Assembly part 1

Chia sẻ: Dqdsadasd Qwdasdsad | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
83
lượt xem
20
download

Assembly part 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Assembly là gì ? Trước khi nền tảng .NET được giới thiệu, chúng ta đã phải giải quyết với tiền assembly, DLL thường cung cấp các hàm dùng chung và COM DLLs cung cấp các lớp COM. Microsoft tự giới thiệu cụm từ

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Assembly part 1

  1. Assembly là gì ? Trước khi nền tảng .NET được giới thiệu, chúng ta đã phải giải quyết với tiền assembly, DLL thường cung cấp các hàm dùng chung và COM DLLs cung cấp các lớp COM. Microsoft tự giới thiệu cụm từ "DLL-Hell" để mô tả những vấn đề truyền thống với DLL, những vấn đề này dường như chúng ta đã biết đó là Thường các chương trình ứng dụng bị dừng hoặc lỗi bởi vì ứng dụng cài đặt gần nhất ghi đè một DLL lên ứng dụng trước đó, DLL này cũng được sử dụng bởi một ứng dụng khác. Thỉnh thoảng nó xảy ra sự cài đặt thay thế một DLL mới cho một cái cũ bởi vì sự cài đặt chương trình không kiểm tra phiên bản một cách chính xác, hoặc phiên bản không thiết lập một cách chính xác. Bình thường chúng không có vấn đề gì nhưng thực sự chúng có sự khác biệt, đúng ra DLL mới nên được lùi lại tích hợp với DLL cũ nhưng thỉnh thoảng không như vậy, đôi khi trường hợp này lại sảy ra quá thường xuyên. DLL Hell Nền tảng .NET chính là DLL Hell và tất cả vấn đề của nó là assemblies. Assemblies là bộ cài đặt chính nó, bao gồm một hoặc nhiều files. Một assembly có thể là một đơn DLL hoặc EXE bao gồm cả metadata, hoặc nó có thể đuợc tạo từ nhiều file khác, thí dụ, các file nguồn, metadata, DLLs, và một EXE. Sự cài đặt của một assembly có thể đơn giản như là sao chép tất cả các file của chính nó. Một tính năng mạnh của assemblies là chúng có thể là private hoặc shared. Với COM đây là sự khác biệt không tồn tại, trước đây gần như tất cả các thành phần COM đều được chia sè. Nếu bạn tìm kiếm thành phần COM ở trong Registry hoặc sử dụng OleView,bạn phải lục lội trong hàng trăm và hàng trăm các thành phần. Chỉ một số nhỏ các thành phần đã được định nghĩa để sử dụng từ một số ứng dụng, nhưng mỗi thành phần phải có một khai báo toàn cục duy nhất (global unique identifier) (GUID). Có sự khác biệt lớn giữa private và shared assemblies. Nhiều nhà phát triển sẽ thích hơn nếu chỉ có private assemblies. Không có quản lý riêng, đăng ký, xác định phiên bản và vậy nên cần làm việc với private assemblies. Chỉ duy nhất ứng dụng chúng có vấn đề về phiên bản với private assemblies thì chính là ứng dụng của bạn. các thành private mà bạn sử dụng mà ứng dụng của bạn không được cài đặt cùng thời gian với ứng dụng. Thư mục ứng dụng cục bộ được sử dụng cho các thành phần của assemblies, cho nên bạn không nên có bất kỳ vấn đề về phiên bản. Ứng dụng khác chưa ghi đè lên private assemblies của bạn. Tất nhiên nó cũng hay khi khi sử dụng phiên bản private assemblies. Nó có lợi khi thay đổi code, Nhưng điều này không yêu cầu trong .NET. Khi sử dụng shared assemblies, Một vài ứng dụng có thể sử dụng assembly này và có sự lệ thuộc vào chúng. Với shared assemblies, phải thoả mãn một số qui tắc. Một shared
  2. assembly phải có số phiên bản cụ thể, một tên duy nhất và thường nó được cài đặt trong global assembly cache (GAC). Các tính năng của Assemblies Các tính năng của assemblies có thể được tóm tắt như sau: • Assemblies là miêu tả bản thân (self-describing). Nó không cần thiết để đăng ký để nhận thư viện từ nơi khác. Assemblies bao gồm metadata nó miêu tả assembly. The metadata bao gồm các kiểu sinh ra từ assembly và một manifest; Chúng ta sẽ tìm hiểu a manifest ở phần sau. • Độc lập phiên bản (Version dependencies) được ghi lại bên trong assembly manifest. Bằng cách chứa phiên bản của nhiều tham khảo assemblies trong manifest của assembly, Chúng ta có thể biết chính xác số phiên bản cả tham khảo assembly nó đuợc sử dụng trong suốt quá trình phát triển. Phiên bản của tham chiếu assembly nó được dùng để cấu hình bởi các nhà phát trỉên và nhà quản trị hệ thống (system administrator).Phần sau của chương này chúng ta sẽ biết chúng làm việc như thế nào. • Assemblies có thể được nạp side-by-side. Sử dụng Windows 2000 chúng ta có từng bước một các tính năng và ở đâu là sự khác biệt các phiên bản của cùng DLL được sử dụng trong hệ thống .NET mở rộng các tính năng cho Windows 2000, cho phép các phiên bản khác nhau của cùng assembly để sử dụng bên trong một tiến trình đơn giản, Vậy lợi ích ở đâu ? Nếu assembly A tham khảo version 1 của shared assembly được chia sẽ, và assembly B sử dụng version 2 của shared assembly được chia sẽ, và bạn đang sử dụng cả hai assembly A and B, đoán xem versions của shared assembly Chia sẽ nào được dùng trong ứng dụng của bạn - bạn cần cả hai, và với .NET cả hai versions được nạp và sử dụng. • Ứng dụng độc lập được đảm bảo sử dụng (vùng sở hữu ứng dụng) application domains. Với application domains một số các ứng dụng có thể chạy một cách độc lập trong một đơn tiến trình. Khuyết điểm trong một ứng dụng không thể trực tiếp ảnh hưởng các ứng dụng khác bên trong cùng tiến trình. Sự cài đặt dễ dàng như sao chép file nó phụ thuộc vào assembly. Xcopy có thể sao chép đẩy đủ. Tính năng này có tên là zero-impact installation. Tại sao Microsoft Windows Installer (MSI) vẫn còn quan trọng. Tôi thường hỏi tại sao Microsoft Windows Installer vẫn cần thiết trong khi xcopy đã đủ để cài đặt các ứng dụng .NET. Câu trả lời đơn giản đó là chúng ta thường muốn sao chép nhiều file hơn một file khi cài đặt các ứng dụng Windows. Thường chúng ta truy xuất ứng dụng từ Start menu, cài đặt thư mục con của Program Files, Chúng ta làm vài thay đổi , hiển thị bản quyền, vân vân . . The Windows Installer hỗ trợ rất nhiều tính năng thêm vào khi không thể giải quyết với assemblies. Các ứng
  3. dụng sử dụng với chính Registry settings, group policies để dễ dàng hơn trong quản lý nơi người sử dụng truy xuất các tính năng riêng biệt, advertisement để cài đặt các ứng dụng sau này, Khi yêu cầu bởi user, và sữa chữa các file bị sai lạc. Application Domains Application domain ("địa bàn hoạt động" của ứng dụng, giống như namespace là "địa bàn hoạt động" của các tên) là một cải tiến quan trọng mà .NET đem lại trước việc tiêu hao ký ức (gọi là overheah) khá nhiều để bảo đảm các ứng dụng phải được cách ly (isolation) hoàn toàn với nhau, nhưng vẫn có thể liên lạc với nhau. Bạn cứ hình dung hai sân quần vợt nằm kế cận, và cả hai đều có người chơi. Vấn đề là quả bóng của bên này có thể nhảy qua bên kia, phá rối cuộc chơi. Phải làm thế nào để cách ly hai sân chơi. Mãi tới giờ, biện pháp duy nhất để cách ly đoạn mã là thông qua tiến trình process. Khi bạn khởi động một ứng dụng, thì ứng dụng này chạy trong phạm vi một process Appliction Domain được thiết kế như là một cách để cách ly các cấu kiện với nhau, nhưng không giảm thiểu hiệu năng hoạt động do việc trao đổi dữ liệu giữa các process. Ý niệm nằm đằng sau là chia bất cứ process nào thành một số "địa bàn hoạt động của ứng dụng (appliction domain). Mỗi appliction domain tương ứng đối với một ứng dụng đơn lẻ, và mỗi mạch trình (thread) thi hành sẽ được chạy trong một application domain đặc biệt nào đó. Nếu những đoạn mã khả thi khác nhau đều chạy trong cùng không gian ký ức của process, rõ ràng là chúng có thể chia sẻ sử dụng dữ liệu vì theo lý thuyết chúng có thể thấy được dữ liệu của nhau. Mặc dù có khả năng như thế, nhưng .NET runtime bảo đảm là sẽ không xảy ra, trong thực tế thông qua việc kiểm tra đoạn mã của mỗi ứng dụng đang chạy bảo đảm đoạn mã không thể chạy ngoài vùng dữ liệu được cấp phát riêng cho mình. Nhờ việc kiểm tra chặt chẽ về kiểu dữ liệu của IL, nên các điều kể trên có thể thực hiện được. Trong đa số trường hợp, kiểu dữ liệu được sữ dụng sẽ bảo đảm là ký ức sẽ không được truy xuất một cách bất hợp lệ. Thí dụ, kiểu dữ liệu kiểu bản dãy (array) của .NET bảo đảm kiểm tra giới hạn thấp và cao (lower & upper bound) không cho phép bản dãy hoạt động quá giới hạn.
  4. Ví dụ: DomainTest có trong mã nguồn bạn có thể download để tham khảo .Trong ví dụ này kết quả sẽ trả về vùng domain đang hoạt động. using System; namespace Wrox.ProCSharp.Assemblies.AppDomains { class Class1 { public Class1(int val1, int val2) { Console.WriteLine("Constructor with the values {0}, {1}" + " in domain {2} called", val1, val2, AppDomain.CurrentDomain.FriendlyName); } static void Main(string[] args) { Console.WriteLine("Main in domain {0} called", AppDomain.CurrentDomain.FriendlyName); Console.ReadLine(); } } } download source
Đồng bộ tài khoản