửa cầu đá đi vào cổng phía tây của đền Angkor Wat bây giờ là bãi đậu xe và có rất nhiều hàng quán phục vụ khách du lịch đến từ khắp mọi nơi. Từ cửa tây Angkor Wat thẳng ra về hướng tây khoảng vài cây số là phi trường Siem Reap, nằm phía dưới hồ nhân tạo rất lớn gọi là “Baray Tây” (Western Baray) của quần thể Angkor. Tuy vậy khi đã đến Angkor Wat, du khách cũng sẽ có các ấn tượng không kém ngạc nhiên như những người đi trước đầu tiên khám phá ra Angkor, đi vào một thế giới khác ngoài sức tưởng tượng của họ.
  4. Đường vào đền Angkor Wat là đoạn cầu đá dài băng qua một hào nước bao quanh 4 phía chung quanh Angkor Wat. Đền Angkor Wat hình chữ nhật, chiều dài 1,500m, chiều ngang 1,300m, kể cả hào nước xung quanh rộng 190m. Đây là đền lớn nhất trong quần thể Angkor. Theo các nhà học giả Finot, Coedes, Bosh thì đền được xây dưới thời vua Suryavarman II để làm mộ thờ của vua. Vì thế hướng của đền là về phía tây và đền với các điêu khắc theo truyền thuyết thần Visnu chứ không đặt trọng tâm vào thần Shiva như ở các kiến trúc khác hay cung điện vua. Angkor Wat thể hiện núi Meru, trung tâm vũ trụ : Angkor được xây dựng trên ba tầng đại diện cho đất, nước và gió mà núi Meru dựa vào và nước ở hào chung quanh đền thể hiện cho đại dương trong vũ trụ. Trong ba tầng của Angkor Wat thì tầng cao nhất là trung tâm đền với tháp cao nhất có 7 vòng tượng trưng cho 7 vòng núi thiêng Meru. Có thể biết thêm là đền Angkor Wat chắc chắn là một mộ thờ qua tư liệu của sứ giả Trung Quốc Châu Đạt Quan của nhà Nguyên Mông Cổ có mặt ở Angkor vào thế kỷ 13 có nói đến "mộ của Lu Pan" ở phía nam của thủ đô Angkor Thom với chu vi đến 10 "li" Một kỳ quan kiến trúc như Angkor Wat chắc phải được xây bởi một nhà vua có tầm vóc trong lịch sử Khmer. Suryvarman II (1113-1150 AD) là vị vua hùng mạnh có công mở rộng vương quốc Khmer mang lại vinh quang cho dân tộc này. Ông là một trong hai đại đế trong triều đại Angkor. Vị vua thứ hai là Jayavarman VII, người đã xây dựng Bayon ở Angkor Thom. Ngoài Angkor Wat, Suryvarman II còn xây các đền Thommanon, Chao Say Tevoda, Banteay Samre ở Angkor, Beng Mealea (cách Angkor 60km về hướng đông), Phimai (ở Thái Lan hiện nay). Suryvarman nhiều lần mang quân đánh Đại Việt, chiếm đóng Champa, vương quốc Môn Haripunjaya (Lamphun). Dưới triều ông, đế quốc Khmer trải rộng từ biên giới Lào hiện nay ở phía Bắc, đến vương quốc Grahi ở bán đảo Mã Lai, từ Vijaya (Bình Định), nam Việt Nam đến tận vương quốc Pagan (Miến Điện). Sau khi thống nhất đất nước bị chia đôi bởi hai vua tranh giành đất nước, Suryvarman
  5. II đánh Champa và cưỡng bách cùng Champa đánh Đại Việt năm 1128, nhưng bị Lý Công Bình đẩy lui ở Nghệ An (9). Sau đó không lâu, Suryvarman II mang thủy quân quấy nhiểu bờ biển Thanh Hóa. Năm 1145, vì Champa không còn chịu theo đánh Đại Việt nữa, Suryvarman II xâm lăng Champa, chiếm Vijaya, biến Champa thành một thuộc địa của Angkor cho đến khi vua Champa Jaya Harivarman I giải phóng đất nước Champa vào năm 1149 Sử Việt Nam có ghi các sự kiện vua Suryvarman II mang quân đánh Đại Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên (11), thì sau khi vua Lý Nhân Tông băng hà, vua Lý Thần Tông còn nhỏ lên ngôi (1128) “Ngày Giáp Dần, hơn 2 vạn người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An. Xuống chiếu cho Nhập nội thái phó Lý Công Bình đem các quan chức đô cùng người châu Nghệ An đi đánh... Ngày Quý Hợi, Lý Công Bình đánh bại người Chân Lạp ở bến Ba Đầu bắt được chủ tướng và quân lính”. Dọc hai bên cầu đá đi vào đền xưa kia là các tượng thần và tượng ác quỷ ở mỗi bên ôm thân rắn naga kéo giành giật nhau tạo ra vũ trụ. Trước đây có tất cả 54 tượng thần và 54 tượng ác quỷ ôm thân rắn ở mỗi bên đường, nay chỉ còn lại một vài tượng mà thôi. Theo Mannikka (5) thì con số 108 của tổng số các tượng là số thiêng liêng của tôn giáo và văn hoá Ấn độ (108 cũng là số lần hiện thân của thần Vishnu, Shiva). Qua cổng chính ở tường ngoài của đền, du khách bắt đầu vào khuôn viên tầng nhất Angkor Wat. Đây là hành lang với kiến trúc chữ thập nằm chính giữa.Tại đây chúng tôi thấy có nhiều tượng Phật vẫn còn được thờ cúng. Rẽ vào phía trái về hướng bắc đến cửa ra hành lang là nơi mà theo truyền thống người ta đứng dựa vào tường, vỗ ngực để nghe âm vang và nếu có ước nguyện gì sẽ được toại nguyện. Tôi đứng dựa vào cổng tường, ngước mắt nhìn lên trần và vỗ ngực, quả thật có âm vang dội lại. Nhưng ước nguyện có được toại nguyện như mong muốn không thì tôi vẫn
  6. chưa được biết. Gần đấy có một kiến trúc gọi là “thư viện”. Toà nhà “thư viện” nằm trong sân ở tầng một ngoài hành lang gần tường ngoài của Angkor Wat hiện nay đang được chính phủ Nhật giúp trùng tu Để đến tầng thứ ba của đền Angkor Wat, chúng tôi phải bước đi lên những bực đá rất dốc, rất dễ té và nguy hiểm nếu không cẩn thận. Sự khó khăn này là ngụ ý của người xây đền thể hiện cho người ta biết rằng để đi lên được “vương quốc của các thần”, nơi cư ngụ của họ, không phải là dễ, thử thách ý chí của con người. Tầng thứ ba gồm hai hành lang chữ thập cắt nhau thẳng góc ở giữa. Ở điểm giao tiếp của hai hành lang là trung tâm đền Angkor Wat. Xưa kia trung tâm đền có tượng thờ bằng vàng thần Vishnu, nhưng tượng đã bị mất. Ngày nay trung tâm đền có các tượng thờ Phật. Tháp ở trung tâm đền là tháp cao nhất Angkor Wat, chung quanh tháp là bốn hành lang hình vuông. Ở mỗi góc hành lang là một tháp. Tháp trung tâm và bốn tháp chung quanh tạo thành toà chân trời nổi tiếng của Angkor Wat khi ta nhìn từ đàng xa hay lúc gần đến khuôn viên đền. Để có thể cảm nhận được Angkor Wat có sức mạnh huyền bí quyến rủ bao nhiêu người đến thăm đền thế nào thì du khách nên đợi đến hoàng hôn. Angkor Wat dưới ánh hoàng hôn, đền với các tháp và đá trở thành vàng đỏ rực ẩn hiện dước bóng cây thốt nốt. Đôi khi lúc hoàng hôn xuống, du khách thấy cảnh hàng ngàn bay quanh đền và trên bầu trời Angkor rất ngoạn mục. Sau khi viếng thăm Angkor Wat, không một du khách nào mà không có ấn tượng và bị ảnh hưởng vào trí tưởng tượng của mình trước kỳ công huyền bí của một nền văn minh đã biến mất. Gần một thế kỷ trước đây, một du khách người Mỹ đã yêu cầu khi bà mất, thì hài cốt bà được rãi ở cầu đá dẫn vào đền Angkor Wat, năm 1936 ước nguyện của bà đã được toại nguyên (3). Ta cũng có thể hiểu được tai sao gần đây tài tử Angelica Jolies sau khi đến Angkor đóng phim “Tomb Raiders” đã bị thu hút và trở
  7. thành một công dân danh dự và là sứ giả cho đất nước Cambodia, cô có một con nuôi là một em bé Khmer. Sau vài tiếng đồng hồ thăm Angkor Wat, chúng tôi rất mệt, đi trở ra và dùng bửa ăn trưa trong một quán ăn trước đường đi vào Angkor, ở đây có rất nhiều quán ăn. Tất cả được qui hoạch nằm trong một khu vực cách xa đường vào đền. Dĩ nhiên cũng là nơi tụ tập của nhiều người bán dạo đi theo du khách để bán đồ vật kỷ niệm, postcard, nước uống. Angkor Thom Sau Angkor Wat, chúng tôi đi thăm Angkor Thom kế cạnh Angkor Wat. Đường vào qua cửa Nam của Angkor Thom rất ấn tượng: hai bên là các tượng các thần ôm thân con rắn 7 đầu dài khoảng vài trăm thước dọc hai bền cửa vào thành phố xưa Angkor Thom. Trung tâm của thành phố Angkor Thom là đền Bayon, với bốn cửa theo bốn hướng. Kế Bayon về phía tây bắc là cung điện vua Phimeanakas, từ đó cũng có một trục chạy về phía đông ra một cửa nữa gọi là cửa “chiến thắng”. Angkor Thom vì thế có hai trung tâm thể hiện hai thời kỳ lịch sử xây dựng khác nhau hình thành Angkor Thom. Khi Mouhot đến đây thì từ tường thành của Angkor Thom vào trong là rừng rú dầy đặt, cây cao, dây leo khắp nơi không thể nào biết là có thành phố, đền, điện cổ trong đó. Hỏi vài cư dân trong làng gần đó thì chỉ biết là trong đó có điện đổ nát với nhiều đá đổ ngỗn ngang giữa rừng và trẻ con thường hay chơi trò chơi ẩn núp trong nhóm đá tượng bị rừng che phủ. Rất khó khăn để đi đến nơi, Mouhot đã ngỡ ngàng trước các tháp mà trên đó ở bốn hướng là tượng mặt người mỉm cười huyền bí giữa cảnh đổ nát trong rừng thẳm, mà bây giờ là vị trí của điện gọi là Bayon, với các điêu khắc trên một số nền bệ đá chung quanh các tháp mô tả các huyền thoại, cảnh chiến trận, cảnh đời sống xã hội, văn hóa của một nền văn minh đã biến mất mà không ai biết. Phải mất một thời gian nghiên cứu lâu năm sau này qua các các bia ký còn sót lại mới biết được
  8. tượng mặt người huyền bí trên các tháp của Bayon là bodhisattva Avalokitesvara Samanthamukha biểu tượng cho vua Jayavarman VII. Angkor Thom được Jayavarvan VII xây dựng sau Angkor Wat gần 100 năm. Đặc biệt ở Bayon so với các nơi khác là sự hiện diện trội hẳn của ảnh hưởng Phật giáo Mahayana mặc dầu có sự chồng chéo với ảnh hưởng Ấn giáo so với các đền điện khác ở Angkor. Cũng không lạ gì vì người tạo Bayon và xây dựng nhiều nhất ở Angkor Thom là vua Jayavarman VII, vị vua theo phật giáo Mahayana. Dưới triều vua Jayavarman VII, Angkor đã lên đến tuyệt đỉnh thể hiện trên kiến trúc, nghệ thuật và quyền lực. Sau Jayavarman VII, Angkor bắt đầu suy sụp và cuối cùng điêu tàn, và hoàn toàn bỏ trống sau khi bị quân Xiêm tàn phá. Từ xưa đến nay Angkor Thom có ấn tượng vào du khách đến thăm không kém sức mạnh huyền bí của Angkor Wat. Giữa quang cảnh đổ nát, đi quanh những tảng đá lớn nằm ngỗn ngang ở Bayon, nhìn lên khắp nơi mọi hướng lúc nào ta cũng thấy tượng đầu người mỉm cười hiểm bí trên các tháp nhìn ta đi thăm quan như muốn cho ta biết là tất cả đều vô thường trên thế giới này, ngay cả Bayon trước mắt du khách. Có tổng cộng 256 gương mặt đá trên 54 tháp nhìn khắp hướng ở Bayon. Cấu trúc đền Bayon gồm ba tầng, Cả ba tầng đều bị hư hại, đổ nát, gạch đá nằm ngổn ngang. Năm 1924, Henri Parmentier (nhà khảo cổ Pháp, người thành lập ra viện bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng) đã tìm được ở Bayon một tượng bồ tát Lokesvara. Sau này trong lòng trung tâm Bayon, một tượng Phật lớn cũng được tìm ra. Điều này chứng tỏ Bayon là đền thờ Phật giáo chứ không phải Ấn giáo như người ta nghỉ lúc ban đầu. Trên một số các bệ đá làm nền chung quanh tháp Bayon ở tầng một là các điêu khắc tuyệt tác. Những bức tranh phù diêu tạc trên đá mô tả rất sống động cảnh diễn hành của vua và hoàng gia, trận
  9. thuỷ chiến giữa quân Khmer, Chàm, Xiêm, các người Hoa buôn bán, sinh hoạt ở chợ. Ta hảy tưởng tượng hình ảnh sống động mà sứ giả Trung Hoa Châu Đạt Quan (Zhou Daguan) của nhà Nguyên Mông cổ có mặt tại Angkor trong năm (1296-1297). Năm 1296, Châu Đạt Quan diễn tả cảnh tuần hành của vua Indravarman cầm gươm thiêng, preah khan, như sau: “Khi nhà vua ra khỏi điện, binh lính đi dẫn đầu; kế đó là cờ, biểu ngữ và âm nhạc. Cung nữ, từ ba đến năm trăm, mặc y phục trang trí hoa, hoa cài trên tóc, cầm đèn cây trên tay, và tạo thành một đội. Ngay cả lúc ban ngày, đèn cầy vẫn được thắp đốt. Kế đó là những tỳ nữ, mang giáo và khiêng, nhóm hộ hệ vua, xe kéo bởi dê và ngựa, làm bằng vàng đi kế tiếp. Các quan lại và hoàng tử ngồi trên lưng voi, và đằng trước họ, người ta có thể thấy từ xa, hằng hà sa số gọng dù màu đỏ. Sau họ là vợ và các nàng hầu của vua trong cáng, xe keo, trên lưng ngựa và lưng voi. Họ có hơn một trăm lọng trang trí bằng vàng. Sau họ là nhà vua, đứng trên lưng voi, cầm gươm thiêng. Ngà voi được bao bọc bằng vàng.. Ông mô tả một thành phố phù hợp chính xác với thành phố của nhà vua Jayavarman VII, Angkor Thom ngày nay, với các tường và hào bao bọc chung quanh, năm cửa với cầu bắc ngang phía trước được trang trí bởi các tượng thần, tháp vàng (Bayon) ở chính giữa thành phố, tháp đồng (Baphuon) một dặm về phía bắc, cung điện hoàng gia một dặm nửa xa hơn về cùng hướng bắc. Ở ngoài thành phố Angkor Thom, Châu Đạt Quan có nói là về phía nam, có tháp Lu Phan (Phnom Bakheng) và mộ của Lu Pan (Angkor Wat). Baphuong, Cung điện hoàng gia, sân voi và tượng “vui cùi” Cạnh Angkor Thom Bayon là đền Baphuong nổi tiếng. Tiếc thay lúc này đền đang được rào đóng vì đền đang được trùng tu. Xưa kia đền Baphuon, xây trên một ngọn đồi, rất lớn hùng vĩ chỉ sau Angkor Wat trong quần thể Angkor. Tại đây trong lúc đi ngang qua đền để đến khu cung điện đã đổ nát của các vua Angkor,
  10. chúng tôi gặp một du khách Pháp đang phát họa đền và chi tiết các cột trụ. Hỏi qua mới biết ông hiện đang làm việc ở Saigon đến viếng Angkor vài ngày trong những ngày nghỉ. Ngoài quyển sách hướng dẫn Lonely Planet về Cambodia, ông còn có mang theo các quyển sách hướng dẫn khác chuyên môn về nghệ thuật ở Angkor để tham khảo. Ông cho biết trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp (Ecole Francaise d’Extreme Orient) dưới sự lãnh đạo của kiến trúc sư Pascale Rogère đang giúp chính phủ Cambodia trùng tu đền Baphuong. Trong 9 năm liền, kiến trúc sư Pascal Rogère của trường Viễn Đông Bác Cổ đã làm việc, lui tới trong khu vực Baphuon, ông hầu như biết từng phiến đá (4). Có khoảng 300,000 tảng đá nằm ngỗn ngang quanh đền và trong rừng chung quanh khu vực đền đã và hiện đang được phân loại, đánh số để tái phục và kiến tạo lại cấu trúc đền Baphuon Trường Viễn Đông Bác Cổ được thành lập vào năm 1908, mục đích ban đầu là bảo vệ di tích Angkor khỏi bị mất mác, huỷ hoại do thiên nhiên và con người lấy trộm hay phá hư di tích. Nhưng con người mới chính là nguy cơ to lớn cho di tích Angkor và các đền khác ở Cambodia. Trong các năm chiến tranh loạn lạc ở các thập niên 1960 đến 1980, rất nhiều hiện vật như tượng đã bị lấy đi, đầu tượng bị đục mất... Ngay cả nguyên cả một bức tường có các điêu khắc tuyệt tác ở đền banteay Chmar xa vắng gần biên giới Thái Lan đã bị lấy đi mất. Những hiện vật này đa số sau đó xuất hiện trên thị trường buôn bán đồ cổ ở nhiều nơi. Bangkok là một trung tâm buôn bán đồ cổ Khmer.
  11. Cung điện hoàng gia Phimeanakas Cung điện hoàng gia Phimeanakas, nay hầu như chỉ là bãi đất trống nằm giữa một số tường thành còn sót lại. Trong khu hoàng gia còn hai hồ nước lớn gọi là Srah Srei và Srah Bros nơi xưa kia vua, cung nữ trầm mình tắm. Châu Đạt Quan đã viết Độ đã viết về cung điện hoàng gia như sau (9): “Ở đây có một tháp vàng (Phimeanakas), trên lầu cao nhất của tháp là nơi nhà vua ngủ. Mọi người dân ở đây cho là trên tháp đó có hồn của một con rắn chín đầu. Rắn này là chủ của tất cả đất đai trên xứ sở. Hồn rắn xuất hiện nữa đêm dưới dạng một người đàn bà. Chính với hồn rắn này mà nhà vua ngủ và kết hợp chung”. Tại cung điện hoàng gia, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một phiến đá tạc bằng chữ Sanskrit kể về sự nghiệp của vua Jayavarman VII như sau. Lúc thiếu thời, khi Jayavarman VII mang quân đi đánh Chiêm
  12. Thành (Champa), thì cha mất. Vua Yasovarman II lên ngôi, nhưng bị Tribhuvanaditya tiếm ngôi. Ông trở về đợi lúc có thời cơ để phục hồi ngôi vua. Khi Champa mang binh đánh phá Angkor và tiêu diệt Tribhuvanaditya, ông tự xưng là vua và khởi nghĩa chống lại Champa. Cuộc chiến với Champa rất là gay go qua nhiều trận đánh và cuối cùng toàn thắng giải phóng đất nước. Sau đó, Jayavarman VII trả thù mang quân đánh Champa, Champa bại trận và trở thành một tỉnh của Khmer. Đây là khúc quanh lớn trong lịch sử của cả Champa và Cambodia. Ở Bayon và Banteay Chmar có các điêu khắc về cảnh thủy chiến với Champa rất sống động. Banteay Chmar khoảng 150 km về phía tây bắc Angkor gần biên giới Thái Lan hiện nay, được Jayavarman VII xây dựng tưởng niệm con ông và bốn tướng lảnh hy sinh đánh Champa. Banteay Chmar có kiến trúc tương tự như Bayon với tháp bốn mặt, nằm trên con đường lộ xưa nối liến Angkor với Phimai và cao nguyên Khorat (nay thuộc Thái Lan). Đi bộ ra khỏi khu cung điện hoàng gia, qua ngôi đền nhỏ thuộc niên đại gần đây với bức tượng Phật mạ vàng cao lớn, chúng tôi đến khu “sân voi” (Elephant terrace) nơi xưa kia vua cùng quan thần xem cưỡi và đấu voi. Xưa kia ở đây là dinh thự của vua làm bằng gỗ, vì thế qua nhiều thế kỷ và thăng trầm của lịch sử đã không còn. Vào cuối thập niên 1960, nhà khảo cổ Pháp Bernard Philippe Groslier trong lúc trùng tu sân voi, đã tìm thấy chân của một cột gỗ to lớn, đây là vật duy nhất còn lại của các kiến trúc gỗ đã biến mất. Gần đây, nhà khảo cổ Roland Fletcher thuộc đại học Sydney trong chương trình nghiên cứu về nguyên do sự sụp đổ bỏ hoang của Angkor, đã khảo sát các chất liệu do dân cư Angkor xưa sinh hoạt để lại dọc và dưới kênh đào quanh Angkor, đã nhờ cơ quan khoa học nguyên tử Úc (Australian Nuclear Science and Technology Organisation) thẩm định thời gian qua phóng xạ của bệ cột gỗ do Groslier tìm được cho thấy tuổi của cột là khoảng năm 905 đến 984 AD (10). Điều này cho thấy khu cung điện hoàng gia và sân voi đã được xây dựng ít nhất là từ thế kỷ thứ 10. Trên khu này còn sót lại một tượng “vua cùi”, tương truyền là vua
  13. Jayavarman VII. Trên các tường, bệ chung quanh sân là những điêu khắc đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật Khmer Angkor: voi diễn hành, cưỡi voi chơi polo... Ở các góc tường bệ là các tượng điêu khắc hình chim thần garuda dùng tay nâng đỡ sân. Sau nhiều giờ thăm viếng đến xế chiều và sắp sửa hoàng hôn, anh hướng dẫn viên khuyên chúng tôi sửa soạn lên xe để đến đền trên đồi Bakheng xem cảnh mặt trời lặn lúc hoàng hôn trên quần thể Angkor. Phnom Bakheng Hoàng hôn Phnom Bakheng Phnom Bakheng là một ngọn đồi nằm giữa Angkor Wat và Angkor Thom. Đây là trung tâm của vương quốc Khmer đầu tiên ở Angkor, gọi là Yasodharapura. Phnom Bakheng là ngọn núi thiêng của Angkor, như núi Meru thiêng liêng trong thần thoại Ấn độ
  14. giáo. Trên đỉnh Phnom Bakheng là một đền thờ đã đổ nát. Nơi đây trên mặt đất đá, các nghệ nhân Khmer xưa đã khắc xuống nền đá một bàn chân khổng lồ. Tương truyền rằng bàn chân này là của đức Phật. Đặc biệt ở đây, mỗi ngày khoảng gần 6 giờ chiều, các du khách đến tụ tập rất đông ở chân đồi Phnom Bakheng để lên đỉnh xem mặt trời lặn trên quần thể Angkor. Đa số đều muốn đi bộ, theo một ít các bậc thềm và các lối đi gập ghềnh đầy đá, rễ cây... Có nhiều đoạn phải cẩn thận vì rất nguy hiểm nếu sơ ý. Ai yếu hay sợ cực nhọc có thể dùng dịch vụ cỡi voi lên đồi. Tại đây tôi thấy rất nhiều du khách Nhật, Nam Hàn. Những người yếu hay lớn tuổi thường dùng voi để lên đồi. Trên đỉnh đồi lúc này du khách rất đông, tất cả đều nhìn về hướng tây nơi mặt trời sắp sửa lặn trên mặt nước biển hồ Tonlé Sap ở chân trời. Về phía tây nam là đền Angkor Wat đang tắm dưới ánh hoàng hôn vàng đỏ của mặt trời sắp lặn. Khi Mouhot khám phá ra Angkor, ông có lên đỉnh Phnom Bakheng nhìn xuống quần thể Angkor và đã mô tả như sau : “Tất cả vùng này giờ đây vắng lặng và cô quạnh, mà trước kia chắc chắn phải là sống động nhộn nhịp và vui vẻ; nay chỉ còn lại tiếng hú của các loài dã thú và các tiếng chim kêu giữa sự im lặng cô đơn mà thôi”. Mouhot chắc chắn sẽ không tưởng tượng nổi là lúc này tôi đang đứng ở chỗ mà trước đây ông đã đến giữa đám đông hàng trăm du khách từ khắp năm châu đang quay phim, chụp hình và nói chuyện náo nhiệt. Một sự kiện lý thú về Phnom Bakheng là nó có tác dụng như một cái trống, phản hồi và cộng hưởng âm thanh. Ly’do là ở dưới tháp cao chính của đền có một vùng trũng tạo nên âm thanh vang dội cộng hưởng. Ngoài ra ở đấy cũng có một mộ vuông nằm sâu trong lòng đất, mộ này có duyên cơ từ câu truyện thần thoại “Mười hai cô gái Angkor”. Câu chuyện kể về một người tiều phu nghèo có 12 người con gái, một trường hợp được coi là kém may mắn. Vì ông không thể nuôi nổi gia đình, ông đã mang con vô rừng bỏ, nhưng không thành công lúc đầu. Lần thứ hai thì ông thành công, nhưng thay vì chết, 12 cô gái được bà hoàng hậu Santhomea của thế giới
  15. chằng tinh cứu. Bà Santhomea mang các cô gái về nuôi chúng như con mình. Sau này vì quá cô đơn, các cô đã bỏ trốn. Chúng đến vương quốc Angkor, tại đấy vị vua trị vì đã thương các cô và mang về làm vợ. Các cô đã sống trong hạnh phúc cho đến một ngày khi bà hoàng Santhomea tìm được tông tích của các cô. Để trả thù, bà đã mê hoặc vua và làm cho vua đuổi nhốt các cô gái vào một hố sâu trong lòng đất, sau khi đã khoét mắt các cô. Đây là lần thứ ba các cô đã bị bỏ rơi cho chết. Một trong các chị em đã dấu được một con mắt và vẫn còn có thể thấy được. Người con gái một mắt giúp tìm thức ăn cho các chị em sinh sống. Một trong các cô có mang một đứa con trai. Người con trai này lớn lên trả thù cho mẹ và các dì của mình. Anh ta đã giết được bà chằng tinh Santhomea và các chị em được trở về với nhà vua sống hạnh phúc. Chúng tôi và anh hướng dẫn viên đi bộ xuống đồi, anh tài xế đã đợi sẵn giữa sự náo nhiệt của lượt người và xe cộ đón du khách trở về Siem Reap. Đến Siem Reap cũng là lúc thành phố bắt đầu lên đèn.Tối hôm đó, chúng tôi đi dạo phố, ăn tối ở một nhà hàng trước cửa một nhà khách. Đây cũng là dịp để rửa và mua thêm phim mới cho ngày mai. Các quán ăn như vậy có rất nhiều dọc đường chính nơi có nhiều nhà khách với đa số là Tây ba lô ở trọ. Bữa ăn tối với các món ăn Khmer rất ngon. Tại một tiệm rửa hình, chủ là gia đình người Hoa, ông chủ rất nồng hậu đón khách, vui vẻ và ngạc nhiên khi biết chúng tôi là du khách từ Việt Nam. Người Hoa và Việt đã trở lại buôn bán sinh hoạt bình thường ở tỉnh Siem Reap và vùng Battambang. Cách đây không lâu, khi Khmer Rouge vẫn còn hoạt động trong vùng quanh Siem Reap và Angkor, an ninh rất bất ổn và là mối hiểm họa cho cộng đồng người Việt, Hoa.
Đồng bộ tài khoản