Bách Xanh

Chia sẻ: traxanh1209

Công dụng: Tinh dầu có mùi thơm dịu, hiện còn ít được nghiên cứu về mặt hoá học cũng như giá trị sử dụng. Mùn cưa được dùng làm hương thắp. Gỗ rất tốt, thớ gỗ thẳng, mịn, rắn, chắc, khi khô không biến dạng, không nứt nẻ, không bị mối mọt, dễ gia công, chế biến, có thể dùng đóng đồ gỗ cao cấp, hàng thủ công mỹ nghệ. Cây có tán dạng tháp, rất đẹp có thể trồng làm cảnh trong các vườn hoa. Hình thái: Cây gỗ lớn, thường xanh, cao 20-25(-30)m, đường kính thân 0,60,8m. Thân...

Nội dung Text: Bách Xanh

Bách Xanh


Công dụng:


Tinh dầu có mùi thơm dịu, hiện còn ít được nghiên cứu về mặt hoá

học cũng như giá trị sử dụng. Mùn cưa được dùng làm hương thắp. Gỗ rất

tốt, thớ gỗ thẳng, mịn, rắn, chắc, khi khô không biến dạng, không nứt nẻ,

không bị mối mọt, dễ gia công, chế biến, có thể dùng đóng đồ gỗ cao cấp,

hàng thủ công mỹ nghệ. Cây có tán dạng tháp, rất đẹp có thể trồng làm cảnh

trong các vườn hoa.


Hình thái:


Cây gỗ lớn, thường xanh, cao 20-25(-30)m, đường kính thân 0,6-

0,8m. Thân thẳng (khi lên cao trên 10m lại thường bị vặn), vỏ cây có màu

nâu đen và những vết nứt dọc. Cây thường phân cành sớm từ gốc; cành to

thường mọc ngang, cành con mang những nhánh nhỏ thường nằm trên cùng

một mặt phẳng. Tán cây hình tháp rộng. Lá dạng vảy, xếp áp sát trên cành

thành từng đốt, mỗi đốt có 4 lá dạng vảy (2 lá lưng bụng lớn hơn 2 lá bên),
đầu lá nhọn, mặt trên màu xanh lục đậm, mặt dưới màu xanh bạc. Nón đơn

tính cùng gốc; nón cái hình trụ hay hình trái xoan, dài 12 18mm, rộng 5-

6mm, hoá gỗ, có cuống, khi chín nứt thành 2 mảnh bên với 1 mảnh giữa

mang 2 hạt to, mỗi hạt có 2 cánh không bằng nhau.


Phân bố:


- Việt Nam: Cây phân bố tự nhiên tại Lào Cai (Sa Pa), Hoà Bình

(Mai Châu), Hà Tây (Ba Vì), Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Lâm Đồng.

Đã được đưa trồng và sinh trưởng tốt ở VQG Ba Vì (Hà Tây) và VQG Cúc

Phương (Ninh Bình).


- Thế giới: Trung Quốc (Vân Nam, Đài Loan), Lào, Thái Lan,

Myanmar và Ấn Độ.


Đặc điểm sinh học:


Cây mọc trong rừng rậm nhiệt đới, thường xanh trên các khu vực có

độ cao (900-)1.000-1.800(-2.000)m so với mặt biển. Bách xanh thường mọc

rải rác, ít khi gặp mọc tập trung thành từng đám nhỏ. Thường gặp bách xanh

mọc hỗn giao với thông nàng (Podocarpus imbricatus Blume), hoàng đàn giả

(Dacrydium elatun Wall. ex Hook.). . . và các loài cây khác trong tầng vượt

tán của rừng. Cây ưa khí hậu mát mẻ (nhiệt độ trung bình năm dưới 160C)
độ ẩm không khí cao và tổng lượng mưa hàng năm khoảng 2.000mm, trên

đất tốt, ẩm, nhiều mùn và có tầng thảm mục dày, trên các sản phẩm phong

hoá của đá silicat axit. Ở điều kiện thích hợp, hạt nẩy mầm tương đối tốt,

song chúng thường sinh trưởng, phát triển chậm và số cây sống sót, trưởng

thành thường rất ít. Tại Đà Lạt, cây cho hạt vào khoảng tháng 10-12.
Bồ Đề

Công dụng:


Nhựa bồ đề có tác dụng kháng khuẩn invitro trên một số vi khuẩn

thông thường và có tác dụng lợi đờm (thực nghiệm trên thỏ). Nhựa bồ đề

được dùng làm thuốc chữa viêm phế quản mãn tính, hen suyễn, ho, đau bụng

lạnh, thổ tả, phụ nữ đẻ máu xấu, bị ngất. Dùng ngoài, nhựa làm vết thương

mau lành, chữa nẻ vú xua đuổi côn trừng, làm chậm ôi thiu. Nhựa bồ đề

được phối hợp với các vị thuốc khác làm cao xoa. Nhựa bồ đề là chất định

hương, nên được dùng nhiều trong công nghiệp hoá mỹ phẩm và công

nghiệp thực phẩm. Gỗ bồ đề mềm, thớ mịn, sáng màu, không có lõi; được

dùng làm điểm, làm đũa và nguyên liệu giấy.


Hình thái:


Cây gỗ trung bình, rụng lá, cao 15- 20m, đường kính 20-25cm. Thân

thẳng, vỏ nhẵn màu nâu nhạt hay xám bóng. Cành mọc gần ngang ở 1/3 phía

ngọn của thân; cành con hình trụ, khi non có lông tơ, sau nhẵn màu nâu. Lá

mọc so le, mềm, hình trứng, hình bầu dục, kích thước 4,5-10x2,6- 5cm; đầu
thuôn nhọn, mặt trên nhẵn, màu lục, mặt dưới phủ lông trắng mịn, hình sao,

gân lá nổi rõ, mép nguyên hoặc có răng rất nhỏ ở phía đầu lá


Cụm hoa mọc ở đầu cành và kẽ lá thành chùm dài, phủ nhiều lông

hình sao; lá bắc sớm rụng. Hoa nhỏ màu trắng, có mùi thơm nhẹ; đài hình

chén có 5-6 răng nhỏ; tràng có 5 cánh liền ở gốc, phía trên xếp lợp, mặt

ngoài có lông tơ vàng; nhị 10, rời, đính trên ống tràng, có lông hình sao; bầu

hình trứng, cũng có lông, 3 ô, chứa nhiều noãn. Quả nang hình trứng hay

hình cầu, có đài tồn tại bọc 1/3 phía dưới quả; mở thành 3 mảnh; hạt có vỏ

cứng, dày và nhăn nheo.


Phân bố:


- Việt Nam: Bồ đề là cây đặc hữu của vùng bắc Đông Dương bao

gồm Bắc - Việt Nam và Lào. Ở nước ta, loài bồ đề phân bố tương đối rộng ở

các tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, Việt Bắc, xuống đến vùng tây Thanh

Hóa, và còn rải rác tới Nghệ An, giữa 19-230 vĩ Bắc và 103-1070 kinh Đông.

Cây thường gặp nhất ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ; giảm dần ở các

tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La,

Hòa Bình, dọc phần trên của lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông

Mã. Bồ đề đã được trồng ở vùng Trung tâm từ hàng chục năm nay.
- Thế giới: Lào, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây).


Đặc điểm sinh học:


Bồ đề được coi là cây tiên phong định vị. Trong tự nhiên, bồ đề

thường tái sinh mạnh sau nương rẫy, sau khi rừng mới bị tàn phá và trên các

vùng đất trống tương đối lớn, ở độ cao 600-1.000m. Trong các rừng phục

hồi, bồ đề mọc thuần loại hoặc xen với nứa và một số cây gỗ mọc nhẵnh, ưa

sáng khác như: Thôi ba, hu ba soi, ba bét, dường... Bồ đề là cây ưa sáng mọc

nhẵnh ,cây thường chiếm tầng trên của rừng và dưới tán của nó không có

cây con tái sinh. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho sinh trưởng của bồ đề

trong khoảng 15-250C; cây cũng có khả năng chịu rét tương đối tốt (-40C);

nên có thể lên tới độ cao 1500m trên mặt biển. Tuy vậy, cây cũng không

chịu được nhiệt độ cao (nhất là cây non) và cũng không chịu được khô hạn.

Lượng mưa trong vùng phân bố bồ đề thường trong khoảng 1.500-

2.000mm/năm. Thường chỉ gặp bồ đề phân bố ở các vùng ẩm và còn mang

tính đất rừng rõ rệt. Nó cũng là cây có chu kỳ kinh doanh ngắn, thường sau

10-12 năm là rừng bồ đề đã có thể khai thác.


Hàng năm, cây bồ đề có thời kỳ rụng hết lá và ngừng sinh trưởng,

thường vào tháng 11, 12 đến tháng 1, 2 năm sau. Đặc điểm rụng lá, tán thưa,

thảm mục ít là các nhược điểm cơ bản của rừng bồ đề trong bảo vệ môi
trường. Chỉ gặp bồ đề phân bố trên các loại đất phát triển từ các loại đá

mica, phiến thạch sét, với lớp đất mặt sâu và ẩm. Cây không ưa núi đá vôi.

Trên cát và đá ong, cây không sinh trưởng được. Cây tái sinh rất mạnh ở nơi

đất trống, quang đãng. Hạt được bảo quản lâu trong đất, khi có điều kiện

thuận lợi về ánh sáng, lại nẩy mầm và phát triển thành cây con. Mùa hoa

tháng 4-6; mùa quả chín tháng 7-10.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản