Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

Chia sẻ: Hoàng Quang Thỏa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:40

2
1.360
lượt xem
614
download

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung: Khái niệm hợp đồng. Các yếu tố cấu thành hợp đồng. Hiệu lực của hợp đồng. Nội dung của hợp đồng. Chế tài do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh. Mục tiêu: Trang bị cho học viên kiến thức về các yếu tố cấu thành hợp đồng và các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Giúp học viên hiểu được những vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng. Giúp học viên vận dụng kiến thức pháp luật về hợp đồng để thực hiện giao kết hợp đồng và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng trong thực tế....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

  1. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh BÀI 3: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH Nội dung • Khái niệm hợp đồng • Các yếu tố cấu thành hợp đồng • Hiệu lực của hợp đồng • Nội dung của hợp đồng • Chế tài do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh Mục tiêu Hướng dẫn học • Trang bị cho học viên kiến thức về các yếu Để học tốt bài này, học viên cần thực tố cấu thành hợp đồng và các điều kiện để hiện các công việc sau: hợp đồng có hiệu lực • Đọc kỹ Bài 3 – Pháp luật về hợp đồng • Giúp học viên hiểu được những vấn đề pháp trong kinh doanh trong giáo trình Luật lý liên quan đến hợp đồng. Kinh tế của Chương trình TOPICA. • Giúp học viên vận dụng kiến thức pháp luật • Tích cực thảo luận với giáo viên và về hợp đồng để thực hiện giao kết hợp đồng học viên qua mạng Internet. và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng • Tham khảo thông tin có trên trang web trong thực tế. của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam www.vibonline.com.vn • Đọc Bộ luật Dân sự 2005, đặc biệt những chú ý đến những nội dung quy Thời lượng định về giao dịch dân sự, nghĩa vụ dân • 15 tiết sự và hợp đồng dân sự. 39
  2. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI Tình huống Công ty BTN kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ và có chuỗi siêu thị rộng khắp toàn quốc. Để thuận tiện cho khách hàng khi mua sắm, tất cả các mặt hàng trong siêu thị của công ty đều được niêm yết giá bán lẻ. Tháng 10 năm 2008, một trận lụt rất lớn xảy ra trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận khiến cho rau xanh trở nên đặc biệt khan hiếm. Do đã có hợp đồng với nhà cung cấp từ trước nên siêu thị vẫn có một lượng rau nhất định để bán với giá tăng ít hơn nhiều so với các chợ truyền thống. Chính vì lý do này nên số lượng người dân vào siêu thị để mua rau tăng đột biến. Khách hàng X muốn mua 10kg rau ngót được niêm yết giá bán là 10.000đ/kg. Tuy nhiên, siêu thị chỉ còn 7kg rau ngót nên không thể đáp ứng đề nghị của khách hàng này. Khách hàng X lập luận rằng việc siêu thị niêm yết giá bán hàng hóa chính là lời đề nghị giao kết hợp đồng. Hơn nữa, siêu thị không nói rõ số lượng hàng sẽ bán là bao nhiêu nên việc khách hàng đồng ý mua với một số lượng nhất định thì được coi là khách hàng đã chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Do đó giữa siêu thị và khách hàng đã hình thành một hợp đồng mua bán rau, vì vậy, siêu thị có nghĩa vụ cung cấp đủ hàng cho khách theo đúng hợp đồng đã thỏa thuận. Tuy nhiên, phía siêu thị cho rằng, việc niêm yết giá bán hàng hóa không phải là đề nghị giao kết hợp đồng nên siêu thị không có nghĩa vụ phải cung cấp đủ lượng hàng theo yêu cầu của khách. Câu hỏi gợi mở Ý kiến của anh (chị) về vấn đề này như thế nào? 40
  3. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 3.1. Khái niệm hợp đồng 3.1.1. Định nghĩa hợp đồng Hợp đồng là một trong những phương tiện hữu hiệu để thực hiện các giao lưu dân sự trong đời sống xã hội. Hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận và có hiệu lực ràng buộc các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng. Nói các khác, hợp đồng là “luật” do các bên tự hình thành nên và được nhà nước thừa nhận. Các hợp đồng đều mang bản chất dân sự, bởi đó là thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Định nghĩa này cho thấy, để tồn tại một hợp đồng thì phải có sự thỏa thuận giữa các bên. Sự thỏa thuận đó được hình thành từ hai phía, theo đó một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và một bên đưa ra chấp nhận đề nghị giao kết đó. Đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết được coi là điều kiện cần và đủ để hình thành nên một hợp đồng. Hợp đồng = Thỏa thuận = Đề nghị giao kết hợp đồng + Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Hợp đồng dân sự phát sinh trong hoạt động kinh doanh thì gọi là hợp đồng kinh doanh. Nói cách khác, hợp đồng kinh doanh là hợp đồng dân sự phát sinh trong quá trình chủ thể kinh doanh thực hiện các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận. Điều này lý giải vì sao các quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng dân sự cũng được áp dụng đối với các hợp đồng kinh doanh. Trong trường hợp các hợp đồng kinh doanh chuyên biệt có văn bản riêng điều chỉnh thì ưu tiên áp dụng các luật chuyên ngành trước. Chẳng hạn như Luật Thương mại 2005 có quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh thì những quy định này sẽ được ưu tiên áp dụng trước. Nếu những vấn đề nào chưa được điều chỉnh bằng Luật Thương mại thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự. 3.1.2. Đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh • Về chủ thể Chủ thể của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng kinh doanh nói riêng có thể là cá nhân hoặc tổ chức với điều kiện các chủ thể này phải có năng lực hành vi dân sự. Chủ thể hợp đồng có thể trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng hoặc thông qua người đại diện. Có hai trường hợp đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Trong giao kết hợp đồng kinh doanh, đại diện theo pháp luật thường xảy ra khi chủ thể hợp đồng là các doanh nghiệp. Khi đó giám đốc doanh nghiệp hoặc người mà theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp đó sẽ giao kết hợp đồng. Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ thể hợp đồng hoặc người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện giao kết hợp đồng. Người được 41
  4. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh ủy quyền chỉ được ủy quyền lại nếu được người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định cho phép ủy quyền lại. Những phân tích trên cho thấy chủ thể của hợp đồng chưa chắc đã là chủ thể giao kết hợp đồng trên thực tế. Do đó không thể đồng nhất hai loại chủ thể này trong quan hệ hợp đồng. Quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ phát sinh với chủ thể hợp đồng mà không phát sinh với chủ thể giao kết hợp đồng. Thực tế có thể xảy ra trường hợp một bên giao kết hợp đồng nhưng không phải đại diện theo ủy quyền hoặc vượt quá phạm vi ủy quyền. Trong trường hợp này, bên đã thực hiện giao dịch với người đó có quyền lựa chọn các phương thức giải quyết hợp đồng đã giao kết như sau: o Thông báo cho người được đại diện biết và nếu người được đại diện đồng ý thì hợp đồng có hiệu lực giữa người được đại diện và bên đã giao dịch với người đại diện. o Thông báo cho người được đại diện biết và nếu người được đại diện không đồng ý thì hợp đồng đã ký hoặc phần hợp đồng ký vượt quá phạm vi ủy quyền vẫn có hiệu lực giữa người đại diện và người đã giao dịch với người đại diện. o Đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ toàn bộ hợp đồng hoặc phần hợp đồng được giao kết vượt quá phạm vi đại diện và yêu cầu bối thường thiệt hại. • Về hình thức Hợp đồng kinh doanh là hợp đồng dân sự phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể nên cũng giống như hợp đồng dân sự thông thường, hợp đồng kinh doanh có thể tồn tại dưới hình thức bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong thực tế, hợp đồng bằng văn bản có thể được thể hiện dưới dạng các tài liệu giao dịch hoặc thông điệp dữ liệu điện tử. Hơn nữa, hợp đồng bằng văn bản có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật hoặc theo ý chí của các bên. • Về mục đích của các bên trong hợp đồng Hợp đồng kinh doanh phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể nên ít nhất phải có một bên chủ thể có mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng. Nếu cả hai bên chủ thể đều không có mục đích lợi nhuận, hợp đồng được coi là hợp đồng dân sự đơn thuần. Ngược lại, nếu cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận thì hợp đồng được coi là hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu một bên có mục đích lợi nhuận và một bên không có mục đích này. Trường hợp này gọi là giao dịch hỗn hợp. Để xác định xem đây là hợp đồng dân sự hay thương mại, Luật Thương mại Việt Nam sử dụng phương pháp như sau: o Nếu bên có mục đích lợi nhuận không phải là thương nhân thì hợp đồng đã giao kết là hợp đồng dân sự. 42
  5. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh o Nếu bên có mục đích lợi nhuận là thương nhân thì việc xác định hợp đồng dựa vào ý chí của bên không có mục đích lợi nhuận, cụ thể là: Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì đó là hợp đồng dân sự. Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Luật Thương mại 2005 thì đó là hợp đồng kinh doanh. 3.1.3. Phân loại hợp đồng Hợp đồng được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể như sau: • Dựa vào hình thức, có hai loại là hợp đồng bằng văn bản và hợp đồng không bằng văn bản. • Hợp đồng bằng văn bản bao gồm hợp đồng dưới dạng tài liệu giao dịch hoặc thông điệp dữ liệu điện tử. Hợp đồng không bằng văn bản là hợp đồng được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên. • Dựa vào sự đối ứng về cam kết giữa các bên, có hai loại hợp đồng là hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù. o Hợp đồng có đền bù (còn gọi là hợp đồng có đối ứng) là hợp đồng mà các bên đều đưa ra những cam kết thực hiện lợi ích cho nhau. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng có đền bù bởi vì bên bán cam kết chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua còn bên mua cam kết trả tiền theo thỏa thuận cho bên bán. o Hợp đồng không có đền bù (còn gọi là hợp đồng không có đối ứng) là hợp đồng mà chỉ một bên đưa ra cam kết thực hiện lợi ích cho bên kia nhưng không nhận được cam kết lợi ích đối ứng nào. Chẳng hạn như trong hợp đồng tặng, cho tài sản, một bên hứa tặng bên kia tài sản thuộc sở hữu của mình nhưng không có được bất cứ lợi ích nào từ phía người nhận tặng cho. Pháp luật của các nước theo truyền thống luật Anh – Mỹ không thừa nhận hợp đồng không có đền bù bởi quan niệm cho rằng không thể có “sự cho không”. Một người đưa ra cam kết thực hiện lợi ích cho người khác thì luôn tính đến phải được bù đắp lại bằng một lợi ích nhất định. Tính toán này có thể được biểu lộ hoặc không được biểu lộ ra ngoài nhưng luôn tồn tại. Vì lý do đó, một lời cam kết chỉ có hiệu lực ràng buộc người đã cam kết nếu nó được bảo đảm bằng một cam kết đối ứng. Nói cách khác, hợp đồng chỉ tồn tại dựa trên tính chất “có đi có lại”. Ngược lại, các nước thuộc hệ thống luật thành văn cho rằng hợp đồng có thể tồn tại dưới hình thức “cho không” từ một phía. Do đó, nếu lời cam kết của một bên được thực hiện thì sẽ làm phát sinh hợp đồng và pháp luật bảo hộ cho sự tồn tại của hợp đồng đó. Hợp đồng đó gọi là hợp đồng không có đền bù, tồn tại dưới các dạng như hợp đồng cho mượn tài sản, hợp đồng cho vay tài sản không lấy lãi, hợp đồng gửi giữ tài sản miễn phí… 43
  6. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh • Dựa vào mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, có hai loại hợp đồng là hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ. o Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng chỉ một bên có nghĩa vụ, bên có quyền không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia. Trong thực tế, hợp đồng đơn vụ chiếm số lượng rất nhỏ trong giao lưu dân sự do tính chất đặc biệt của nó. Hợp đồng đơn vụ có thể tồn tại dưới dạng như hợp đồng cho vay tài sản được các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực là khi tài sản vay đã được chuyển giao cho bên vay. Kể từ thời điểm có hiệu lực, chỉ bên vay tài sản có nghĩa vụ hoàn trả cho bên vay cả gốc và lãi đúng thời hạn như đã thỏa thuận, trong khi đó bên cho vay không phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với bên vay. o Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên đều có nghĩa vụ đối với nhau. Trong thực tế, các hợp đồng chủ yếu tồn tại dưới dạng hợp đồng song vụ, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng tín dụng… Hợp đồng song vụ và đơn vụ không hoàn toàn đồng nhất với hợp đồng có đền bù và không có đền bù. Thông thường, hợp đồng có đền bù tồn tại dưới dạng hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, có trường hợp hợp đồng song vụ nhưng không có đền bù như hợp đồng cho mượn tài sản. Trong hợp đồng này, bên cho mượn không nhận được lợi ích nào từ bên mượn. Tuy nhiên, bên cho mượn có nghĩa vụ bảo đảm cho bên mượn được sử dụng tài sản theo đúng công dụng và thời gian như đã thỏa thuận. Bên cho mượn không được đòi lại tài sản trước hạn trừ trường hợp có nhu cầu đột xuất và cấp bách nhưng phải báo cho bên mượn biết với thời gian hợp lý. • Dựa vào mối quan hệ hiệu lực giữa các hợp đồng, có hai loại hợp đồng là hợp đồng chính và hợp đồng phụ. o Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ. o Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp đồng chính. Trong thực tế, hợp đồng chính – phụ thường xuất hiện liên quan đến các giao dịch bảo đảm. Chẳng hạn hợp đồng tín dụng có sử dụng các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp. Trong trường hợp này, hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính và hợp đồng cầm cố, thế chấp là hợp đồng phụ. 3.2. Các yếu tố cấu thành hợp đồng Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một hợp đồng sẽ được hình thành nếu giữa các bên đạt được sự thỏa thuận. Sự thỏa thuận đó được hình thành trên cơ sở của đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. 44
  7. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 3.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng Khái niệm Đề nghị giao kết hợp đồng là sự biểu đạt bằng lời nói hoặc hành động nhằm thể hiện ý chí của người đề nghị trong việc mong muốn giao kết hợp đồng và chấp nhận chịu ràng buộc bởi những đề nghị mà họ đã đưa ra đối với bên đã được xác định cụ thể. Đề nghị giao kết hợp đồng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn như trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đề nghị giao kết hợp đồng có thể là bản chào hàng được đưa ra bởi người bán gọi là chào bán hàng hoặc được đưa ra bởi người mua gọi là chào mua hàng. Trong đấu giá, đề nghị giao kết tồn tại dưới hình thức bỏ giá mua của các chủ thể tham gia đấu giá. Đề nghị giao kết hợp đồng là sự biểu đạt ý chí của bên đề nghị đối với bên được đề nghị. Sự biểu đạt này chỉ được coi là đề nghị giao kết hợp đồng nếu thỏa mãn các điều kiện sau: • Được chuyển tới chủ thể xác định, đó là người được đề nghị. Điều kiện này cho thấy pháp luật loại trừ khả năng trở thành đề nghị giao kết hợp đồng của những lời nói hoặc hành động đưa ra cho nhiều người nhưng không xác định đối tượng cụ thể. Lời nói hoặc hành động trong trường hợp này thường tồn tại dưới dạng quảng cáo hoặc thông báo hứa thưởng và được Bộ luật Dân sự Việt Nam xác định là hành vi pháp lý đơn phương chứ không phải là đề nghị giao kết hợp đồng. Ví dụ Một cơ sở luyện thi đại học thông báo tuyển sinh và cam kết nếu học sinh nào đi học đầy đủ và làm tất cả các bài tập về nhà được giáo viên giao cho liên tục trong 3 tháng mà không đỗ đại học thì sẽ được hoàn trả tiền học và bồi thường số tiền tương ứng với học phí đã đóng. Học sinh A đã thực hiện đúng những yêu cầu trên nhưng thi trượt đại học. A yêu cầu cơ sở luyện thi thực hiện nghĩa vụ như đã hứa. Trong trường hợp này không có hợp đồng giữa A và cơ sở luyện thi bởi vì thông báo của cơ sở đó chỉ có tính chất quảng cáo tới tất cả học sinh có nhu cầu ôn thi đại học mà không xác định học sinh cụ thể nào. Chính vì vậy, thông báo đó là hành vi pháp lý đơn phương của cơ sở luyện thi chứ không phải là đề nghị giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này, cơ sở luyện thi đã công khai thông báo bồi thường nên có nghĩa vụ phải bồi thường cho học sinh A. Đây là nghĩa vụ phát sinh do hành vi pháp lý đơn phương mà không phải do hợp đồng giữa A và cơ sở luyện thi. Tuy nhiên, một số nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ lại thừa nhận khả năng đề nghị giao kết hợp đồng có thể được đưa ra cho những người chưa xác định. Nếu có chủ thể thực hiện đúng yêu cầu của bên đưa ra đề nghị thì sẽ hình thành một hợp đồng và các bên có nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng đó. Mặc dù có sự khác nhau về việc xác định có hay không tồn tại một hợp đồng trong trường hợp này, tuy nhiên, cả hai trường phái pháp luật có sự tương đồng ở chỗ đều xác định nghĩa vụ phát sinh đối với chủ thể đã có hành vi pháp lý đơn phương hoặc có đề nghị giao kết hợp đồng. 45
  8. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Ví dụ X tìm giấy tờ bị thất lạc bằng cách dán thông báo ở các địa điểm công cộng. Y nhặt được giấy tờ và trả lại cho X. Trong trường hợp này, thông báo hứa thưởng của X được pháp luật Việt Nam xác định là hành vi pháp lý đơn phương mà không phải đề nghị giao kết hợp đồng do thông báo đó được đưa ra cho tất cả mọi người chứ không hướng đến một đối tượng cụ thể. Vì vậy, nghĩa vụ trả thưởng của X đối với Y không phải là nghĩa vụ theo hợp đồng mà là nghĩa vụ phát sinh do hành vi pháp lý đơn phương của X. Tuy nhiên, nếu theo pháp luật Anh – Mỹ thì thông báo hứa thưởng của X là đề nghị giao kết hợp đồng. Do đó, giữa X và Y hình thành một hợp đồng hứa thưởng. X có nghĩa vụ trả thưởng cho Y theo hợp đồng này. • Thể hiện mong muốn giao kết hợp đồng và chấp nhận chịu ràng buộc bởi những đề nghị đã đưa ra. Đây là điều kiện thể hiện ý chí của chủ thể hợp đồng và nhờ đó mà đề nghị giao kết hợp đồng được phân biệt với lời đề nghị (lời mời) thương lượng và thông tin báo giá. o Đề nghị thương lượng là hình thức một bên đưa ra lời mời tới chủ thể khác với mong muốn chủ thể được mời sẽ đưa ra một đề nghị giao kết hợp đồng. Về mặt hình thức, đề nghị thương lượng khá giống với đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên đề nghị thương lượng chỉ thể hiện sự sẵn sàng của chủ thể đề nghị trong việc xem xét các đề nghị giao kết mà chưa thể hiện mong muốn giao kết hợp đồng. Đề nghị thương lượng thường tồn tại dưới dạng mời đấu giá hoặc mời đấu thầu. Đây là những hoạt động mang tính chất mời gọi tất cả những chủ thể quan tâm đưa ra đề nghị giao kết, tức là đưa ra thương lượng để đàm phán hợp đồng. Bởi vậy, lời mời thầu hoặc mời đấu giá không được xem là đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ là đề nghị để một bên khác đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng. Việc đưa ra giá bỏ thầu hoặc giá đấu giá chính là đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp này. Nếu những đề nghị này thỏa mãn yêu cầu của một cuộc đấu thầu hoặc đấu giá và được bên mời thầu hoặc mời đấu giá chấp nhận thì một hợp đồng sẽ được hình thành. Đề nghị thương lượng cũng tồn tại dưới dạng niêm yết giá bán hàng hóa. Chủ cửa hàng thường niêm yết giá bán hàng hóa để khách hàng biết. Tuy nhiên, việc niêm yết giá không phải là đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ đơn thuần là lời mời xem hàng. Chủ cửa hàng chưa thể hiện ý định mong muốn giao kết hợp đồng mà mới chỉ dừng ở việc đề nghị khách hàng tham khảo hàng hóa về mặt chất lượng, giá cả và sau đó đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Chính vì vậy, việc khách hàng đồng ý mua và đề nghị thanh toán mới 46
  9. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh được coi là đề nghị giao kết hợp đồng. Cửa hàng chấp nhận thanh toán được coi là chấp nhận giao kết và khi đó hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên được hình thành. o Đề nghị giao kết hợp đồng cũng khác biệt với thông tin báo giá. Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thường thực hiện hoạt động báo giá theo yêu cầu của bạn hàng nhằm cung cấp danh mục hàng hóa sẵn có và giá cả tương ứng cho từng sản phẩm. Tuy nhiên, báo giá không phải là đề nghị giao kết bởi nó không thể hiện mong muốn giao kết hợp đồng mà chỉ đơn thuần cung cấp thông tin nhằm cho đối tác biết rằng bên báo giá sẵn sàng tham gia giao kết nếu có một đề nghị giao kết được đưa ra. Hơn nữa, trên cơ sở báo giá đã được đưa ra, các bên có thể thỏa thuận về một mức giá phù hợp hơn trong thực tế khi thực hiện giao dịch mà không bắt buộc phải tuân theo giá đã được thông báo. Ví dụ Công ty A muốn trang bị máy tính cho văn phòng mới thành lập nên gọi điện đến công ty kinh doanh máy tính B đề nghị gửi báo giá về các loại máy tính mà B có. Sau khi nhận được báo giá của B, công ty A gửi fax đồng ý mua loại máy tính X với giá như đã được thông báo. Tuy nhiên, sau đó công ty B từ chối bán máy tính cho A. Công ty A khởi kiện công ty B về hành vi vi phạm hợp đồng. Đơn kiện này không được tòa án chấp nhận bởi vì báo giá của B không được coi là đề nghị giao kết hợp đồng. Vì vậy, không thể coi bản fax của A đồng ý mua máy tính là chấp nhận đề nghị giao kết. Về thực chất, chính bản fax của A mới là đề nghị giao kết hợp đồng và bị công ty B từ chối. Do vậy, giữa hai công ty này không có quan hệ hợp đồng nên công ty A đã thất bại trong vụ kiện này. Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng ràng buộc người đề nghị nên, về nguyên tắc, đề nghị giao kết đã gửi đến người được đề nghị thì không thể rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ. Điều đó có nghĩa là người đề nghị phải giữ lời hứa của mình trong suốt thời gian đề nghị giao kết có hiệu lực. Chính vì lý do này nên khi đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị thường ấn định một thời hạn trả lời nhất định. Nếu hết thời hạn đó mà bên được đề nghị không trả lời thì đề nghị giao kết hợp đồng không còn hiệu lực và bên đề nghị được giải phóng khỏi sự ràng buộc của những đề nghị đó. Cũng chính vì chịu sự ràng buộc này nên trong thời hạn đã được ấn định, bên đề nghị không được giao kết hợp đồng với chủ thể khác. Nếu hợp đồng giao kết với chủ thể khác được thiết lập khiến cho bên được đề nghị bị thiệt hại do không giao kết được hợp đồng thì bên đề nghị giao kết phải bồi thường. 47
  10. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Ví dụ Trong một cuộc đấu giá, một người đã bỏ giá mua sản phẩm. Trong khi chờ đợi người điều hành phiên đấu giá gõ búa xác nhận giá mua của người đó là giá thắng cuộc thì người này đổi ý rút lại giá chào mua của mình. Việc rút lại đó sẽ không được chấp nhận bởi vì hành động bỏ giá chào mua chính là đề nghị giao kết hợp đồng. Về nguyên tắc đề nghị giao kết này không thể được rút lại khi đã được đưa ra, tức là được gửi đến cho bên bán. Nguyên tắc nêu trên có một số ngoại lệ nhất định. Trong trường hợp bên đề nghị xác định rõ trong đề nghị giao kết hợp đồng những điều kiện có thể rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết và nếu những yếu tố đó xảy ra thì việc rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết được chấp nhận. Xét đến cùng đây cũng là biểu hiện của việc chịu sự ràng buộc bởi đề nghị giao kết vì việc rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết chỉ được thực hiện nếu đề nghị đã có quy định về các trường hợp này. Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau: • Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận đề nghị; • Hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị không trả lời chấp nhận đề nghị giao kết. • Bên đề nghị rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận giữa các bên trong khi chờ bên được đề nghị trả lời. 3.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực nếu thỏa mãn các điều kiện sau: • Được đưa ra trong thời hạn theo quy định của đề nghị giao kết hợp đồng; • Chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra khi đã hết thời hạn do người đề nghị giao kết ấn định hoặc không chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị thì được coi là một đề nghị giao kết mới. Điều đó dẫn đến khả năng, vai trò của các bên khi đàm phán hợp đồng sẽ thay đổi liên tục từ vị trí người đề nghị giao kết sang vị trí người được đề nghị và ngược lại. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể. Điều cần lưu ý là im lặng không được coi là sự đồng ý trong giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự đồng ý thì hợp đồng được mặc nhiên thừa nhận là đã hình thành nếu hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị vẫn im lặng. Vấn đề đặt ra là khi một bên đưa ra đề nghị giao kết và có ấn định bên được đề nghị phải đưa ra trả lời chấp nhận đề nghị dưới một hình thức cụ thể nhưng bên đề nghị không tuân thủ hình thức này thì sẽ xử lý ra sao. 48
  11. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu theo suy luận thì có thể coi bên được đề nghị đã không chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết và do đó bản trả lời của bên được đề nghị trở thành đề nghị giao kết mới và hợp đồng chưa được hình thành. Ngoài ra, pháp luật cũng chưa có quy định về việc nếu đề nghị giao kết hợp đồng không quy định về hình thức trả lời chấp nhận đề nghị giao kết thì bên được đề nghị có bắt buộc phải sử dụng hình thức giống như đề nghị giao kết hay không. Chính vì chưa có quy định nên có thể suy luận rằng bên được đề nghị có thể sử dụng bất cứ hình thức nào theo ý riêng của mình mà không bắt buộc phải sử dụng hình thức giống như hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu bên đề nghị đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết thì bên được đề nghị không được rút lại chấp nhận đề nghị giao kết. Việc này chỉ được thực hiện nếu chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đã được đưa ra nhưng người đề nghị chưa nhận được hoặc nhận được cùng thời điểm với thông báo rút lại chấp nhận đề nghị giao kết. Ví dụ Sau khi nhận được báo giá từ cửa hàng vật liệu xây dựng Hoa Mai, công ty Bình Minh gửi fax đề nghị mua 10 tấn xi măng theo giá như đã được thông báo. Trong bản chào mua hàng, công ty Bình Minh đề nghị Hoa Mai giao hàng tại chân công trình mà Bình Minh đang xây dựng. Hoa Mai gửi fax trả lời đồng ý với nội dung mà Bình Minh đề xuất nhưng có đề nghị Bình Minh cho xe đến kho của Hoa Mai lấy hàng do xe tải của công ty này đang chở hàng đi ngoại tỉnh không về kịp. Trong trường hợp này, bản fax của Hoa Mai không phải là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà là một đề nghị giao kết mới do không đồng ý toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết. 3.2.3. Hệ quả của việc xác định các yếu tố cấu thành hợp đồng Khi quy định về các yếu tố cấu thành hợp đồng, pháp luật của Việt Nam có nhiều nét tương đồng với pháp luật của các nước theo truyền thống luật thành văn như Pháp, Đức và nhiều nước thuộc châu Âu lục địa. Theo đó, một hợp đồng được coi là hình thành nếu có đủ hai yếu tố: đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết. Tuy nhiên, theo pháp luật của các nước thuộc trường phái luật Anh – Mỹ thì bản thân sự thỏa thuận giữa các bên chưa đủ để khẳng định đã có một hợp đồng được hình thành mà còn phải xác định giữa các bên tồn tại một cam kết đối ứng, hay còn gọi là giá trị đền bù. Chính vì vậy, nếu trong thỏa thuận giữa các bên chỉ có sự cam kết từ một phía mà không có cam kết đối ứng của phía bên kia thì thỏa thuận đó chưa được coi là hợp đồng ràng buộc các bên. Bên đưa ra cam kết không có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện lời cam kết của mình. Chẳng hạn như A có thỏa thuận hứa tặng cho B một tài sản và có lập văn bản ghi nhớ về việc tặng cho này. Văn bản tặng cho không thể được coi là hợp đồng giữa A và B mà chỉ là một thỏa thuận đơn thuần vì B không cam kết thực hiện một nghĩa vụ đối ứng nào cho A. Như vậy, những thỏa thuận không có đền bù thì không hình thành nên hợp đồng. 49
  12. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Ngược lại, theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống luật thành văn, hợp đồng được coi là hình thành từ khi có thỏa thuận giữa các bên. Do đó, trong trường hợp trên, đã có hợp đồng tặng cho giữa A và B và hợp đồng này được gọi là hợp đồng không có đối ứng hay hợp đồng không có đền bù. Điều đó có nghĩa là những thỏa thuận không có đền bù vẫn có thể hình thành nên hợp đồng. Chính vì lý do này mà trong lý thuyết phân loại hợp đồng của các nước thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa và Việt Nam đều xác định hai loại hợp đồng là hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù, trong khi đó các nước thuộc hệ thống luật Anh – Mỹ không có sự phân loại này. Việc xác định yếu tố cấu thành hợp đồng còn có ảnh hưởng đến trường hợp hợp đồng được giao kết vì lợi ích của người thứ ba. Chẳng hạn như, X ký hợp đồng mua xe máy với Y để tặng chiếc xe này cho Z. Vậy Z có quyền yêu cầu X thực hiện nghĩa vụ đối với mình hay không? Pháp luật của các nước thuộc hệ thống Anh – Mỹ không cho phép Z thực hiện quyền này bởi xuất phát từ quan điểm cho rằng Z không cung cấp cho X bất kỳ lợi ích đối ứng nào. Lập luận này dẫn đến một nguyên tắc là chỉ các bên trong hợp đồng mới được khởi kiện nhau. Ngược lại, theo pháp luật của các nước không yêu cầu xác định yếu tố đối ứng trong cấu thành hợp đồng thì Z có quyền trực tiếp yêu cầu X thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Hơn nữa, hợp đồng đã được giao kết và người thứ ba đồng ý hưởng lợi ích thì các bên không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Điều đó cho thấy, bên thứ ba có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích của mình theo hợp đồng nếu hợp đồng không đòi hỏi phải có yếu tố đối ứng trong cấu thành hợp đồng. 3.3. Hiệu lực của hợp đồng 3.3.1. Hợp đồng có hiệu lực và hợp đồng vô hiệu • Hợp đồng có hiệu lực Hợp đồng có hiệu lực là hợp đồng được pháp luật thừa nhận có giá trị ràng buộc các bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận. Một hợp đồng chỉ được coi là có hiệu lực nếu đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu sau: o Các bên phải hoàn toàn tự nguyện khi giao kết hợp đồng; o Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội; o Chủ thể hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự; o Hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật nếu pháp luật có yêu cầu hợp đồng phải được xác lập bằng một hình thức nhất định. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng sẽ được phân tích kỹ ở phần 3.3.2. 50
  13. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh • Hợp đồng vô hiệu Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực trên thực tế, các bên không phải chịu ràng buộc về quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Hợp đồng vô hiệu có thể tồn tại dưới dạng vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối. o Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối (còn gọi là vô hiệu mặc nhiên) là hợp đồng mặc nhiên bị coi là vô hiệu khi không thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam quy định các trường hợp vô hiệu tuyệt đối xảy ra trong hai trường hợp: Mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Hợp đồng được xác lập giả tạo để che dấu cho một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo sẽ bị vô hiệu tuyệt đối. Trong nhiều trường hợp, nếu hợp đồng đã vô hiệu tuyệt đối nhưng các chủ thể vẫn cố tình thực hiện sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và phải chịu các hình thức trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự nếu việc thực hiện đó đủ yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính và vi phạm pháp luật hình sự. o Hợp đồng vô hiệu tương đối (còn gọi là vô hiệu theo yêu cầu) là hợp đồng chỉ bị coi là vô hiệu nếu có yêu cầu của một trong các bên hợp đồng và được tòa án thừa nhận. Điều đó cho thấy nếu các bên không có yêu cầu hoặc yêu cầu của các bên không được tòa án thừa nhận thì hợp đồng vẫn được thực hiện trên thực tế và vẫn có giá trị ràng buộc các bên. Như vậy, trong trường hợp này, bản thân hợp đồng không hội tụ đủ các điều kiện có hiệu lực nhưng không bị coi là mặc nhiên vô hiệu mà chỉ coi là có thể bị vô hiệu. Tính hiệu lực của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên. Chỉ khi nào các bên có yêu cầu và được tòa án thừa nhận thì hợp đồng mới bị coi là vô hiệu trên thực tế và mất đi tính ràng buộc đối với các bên. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng vô hiệu tương đối tồn tại trong các trường hợp sau: Hợp đồng được giao kết bởi người chưa thành niên; người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự nếu pháp luật có yêu cầu hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện. Hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn; Hợp đồng được giao kết do bị lừa dối, đe doạ ; Chủ thể giao kết hợp đồng không nhận thức được hành vi của mình. 51
  14. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Những phân tích ở trên cho thấy, hợp đồng không đồng thời thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực như sự đồng thuận của các bên, năng lực hành vi dân sự của chủ thể, tính hợp pháp của hợp đồng và hình thức của hợp đồng thì bị vô hiệu (trong trường hợp vô hiệu tuyệt đối) hoặc có thể bị vô hiệu (trong trường hợp vô hiệu tương đối). Điều cần lưu ý là đối với trường hợp vô hiệu tương đối, nếu không có yêu cầu của các bên và không có tuyên bố của tòa án thì hợp đồng vẫn có hiệu lực trên thực tế ngay cả khi bản thân nó chứa đựng các yếu tố của một hợp đồng vô hiệu. Khi đó, các bên vẫn phải thực hiện hợp đồng cho đến khi tòa án tuyên hợp đồng đó vô hiệu. Bởi lẽ, nếu hợp đồng không bị tòa tuyên vô hiệu thì khi đó bên tự ý không thực hiện hợp đồng sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng. Ngược lại, đối với hợp đồng vô hiệu tuyệt đối, các bên có quyền không tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu phát hiện ra tính vô hiệu của nó. • Hậu quả của hợp đồng vô hiệu Khi hợp đồng được các bên xác định hoặc được tòa án tuyên là vô hiệu thì hợp đồng đó không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Lý do xác định thời điểm vô hiệu của hợp đồng như vậy là vì các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đều phát sinh từ thời điểm hợp đồng được giao kết. Sự tồn tại của những yếu tố này là khách quan trong suốt quá trình hợp đồng được thực hiện. Chính vì vậy, thời điểm hợp đồng bị xác định hoặc bị tuyên vô hiệu có thể sớm hay muộn nhưng yếu tố làm cho hợp đồng vẫn tồn tại từ khi giao kết. Hợp đồng vô hiệu không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết dẫn đến hệ quả là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không trả được bằng hiện vật thì trả bằng tiền. Tuy nhiên, nếu hợp đồng được xác lập có vi phạm pháp luật thì tài sản của các bên có thể không được hoàn trả cho nhau mà bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Trong trường hợp chỉ có một phần của hợp đồng vô hiệu và không ảnh hưởng đến các phần còn lại (hợp đồng vô hiệu một phần) thì các phần khác vẫn có hiệu lực pháp luật. Việc xử lý phần hợp đồng vô hiệu giống như đối với hợp đồng vô hiệu toàn bộ như đã phân tích ở trên. 3.3.2. Các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực 3.3.2.1. Sự đồng thuận của các bên Sự đồng thuận của các bên là yếu tố bắt buộc phải xác định khi xem xét hợp đồng có hiệu lực hay không. Điều này xuất phát từ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nên sự đồng thuận là yêu cầu tiên quyết để hình thành hợp đồng. Đồng thuận của các bên tham gia hợp đồng phải dựa trên sự tự nguyện, trung thực và bình đẳng. 52
  15. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Bộ luật Dân sự của Việt Nam khi quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng không yêu cầu về “sự đồng thuận” mà chỉ đòi hỏi “sự tự nguyện” của các bên khi giao kết hợp đồng (Điểm c, Khoản 1, Điều 122). Quy định như vậy có lẽ chưa đầy đủ bởi nếu chỉ đòi hỏi có sự tự nguyện, tức là tự do bày tỏ ý chí khi giao kết hợp đồng, thì sẽ không thể bao quát hết được các trường hợp hợp đồng vô hiệu do một bên bị lừa dối hoặc bị người khác lợi dụng vị trí cá nhân để gây ảnh hưởng. Tuy nhiên, mặc dù trong quy định chung về hợp đồng vô hiệu, Bộ luật Dân sự của nước ta chỉ đòi hỏi yếu tố tự nguyện nhưng khi quy định các trường hợp vô hiệu cụ thể, sự lừa dối cũng được thừa nhận là yếu tố làm cho hợp đồng vô hiệu (Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005). Điều đó có nghĩa là pháp luật thừa nhận cả những trường hợp vô hiệu do vi phạm yếu tố đồng thuận. Đây có thể xem là hạn chế trong kỹ thuật lập pháp của pháp luật hợp đồng Việt Nam và cần được sửa đổi cho hoàn thiện hơn. Nếu tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu thì có thể thấy, Bộ luật Dân sự Việt Nam vẫn đòi hỏi yếu tố đồng thuận giữa các bên trong hợp đồng chứ không chỉ dừng lại ở sự tự nguyện. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều trực tiếp quy định đồng thuận là yêu cầu bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực. Bất cứ yếu tố nào vi phạm sự tự nguyện, bình đẳng và trung thực khi giao kết hợp đồng đều bị coi là yếu tố “phản đồng thuận” và sẽ dẫn đến khả năng hợp đồng bị vô hiệu. Trong thực tế, các yếu tố “phản đồng thuận” thường tồn tại dưới dạng trình bày sai sự thật, cưỡng ép, gây ảnh hưởng không chính đáng và nhầm lẫn: • Trình bày sai sự thật Giao kết hợp đồng là quá trình đàm phán giữa các bên. Việc đàm phán được thực hiện bằng cách các bên đưa ra những biểu đạt bằng lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản nhằm thỏa thuận về các vấn đề liên quan đến hợp đồng. Kết thúc quá trình đàm phán, sẽ có những biểu đạt được đưa vào hợp đồng và trở thành điều khoản của hợp đồng ấy. Nếu những biểu đạt này có nội dung không đúng sự thật thì coi như bên đưa ra biểu đạt đã vi phạm hợp đồng và sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm đó. Tuy nhiên, có rất nhiều lời biểu đạt không được ghi vào hợp đồng nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hợp đồng. Về nguyên tắc, những lời biểu đạt này không phải là điều khoản của hợp đồng nên không có hiệu lực ràng buộc các bên. Mặc dù vậy, xuất phát từ nguyên tắc sự đồng thuận phải dựa trên yếu tố trung thực nên nếu những lời biểu đạt sai sự thật của một bên làm cho bên kia hiểu nhầm về nội dung của hợp đồng thì người đưa ra biểu đạt sai sự thật vẫn phải chịu trách nhiệm về sự không trung thực đó. 53
  16. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Thực tế cho thấy, việc biểu đạt nội dung sai sự thật có thể được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Trong trường hợp biểu đạt sai sự thật do lỗi vô ý của một bên khiến cho bên kia bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Nếu một bên cố ý biểu đạt sai sự thật để lừa dối bên kia khi giao kết hợp đồng thì bên bị lừa dối có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và được bồi thường thiệt hại nếu có. Ví dụ A muốn bán xe ô tô cho B và đã nói rằng tất cả phụ tùng của xe đều là nguyên gốc, chưa bị thay thế bằng phụ tùng mới. Tin điều này, B đã đồng ý ký hợp đồng mua xe ô tô của A. Sau khi sử dụng, B phát hiện ra, rất nhiều phụ tùng đã bị thay thế khiến cho chất lượng của xe giảm sút rất nhiều. B khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Trong trường hợp này B sẽ thắng kiện bởi vì A đã biểu đạt sai sự thật về tình trạng chiếc xe của mình. Yếu tố đồng thuận trên cơ sở tự nguyện và trung thực khi giao kết hợp đồng không được bảo đảm nên hợp đồng bị coi là vô hiệu. A có lỗi nên phải bồi thường thiệt hại nếu có. Về nguyên tắc, trình bày sai sự thật phải được thể hiện ra bên ngoài bằng lời nói, hành vi hoặc chữ viết. Vì vậy, sự im lặng của một bên không bị coi là trình bày sai sự thật. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các bên có thể lợi dụng sự im lặng, không thông tin cho bên kia biết về những bất lợi hoặc khiếm khuyết của đối tượng hợp đồng nhằm trục lợi. Ví dụ như trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán biết rõ hàng hóa có khuyết tật nhưng không thông báo cho bên mua biết. Sự im lặng của bên bán không rơi vào trường hợp trình bày sai sự thật nhưng có thể làm cho bên kia bị nhầm lẫn. Do vậy, nếu bên bị nhầm lẫn có yêu cầu thì tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng vô hiệu. • Cưỡng ép, đe dọa Cưỡng ép, đe dọa là việc một bên hoặc người thứ ba sử dụng áp lực buộc bên kia phải giao kết hợp đồng. Bên bị cưỡng ép không có sự tự do lựa chọn và tự do bày tỏ ý chí của mình do đó yếu tố đồng thuận trong giao kết hợp đồng không được đảm bảo. Nếu bên bị cưỡng ép có yêu cầu, tòa án có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Liên quan đến cưỡng ép, đe dọa khi giao kết hợp đồng, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005 thừa nhận đây là trường hợp vô hiệu tương đối và hành vi cưỡng ép, đe dọa có thể xảy ra đối với tính mạng, sức khỏe của con người hoặc nhằm vào tài sản. Hơn nữa, việc cưỡng ép, đe dọa được pháp luật thừa nhận không chỉ xảy ra đối với bản thân người giao kết hợp đồng mà còn có thể xảy ra với cha, mẹ, vợ, chồng, con của người đó. 54
  17. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Trong thực tế, hành động cưỡng ép, đe dọa có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng địa vị của mình để gây ảnh hưởng với người khác. • Nhầm lẫn: Nhầm lẫn là một khái niệm pháp lý để chỉ việc một bên hoặc tất cả các bên trong hợp đồng nhận thức không đúng về các yếu tố thỏa thuận hình thành nên hợp đồng. Đây là trường hợp nhầm lẫn xuất phát từ chính nhận thức của người tham gia giao kết hợp đồng chứ không phải nhầm lẫn do lỗi của bên kia gây ra. Đó là sự khác biệt giữa “nhầm lẫn” và “trình bày sai sự thật”. Khoa học pháp lý phân biệt ba loại “nhầm lẫn” liên quan đến giao kết hợp đồng là: o Nhầm lẫn chung giữa các bên. Đây là trường hợp các bên cùng hiểu sai giống nhau về đối tượng của hợp đồng hoặc về các yếu tố thực tế hình thành nên hợp đồng. Ví dụ A ký hợp đồng mua chiếc đồng hồ do B đang sở hữu. Cả A và B đều cho rằng chiếc đồng hồ này được sản xuất ở Thụy Sĩ vào thế kỷ 18. Sau khi giao dịch mua bán đã được thực hiện, A phát hiện ra rằng chiếc đồng hồ này được sản xuất vào giữa thế kỷ 19. Trong trường hợp này, cả A và B đều có chung nhầm lẫn về niên đại của chiếc đồng hồ. Nhầm lẫn chung giữa các bên có thể tồn tại một cách vô ý hoặc cố ý nhưng trong cả hai trường hợp hợp đồng được giao kết đều không thể hiện được mong muốn thực sự của các bên. Sự mong muốn của các bên không đạt được là do có nhầm lẫn giữa thực tế tồn tại và nhận thức chủ quan. Do đó, hợp đồng có thể bị vô hiệu. Tuy nhiên, hợp đồng giao kết trong trường hợp này không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ vô hiệu nếu có yêu cầu của một bên. Điều đó có nghĩa là nếu các bên đã phát hiện ra sự nhầm lẫn nhưng không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng vẫn có giá trị ràng buộc thi hành. BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 QUY ĐỊNH: Các bên có thể nhầm lẫn một cách vô ý về sự tồn tại của đối tượng hợp đồng. Trong thực tế, đối tượng hợp đồng không tồn tại khi hợp đồng được giao kết nhưng các bên đều không nhận thức được điều này. Khi đó, hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu “Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này vô hiệu”. (Khoản 1 Điều 411). Ngoài ra, sự nhầm lẫn chung giữa các bên cũng có thể do các bên cố ý tạo ra. Chẳng hạn như các bên ký một hợp đồng giả tạo để che dấu một hợp đồng khác. Trường hợp này thường xảy ra với các hợp đồng mua bán nhà ở hoặc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Giá trị mua bán của hợp đồng có khi rất cao nhưng để trốn thuế các bên ghi giá trị hợp đồng khi công chứng với mức thấp hơn rất nhiều. Như vậy, giữa các bên tồn tại hai hợp đồng, một hợp đồng ghi giá trị thực 55
  18. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh theo thỏa thuận và một hợp đồng ghi giá trị nhầm lẫn (nhầm lẫn cố ý theo thỏa thuận của các bên). Nếu trường hợp này xảy ra thì hợp đồng giả tạo sẽ mặc nhiên vô hiệu do có yếu tố giả tạo còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật (Điều 129). o Các bên cùng nhầm lẫn. Đây là trường hợp các bên trong hợp đồng cùng hiểu sai về các yếu tố thỏa thuận tạo nên hợp đồng. Tuy nhiên, khác với nhầm lẫn chung là trường hợp các bên có sự hiểu sai giống nhau, ở đây các bên có sự hiểu sai nhưng không giống nhau. Ví dụ Doanh nghiệp A ký hợp đồng thuê doanh nghiệp B thiết kế và lắp đặt gian hàng tham gia hội trợ triển lãm. Trong thực tế, A tham gia triển lãm đồng thời ở hai địa điểm là triển lãm Giảng Võ và triển lãm Vân Hồ. Tại triển lãm Giảng Võ, Ban tổ chức cung cấp dịch vụ lắp đặt gian hàng cho tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy, công ty A chỉ có ý định thuê công ty B thực hiện công việc tại triển lãm Vân Hồ và cho rằng công ty B biết điều này. Tuy nhiên, công ty B lại cho rằng công việc sẽ được thực hiện tại triền lãm Giảng Võ. Đây là sự nhầm lẫn của cả hai phía về công việc phải thực hiện theo hợp đồng. Về nguyên tắc, hợp đồng này được giao kết không có sự đồng thuận thực sự của hai bên nên sẽ bị coi là vô hiệu. o Nhầm lẫn một bên. Đây là trường hợp chỉ có một bên có nhận thức không đúng về thực tế còn bên kia biết hoặc phải biết về nhầm lẫn đó của đối tác nhưng vẫn giao kết hợp đồng. Về nguyên tắc, một bên bị nhầm lẫn thì có nghĩa là bên đó không có sự bày tỏ ý chí đúng với mong muốn của họ khi giao kết hợp đồng. Do đó, hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu nếu người nhầm lẫn có yêu cầu. Nguyên tắc này đã được Bộ luật Dân sự 1995 quy định tại Điều 144, theo đó bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng; nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thay đổi thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là nguyên tắc này đã không được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005. Khi sửa đổi luật, có lẽ nhà làm luật Việt Nam đã đồng nhất giữa nhầm lẫn do nhận thức của chính chủ thể tham gia hợp đồng với nhầm lẫn là hệ quả của sự biểu đạt sai lệch của đối tác (trường hợp trình bày sai sự thật). Chính vì vậy, mặc dù Điều 141 của Bộ luật Dân sự 1995 đã được sửa đổi thành Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2005 với cùng tiêu đề “Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn”, nhưng nội dung của điều luật này theo Bộ luật Dân sự 2005 là bàn đến vô hiệu do trình bày sai sự thật chứ không phải do nhẫm lẫn của một bên. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự sửa đổi đã loại bỏ đi một trường hợp hợp đồng vô hiệu rất quan trọng. Đây được xem là một quy định có tính chất thụt lùi của Bộ luật Dân sự sau khi được sửa đổi. 56
  19. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 3.3.2.2. Năng lực hành vi dân sự của chủ thể hợp đồng Chủ thể của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng kinh doanh nói riêng là mọi cá nhân, tổ chức có năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, năng lực hành vi dân sự của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân đủ 6 tuổi. Tuy nhiên, cá nhân chỉ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu đủ 18 tuổi và có khả năng nhận thức bình thường. Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ có năng lực hành vi dân sự một phần (không đầy đủ). Ngoài ra, người đủ 18 tuổi trở lên có thể bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Như vậy, về mặt nguyên tắc những người từ đủ 6 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ thể của hợp đồng. Tuy nhiên, đối với hợp đồng kinh doanh, chủ thể của hợp đồng chủ yếu là những pháp nhân hoặc cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Hơn nữa, rất nhiều trong số những chủ thể này là thương nhân, hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005. Thực tế cho thấy, việc không đáp ứng điều kiện năng lực hành vi thường liên quan đến khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng hơn là liên quan đến yếu tố độ tuổi. Pháp luật quy định nếu hợp đồng được giao kết bởi người chưa thành niên, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng không mặc nhiên bị vô hiệu mà Tòa án phải dựa trên yêu cầu của người đại diện cho người đã giao kết hợp đồng để xem xét tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Điều 130 Bộ luật Dân sự 2005). Tương tự như vậy, nếu người giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự nhưng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình ở vào thời điểm giao kết thì hợp đồng có thể bị tòa án tuyên vô hiệu theo yêu cầu của người đó (Điều 133 Bộ luật Dân sự 2005). CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT Ngày 19-9-2003, ông Đỗ Văn Tịch đến Phòng công chứng ký hợp đồng tặng một căn nhà cho bà Đỗ Thị Hồng Nga. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án cho rằng: “theo xác nhận của Trung tâm y tế quận 9 đề ngày 29-7-2005 thì ông Đỗ Văn Tịch có đến khám và điều trị ngoại trú tại phòng khám bệnh tâm thần quận 9 từ ngày 19-6-2000 đến ngày 03-9-2003 với chẩn đoán là bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu”; và theo xác nhận của Bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 28-7-2005 thì ông Đỗ Văn Tịch có khám và điều trị tại Khoa Khám bệnh 1, Bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 04-9-2003 đến ngày 05-7-2005. Điều này thể hiện ông Tịch đã có một quá trình dài bị bệnh tâm thần phải điều trị liên tục từ năm 2000. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố ông Đỗ Văn Tịch mất năng lực hành vi dân sự, do đó mọi giao dịch dân sự do ông Tịch thực hiện đều vô hiệu. Như vậy, hợp đồng tặng cho nhà ở giữa ông Đỗ Văn Tịch và bà Đỗ Thị Hồng Nga lập ngày 19-9-2003 tại Phòng công chứng nhà nước số 1 thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu. (Nguồn: Bản án số 941/2006/DS-ST ngày 01-9-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, trích lại từ sách Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 149-150) 57
  20. Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh Điều cần lưu ý là hợp đồng được xác lập trong trường hợp ủy quyền nhưng một bên không có thẩm quyền giao kết hoặc giao kết vượt quá phạm vi ủy quyền thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực ràng buộc giữa các bên đã tham gia giao kết. Lý do là vì, điều kiện để hợp đồng có hiệu lực chỉ phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự của chủ thể giao kết và chủ thể hợp đồng. Nếu tất cả các bên đều có năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng vẫn có hiệu lực ràng buộc các bên. Hợp đồng này chỉ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện mà thôi. (Hệ quả của những hợp đồng trong trường hợp này được phân tích ở phần 3.1.2). 3.3.2.3. Tính hợp pháp và hợp đạo đức của hợp đồng Mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không được trái đạo đức xã hội. Điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người và người trong đời sống xã hội được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Nếu hợp đồng không thỏa mãn điều kiện này thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu. CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT Bản án số 42/2006/DSST ngày 21-9-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định như sau: “Căn cứ vào giấy vay tiền (bản phô tô) do bà Tính xuất trình có nội dung: Giấy vay tiền. Tôi tên Tuyết con của bố Bằng có vay của cô Tính ba nghìn đô la Mỹ, số chứng minh thư 010260616, tôi ở 69 Lò Sũ. Vay từ 17 tháng 4 ta năm 2005, vay trong năm rưỡi. Tính từ ngày 18 tháng 4 trở đi. Theo bà Tính thì bản gốc của giấy vay tiền chị Tuyết đã xé đi nên chỉ còn bản phô tô và chị Tuyết cũng thừa nhận giấy vay tiền đó là do chị viết và ký, nên có đủ cơ sở khẳng định chị Tuyết đã vay của bà Tính 3000 USD. Nhưng theo quy định của Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối” nên giao dịch trên giữa bà Tính và chị Tuyết đã vi phạm điều cấm của pháp luật, nên giao dịch đó là vô hiệu”. (Nguồn: trích từ sách Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 312-313). 3.3.2.4. Hình thức của hợp đồng Về nguyên tắc, hợp đồng có thể tồn tại dưới dạng hợp đồng miệng, hợp đồng văn bản hoặc hợp đồng bằng hành vi cụ thể. Các bên căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của mình mà lựa chọn hình thức cho phù hợp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật có ấn định một hình thức bắt buộc cho từng loại hợp đồng thì các bên phải triệt để tuân thủ quy định đó. Nếu vi phạm về hình thức của hợp đồng sẽ dẫn đến khả năng làm cho hợp đồng bị vô hiệu. Một số loại hợp đồng có hình thức bắt buộc phải tuân theo quy định của pháp luật như: • Hợp đồng phải bằng văn bản: hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thuê nhà ở… 58

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản