Bạch Mi quyền

Chia sẻ: chuong_bac

Bạch Mi quyền, tên đầy đủ là Thiếu Lâm Bạch Mi quyền [1] là tên của một võ phái miền nam Trung Hoa có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến do Bạch Mi đạo nhân, tương truyền là một đệ tử của Nam Thiếu Lâm tách ra sáng lập riêng sau khi ông ta rời bỏ Phật gia đi theo Đạo gia vào đầu thời Càn Long. Trong lịch sử võ thuật Trung Hoa có nhiều người lầm lẫn võ phái Nga Mi[2] và Bạch Mi là một. Thật ra đây là hai võ phái khác nhau...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bạch Mi quyền

Bạch Mi quyền
Bạch Mi quyền, tên đầy đủ là Thiếu Lâm Bạch Mi quyền [1] là tên của một võ
phái miền nam Trung Hoa có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến do Bạch
Mi đạo nhân, tương truyền là một đệ tử của Nam Thiếu Lâm tách ra sáng lập riêng
sau khi ông ta rời bỏ Phật gia đi theo Đạo gia vào đầu thời Càn Long.

Trong lịch sử võ thuật Trung Hoa có nhiều người lầm lẫn võ phái Nga Mi[2] và
Bạch Mi là một. Thật ra đây là hai võ phái khác nhau và có những hệ thống kỹ
pháp khác nhau thậm chí không có liên quan gì về mặt lịch sử ngoại trừ chuyện
hai vị sư tổ sáng lập đều là đệ tử của Thiếu Lâm.

[sửa] Truyền thuyết về Bạch Mi Đạo Nhân

Bài chi tiết: Bạch Mi đạo nhân




Bạch Mi đạo nhân sư tổ
Bạch Mi đạo nhân, người đã sáng tạo ra quyền thuật Bạch Mi phái, một dòng võ
nổi tiếng trong hệ Nam quyền của Nam Thiếu Lâm.

Trong giới võ thuật ở miền Nam Trung Hoa thường truyền tụng rằng Bạch Mi Đạo
Nhân được xem như là một kẻ ‘’Phản đồ” của Nam Thiếu Lâm và là người chủ
mưu hoặc ít nhất là có tham gia hai lần vào vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm
Toàn Châu Phúc Kiến lần thứ nhất vào năm 1723 (tức năm Ung Chính thứ 2) do
vua Ung Chính và vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến lần
thứ hai vào năm 1763 (tức năm Càn Long thứ 28) do vua Càn Long. Câu chuyện
này không có một nguồn tài liệu cơ sở lịch sử nào và các học giả nghiên cứu lịch
sử võ thuật Trung Hoa cũng không hề ghi nhận sự kiện trên trong các ấn phẩm võ
thuật.

Trong các tài liệu của các đại võ sư Karate ở Nhật Bản luôn nhắc chuyện chùa
Nam Thiếu Lâm bị quan quân nhà Thanh đốt phá và 5 vị cao đồ xuất sắc của Nam
Thiếu Lâm sống sót và trốn chạy khỏi Phúc Kiến là: Chí Thiện thiền sư, Bạch Mi
đạo nhân, Ngũ Mai lão ni sư thái, Phùng Đạo Đức, và Miêu Hiển. 5 người này sau
này được xem là Ngũ tổ của các dòng phái võ thuật miền Nam Trung Hoa tục
xưng là Nam quyền.




Ngũ Mai sư thái quan sát cuộc chiến thư hùng giữa cáo và hạc sau đó sáng tác ra
Vịnh Xuân quyền, bức tranh này có tên là Xà Hạc Tương Tranh :
Bài chi tiết: Vịnh Xuân quyền và Ngũ Mai

Sau này Ngũ Mai lão ni sư thái thu nhận một nữ môn đồ tên là Nghiêm Vịnh Xuân
là con gái của Nghiêm Nhị - cũng là một danh thủ quyền thuật xuất thân từ chùa
Nam Thiếu Lâm, đó là nguồn gốc của Vịnh Xuân quyền tại Phật Sơn tỉnh Quảng
Đông sau này.

Chí Thiện thiền sư cũng có một đồ đệ tên Hồng Hy Quan trốn chạy khỏi Nam
Thiếu Lâm Phúc Kiến, là người sau này đã truyền bá võ thuật Nam Thiếu Lâm tại
quê hương của ông cũng là Phật Sơn tỉnh Quảng Đông, và để tránh sự truy nã của
nhà Thanh nên xưng danh Hồng Gia quyền.

Ngoài Hồng Hy Quan, các môn đồ Nam Thiếu Lâm cũng lưu lạc rải rác khắp miền
Nam Trung Hoa hình thành nên nhiều võ phái miền nam sau này, nổi lên hàng đầu
là 5 nhà gọi là Ngũ Đại Danh Gia Quyền Thuật Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến gồm
Hồng, Lưu, Lý, Mạc, Thái.

Miêu Hiển có một người con gái tên Miêu Thúy Hoa, là mẹ của Phương Thế Ngọc
sau này cũng nổi danh trong Hồng Gia quyền của Hồng Hy Quan.

Riêng Phùng Đạo Đức sau này cũng đứng riêng tạo lập ra một phái Nam quyền
cũng rất nổi tiếng ở miền Nam Trung Hoa là Bạch Hổ phái phát triển rất mạnh ở
Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc) gọi là Bạch Hổ phái Lưỡng Quảng.

Có hai nguồn tài liệu của các võ sư Karate Nhật Bản đề cập đến chùa Nam Thiếu
Lâm Phúc Kiến:

1. Tài liệu của các võ sư Karate ở Okinawa nói rằng chùa Nam Thiếu Lâm
được xây vào đầu thời nhà Nam Tống do chùa Thiếu Lâm Tung Sơn ở Hà
Nam bị quan quân của triều nhà Nguyên (Mông Cổ) phóng hỏa đốt. Sau đó,
vua quan triều nhà Nam Tống do dời đô về Nam Kinh nên muốn xây lại
chùa Thiếu Lâm ở Phúc Kiến y hệt chùa Thiếu Lâm ở Hà Nam. Trên thực
tế chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam chỉ có bị phóng hỏa một lần duy
nhất bởi quân đội của thuộc hạ của Tưởng Giới Thạch dưới thời Trung Hoa
Dân Quốc mà thôi [3].

2. Tài liệu của các võ sư Karate ở Nhật Bản thì cho rằng chùa Thiếu Lâm
Tung Sơn ở Hà Nam bị quân đội nhà Thanh đốt khi tiến vào Trung nguyên
nên sau này Chí Thiện Thiền Sư phải xây chùa Thiếu Lâm thứ hai tại tỉnh
Phúc Kiến.

Cả hai thuyết trên của các võ sư Karate đều không chính xác và không có cơ sở
lịch sử. Trên thực tế chỉ có chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến là bị nhà Thanh tấn
công nhiều lần rồi phóng hỏa thiêu hủy.

Đến năm 1992, dưới sự chỉ đạo của giới lãnh đạo chính quyền thành phố Phúc
Kiến và đông đảo các thành phần báo giới cùng quần chúng tham gia, chùa Nam
Thiếu Lâm ở Phúc Kiến đã được xây dựng lại theo nguyên bản cách đây hơn 400
năm rất đẹp để làm di tích lịch sử văn hóa thu hút du khách nước ngoài. Hiện nay
ở Trung Quốc chỉ còn hai ngôi chùa Thiếu Lâm, một chùa Thiếu Lâm nguyên thủy
ở Tung Sơn Hà Nam, tuy bị đốt vào năm 1928 (tức năm Trung Hoa Dân Quốc thứ
17) bởi thuộc hạ của Tưởng Giới Thạch tên là Thạch Hữu Tam truy sát viên tướng
tạo phản Phàn Chung Tú đang lẩn trốn trong Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, nhưng vẫn
còn to lớn uy nghi cho đến nay, và chùa Nam Thiếu Lâm ở thành phố Phủ Điền
(hay Bồ Điền) giữa thành phố Phúc Châu và thành phố Toàn Châu thuộc tỉnh Phúc
Kiến vừa được xây dựng và trùng tu lại sau năm 1992 đến tháng 9 năm 2001 mới
hoàn thành.

[sửa] Nguồn gốc Bạch Mi phái

Trong các dòng phái Bạch Mi quyền sau này đều có chung điểm thống nhất về
nguồn gốc của Bạch Mi phái và Bạch Mi sư tổ, không ai rõ họ tên của ngài ra sao,
người ta chỉ biết rằng đó là một vị chân nhân có đôi lông mày dài màu trắng nên
được gọi là Bạch Mi Đạo Nhân và ẩn cư tại núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên.

Bạch Mi Đạo Nhân thật ra là một môn đồ của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

Tuy nhiên, nếu để ý quan sát ta sẽ thấy Hồng Gia quyền, Bạch Mi quyền, và Vịnh
Xuân quyền đúng là có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến vì 3 hệ quyền
này đều có những thủ pháp như Tầm kiều, Tiêu chỉ, Tiêu quán chưởng, Trầm kiều,
Triệt kiều, Toản kiều, Phiên kiều, Cổn kiều, Lẫy kiều, Tỏa kiều, ... là những chiêu
thức thủ pháp trong hệ thống Kiều thủ (Kiều pháp) d ù rằng Bạch Mi Đạo Nhân
gốc là môn đồ Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam và Bạch Mi Đạo Nhân đã chịu ảnh
hưởng của các dòng võ miền Nam của Nam Thiếu Lâm rất rõ.




Hổ Báo hình quyền Bạch Mi phái, logo của dòng Bạch Mi phái New York - địa
chỉ võ đường: New York City (N.Y.C), Squid Studios 127 Fulton Street 7th
flr.New York 10038 N.Y., website: http://www.pakmeikungfu.com/about.htm
Bạch Mi Đạo Nhân đã sáng tác ra Bạch Mi quyền trên cơ sở Hổ hình quyền và
Báo hình quyền trong hệ thống Ngũ hình quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc) của
Thiếu Lâm quyền, chỉ khác là không đi theo kỹ pháp truyền thống quyền xuất tại
yêu (hai tay quyền khởi phát từ eo bộ).

Theo tài liệu Bạch Mi phái một số phân lưu thuộc dòng của Tăng Huệ Bác thì
Bạch Mi Đạo Nhân tên thật là Chu Long Tuyền, là một đạo sĩ Đạo gia sống trong
núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên, do ông có đôi lông mày màu trắng bạc nên lấy pháp
danh là Bạch Mi Đạo Nhân.

Sau này, có lẽ do Bạch Mi Đạo Nhân có mối liên hệ với Ngũ Mai và Chí Thiện,
xem các chiêu thức thủ pháp trong hệ thống Kiều pháp là biết, nên Bạch Mi phái
được các sử gia võ thuật Trung Hoa xếp vào danh sách Nam quyền thuộc hệ Nam
Thiếu Lâm. Thêm vào đó, kỹ pháp của Bạch Mi quyền có nguyên lý phù trầm
thôn thổ là đặc thù các môn võ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến sau này nên có lẽ do
vậy mà các sử gia võ thuật Trung Hoa xem Bạch Mi phái thuộc dòng võ miền
Nam Trung Hoa [4].

Tương truyền rằng Bạch Mi đã bắt đầu truyền thụ môn quyền pháp do chính mình
sáng tạo ra tại núi Thiếu Thất trong dãy Tung Sơn, trong Bạch Mi phái thường gọi
là Sùng Sơn Thất, phiên âm Latin danh từ núi Tung Sơn là Songshan hay
Sungshan.

Sau khi bắt đầu truyền thụ giáo pháp Bạch Mi tại Sùng Sơn (Tung Sơn), ông đã có
lần gặp Ngũ Mai và Chí Thiện rồi sau đó cùng một vài môn đồ đi vào núi Nga Mi
ẩn cư và không ai biết sống chết sau này ra sao.

Người học trò đầu tiên của Bạch Mi Đạo Nhân là Quảng Huệ Thiền đi theo ông
vào Tứ Xuyên. Sau đó Đại sư Quảng Huệ đã truyền lại cho Thiền sư Trúc Pháp
Vân. Đại sư Trúc Pháp Vân sau này truyền lại cho Trương Lễ Tuyền là một người
rất nổi tiếng ở Quảng Đông về môn Long hình quyền của Thiếu Lâm quyền và
Khách gia quyền (võ của người Hẹ).

Trước kia, Bạch Mi phái chỉ truyền thụ cho người xuất gia hoặc là tăng nhân Phật
giáo hoặc là tu sĩ Đạo gia theo lời di huấn của Bạch Mi Đạo Nhân.

Trương Lễ Tuyền, gốc là người Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông là môn đồ
tục gia đầu tiên của Bạch Mi phái được phép truyền thụ Bạch Mi quyền ra ngoài
thế tục.

Trước khi Trương Lễ Tuyền học Bạch Mi quyền, ông đã học một số bộ môn
quyền thuật của Khách Gia quyền [5], là một dòng quyền thuật của người Hẹ - ở
Trung Quốc gọi là Người Khách Gia, đây là một môn võ tổng hợp bao gồm Nam
Đường lang quyền của Châu Á Nam (Chow Ah Namm - người Hẹ) sáng tạo, Long
hình quyền của Thiếu Lâm, Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến, Vịnh Xuân quyền, Bạch
Mi quyền và một số môn võ miền Bắc Trung Hoa.

Nhờ sự giới thiệu và dẫn dắt của Liên Sinh nguyên là học trò của Đại Sư Trúc
Pháp Vân và cũng là một tăng nhân Phật giáo, Trương Lễ Tuyền đã được diện
kiến vị Truyền Nhân đời thứ ba này của Bạch Mi phái. Sau một trận giao đấu căng
thẳng và bị Đại Sư Trúc Pháp Vân khống chế thân thủ, Trương Lễ Tuyền đã xin
theo Đại Sư và bị từ chối. Đại Sư Trúc Pháp Vân sau đó đã trách Liên Sinh tại sao
lại nói cho người ngoài biết Liên Sinh đã học Bạch Mi quyền của Đại Sư. Phải mất
hơn 6 tháng trời miệt mài kiên nhẫn đi theo Đại Sư Trúc Pháp Vân, Trương Lễ
Tuyền mới được nhận làm môn đồ và là Truyền Nhân đời thứ tư của Bạch Mi phái
kế tục Đại Sư Trúc Pháp Vân.

Năm 1949 Trương Lễ Tuyền đã rời Quảng Châu đi Hồng Kông và truyền thụ kỹ
pháp Bạch Mi phái tại đây. Trong số học trò của Trương Lễ Tuyền tại Hồng Kông,
Tăng Huệ Bác, còn gọi là Tăng Khai Minh là người học trò đầu tiên của ông
truyền bá Bạch Mi phái sang Việt Nam tại vùng Chợ Lớn, quận 5, Sài gòn, là nơi
cộng đồng người Hoa gốc Quảng Đông cư trú rất nhiều.

Trong thời gian cư ngụ tại Quảng Đông, ngoài thời gian nghiên cứu võ thuật,
Trương Lễ Tuyền đã bỏ thời gian rất lớn chuyên tâm nghiên cứu về thiền, Đông Y
học cổ truyền Trung Quốc, và cả Thuật bói toán cổ truyền Trung Hoa.

Tại Quảng Đông, Trương Lễ Tuyền đã làm giới võ thuật miền Nam Trung Hoa tôn
vinh ông là một trong những quyền sư giỏi nhất về thuật tán đả (Santa) còn gọi là
phép tán thủ (Sanshou) trong Wushu hiện đại của Trung Quốc mà ngày nay được
gọi là thực hành song đấu tự do hay đối kháng. Công chúng Trung Hoa đã xem
ông là người đã cho giới võ thuật miền Nam Trung Hoa mục kích những gì được
cho là ảo diệu nhất của Bạch Mi quyền.

Các môn đồ của Bạch Mi phái thường có bài thơ lưu truyền ca ngợi công đức và
chính khí của Bạch Mi Đạo Nhân nêu gương cho đời sau khi học tập võ nghệ:

Học hảo công phu năng thủ kỹ

Anh hùng bán điểm bất khi nhân

Bạch Mi truyền thụ chân diệu thủ

Sùng Sơn Thất nội khai kỳ công

Tạm dịch nghĩa:

Học công phu võ nghệ phải lo luyện tập trau dồi thường xuyên

Người anh hùng thật sự không khinh người bằng nửa con mắt vậy

Bạch Mi sư tổ nay truyền thụ chân tông quyền pháp ảo diệu rồi
Tại Sùng Sơn Thất các môn đồ cũng đã được thầy khai tâm huyền công đại
pháp đó

[sửa] Bạch Mi phái tại Sài gòn (Việt Nam)

Theo tài liệu Bạch Mi phái của các phân lưu Bạch Mi phái Sài gòn Chợ Lớn, năm
1955 Tăng Huệ Bác đã sang Việt Nam cư ngụ tại tại vùng Chợ Lớn, quận 5, Sài
gòn.

Trong số môn đồ của Tăng Huệ Bác tại Chợ Lớn (Sài gòn, Việt Nam) có Diệp
Quốc Lương, còn gọi là Tài Chẹk Cam. Tài Chẹk Cam (Diệp Quốc Lương) là một
trong những quyền sư đầu tiên của Bạch Mi phái truyền thụ kỹ pháp Bạch Mi
quyền cho người Việt Nam.

Còn có một cao nhân trùng tên DIỆP QUỐC LƯƠNG là học trò của Triệu Trúc
Khê thuộc hệ Bắc Đường Lang quyền, Diệp Quốc Lương này có người con trai là
DIỆP ĐỆ DÂN, là quyền sư Thái cực Đường Lang rất nổi tiếng tại vùng Gia Định,
Sài gòn. Diệp Đệ Dân có rất nhiều môn đồ là người Việt Nam tại Sài gòn.




Dòng Bạch Mi phái của Tăng Huệ Bác chỉ lưu truyền có 9 bài quyền (sáo lộ -
tiếng Hoa đọc là Taolu trong bộ môn Wushu hiện đại) và không có dạy binh khí.

Ngoài dòng Bạch Mi phái của Tăng Huệ Bác tại Sài gòn, còn có dòng Bạch Mi
phái của Lai Quý Đình và Huỳnh Thiệu Long lưu truyền đến hơn 20 bộ quyền, các
bài trường côn và đoản đao, đại đao.(Lai Quý Đình cùng 1 dòng với Tăng Huệ
Bác, còn dòng Lai Quý có người con tên Lai Phát mới là 1 dòng khác hẳn).
[sửa] Đặc trưng kỹ pháp

Truyền thống của Thiếu Lâm quyền là "quyền xuất tại yêu" nghĩa là hai tay quyền
luôn phải khởi phát tại eo bộ tức là ở hai bên hông ngang thắt lưng. Nhưng Bạch
Mi đạo nhân đã sáng tạo ra một môn quyền thuật mới không đi theo truyền thống
Thiếu Lâm quyền với những đặc điểm:

Đặc điểm thứ nhất là Bạch Mi quyền hai tay quyền sử dụng Phụng nhãn


quyền, nghĩa là hay tay cũng nắm thành quyền và cho ngón tay trỏ lồi ra
như mắt phụng tấn công điểm vào các huyệt đạo trên mặt và ở ngực, lưng
và không bao giờ đặt ở hai bên hông mà luôn song song ở phía trước ngực
trông như hai trụ cột cửa cổng lớn được dựng lên sừng sững với kỹ thuật
Đoản Kiều (phát kình dũng mãnh trong tầm rất ngắn) như đang sẵn sàng nã
đại pháo về phía trước trong các chiêu thức thủ pháp (đòn tay) rất nổi tiếng
trong dòng Nam quyền Thiếu Lâm. Quyền pháp của Bạch Mi Quyền là kỳ
lạ nhất trong tất cả các phái võ cổ truyền Nam Bắc Trung Hoa ở chỗ: Bạch
Mi Quyền có đấu pháp hầu như không bao giờ có thoái bộ tức là lùi lại phía
sau.

Đặc điểm thứ hai trong quyền pháp của Bạch Mi Quyền là "không bao giờ


thọc cùi chỏ ra phía sau" thậm chí không đặt tay ở hai bên hông vì như thế
cùi chỏ sẽ thụt lòi ra phía sau lưng. Do vậy không bao giờ Bạch Mi Quyền
có kỹ thuật đánh cùi chỏ giật ra phía sau lưng mà thông thường muốn đánh
về phía sau thì một là quay người lại, hai là phang cả cánh tay quyền về
phía sau giống như kỹ thuật Trường kiều của Hồng Gia quyền quăng cả
cánh tay về phía đối phương khi phóng quyền.

Đặc điểm thứ ba là tấn pháp cũng không theo các thế tấn truyền thống của


Thiếu Lâm quyền mà dùng thế tấn nổi tiếng Tam giác bộ (âm chữ Hán đọc
là Sám Cọt Mã ), một thế tấn nửa Trung Bình Tấn và nửa Đinh Tấn, nghĩa
là Đinh Tấn nhưng chân sau không duỗi thẳng mà cong lại như Trung Bình
Tấn trong khi thân pháp xoay về một phía tả hay hữu. Bộ tấn đ ược gọi là
Tam giác bộ là vì tư thế đứng thường xoay thân người sang một phía tả
hoặc hữu và hai bàn chân luôn đứng ở vị trí hai góc đối diện chéo của hình
vuông, nghĩa là hai bàn chân đồng thời cũng nằm trên đường phân giác
(đường chéo của góc vuông) chia mỗi góc vuông thành 45 độ đồng thời
chia hình vuông thành một hình tam giác vuông đều nhau có hai góc nhọn
với 45 độ mỗi góc. Tư thế tấn này có thuận lợi trong giao đấu là có thể lách
người tiến lên phản công trong khi hai chân di chuyển trên đường zích zắc
như đường đi của con rắn đang bò tiến về phía trước. Cách di chuyển này là
một nét đặc trưng có ở tất cả các bộ môn quyền thuật và các võ phái có
nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm và thường không xuất hiện trong các bộ môn
quyền của Bắc Thiếu Lâm và Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

Đặc điểm thứ tư là nguyên lý "Phù trầm thôn thổ " rất đặc biệt trong Bạch


Mi quyền là thân pháp khi di chuyển và xuất thủ (ra đòn) luôn phối hợp
nhau và theo nhau tiến triển khi cao khi thấp kết hợp cùng lúc khi tiến khi
lui rất dễ nhận ra vì không có môn quyền nào có được đặc điểm quái dị này.
Nếu vắng nguyên lý này, quyền pháp của Bạch Mi Quyền trông không khác
gì các môn quyền truyền thống khác.

Nguyên lý "Phù trầm thôn thổ " này là một đặc điểm của các phái võ Nam
Thiếu Lâm Phúc Kiến sau này như Vịnh Xuân quyền, Nam Đường Lang
quyền của Châu Á Nam (là người Hẹ, Người Khách Gia), Khách Gia quyền
[6]
của Người Khách Gia và trong một số phái võ miền Bắc Trung Hoa như
Tâm ý bả - còn gọi là Hình Ý quyền, Nga Mi phái, Mai Hoa Đường lang
quyền của Bắc Thiếu Lâm, và cả Thái cực quyền Trần gia Lão giá. Tuy
nhiên, chỉ có Bạch Mi quyền là thể hiện rõ ràng nhất nguyên lý này và phát
triển đặc điểm kỹ pháp này lên đỉnh điểm trở thành đặc trưng khu biệt của
riêng Bạch Mi phái do Bạch Mi quyền không đi theo kỹ pháp truyền thống
quyền xuất tại yêu của Thiếu Lâm quyền.

Nguyên lý này được sử dụng chủ yếu trong cách đánh cận chiến vì phát
kình lực trong tầm ngắn và không được lấy đà, do vậy đòi hỏi kết hợp tối
đa sự tổng hợp của vai (trầm) - ngực (thóp cong lại) và cột sống lưng (căng)
cùng chuyển động cộng dồn lực của eo, hông, mông, đùi, và gót chân để
phóng kình trên các chiêu thức thủ pháp (cùi chỏ bung thẳng cánh và tự co
giật lại dưới tác động của qui luật lực đàn hồi theo nguyên lý phi khúc phi
trực, nghĩa là không thẳng không cong trong Thiếu Lâm quyền). Cách phát
kình này được gọi là Đoản Kiều ngược lại cách phát kình Trường Kiều của
Hồng Gia quyền của Hồng Hy Quan.

Ngoài Bạch Mi Quyền ra có thể nói Võ Đang Phái cũng không đi theo truyền
thống của Thiếu Lâm quyền mà vòng hai tay trước ngực ôm vòng Thái cực với
một tay sấp một tay ngữa khi khởi thức (bắt đầu) bài quyền, nhưng vào giữa bài
thì thỉnh thoảng đặt một tay ở ngang hông thắt lưng như Thiếu Lâm quyền. Còn
như tất cả các võ phái khác khắp miền Nam Bắc Trung Hoa đều đi theo truyền
thống kỹ pháp Thiếu Lâm quyền nên chẳng trách nào người Trung Hoa có câu
Thiên Hạ Công Phu Xuất Thiếu Lâm là phải (nghĩa là tất cả các phái võ trong
thiên hạ ở Trung Hoa đều khởi thủy từ chùa Thiếu Lâm).

Nga Mi phái là một lưu phái của Bắc Thiếu Lâm nổi tiếng quyền pháp đa dạng do
tích hợp đủ loại tông phái quyền pháp của Nam Thiếu Lâm rồi đến Bắc Thiếu Lâm
và Võ Đang Phái, thế mà duy chỉ vắng bóng kỹ pháp của Bạch Mi Quyền. Thậm
chí sau này trong hệ thống Nam Quyền của Wushu cũng vắng bóng kỹ pháp của
Bạch Mi Quyền, xem thế đủ biết kỹ pháp của Bạch Mi Quyền thật là lạ lùng
không thể tích hợp được với bất kỳ phái võ nào vì nó không đi theo những kỹ pháp
truyền thống của Thiếu Lâm quyền nh ư tất cả các võ phái trong các bộ môn quyền
thuật Nam Bắc Trung Hoa.
Những ảnh hưởng của kỹ pháp truyền thống của Thiếu Lâm quyền có thể nói đã
lấn át và ảnh hưởng mạnh đến tất cả các võ phái tại châu Á nói chung sau này.
Điều đó có thể thấy rất rõ và không thể nào chối cãi được vì trong các bài quyền
của các võ phái luôn có dấu ấn của Thiếu Lâm quyền: hai tay thường hay nằm tại
hai bên hông ngang thắt lưng. Đó là chưa nói đến cách chào và bái tổ vào đầu bài
quyền và kết thúc bài quyền.

Trong kỹ pháp của Bạch Mi quyền chỉ có cách chào (bái tổ) là không thể không bị
ảnh hưởng của Thiếu Lâm quyền như các phái võ Nam Bắc Trung Hoa và trong
khu vực châu Á khác là: một tay nắm thành quyền còn một tay thì xoè ra biểu
tượng cho âm dương, chỉ khác là cách chào của Bạch Mi quyền cho tay phải xòe
thành chưởng đặt trên tay trái nắm thành Phụng Nhãn quyền (Phụng Nhãn chùy).

[sửa] Quyền lộ

Các bài quyền của Bạch Mi quyền bao gồm một số bài sau:

1.Thạch Sư Ông 石狮公 : tiếng Quảng Đông phát âm là Sehk Sī Gūng (Sek
Sí Keung), còn gọi là Thạch Sư Quyền (Sehk Sī Kỳuhn 石狮拳 ).


2.Đại Tam Vấn 大三问: tiếng Quảng Đông phát âm là Daaih Sāam Mahn
có nghĩa là ba câu hỏi lớn.

3.Cửu Bộ Thối 九步推 : tiếng Quảng Đông phát âm là Gáu Bouh Tēui
(Gau Bo Toi), có nghĩa là chín bước chân.

4.Thập Bát Ma Kiều十八摩桥 : tiếng Quảng Đông phát âm là Sahp Baat
Mō Kìuh (Sup Bat Mor Kiu).

5.Tam Công 三公: tiếng Quảng Đông phát âm là Sāam Gūng (Sam Keung).
6.Tứ Mã Liên Hoàn 四馬連環 : tiếng Quảng Đông phát âm là Sei Máh Lìhn
Wàahn.

... ... ..

Về binh khí của Bạch Mi quyền thì có lưu phái có, có lưu phái không có, binh khí
chủ yếu là côn pháp là chính. (Xin Ghi chú: 9 quyền lộ của dòng Tăng huệ Bác
được chia làm 3 cấp- Sơ cấp: Thạch sư quyền,tứ mã liên hoàn,...,Trung cấp: Tam
văn quyền,tam công,đơn kình.Cao cấp: Thập bát ma kiều,cửu bộ thôi,Mãnh hổ
xuất lâm. Trong đó, Tam văn quyền là bài tổng hợp từ 3 bài: Tiểu tam Văn, Trung
tam Văn và Đại tam Văn do 12 nội đồ của Tài Chẹk Cam; 3 bài này do 3 anh em
họ "Văn",huynh Đệ của Tăng Huệ Bác chế tác,được Trương Lễ Tuyền cho phép
phổ biến trong môn phái.)Tôi là học trò thầy Diệp Quốc Lương TC Đường lang và
đồng thời cũng là họ trò của thầy Đào Phước,1 trong 12 nội đồ của Tài Chẹk Cam;
hiện nay thầy Đào Phước vẫn còn sống có thể xác nhận lại phần "quyền lộ" này.

[sửa] Phả hệ Bạch Mi phái

Bái Méi Dào Rén (White Eyebrow Taoist): Bạch Mi Đạo nhân ( 白 眉 道


人)


Kwong Wei (Gwong Wai): Quảng Huệ Thiền sư ( 廣 慧 禪 師 )



Chook Fat Wan (Chuk Fat Wan): Trúc Pháp Vân Thiền sư ( 竺 法 雲 禪 師


)

Lin Sang ( 蓮 生 ): Lương Sinh, người giới thiệu Trương Lễ Truyền với


*Trúc Pháp Vân Thiền Sư để học nghệ

Cheung Lai Chuen (1860 – 1964): Trương Lễ Tuyền ( 張 禮 泉)

Futshan Bak Mei Quan (佛 山 白 眉 拳): Phật Sơn Bạch Mi quyền



Guangzhou Pak Mei Pai ( 廣 州白眉派): Quảng Châu Bạch Mi phái



[sửa] Ảnh







Trương Lễ Tuyền (1880 - 1964) - học trò của Đại Sư Trúc Pháp Vân,
truyền nhân đời thứ tư của Bạch Mi phái, người đã làm cho giới võ thuật ở
miền nam Trung Hoa tận mục sở thị (xem tận mắt) sự ảo diệu của Bạch Mi
quyền
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản