Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ đến nền kinh tế

Chia sẻ: palm_89

Khái niệm tỷ giá hối đoái: Về hình thức : là giá đơn vị tiền tệ của một nước, được biểu hiện bằng các đơn vị tiền tệ nước ngoài. là hệ số quy đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Vd: TGHĐ giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 19100VND/USD. Về nội dung : TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hành hóa, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ… giữa các quốc gia....

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ đến nền kinh tế

ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ NGOẠI TỆ ĐẾN NỀN KINH TẾ
A/ TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1/ Khái niệm tỷ giá hối đoái
Về hình thức : là giá đơn vị tiền tệ của một nước, được biểu hiện
bằng các đơn vị tiền tệ nước ngoài.
là hệ số quy đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác, được xác định bởi
mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Vd: TGHĐ giữa Đồng Việt Nam và
Dollar Mỹ là 19100VND/USD.
Về nội dung : TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu
trao đổi hành hóa, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ…
giữa các quốc gia.
Có nhiều loại tỷ giá khác nhau:
 TGHĐ thực và TGHĐ danh nghĩa
 TGHĐ chính thức và TGHĐ song song
 TGHĐ song phương và TGHĐ hiệu lực
2/ Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp :
2.1 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại.
Cán cân thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cấn cân thương
mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch
nhập khẩu. Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu
được ngoại tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải
bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra
nước ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái
giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần
ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường.
Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của
hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác
động mạnh yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu
một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ,
tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm hụt thương mại, tỷ
giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.

2.2 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với lạm phát.

Lạm phát ảnh hưỏng đến tỷ giá hối đoái. Khi một nước có lạm phát,
sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch
vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch
vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc . Theo quy luật cung cầu,
cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ
hơn lúc này các doanh nghiệp trong nước chịu cảnh ế ẩm doanh thu sụt
giảm , nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự
vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động
xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái
tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo
hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng
nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người
dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại
tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong trường hợp các quốc gia đều có
lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương
đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội
tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.

2.3 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với đầu tư quốc tế.

Đầu tư ra nước ngoài, có ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái cư dân trong
nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây
dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp...) hay đầu tư gián tiếp (mua
cổ phiếu, trái phiếu...). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động
kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường,
luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại
một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong
nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước
ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một
nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong
nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá
hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng
âm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất,
tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu hút được các
luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi,
nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi
dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông
thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ.

B. CƠ CHẾ QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1/ Cơ chế cố định tỷ giá( Fix Exchange Rate)
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW
tuyên bố sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc
một số đồng tiền nào đó ở một mức độ nhất định. Ở đây, NHTW đóng
vai trò điều tiết lượng dư cầu hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối
đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua vào số dư đó.
Trong lịch sử, tỷ giá cố định nổi tiếng là tỷ giá giữa dollar Mỹ và các
đồng tiền khác theo Hiệp ước tiền tệ Bretton Woods – được áp dụng từ
năm 1947 đến 1967. Lúc bấy giờ người ta căn cứ vào hàm lượng vàng của
USD ( lúc đó là 0,888671 g vàng) và hàm lượng của các đồng tiền khác
của các nước tham gia Hiệp ước, chẳng hạn hàm lượng vàng của FRF là
0,2483 g vàng vậy tỷ giá giữa USD/FRF sẽ là 0.88761/0.2483 = 3,5700 và
tỷ giá này hai nước coa trách nhiệm giữ nó không được biến động quá +/-
1,0%.
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lai một môi trường
ổn định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
+Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi chính sách vĩ mô.
+Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về
mục tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá.
- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốt từ bên ngoài hoặc từ
thị trường hàng hóa trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá
lớn về giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng tỷ
giá.
+ Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ,
khiến cho NHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng.
+ Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng “ nhập khẩu
lạm phát” không mong muốn.
Tỷ giá cố định cũng được áp dụng ở Việt Nam trong một thời gian khá dài
kể cả trong thời kỳ bao cấp ( trước 1986) và cả mấy năm trong thời kỳ
đổi mới. Đến năm 1998 mới chuyển sang cơ chế thả nổi có quản lý.
2/ Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do.
Cơ sở cơ bản được sử dụng làm căn cứ xác định tỷ giá hối đoái thả
nổi là quan hệ cân bằng cung cầu ngoại tệ tr ên thị trường ngoại hối. Nó
cũng chính là lý lẽ căn bản của các nhà kinh tế tán thành sự phát triển kinh
tế dựa vào cơ chế cạnh tranh tự do. Chế độ tỷ giá này cho phép xác định
một tỷ giá danh nghĩa gần với sức mua thực tế của đồng tiền các
nước. Nó phản ánh tương đối xác thực những biến đổi kinh tế c ủa mỗi
nước và sự thay đổi trong tương quan kinh tế giữa các nước với nhau.
Chính sách tỷ giá này cũng là cơ sở để thực hiện mong muốn của những
n ước có khả năng theo đuổi chính sách tài chính – tiền tệ độc lập, tách
rời khỏi sự ràng buộc một cách chặt chẽ với đồng USD trong chế độ tỷ
giá hối đoái Bretton Woods. Nh ưng khi phản ánh được sự thay đổi trong
sức mua thực tế của các đồng tiền, có khả năng thích ứng với các biến
động lớn của nền kinh tế và tạo khả năng thực thi chính sách tiền tệ chủ
động của các chính phủ thì tỷ giá hối đoái thả nổi lại gây ra những
biến động tỷ giá hết sức thất thường, làm cho sự lên giá – xuống giá
của các đồng tiền không sao dự đoán được (làm tăng tính rủi ro của tỷ giá
hối đoái). Điều n ày làm tăng thêm những yếu tố gây mất ổn định của các
nền kinh tế, cản trở khả năng kiểm soát quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế của các chính phủ.
Trong chế độ tỷ giá thả nổi tự do, chính phủ giữ thái độ thụ động,
để cho thị trường quyết định giá trị đồng tiền nước mình. Thực tế, ít có
nước nào thả nổi tự do mà trái lại, Chính phủ thường can thiệp bằng
những công cụ tài chính – tiền tệ (lãi suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị
trường mở), điều chỉnh dự trữ ngoại tệ, chính sách kinh tế, kể cả các giải
pháp hành chính (mua ngoại tệ phải làm đơn xin mua ngoại tệ,chính
sách kết hối ngoại tệ...).
Vậy trên thực tế, không tồn tại một chế độ tỷ giá ho àn toàn thả nổi
mà thường chỉ tồn tại chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa “cố định” và “thả nổi”.
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi:
+ Giúp cán cân thanh toán cân bằng: Giả sử một nước nào đó có cán cân
vãng lai thâm hụt khiến nội tệ giảm giá. Điều đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn
chế nhập khẩu cho đến khi cán cân thanh toán trở nên cân bằng.
+ Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ.
+ Góp phần ổn định kinh tế, tránh được những cú sốc bất lợi từ bên
ngoài, vì khi giá cả nước ngoài tăng sẽ làm cho tỷ giá tự điều chỉnh theo
cơ chế PPP để ngăn ngừa các tác động ngoại lai.
- Nhược điểm:
+ Là nguyên nhân gây nên sự bất ổn do các hoạt động đầu cơ làm méo
mó, sai lệch thị trường, có khả năng gây nên lạm phát cao và tăng nợ nước
ngoài.
+ Hạn chế các hoạt động đầu tư và tín dụng do tâm lý lo sợ sự biến động
theo hướng bất lợi của tỷ giá.
3/ Chế độ tỷ giá hối thả nổi có quản lý
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định
và thả nổi. ở đó,tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị
trường, chính phủ chỉ can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá
mức độ cho phép.
Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu
và sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá
chính thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động
cho phù hợp với từng thời kỳ.
- Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm
tỷ giá mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay "cố định bò trườn" có nhiều
tính ưu việt hơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là các nước đang
phát triển. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là "thả nổi" hay "bò trườn" ở mức độ
bao nhiêu nên gần với thả nổi hay gần với cố định hơn? biên độ dao động
là bao nhiêu? Rất khó để đưa ra một câu trả lời chung cho mọi quốc gia
mà phải tuỳ thuộc vào điều kiện thực tiễn và mục tiêu của từng quốc gia
theo đuổi. Nhìn chung, đối với các nước kinh tế đang phát triển trong đó
có Việt Nam, với một hệ thống công cụ tài chính còn nhiều yếu kém, sự
phối hợp giữa các chính sách còn thiếu đồng bộ, đồng tiền yếu và dự trữ
ngoại tệ còn hạn hẹp thì tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý tỏ ra là một
chính sách hợp lý nhất.
4/ Cơ chế tỷ giá linh hoạt:
Đây là cơ chế có sự pha trộn giữa cố định, thả nổi và quản lý - nghĩa
là tùy từng điều kiện cụ thể mà chủ động điều chỉnh tỷ giá một cách linh
hoạt.
C. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:
1/Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển
TGHĐ ở nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị
trường truyền thống Đông Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúng
ta phải chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng dola Mỹ. trong
giai đoạn này nền kinh tế chịu tác động của chính sách thả nổi tỷ giá. Tỷ
giá hối đoái VND/USD biến động mạnh theo xu hướng giá trị đồng dola
Mỹ tăng liên tục kèm theo các cơn “sốt”, các đột biến với biên độ rất lớn (
Từ cuối năm 1990
trở đi ). Tình trạng leo thang của giá đồng dola đã kích thích tâm lý nắm
giữ đồng dola , nhằm đầu cơ ăn chênh lệch giá.Dẫn đến Ngoại tệ vốn đã
khan hiếm lại trở nên khan hiếm hơn. Trong giai đoạn này Ngân hàng
không kiểm soát được lưu thông tiền tệ , mọi cố gắng quản lý ngoại tệ
của chính phủ ít đem lại hiệu quả.
Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ vỡ các mối quan
hệ ngoại thương với LiênXô và Đông Âu , nhập khẩu giảm sút một cách
nghiêm trọng (năm 1991 là 357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1
triệu USD). Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả
chậm và phải chịu một lãi suất cao do thiếu dola , dola đã thiếu lại càng
thiếu dẫn đến các cơn sốt dola theo chu kỳ vào giai đoạn này.
Đến đầu năm 1992 Chính phủ đã có một số cải cách trong việc điều
chỉnh tỷ giá ( như buộc các doanh nghiệp có dola phải gửi vào ngân hàng ,
bãi bỏ hình thức quy địng tỷ giá theo nhóm hàng..) làm cho giá dola bắt
đầu giảm ( cuối năm 1991 tỷ giá VND/USD có lúc lên tới 14500 đến tháng
3/1992chỉ còn 11550 VND/USD và tiếp tục giảm cho đến cuối năm 1992.




2/ Giai đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam á (tháng 7 năm 1997).
Trước những tồn tại của việc”thả nổi” mất kiểm soát tỷ giá, chính
phủ đã thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể sau:
- Quy định biên độ giao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức được công
bố bởi Ngân hàng nhà nước (công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác
định rõ biên độ giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành
chính mà cụ thể là buộc các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế
quốc doanh) có ngoại tệ phải bán cho Ngân hàng theo tỷ giá nhất định.
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán
ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt
động ngoại thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do
Ngân hàng nhà nước công bố.
Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin,cho công khai hóa một
cách nhanh chóng và chính xác chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính
thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá, sự biến động giá vàng…Nhờ vậy hạn
chế được hoạt động đầu cơ, giải tâm lý hoang mang…Chính phủ cũng
chú trọng tăng cường thực lực kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tủ giá
bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại tệ,lập quỹ bình ổn giá.
- Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ ( trung tâm giao
dịch ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh được mở cửa từ tháng 8 năm
1991 ) để cho các đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi , mua bán
ngoại tệ với nhau theo giá tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để
cung cầu thực sự gặp nhau . Sau đó,tiến dần tới việc thành lập thị trường
ngoại tệ liên Ngân hàng tháng 9 năm 1994.
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện pháp can thiệp
đã đem lại một kết quả như mong đợi, nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã
được giải toả, những đồng ngoại tệ đã được hướng mạnh và hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu. Tình hình cung - cầu ngoại tệ đã được cải
thiện với cùng kỳ trong những năm trước đó, Dola có xu hướng giảm giá.
Mức tỷ giá trên thị trường chợ đen chỉ giao động trong phạm vi từ 10200
đến 10400 đồng Việt Nam ăn 1 Đôla Mỹ. Thậm chí có lúc tỷ giá tụt
xuống ở mức USD = 9750 VND.
Mức tỷ giá trên thị trường chính thức cũng không có sự chênh lệnh
nhiều so với tỷ giá trên thị trường chợ đen, là minh chứng cho thấy, mặc
dù có sự can thiệp mạnh trở lại của nhà nước, nhưng tỷ giá vấn được xác
định tương đối phù hợp với quy luật của thị trường.
Nói chung tình hính cung cầu ngoại tệ và TGHĐ luôn được ổn định
trong suốt thời gian dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.


3/Giai đoạn từ tháng 7 /1997 đến ngày 26/2/1999
Ngày 2/7/1997 Thái lan phải "thả nổi" TGHĐ kết thúc gần 14 năm
duy trì một chế độ cố định và cũng là ngày đánh dấu làm nổ ra cuộc
khủng hoảng tài chính Đông nam á với một ảnh hưởng rộng khắp trên
phạm vi toàn thế giới. Việt Nam cũng không thể tránh khỏi cuộc khủng
hoảng. Xét trên góc độ vĩ mô, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
Đông nam á đối với nền kinh tế Việt Nam tạo nên một cơn sốc rộng khắp
trên các mặt của nền kinh tế chẳng hạn như:
Thứ nhất, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng
- Tạo sức ép giảm giá đồng Việt Nam trên thị trường ngoại tệ
- Tác động xấu đến hoạt động giai dịch ngoại tệ
- Tăng gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp
- Gây sức ép đối với lãi suất đồng tiền Việt Nam và đe doạ sự mất ổn
định của hệ thống Ngân hàng.
-Tác động đến xuất khẩu: tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực
châu á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch, riêng các
nước ASIAN chiếm 23% tổng kim ngạch trước khi sảy ra cuộc khủng
hoảng nên cuộc khủng hoảng tất yếu sẽ làm giảm xuất khẩu của Việt
Nam.
- Tác động đến nhập khẩu: Sự mất giá của đồng tiền trong khu vực đã
kích thích gia tăng nhập khẩu, trước hết là nhập khẩu tiểu ngạch từ Thái
lan và hàng trung chuyển từ Campuchia, Lào và Việt Nam.
Thứ hai , đối với lĩnh vực đầu tư:
Do tỷ giá tăng, lãi suất tăng, thị trường hàng hoá diễn biến phức tạp
cùng với dự đoán không tốt trong tương lai tất yếu sẽ là các doanh nghiệp
hạn chế đầu tư và Ngân hàng cũng rất dè dặt khi cho vay. Đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam đã có xu hướng giảm ngay từ trước khi nổ ra cuộc
khủng hoảng, sau khi cuộc khủng hoảng, nhiều dự án đầu tư dở dang bị
đình lại, nhiều phương án đầu tư mới tạm hoãn và điều này cũng thật rễ
hiểu khi mà các quốc gia bị khủng hoảng nặng nề lại là những quốc gia
đang dẫn đầu danh sách những quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam.
Thứ ba, đối với thu chi ngân sách nhà nước.
Gánh nặng nợ nần và chi phí nguyên liệu tăng lên cùng với sụt giảm
của thị trường tiêu dùng lẫn thị trường xuất khẩu đã làm nhiều doanh
nghiệp bị thua lỗ từ đó sẽ ảnh hưởng xấu đến nguồn thu ngân sách. Bên
cạnh đó, sự xa sụt của nền kinh tế tất yếu đòi hỏi phải ra tăng một số
khoản chi. Báo cáo của Ngân hàng nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín
dụng Ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 1998 đã chỉ rõ " Thu ngân sách 6
tháng thực hiện đạt 30% so với kế hoạch năm. Chi ngân sách khó khăn
hơn mức bội thu bội chi có xu hướng gia tăng".
Thứ tư , Tăng trưởng kinh tế dự trữ quốc gia và nợ nước ngoài.
Khủng hoảng khu vực đã gián tiếp ảnh hưởng đến cán cân vãng lai,
đến đầu tư của nước ngoài.Từ đó, gây ra khó khăn cho sự phát triển kinh
tế nói chung (tốc độ tăng trưởng 5,8% trong năm 1998 là mức tăng trưởng
thấp nhất kể từ năm 1989). Nề kinh tế khó khăn sẽ tác động suy giảm
đến tổng cầu, giảm thu nhập và tiêu dùng của cư dân. thị trường suy yếu
một phần sẽ tác động ngay lập tức đến các Ngân hàng thương mại. Dự
trữ quốc gia tất yếu sẽ phải chịu sức ép suy giảm một phần do nguồn
cung ngoại tệ giảm bớt, một phần do đáp ứng nhu cầu ngoại tệ thiết yêú
cho nền kinh tế và
hỗc trọ cho đồng Việt Nam vào những lúc cao điểm.
Trong bối cảnh đó chính sách TGHĐ nước ta đã có nhiều thay đổi
nhằm hạn chế những tác động của cuộc khủng hoảng với các mốc chính
như sau:
Ngày 13/10/1997 thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định mở rộng
biên độ giao dịch nên mức 10%. Ngày 16/2/1998 Ngân hàng nhà nước
quyết định nâng tỷ giá chính thức từ 1USD = 11175VND lên mức 1USD =
11800VND, tăng 5,6%, ngày 7/8/1998, Ngân hàng nhà nước quyết định thu
hẹp biên độ giao dịch xuống còn 7% đồng thời nâng tỷ giá chính thức lên
1USD = 12998 là 1USD = 12992 VND, ngày 6/11/1998 là 1USD =
12989VND,ngày 26/11/98 là1USD = 12987VND… cho đến ngày 15/1/1999
thì tỷ giá chính thức chỉ còn ở mức 1USD = 12980VND.

4/giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực đến
trước khi Việt Nam gia nhập WTO (1999-2006)
Trong giai đoạn này, kết quả tích cực do việc điều chỉnh tỷ giá mang
lại là nó đã hạn chế được phần nào nhập khẩu và giảm nhập siêu một
cách rõ rệt. Nhưng đồng thời,việc điều chỉnh tỷ giá đã làm tăng gánh nặng
nợ nước ngoài. Tính đến tháng 10/1998,so với mức nợ nước ngoài 22 tỷ
USD, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái đã làm cho nó tăng thêm 42,86 triệu
USD, cộng với 17,86 triệu USD tiền lãi, tổng cộng là 60,72 triệu USD đã
gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, thậm
chí đẩy thêm nhiều doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ. Đây chính là cái
giá phải trả khi
duy trì lựa chọn chính sách tỷ giá thiên về cố định bằng cách duy trì ổn
định tỷ giá quá lâu. Và một khi thời gian duy trì cố định càng dài thì sự
đánh đổi càng lớn cho các nhà hoạch định chính sách.
Do bị tác động bởi khủng khoảng tài chính của khu vực Đông Á, khi
đó Việt Nam buộc phải phá giá VND để hạn chế những tác động tiêu cực
của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam. Đồng thời, để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, lãi suất VND có xu hướng giảm, cộng thêm lãi
suất trên thị trường quốc tế có xu hướng tăng nên xảy ra hiện tượng
chuyển dịch từ VND sang USD, tỷ lệ tiền gửi USD / tổng tiền gửi tăng từ
mức 33% năm 1997 lên mức 36,6% năm 2000 và 41% năm 2001. Ngược
lại thì các khoản vay bằng ngoại tệ/ trên tổng dư nợ lại có xu hướng
giảm từ mức năm 1997: 31,3%, năm 1998: 25,4, năm 1999: 16,1%, năm
2000: 20,6%, năm 2001: 21%.Điều này, có thể sẽ gây mất cân đối nguồn
vốn và với sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại, gây mất an toàn
hoạt động của các NHTM. Kể từ ngày 26/02/1999, ngân hàng nhà nước
chấm dứt tỷ giá chính thức và giảm biên độ giao động tỷ giá xuống còn
0,1%. Từ đó, tỷ giá được ngân hàng nhà nước công bố theo tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng của đồng Việt Nam so với
đồng đô la Mỹ. Biện pháp trên đã góp phần ổn định tỷ giá trên thị trường
chính thức và thị trường tự do, tạo điều kiện cho thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng hoạt động sôi nổi. Năm 1999 tỷ giá giữa đồng VN và USD khá
ổn định, tỷ giá liên ngân hàng tăng 1%, tỷ giá trên thị trường tự do tăng
1,1% so với năm 1998. Năm 2000 tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân
hàng tăng 3,45%, t ỷ giá trên thị trường tự do tăng 3,18% so với năm 1999.
Năm 2001 tỷ giá tăng 3,9% so với cuối năm 2000. Trong năm 2002 tỷ giá
bình quân VND/USD trên thị trường liên ngân hàng tăng 1,97%, so với năm
2001. Năm 2003 tỷ giá tăng khoảng 1% so với năm 2002.
Ngày 01/7/2002, NHNN Việt Nam công bố nới lỏng biên độ lên 0,25%
so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Đối với
các ngoại tệ khác không phải là USD, các NHTM được quyền chủ động
tự định tỷ giá giữa VND và ngoại tệ đó. Cùng với những thay đổi trong
việc nới lỏng biên độ, NHNN Việt Nam đã cho phép sử dụng một số các
công cụ hoán đổi ngoại tệ giữa NHNN Việt Nam và các NHTM, góp phần
điều chỉnh tình trạng bất hợp lý về huy động và sử dụng vốn VND và
ngoại tệ của các NHTM. Ngoài ra, để giải quyết nhu cầu ngoại tệ hợp lý
v à phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp trong nước, NHNN
Việt Nam đã cho áp dụng thí điểm nghiệp vụ quyền chọn và NHTM cổ
phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) thực hiện thí điểm nghiệp
vụ này.
5/Thời kỳ từ tháng 11/2006 – nay (Từ khi gia nhập WTO ).
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO). Đối với nước ta, sự kiện này có một ý nghĩa đặc biệt.
Đây là kết quả của quá trình đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng nền kinh
tế thị trường XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Gia nhập WTO với
những cơ hội và thách thức mới cho Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc
tế. Trước những cơ hội và thách thức đó, lựa chọn những bước đi đúng
đắn và phù hợp trong cơ chế điều hành tỷ giá là điều trăn trở của các
nhà hoạch định chính sách.
Đầu năm 2007, đã có những biến động lớn trong chính sách điều hành
tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước thể hiện ở những nội dung sau:
- Nới rộng biên độ tỷ giá: Ngày 02/01/2007, NHNN đã nới rộng biên độ tỷ
giá ngoại tệ từ + 0,25% lên +0,5% so với tỷ giá liên ngân hàng. Việc điều
chỉnh này được cho là mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
- Sự can thiệp vào chính sách tỷ giá của NHNN: Trong ngày 2 và 3 tháng
01 năm 2007, NHNN đã mua ngoại tệ của các NHTM với số lượng nhiều
hơn nhằm giảm bớt tình trạng thừa USD trên thị trường. Ước tính trong 2
ngày, NHNN đã mua vào trên 140 triệu USD.
- Tỷ giá VND/USD bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp
dụng cho ngày giao dịch do Ngân hàng Nhà nước công bố có cao hơn một
chút (nếu ngày 26.1.2006 là 16.090 thì ngày 2.1.2007 là 16.101, ngày 3.1 là
16.096, ngày 4.1 là 16.100);
- Tỷ giá VND/USD do ngân hàng thương mại (Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam) bán ra vẫn cơ bản ổn định ở mức trên dưới 16.055 một chút và
thấp hơn tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (tương ứng
ngày 26.12.2006 là 16.050, ngày 2.1.2007 là 16.051, ngày 3.1 là 16.055,
ngày 4.1 là 16.055).
- Tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do cũng cơ bản ổn định và chỉ cao
hơn
không đáng kể so với tỷ giá do các ngân hàng thương mại bán ra và cũng
thấp hơn tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (ngày
2.1.2007 là 16.070, ngày 3.1 là 16.070, ngày 4.1 là 16.070).
- Ngày 10.10.2007, giá bán ra đô la Mỹ của ngân hàng là 16.084 đồng,
nhưng cũng ngày này tháng trước thì giá bán ra là 16.244 đồng. Diễn biến
này nếu xem tỷ giá của Việt Nam là tự do biến động theo thị trường thì
chúng ta gọi là tiền đồng Việt Nam tăng giá (appreciation) 160 đồng, hay
ngược lại đô la Mỹ giảm giá.
Động thái mới nhất từ phía Ngân hàng Nhà nước nhằm kiểm soát lạm
phát trong năm 2008 là quyết định nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD từ
+/-0,5% lên +/-0,75% ngay trong những ngày cuối năm 2007
(ngày24/12/2007) nhằm tăng khả năng thanh khoản cho thị trường và tăng
cường sự linh hoạt của tỷ giá trong bối cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam
ngày càng lớn, tạo điều kiện cho dòng vốn ra và vào nhịp nhàng hơn. Theo
NHNN, việc mở rộng biên độ lần này nằm trong chủ trương tạo điều
kiện để nền kinh tế Việt Nam thích nghi với mức độ mở cửa, hội nhập
nền kinh tế thế giới.
Để giảm bớt áp lực cho các ngân hàng trong bối cảnh cung ngoại tệ
thừa , có điều kiện ấn định tỷ giá theo cung cầu vốn thực tế, ngày
07/3/2008 NHNN đã mở thêm biên độ tỷ giá thêm một khoảng là +/-
0,25% so với mức +/-0,75% trước đây, tức là cho phép các ngân hàng được
tự đưa ra tỷ giá trong "phạm vi cho phép" là +/-1% so với tỷ giá chính thức
liên ngân hàng.
- Ngày 26/6/2008 NHNN ban hành quyết định số 1346 mở rộng biên
độ lên +2% và ngày 6/11/2008 NHNN tiếp tục ban hành quyết định
số 2635 mở rộng biên độ lên + 3% với mục đích điều hành chính
sách tỷ giá linh hoạt hơn giúp cho các tổ chức kinh tế và tổ chức tín
dụng thích ứng tốt hơn với các biến động trên thị trường thế giới
hiện nay.

Liên hệ Tác động của Chính sách 'Đồng tiền yếu' của Việt Nam

Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng khi tiền đồng mất giá trong
chính sách “Đồng tiền yếu”.

Một thực tế đã và đang diễn ra, đó là đồng tiền Việt Nam (VND) đang
giảm giá so với đồng dollar Mỹ (USD). Một dollar Mỹ (1 USD) tương
đương 10.000 VND – 12.000 VND cách đây hơn 10-12 năm, giờ đã là
khoảng 19.500 VND theo giá thị trường (gần gấp đôi). Tỷ giá hối đoái
được điều chỉnh tự nhiên, khách quan, do “bàn tay vô hình” của thị trường
tự chi phối và điều tiết hay do chính sách can thiệp tỉ giá của ngân hàng
nhà nước và chính phủ từ mềm mại, linh hoạt, nhẹ nhàng hay “đột ngột”
gây sốc cho thị trường. Điều này tác động đến các doanh nghiệp nói chung
và các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu nói riêng như thế nào?

Khảo sát trường hợp doanh nghiệp A, B, C, D, E, F như dưới đây:
- Doanh nghiệp trong các trường hợp A, B, C, D, E, F đều thu được doanh
số 100 USD khi xuất hàng

- Các trường hợp làm hàng xuất khẩu với tỉ lệ nội địa hóa khác nhau: A –
nhập khẩu 50% (phải trả cho bên bán nước ngoài 50 USD để nhập hàng
nguyên vật liệu về) tức A phải mua nguyên liệu đầu vào hết 50 USD, còn
lại mua trong nước hay tỉ lệ nội địa hóa đầu vào của A trong trường hợp
này là tối đa 50% (không kể hàng hóa A mua được trong nước cũng do
doanh nghiệp khác nhập khẩu về); tương tự B có tỉ lệ nhập khẩu là 60%
hay 60 USD tức tỉ lệ nội địa tối đa tới 40% (dùng mua hàng trong nước)…
và F – nhập khẩu 100% hay nhập hoàn toàn cho mỗi 100 USD doanh số
thu về hay F là doanh nghiệp nhập khẩu 100 USD cho mỗi 100USD xuất
khẩu (giả thiết lý thuyết hoặc F chính là doanh nghiệp chuyên nhập
khẩu).

- Tỷ giá biến động từ 1 USD tương đương 18.000 VND lên 20.000 VND
như thời gian vừa qua, tức biến động 2.000 VND cho mỗi USD.

- Lợi nhuận (sau chi phí) thu về của các doanh nghiệp A, B, C, D, E, F đều
là 10% trên doanh số xuất khẩu 100USD; tức là (a) 180.000 VND tại thời
điểm trước khi tỉ giá biến động (doanh nghiệp dự kiến lời 10% bằng tiền
Đồng vì các chi phí doanh nghiệp trong nước được dự kiến bằng VND; và
là (b) 10 USD tại thời điểm thu về bằng USD hàng xuất khẩu. Giả thiết
khác: doanh nghiệp chưa thể tăng giá hàng hóa bán ra.

Giải thích:

Chúng ta nhận thấy, để thu về 100 USD, doanh nghiệp phải trả cho bên
bán nước ngoài (hàng 1) bằng USD với tỉ lệ tăng tương ứng theo tỉ lệ
hàng nguyên liệu phải nhập về. Số tiền đồng (VND) phải trả thêm cho
mỗi USD cũng gia tăng theo (hàng 2 – nhân với 2.000VND).

So với dự kiến lợi nhuận bằng tiền đồng (VND) tức trường hợp (a) thì
(xem hàng số 3) lợi nhuận các doanh nghiệp sẽ giảm từ A: 80.000VND
xuống –F: 20.000VND (thua lỗ); nếu theo dự kiến bằng USD như trường
hợp (b) (doanh nghiệp được bán USD theo giá thị trường khi xuất khẩu và
thu tiền về) thì đỡ hơn một chút (xem hàng số 4). Hàng số 5, cho thấy khi
so sánh giữa các trường hợp A, B, C, D, E, F thì mỗi khi tỉ lệ % số tiền
USD phải trả để mua hàng nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất
kinh doanh (nhập khẩu) tăng lên 10% thì lợi nhuận dự kiến của doanh
nghiệp giảm 10%. Điều này tỉ lệ nghịch với tỉ lệ nội địa hóa nguyên vật
liệu.

Nếu doanh nghiệp chỉ phải thanh toán hàng hóa bằng tiền đồng VND
trong nước thì sẽ không phải chịu thiệt khi tỉ giá biến động như vừa qua
(ít tác động). Doanh nghiệp có tỉ lệ nội địa hóa càng cao sẽ có ưu thế lợi
nhuận lớn hơn doanh nghiệp có tỉ lệ nội địa hóa thấp, do chịu thiệt khi
tiền đồng Việt Nam giảm giá hay phá giá tiền đồng. Ví dụ: A (nhập khẩu
50% và mua nội địa tối đa tới 50%) sẽ có lợi hơn B, C, D, E và dĩ nhiên là
F vì có tỉ lệ nhập khẩu cho sản xuất kinh doanh cao hơn (xét biến động tỉ
giá chứ không khảo sát lợi thế khi doanh nghiệp mua hàng giá rẻ từ nước
ngoài).

Tỉ lệ nội địa hóa tùy thuộc nhiều vào lĩnh vực, ngành nghề, chủng loại
hàng hóa cũng như lợi thế so sánh của mỗi quốc gia như tài nguyên thiên
nhiên (mỏ quặng, thủy hải sản, nông lâm sản…); cơ cấu dân số và chất
lượng dân số lao động già, trẻ; trình độ giáo dục, khoa học công nghệ,
phát minh sáng kiến, trình độ quản lý nhà nước và điều hành kinh tế vĩ mô
– thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở của chính sách và pháp luật, khả
năng học hỏi, sáng tạo, rút kinh nghiệm và vượt khó trong điều hành
doanh nghiệp; và các mối tương quan lịch sử, địa chính trị, kinh tế truyền
thống của các quốc gia và khu vực.

Do vậy, việc quyết định điều chỉnh tăng hay giảm giá tiền đồng so sánh
với một ngoại tệ nào đó, ở đây là USD – một ngoại tệ truyền thống mạnh
nhất trên thế giới, phải nhìn vào cấu trúc hiện tại của nền kinh tế đất
nước. Ngoài các yếu tố như thâm hụt ngân sách (bội chi khoảng 5% năm
2008 và 6.9% năm 2009), tăng trưởng tín dụng nhanh (hơn 40% liên tiếp
trong 2 năm 2008 và 2009 - theo TBKTSG số 1-2010, trang 12), đầu tư
kém hiệu quả và thất thoát trong các dự án nguồn vốn nhà nước (các
doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và nhà nước phải tái
đầu tư để cứu) hoặc vay ODA (cần lưu ý là các quốc gia có khả năng tự
chủ tài chính cao sẽ không cần phải vay ODA - vay ưu đãi lãi suất tương
đối thấp, dài hạn và có điều kiện - ngay cả các quốc gia trong khu vực
như Thailand, Indonesia, Malaysia… với phép tính đơn giản là phải thuê
chuyên gia của nước cho vay, trả lương cao; mua hàng hóa của nước cho
vay ODA, thì họ đã lời vài chục phần trăm cho việc bán hàng hóa này,
thực chất đây có thể là một bài toán kinh doanh chứ không hẳn là viện trợ
hay trợ giúp 100% - đây là gánh nặng phải trả trong tương lai con cháu
chúng ta, nếu chúng ta sử dụng vốn ODA phung phí, không hiệu quả, thất
thoát, tham nhũng – hơn nữa, việc điều chỉnh tỉ giá cũng có thể làm tăng
gánh nặng nợ nước ngoài phải trả khi thanh toán bằng ngoại tệ), dự trữ
ngoại tệ, vàng ở mức độ an toàn ra sao, mức độ nợ nước ngoài và lãi suất
phải trả hàng năm… chúng ta cần chú ý vấn đề tỉ lệ nội địa hóa trong các
doanh nghiệp Việt Nam hiện tại cũng như tương lai.

Nên chăng các nhà điều hành kinh tế vĩ mô cần có các nghiên cứu sâu, các
thông tin lượng hóa đầy đủ, cụ thể như: lĩnh vực nào, ngành nghề nào,
công ty nào sẽ được lợi hay hại từ biến động tỉ giá tăng hay giảm? Dự
báo trước sẽ giúp phòng tránh các tác động xấu trên thị trường.

Không thể máy móc sao chép các mô hinh kinh tế các nước khác trong
khi điều kiện mỗi nước hoàn toàn khác nhau. Trung Quốc có nền kinh
tế sản xuất dựa vào sức lao động giá rẻ và tiêu tốn tài nguyên môi trường
nhưng cũng có tỉ lệ nội địa hóa hàng hóa nâng cao hơn Việt Nam ( hàng
công nghiệp chiếm tới 95% tổng lượng hàng xuất khẩu năm 2008 – theo
TBKTSG số 1-2010, trang 50); các quốc gia phát triển như Mỹ, Đức,… có
nền xuất khẩu dựa vào chất xám, công nghệ cao, hiện đại có thể muốn
giử chính sách đồng tiền yếu để hỗ trợ xuất khẩu. Nói cách khác, các
công ty Trung Quốc với tỉ lệ nội địa hóa cao hơn sẽ có lợi hơn các công ty
Việt Nam có tỉ lệ nội địa hóa thấp trong cùng một chính sách ‘đồng tiền
yếu’ hỗ trợ xuất khẩu!

Khi phải quyết định phá giá hay giảm giá đồng tiền VND – chính sách
“đồng tiền yếu” - để cứu thâm hụt ngân sách hay hỗ trợ xuất khẩu, nâng
sức cạnh tranh hàng hóa để chiếm lĩnh thị trường quốc tế, hoặc chống
nhập siêu cao (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu – có lẽ không thể tránh
khỏi trong phát triển kinh tế giai đoạn hiện tại), nếu không cân nhắc kỹ
các yếu tố lợi hại, sẽ chịu các tác động như giá tiêu dùng gia tăng nhanh
(nhiều nghiên cứu, nhận định tỉ lệ lạm phát sẽ tăng cao trong năm 2010 –
điều này có lẽ là hiển nhiên, bởi vì giá USD đã tăng khoảng 5-7% và giá
vàng đã tăng từ 22 – 23 triệu đồng/lượng tới khoảng 27 triệu đồng/lượng
như hiện nay tức hơn 17% trong năm 2009 – trên bình diện từ 2-3 năm,
2007 – 2009, thì cả vàng vàUSD đã tăng hơn 20% - 25% so với VND), ảnh
hưởng đến mọi tầng lớp xã hội mà người lao động nghèo sẽ gánh chịu
nặng nề nhất ( ví dụ: gói xôi tăng từ 3,000VND lên 5,000VND; ổ bánh mì
tăng từ 5,000VND lên 8,000VND thì người lao động, hưu trí với mức
lương và thu nhập cố định thấp sẽ bị thiệt hại nặng nhất, không đủ tiền
cho nhu cầu tối thiểu hàng ngày).
Bất ổn về tỉ giá sẽ khuyến khích doanh nghiệp và cá nhân có tâm lý găm
giữ vàng, USD, bất động sản… để tránh bị mất giá tài sản. Không thể kêu
gọi họ hy sinh quyền lợi riêng vì một mục đích chung chưa rõ ràng, cụ thể
( ví dụ: tôi bán USD với giá 18.500 VND cho ngân hàng, liệu khi cần nhập
hàng tôi có được mua USD với giá đó không? Hay ngân hàng vẫn ‘bắt’
doanh nghiệp tự mua USD từ ‘chợ đen’? Hơn nữa, người khác có hy sinh
như tôi? Ai được hưởng lợi nhiều hơn?). Thực tế, nếu đầu năm 2009, ai
đó bán vàng ra đầu tư sản xuất kinh doanh, sau một năm làm ăn có lãi, có
thể không mua lại được số vàng đầu năm đã bán.

Trên bình diện quốc tế, một quốc gia có đồng tiền chưa chuyển đổi tự do
được (khi đi công tác nước ngoài, chúng ta phải tự mua USD để mang theo
dùng, chưa thể mang VND theo và đổi tiền ở ngân hàng nước ngoài) sẽ
gặp rất nhiều bất lợi trong thương mại quốc tế cũng như uy tín và
thương hiệu của đất nước (ví dụ: doanh nghiệp không thể thương thảo
hợp đồng mua hàng và thanh toán bằng VND). Chúng ta cũng tự đánh mất
khả năng sử dụng ‘bàn tay vô hình’ của thị trường để điều chỉnh chính
sách tỉ giá. Các thay đổi chính sách tỉ giá liên tục, mang tính chủ quan hoặc
thiếu kinh nghiệm mà sai sót là tất yếu, chạy sau biến động thị trường sẽ
làm mất uy tín về khả năng điều hành kinh tế vĩ mô (năng lực cạnh tranh
của Việt Nam năm 2009 đã tụt hạng từ 68/131 giai đoạn 2007-2008 đến
70/134 giai đoạn 2008-2009 xuống 75/133 giai đoạn 2009-2010, chủ yếu
do yếu tố về ổn định kinh tế vĩ mô, tụt sâu 42 bậc, từ 70 xuống 112 – theo
TBKTSG số 1-2010, trang 11) tạo một tâm lý không tốt cho cả người mua,
người bán và các thương vụ hợp tác làm ăn từ nhỏ tới lớn, cho tới hợp tác
ở qui mô quốc tế khu vực và thế giới.

Nên chăng phải có một lộ trình rõ ràng giúp đồng tiền Việt Nam có khả
năng chuyển đổi tự do, sòng phẳng với các đồng tiền phổ biến khác trên
thế giới? Đây cũng là một nội dung quan trọng của hội nhập với nền kinh
tế thế giới?
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản