Bài 4: Pháp luật cạnh tranh

Chia sẻ: Hoàng Quang Thỏa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:39

0
403
lượt xem
188
download

Bài 4: Pháp luật cạnh tranh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung: Cơ sở lý thuyết của pháp luật cạnh tranh. Các khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến Luật Cạnh tranh. Vi phạm pháp luật cạnh tranh và trách nhiệm pháp lý. Mục tiêu: Sử dụng kiến thức kinh tế vi mô để giúp học viên nắm được cơ sở lý thuyết của pháp luật cạnh tranh. Trang bị cho người học những khái niệm cơ bản về cạnh tranh, độc quyền và thị trường liên quan. Giúp học viên biết sử dụng các công cụ để xác định thị trường liên quan trong một vụ việc cạnh tranh cụ thể....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài 4: Pháp luật cạnh tranh

  1. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh BÀI 4: PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Nội dung • Cơ sở lý thuyết của pháp luật cạnh tranh • Các khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến Luật Cạnh tranh • Vi phạm pháp luật cạnh tranh và trách nhiệm pháp lý Mục tiêu Hướng dẫn môn học • Sử dụng kiến thức kinh tế vi mô để giúp Để học tốt bài này, học viên cần thực hiện học viên nắm được cơ sở lý thuyết của các công việc sau: pháp luật cạnh tranh • Đọc kỹ Bài 4 Pháp luật cạnh tranh trong • Trang bị cho người học những khái niệm giáo trình Luật Kinh tế của Chương cơ bản về cạnh tranh, độc quyền và thị trình TOPICA. trường liên quan. • Tích cực thảo luận với giáo viên và học • Giúp học viên biết sử dụng các công cụ để viên qua mạng Internet. xác định thị trường liên quan trong một vụ • Tham khảo thông tin có trên trang web việc cạnh tranh cụ thể. của Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương www.vcad.gov.vn • Đọc Luật Cạnh tranh 2004. Thời lượng • 10 tiết 79
  2. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI Tình huống Siêu thị của công ty BTN nhận thấy nhu cầu xe máy hiệu WZ của thị trường đang tăng cao. BTN đề nghị hãng sản xuất xe máy nhãn hiệu nói trên ký hợp đồng mua 100 xe. Biết đây là loại xe đang được thị trường ưa chuộng nên hãng này đã hạn chế số lượng hàng bán ra nhằm tăng giá bán. Đối với đề nghị của BTN, hãng xe này chấp nhận bán 100 xe WZ với điều kiện BTN phải chấp nhận trong hợp đồng mua thêm 100 mũ bảo hiểm do hãng này sản xuất. BTN đã nhập về rất nhiều mũ bảo hiểm của hãng khác và thị trường mũ bảo hiểm đã bắt đầu trở nên bão hòa, do vậy BTN không có nhu cầu mua thêm mũ bảo hiểm. Do không chấp nhận yêu cầu mua kèm mũ bảo hiểm nên hợp đồng giữa BTN và hãng xe máy không được ký kết. Câu hỏi gợi mở Theo anh (chị), yêu cầu buộc phải mua kèm mũ bảo hiểm của hãng xe máy nói trên có vi phạm pháp luật không? Vì sao? 80
  3. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh 4.1. Cơ sở lý thuyết của pháp luật cạnh tranh 4.1.1. Hiệu quả kinh tế Bất cứ nền kinh tế nào cũng phải hướng tới hiệu quả. Nếu các hoạt động của nền kinh tế không đạt hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp thì sẽ dẫn đến sự lãng phí nguồn lực và kém phát triển. Hơn nữa, nguồn lực xã hội không phải là dồi dào mà ở dạng khan hiếm so với nhu cầu vô tận của con người, chính vì vậy sử dụng nguồn lực sao cho hiệu quả luôn là vấn đề đặt ra trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Lý thuyết cấu trúc – hành vi – kết quả (S – C – P) của nhà kinh tế học Joe Bain đã chỉ ra mối liên hệ giữa hiệu quả kinh tế và cấu trúc thị trường. Theo lý thuyết này cấu trúc thị trường sẽ quyết định hành vi của doanh nghiệp. Thông qua hành vi thực hiện trên thực tế, thị trường sẽ cho kết quả tốt hoặc xấu. Joe Bain chỉ ra bốn dạng cấu trúc thị trường phổ biến là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền, thị trường độc quyền nhóm và thị trường độc quyền. Hai loại thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm được gọi chung là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Cấu trúc thị trường được xác định dựa trên các tiêu chí: • Số lượng người bán, • Số lượng người mua, • Sự khác biệt về sản phẩm • Sự tồn tại của rào cản gia nhập thị trường. Cấu trúc thị trường được thể hiện qua bảng sau: Hình thái Số người mua Số người Sự khác biệt sản Rào cản phẩm thị trường bán gia nhập Cạnh tranh Không khác, Rất lớn Rất lớn Không có hoàn hảo giống hệt nhau Cạnh tranh manh Rất lớn Lớn Khác chút ít Không có tính độc quyền Độc quyền nhóm Rất lớn Ít Khác nhiều Lớn Sản phẩm Độc quyền Rất lớn Một Rất lớn đơn nhất Dưới đây chúng ta sẽ xem xét hiệu quả kinh tế tương ứng với từng cấu trúc thị trường. 81
  4. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh 4.1.1.1. Hiệu quả phân bổ nguồn lực Trước hết, chúng ta xem xét hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Hình thái thị trường này dựa trên các giả định sau: • Người tiêu dùng muốn tối đa hóa giá trị sử dụng; • Các doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận và doanh nghiệp có được tự do cũng như dễ dàng tiếp cận mọi thông tin cần thiết để đánh giá những giao dịch nào có thể tối đa hóa lợi nhuận. Nói cách khác doanh nghiệp có được thông tin hoàn hảo; • Sản phẩm trên thị trường là giống nhau; • Số lượng người bán đủ lớn do vậy không doanh nghiệp nào có khả năng chi phối giá cả trên thị trường; • Không có rào cản gia nhập thị trường. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, tỷ suất lợi nhuận cân bằng trên tất cả các thị trường. Không doanh nghiệp nào có được tỷ suất lợi nhuận lớn hơn doanh nghiệp khác. Vì vậy, mỗi người tiêu dùng sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất về hàng hóa và dịch vụ đối với chi tiêu của họ. Độc quyền là hình thái thị trường đối lập của cạnh tranh hoàn hảo. Trong thị trường độc quyền, chỉ có một người bán và tồn tại rào cản thị trường để ngăn cản việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp độc quyền sẽ ấn định giá sản phẩm cao hơn so với điều kiện của thị trường cạnh tranh. Điều này có thể làm giảm số lượng bán ra nhưng tổng lợi nhuận của nhà độc quyền vẫn cao hơn. Vì vậy, người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn cho sản phẩm. Nói tóm lại, độc quyền dẫn tới sự phân bổ không hiệu quả các nguồn lực của xã hội. Mô hình dưới đây sẽ chứng minh cho tính không hiệu quả này. Giá/ Chi phí Pm 80 L D Chi phí Pc 50 Cầu Qm 700 Qc 1000 Sản lượng 82
  5. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Giả thiết rằng, trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, chi phí sản xuất một sản phẩm nhất định là 50 đồng (Pc). Nếu một doanh nghiệp thực hiện tăng giá trên chi phí, giá sẽ bị kéo về bằng với chi phí do áp lực thị trường và tổng sản phẩm được sản xuất sẽ là 1.000 (Qc). Khi đó tổng chi phí là 50 x 1.000 = 50.000 đồng và cân bằng với tổng doanh thu. Trong điều kiện độc quyền, chỉ có một người bán và doanh nghiệp độc quyền là người ấn định giá. Do đó, doanh nghiệp sẽ tối đa hóa lợi nhuận bằng việc hạn chế sản lượng. Giả sử doanh nghiệp độc quyền giảm sản lượng còn 700 sản phẩm (Qm) và giá tăng lên 80 đồng cho một sản phẩm (Pm). Tổng chi phí lúc này là 50 x 700 = 35.000 đồng và tổng doanh thu là 80 x 700 = 56.000 đồng. Do đó lợi nhuận là 21.000 đồng. Giá cả độc quyền làm ngắt quãng đường cầu từ Qc xuống Qm và dẫn tới sự phân bổ không hiệu quả nguồn lực. Xét trên toàn nền kinh tế, chỉ có 35.000 đồng được phân bổ cho sản xuất trong khi đó dưới điều kiện cạnh tranh sẽ có 50.000 đồng được phân bổ cho sản xuất. Bản thân người tiêu dùng cũng bị thiệt hại bởi họ không có cơ hội được sử dụng sản phẩm do giá cả tăng cao. Tam giác D trong đồ thị thể hiện phần thiệt hại đối với người tiêu dùng. Trong kinh tế học, hiện tượng này được gọi là “thiệt hại mất trắng về của cải”. 4.1.1.2. Hiệu quả sản xuất Các doanh nghiệp có vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh thường có xu hướng hạn chế sản lượng và tăng giá sản phẩm. Hơn nữa, các doanh nghiệp này cũng sẽ ít đầu tư vào việc đổi mới sản xuất và nghiên cứu phát triển sản phẩm. Ngược lại, trong các thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp buộc phải đổi mới để nâng cao hiệu quả sản xuất bởi vì người tiêu dùng có sự lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm để mua với giá thấp và chất lượng cao. Như vậy, cạnh tranh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp phải chú ý đến hiệu quả sản xuất, qua đó góp phần làm tăng hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế cũng như mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Chi phí sản xuất thấp là một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất. Chi phí sản xuất trong nhiều trường hợp sẽ được hạn chế nhờ vào “tính kinh tế của quy mô” và “tính kinh tế của phạm vi”. “Tính kinh tế của quy mô” là khái niệm được dùng để chỉ sự thay đổi về chi phí sản xuất một sản phẩm nếu sản phẩm được sản xuất ở quy mô lớn. Chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống theo mức độ tăng lên của quy mô sản xuất. Chẳng hạn như trong lĩnh vực may mặc, việc sản xuất hàng loạt có thể làm cho giá thành sản 83
  6. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh phẩm hạ xuống rất nhiều nhờ tiết kiệm chi phí vận hành máy móc, chi phí nhân công và nhờ vào việc được hưởng những ưu đãi về giá sản phẩm đầu vào do mua với số lượng lớn. “Tính kinh tế của phạm vi” là khái niệm để chỉ việc giảm chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm do việc kết hợp sản xuất hai hay nhiều hàng hóa trong cùng một doanh nghiệp thay vì phải sản xuất ở nhiều doanh nghiệp khác nhau. Chẳng hạn như các hãng vận tải thường bán vé khứ hồi rẻ hơn vé một chiều hoặc nếu các nhà máy đóng tàu sản xuất được động cơ tàu thủy thì sản phẩm sẽ có giá thành thấp hơn trường hợp nhà máy chỉ đóng vỏ tàu và phải nhập động cơ từ nhà máy sản xuất khác. 4.1.2. Quan điểm xây dựng chính sách và pháp luật cạnh tranh Cạnh tranh có tác dụng duy trì hiệu quả phân bổ nguồn lực, vì vậy, pháp luật cạnh tranh có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, phân tích về hiệu quả phân bổ nguồn lực cho thấy rằng, pháp luật cạnh tranh không nên đặt tham vọng quá lớn vào việc điều chỉnh cấu trúc thị trường trở về với cạnh tranh hoàn hảo. Lý do là vì mô hình cạnh tranh hoàn hảo dựa trên những giả định đã được đơn giản hóa và không thể đạt được trên thực tế. Chẳng hạn như giả định các sản phẩm trên thị trường là đồng nhất nhưng trong thực tế các nhà sản xuất luôn luôn có xu hướng tạo ra những khác biệt về sản phẩm của chính mình. Giả định tất cả các doanh nghiệp đều theo đuổi mục đích tối đa hóa lợi nhuận cũng không phù hợp với thực tế, bởi trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thường chỉ dừng ở mục đích tìm kiếm lợi nhuận ở mức độ thỏa mãn. Bên cạnh đó, giả thiết về việc có một số lượng rất lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ trên thị trường cũng cần xem xét. Trong nhiều trường hợp, “tính kinh tế của quy mô” đòi hỏi chỉ cần một hoặc một vài doanh nghiệp trên thực tế. Chẳng hạn trên phạm vi một tỉnh, thành phố chỉ cần một hoặc hai tờ báo được phát hành là đủ. Các ngành dịch vụ hạ tầng cơ sở như mạng điện thoại, đường truyền tải điện, hệ thống đường dẫn khí gas, cảng biển, sân bay thuộc dạng độc quyền tự nhiên bởi vì chỉ cần một nhà cung cấp là có khả năng thỏa mãn được toàn bộ nhu cầu của xã hội. Chính vì những lý do này mà chúng ta không thể đạt được cạnh tranh hoàn hảo. Các nhà kinh tế học đã đưa ra lý thuyết cạnh tranh hiệu quả với mục đích mang tính thực tế hơn khi xây dựng chính sách và pháp luật cạnh tranh. Quan điểm này đặt cơ sở cho việc xây dựng pháp luật cạnh tranh theo hướng không nên thay đổi những đặc điểm của cấu trúc thị trường, tức là không nên chia nhỏ các doanh nghiệp đang tồn tại trong thị trường độc quyền hoặc độc quyền nhóm 84
  7. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh mà chỉ điều chỉnh các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp đó. Xét về phương diện hiệu quả sản xuất, cạnh tranh và hợp tác giữa các doanh nghiệp đều có thể mang lại lợi ích cho nền kinh tế trong những trường hợp nhất định. Điều đó đặt ra yêu cầu là luật cạnh tranh sẽ điều tiết các hoạt động tập trung kinh tế như thế nào để sao cho thỏa mãn được nhu cầu sử dụng “tính kinh tế của quy mô” và “tính kinh tế của phạm vi” trong khi vẫn kiểm soát được các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có quy mô lớn. Nói cách khác, có những hành vi gây hạn chế cạnh tranh như sáp nhập hay thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh làm tăng sức mạnh thị trường vẫn có thể được phép thực hiện nếu xét về tổng thể nó mang lại hiệu quả kinh tế. Quan điểm này cho thấy khi xem xét bất cứ một hành vi gây hạn chế cạnh tranh nào cũng phải tính đến nó có tác động ra sao đến người tiêu dùng và nền kinh tế nói chung. Nếu hiệu quả kinh tế mà nó mang lại lớn hơn những thiệt hại mà nó gây ra thì hành vi đó vẫn nên được thừa nhận. 4.2. Các khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến luật cạnh tranh 4.2.1. Cạnh tranh trong kinh doanh và thị trường liên quan 4.2.1.1. Cạnh tranh trong kinh doanh Cạnh tranh trong kinh doanh là hành vi của các doanh nghiệp đối lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hoá, dịch vụ, nhằm làm thoả mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên. Cạnh tranh trong kinh doanh có 3 đặc trưng sau: • Phải tồn tại thị trường để ở đó cạnh tranh diễn ra • Có sự tham gia của ít nhất hai hoặc nhiều người cung cấp hoặc có nhu cầu • Những người này có ít nhất một số mục đích đối kháng, việc đạt được mục đích của người này là tương ứng với sự thất bại của người kia. Như vậy, để xác định có cạnh tranh xảy ra giữa hai hoặc nhiều sản phẩm thì điều đầu tiên cần xác định được là giữa những sản phẩm đó cùng tồn tại một thị trường chung. Thị trường chung đó được gọi là thị trường liên quan. Đây là khái niệm cơ bản và đòi hỏi phải được xác định trong mọi vụ việc cạnh tranh bởi vì các hành vi chỉ được coi là cạnh tranh với nhau nếu chúng xảy ra trên cùng một thị trường. Chẳng hạn như các nhà sản xuất giầy chỉ có thể cạnh tranh với nhau trên thị trường sản phẩm giầy hoặc ít nhất là trên thị trường sản phẩm gần với nó như dép hoặc guốc chứ không thể cạnh tranh với các sản phẩm như túi xách hoặc quần áo… Chính vì lý do này mà trong mọi vụ việc cạnh tranh, nguyên đơn luôn cố gắng lập luận để đi đến một định nghĩa về thị trường theo nghĩa rộng, ngược lại bị đơn thường tìm mọi cách để thuyết phục tòa án bằng việc đưa ra một định nghĩa thị trường theo nghĩa hẹp. 85
  8. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh 4.2.1.2. Thị trường liên quan Thị trường liên quan là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau một cách hợp lý trong một khu vực địa lý nhất định. Xác định thị trường liên quan là một công việc quan trọng nhưng không đơn giản. Thông thường thị trường liên quan được xác định dựa trên hai yếu tố thị trường về mặt sản phẩm và thị trường về mặt địa lý. • Thị trường về mặt sản phẩm: Để được coi là tồn tại trong một thị trường liên quan thì các hàng hoá phải có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý. Hàng hóa "có khả năng thay thế cho nhau" là một khái niệm trừu tượng, được xác định dựa vào các yếu tố định tính, định lượng và dựa trên suy đoán của cơ quan giải quyết tranh chấp. Có nhiều tiêu chí để xác định khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm, trong đó có ba yếu tố cơ bản là thay thế về đặc tính, về mục đích sử dụng và về giá cả. o Đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định dựa vào các yếu tố tính chất vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ và khả năng hấp thụ đối với người sử dụng. Nếu các sản phẩm có nhiều đặc tính giống nhau thì được coi là có khả năng thay thế cho nhau về đặc tính. o Mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó. Nếu mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ giống nhau thì chúng được coi là có khả năng thay thế cho nhau về mặt sản phẩm. Chẳng hạn như các sản phẩm cùng thoả mãn một nhu cầu như giầy, guốc, dép thì được coi là thuộc một thị trường liên quan. o Giá cả của sản phẩm được xác định là giá ghi trong hóa đơn bán lẻ theo quy định của pháp luật. Khả năng thay thế về mặt giá giữa các sản phẩm với nhau thường được xác định dựa trên độ co giãn chéo về giá. • Thị trường về mặt địa lý: Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận. Khu vực địa lý của thị trường thường được xác định dựa trên các yếu tố sau : o Khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm liên quan o Cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý lân cận đủ gần với khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó 86
  9. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh o Chi phí vận chuyển trong khu vực địa lý o Thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong khu vực địa lý o Rào cản gia nhập thị trường. Quy tắc SSNIP Quy tắc SSNIP, hay còn gọi là quy tắc “tăng giá ít nhưng kéo dài” thường được sử dụng để xác định độ co giãn chéo về giá. Quy tắc này được hiểu như sau “giả sử một doanh nghiệp có vị trí độc quyền tăng giá sản phẩm lên khoảng từ 5% đến 10% trong một thời gian đủ dài (từ 6 tháng đến 1 năm) thì những sản phẩm được người tiêu dùng chuyển sang mua sẽ được coi là sản phẩm thay thế”. Quy tắc SSNIP được áp dụng đối với doanh nghiệp có sức mạnh thị trường. Trong trường hợp doanh nghiệp không có sức mạnh thị trường thì phải giả định doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh để xác định sự thay thế về giá giữa các sản phẩm. Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cũng sử dụng quy tắc SSNIP để xác định thị trường sản phẩm liên quan. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nội dung của nguyên tắc này như sau: hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp. Trường hợp số người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan quy định tại điểm này không đủ 1.000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác định tối thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng đó. (Điểm C, Khoản 5, Điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh). Quy tắc SSNIP có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho việc xác định khả năng thay thế về giá giữa các sản phẩm, qua đó xác định được thị trường liên quan. Tuy nhiên, quy tắc này có hạn chế ở chỗ nó có thể dẫn đến “hội chứng giấy bóng kính”. Đây là hiện tượng doanh nghiệp đã lạm dụng vị trí độc quyền để định giá sản phẩm rất cao so với giá trị thực tế trước khi vấn đề xác định thị trường liên quan được đặt ra. Vì vậy, nếu doanh nghiệp tiếp tục nâng giá thì người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua những sản phẩm thực sự không tương đồng về mặt mục đích. Trong trường hợp đó, về mặt lý thuyết, sản phẩm của doanh nghiệp và sản phẩm người tiêu dùng chuyển sang mua được coi là có thể thay thế cho nhau về giá nhưng về mặt thực tế, những sản phẩm đó có tính năng sử dụng quá khác xa nhau nên việc khẳng định chúng tồn tại trên cùng một thị trường là khó thuyết phục. Điều đó dẫn đến kết quả là thị trường liên quan sẽ được hiểu quá rộng so với thực tế. Hệ quả nguy hại của nó là sẽ xác định không chính xác vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền của một doanh nghiệp bởi vì nếu thị trường được xác định ở phạm vi hẹp thì doanh nghiệp đã có thể bị rơi vào trường hợp có sức mạnh thị trường nhưng trên thị trường có phạm vi rộng hơn, thị phần của doanh nghiệp giảm đi và do đó doanh nghiệp thoát khỏi vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh. 87
  10. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Ví dụ Điển hình cho “hội chứng giấy bóng kính” là trường hợp của công ty E.I. du Pont de Nemours. Đây là doanh nghiệp sản xuất giấy bóng kính. Nếu giấy bóng kính được coi là có thị trường riêng biệt thì công ty này có vị trí độc quyền trên thị trường đó. Tuy nhiên, lạm dụng vị trí này, DuPont đã ấn định giá bán sản phẩm rất cao ngay từ đầu khiến cho khi giá bán tăng thêm 5%, người tiêu dùng chuyển sang mua các loại giấy khác như giấy ráp, giấy nhôm, giấy poly… Dựa vào tiêu chí độ co giãn về giá, DuPont cho rằng giấy bóng kính không có thị trường riêng mà có thị trường liên quan với các loại giấy thay thế như đã nói ở trên. Vì lý do này, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã khẳng định DuPont không có sức mạnh thị trường nên không phải chịu phán quyết lạm dụng sức mạnh thị trường. Đây là quyết định không thuyết phục của tòa án và sau đó được thừa nhận là “hội chứng giấy bóng kính”. Để khắc phục tình trạng này, trong trường hợp cần thiết, pháp luật cho phép xác định thêm cả những người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan không thể chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 6 tháng liên tiếp. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này chỉ trong trường hợp thật cần thiết, nếu không sẽ có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc xác định thị trường liên quan và khả năng dẫn đến sai lệch trong giải quyết vụ việc cạnh tranh là rất lớn. 4.2.2. Rào cản thị trường Rào cản được coi là đặc trưng quan trọng nhất của một thị trường độc quyền, bởi lẽ nếu không có rào cản, các doanh nghiệp khác sẽ lập tức tham gia vào thị trường kinh doanh khi nhà độc quyền thực hiện chính sách tăng giá bán hoặc giảm chất lượng và số lượng sản phẩm. Chính vì vậy, các nhà kinh doanh khi muốn trở thành độc quyền đều cần phải có một rào cản và nhờ vào đó để cản trở các đối thủ khác. Rào cản thị trường được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có các hình thức phổ biến như quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh, doanh nghiệp thực hiện cắt giảm giá bán hàng hóa hoặc rào cản hình thành do độc quyền tự nhiên. 4.2.2.1. Các quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh Đây là loại rào cản rất thường gặp, nó tạo ra sự độc quyền hợp pháp cho các doanh nghiệp. Rào cản thị trường do pháp luật tạo ra có thể mang tính hợp lý hoặc bất hợp lý. • Trong trường hợp Chính phủ của các quốc gia sử dụng pháp luật để đảm bảo phát triển kinh tế, bảo vệ người tiêu dùng hoặc bảo hộ sản xuất trong nước thì những quy định mang tính chất rào cản đó là cần thiết. 88
  11. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Chẳng hạn như pháp luật trao cho chỉ một hoặc một số doanh nghiệp nhất định được hoạt động trong các lĩnh vực mà Nhà nước cần giữ độc quyền như các ngành thuộc an ninh, quốc phòng hay những ngành dịch vụ công ích hoặc những lĩnh vực có tác động mạnh và ảnh hưởng đến đời sống của toàn bộ xã hội như cấp, thoát nước, nắm giữ mạng lưới truyền tải điện quốc gia, mạng lưới đường sắt, tàu hỏa… Ví dụ Ở Australia, để đảm bảo an toàn cho xã hội, Chính phủ một số bang chỉ cho phép vận chuyển than đá, gỗ, xi măng, xăng dầu bằng đường sắt. Ở nước ta, chỉ một số doanh nghiệp nhà nước nhất định mới được tham gia vào việc sản xuất vũ khí, đạn dược và vật liệu nổ. Ngoài ra, trong các trường hợp để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các chủ thể sáng tạo, Nhà nước sẽ cấp bằng phát minh sáng chế - patăng cho các chủ thể đó. Bằng phát minh sáng chế này sẽ tạo ra sự độc quyền tạm thời cho một chủ thể nhất định phù hợp với thời gian sáng chế đó được bảo hộ. Các quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh còn tồn tại trong những trường hợp để bảo hộ sản xuất trong nước, chẳng hạn như việc quy định đánh thuế cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu nhất định. Ví dụ Một số nước như Mỹ và các nước phương Tây có các quy định về bảo hộ hay trợ giá các mặt hàng nông sản. Chính phủ Australia thì “trao quyền độc quyền cho các nhà xuất khẩu một số mặt hàng nhất định như đường, lúa mì, bởi họ cho rằng quyền độc quyền sẽ giúp Australia có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới”. Nhìn chung bất cứ quốc gia nào cũng thừa nhận sự tồn tại của rào cản thị trường do pháp luật tạo ra, bởi lẽ đây là một trong các điều kiện để đảm bảo lợi ích xã hội và lợi ích quốc gia. • Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, những quy định của pháp luật lại tạo ra rào cản bất hợp lý và cần phải được loại bỏ. Chẳng hạn như ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định buộc các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh chỉ được mua xi măng do tỉnh nhà sản xuất, hay việc sở giáo dục của một địa phương yêu cầu các trường học của địa phương đó chỉ được mua bút bi của một doanh nghiệp nhất định. Một ví dụ khác liên quan đến rào cản pháp luật bất hợp lý là việc trước khi có Pháp lệnh số 43/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 5 năm 2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Bưu chính viễn thông, pháp luật quy định chỉ các doanh nghiệp nhà nước mới được hoạt động trong lĩnh vực này. Điều đó có nghĩa là pháp luật đã đưa ra một quy định cản trở tất cả các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế nhà nước tham gia kinh doanh trên thị trường bưu chính viễn thông. 89
  12. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Bên cạnh đó, những quy định của Chính phủ về việc đấu thầu hay chỉ định quota trong một số trường hợp cũng là biểu hiện của các rào cản do pháp luật tạo ra trong nền kinh tế thị trường. 4.2.2.2. Cắt giảm giá bán hàng hóa Nhờ vào sức mạnh tài chính và kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp giảm giá tới mức làm cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường cũng như các doanh nghiệp khác là đối thủ đang kinh doanh trên thị trường không đủ sức cạnh tranh và phải rút lui khỏi thị trường đó. Kết quả là doanh nghiệp sẽ giành phần thắng trong cuộc đua về giá. Ví dụ Sau khi tham gia vào thị trường nước uống có ga của Việt Nam, Coca Cola đã giảm giá bán bằng cách tăng dung tích chai từ 207ml tới 300ml và giữ nguyên giá. Hơn thế nữa, công ty này đã thực hiện khuyến mại bằng cách tặng thêm một thùng khi mua 3 thùng Coca Cola. Trong thực tế, giá bán loại sản phẩm này đã giảm tới 25%. Coca Cola có thể làm như vậy bởi vì so với các công ty của Việt Nam kinh doanh cùng lĩnh vực thời kỳ đó thì công ty này có sức mạnh tài chính vượt trội. Kết quả là tất cả công ty nước uống có ga của Việt Nam đã phải đóng cửa và Coca Cola trở thành độc quyền trên thị trường nước uống có ga ở Việt Nam. Sau khi có được vị trí độc quyền, Coca Cola thực hiện tăng giá bán sản phẩm và khách hàng vẫn phải chấp nhận vì không có sản phẩm khác thay thế. 4.2.2.3. Độc quyền tự nhiên Độc quyền tự nhiên là hiện tượng xảy ra trên thị trường khi toàn bộ sản phẩm của thị trường đó nếu được cung cấp bởi một doanh nghiệp thì sẽ ở mức giá thấp hơn so với việc có hai hay nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp sản phẩm đó. Điều này là do tính chất của sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp quyết định. Nói cách khác độc quyền tự nhiên là mô hình tối ưu trong những lĩnh vực nhất định, khi mà chỉ cần một nhà sản xuất là đủ khả năng cung cấp sản phẩm cho thị trường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Vì thế nếu cho phép các nhà cung cấp khác tham gia vào thị trường sẽ dẫn tới “sự cạnh tranh lãng phí”. 90
  13. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Ví dụ Trong ngành sản xuất và kinh doanh điện, việc có nhiều nhà sản xuất điện cạnh tranh sẽ làm giảm giá bán điện và nâng cao chất lượng điện được cung cấp. Tuy thế, trong một quốc gia thì không nhất thiết mỗi nhà sản xuất điện phải xây dựng một hệ thống dây truyền tải riêng biệt. Đó là điều không thể làm được đối với tất cả các doanh nghiệp vì nó đòi hỏi chi phí rất lớn cũng như gây ra sự lãng phí không cần thiết. Chính vì vậy các doanh nghiệp sản xuất điện chỉ cần cùng sử dụng một hệ thống đường truyền tải là đủ. Khi đó doanh nghiệp nắm giữ hệ thống truyền tải điện sẽ trở thành nhà độc quyền và hiện tượng này được gọi là độc quyền tự nhiên. Những ví dụ khác về độc quyền tự nhiên có thể tìm thấy trong các ngành như vận tải đường sắt, đường hàng không hay viễn thông. Trong các trường hợp này độc quyền tự nhiên tồn tại ở chỗ chỉ cần một nhà cung cấp hệ thống đường ray, một nhà cung cấp nhà ga sân bay và tương tự như vậy chỉ cần một doanh nghiệp cung cấp đường trục viễn thông là đủ. Các yếu tố mà ở đó độc quyền tự nhiên tồn tại được gọi là các “phương tiện thiết yếu”. Hiện tượng này được gọi là độc quyền tự nhiên bởi vì có một lý do “tự nhiên” cho độc quyền tồn tại, đó là bản thân sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải có một quy mô kinh tế đủ lớn mới có thể cung cấp được sản phẩm ở hiệu quả cao nhất. Và do vậy, độc quyền tự nhiên là một rào cản được hình thành tự nhiên trong thị trường. Việc xác định rõ ranh giới của độc quyền tự nhiên là điều rất quan trọng trong việc quy định độc quyền của một số ngành nhất định. Ở nước ta việc chưa phân định rõ ràng đã dẫn đến độc quyền của các ngành như điện lực, đường sắt, hàng không. Ngoài các loại rào cản phổ biến như trên, trong thực tế còn tồn tại nhiều loại rào cản khác như: quảng cáo và tiếp thị sản phẩm để xây dựng nhãn hiệu hàng hóa khiến cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường không thể đưa sản phẩm của mình tới khách hàng; hay một loại rào cản khác là việc doanh nghiệp nắm giữ độc quyền về nguồn tài nguyên là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất v.v... Như vậy, không phải mọi rào cản thị trường đều là xấu và cần phải loại bỏ, bởi vì có những rào cản là do nỗ lực kinh doanh của doanh nghiệp tạo nên (như đẩy mạnh quảng cáo tiếp thị, đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu hạ giá thành sản phẩm và đưa ra sản phẩm mới). Chính vì thế trong những trường hợp này pháp luật không thể cấm doanh nghiệp trở thành độc quyền được mà chỉ có thể đưa ra các quy định để doanh nghiệp đó không thể lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền của mình gây hạn chế cạnh tranh và làm tổn hại đến lợi ích người tiêu dùng. 4.3. Vi phạm luật cạnh tranh và trách nhiệm pháp lý 4.3.1. Vi phạm pháp luật cạnh tranh 4.3.1.1. Các hành vi được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh Pháp luật cạnh tranh của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng đến giải quyết hai vấn đề, đó là kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, xét về mặt kỹ thuật lập pháp, hai vấn đề này có thể được quy định trong một hoặc nhiều văn bản pháp luật khác nhau. 91
  14. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Luật cạnh tranh của một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc chỉ điều chỉnh các hành vi gây hạn chế cạnh tranh, trong khi đó hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong các văn bản pháp luật khác. Điều này lý giải vì sao ở một số nước văn bản pháp luật quy định về cạnh tranh chỉ gọi là luật chống độc quyền. Ngược lại, các quốc gia như Hàn Quốc, Bungari, Việt Nam lại ban hành luật cạnh tranh điều chỉnh đồng thời cả vấn đề chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh. Sự khác biệt này chỉ mang ý nghĩa về kỹ thuật lập pháp, còn về nội dung, dù các quy định của pháp luật cạnh tranh nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng chúng đều bao gồm 2 bộ phận cấu thành, đó là kiểm soát hành vi gây hạn chế cạnh tranh và điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Mục đích của luật cạnh tranh đều là hướng đến tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và bảo vệ người tiêu dùng, qua đó thúc đẩy việc sử dụng nguồn lực kinh tế xã hội có hiệu quả nhất. Luật Cạnh tranh Việt Nam được mô hình hóa theo sơ đồ như sau: Các hành vi được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh Các hành vi gây Các hành vi cạnh tranh hạn chế cạnh tranh không lành mạnh Thoả thuận về Lạm dụng vị trí Tập trung hạn chế cạnh thống lĩnh, vị trí kinh tế tranh độc quyền 4.3.1.2. Cấu thành vi phạm pháp luật cạnh tranh Cũng giống như mọi vi phạm pháp luật khác, vi phạm pháp luật cạnh tranh gồm 4 yếu tố cấu thành là chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan. • Chủ thể của vi phạm pháp luật cạnh tranh Chủ thể của vi phạm pháp luật cạnh tranh là các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Luật Cạnh tranh 2004 gọi chung những chủ thể này là doanh nghiệp. Xét về nội dung, việc gọi như vậy là chưa chính xác. Tuy nhiên, có lẽ nhà làm luật sử dụng cách gọi này để tiện cho việc trích dẫn về sau, còn về bản chất khái niệm doanh nghiệp được dùng trong Luật Cạnh tranh trùng với khái niệm chủ thể kinh doanh của Luật Thương mại. 92
  15. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Như vậy, mọi chủ thể kinh doanh đều có thể trở thành chủ thể của vi phạm pháp luật cạnh tranh. Lẽ đương nhiên, chủ thể kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp phải là những cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện về độ tuổi và khả năng nhận thức để có được năng lực hành vi dân sự đầy đủ. • Khách thể của vi phạm pháp luật cạnh tranh Khách thể của vi phạm pháp luật là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại. Pháp luật cạnh tranh hướng đến bảo vệ trật tự kinh tế bình đẳng và hiệu quả kinh tế của toàn xã hội. Môi trường bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, không kể đó là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, có kinh nghiệm hay mới gia nhập thị trường là đòi hỏi quan trọng để thúc đẩy hiệu quả phân bổ nguồn lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả xã hội. Nguồn lực tự nhiên và xã hội luôn có hạn trong khi nhu cầu của con người là vô tận, bởi vậy cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ giúp cho việc phân bổ các nguồn lực đó đạt hiệu quả tối ưu. Xét trên phương diện xã hội, cạnh tranh góp phần bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng thông qua việc thúc đẩy doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư nghiên cứu phát triển và hạ giá thành sản phẩm. Như vậy, pháp luật cạnh tranh hướng đến bảo vệ những quan hệ cạnh tranh bình đẳng cũng như bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Hành vi cạnh tranh xâm hại những quan hệ này sẽ bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. • Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật cạnh tranh Trong mặt chủ quan của vi phạm pháp luật, lỗi là yếu tố quan trọng đầu tiên cần phải được xác định. Khoa học pháp lý phân biệt hai loại lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý. o Lỗi cố ý trong vi phạm pháp luật cạnh tranh là trường hợp chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây ra tác hại phản cạnh tranh cho nền kinh tế nhưng vẫn mong muốn thực hiện hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả phản cạnh tranh xảy ra. o Lỗi vô ý trong vi phạm pháp luật cạnh tranh là trường hợp chủ thể vi phạm nhận thức được hành vi của mình có thể gây tác hại phản cạnh tranh cho nền kinh tế nhưng tin là hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được hoặc chủ thể không nhận thức được tác hại phản cạnh tranh của hành vi mặc dù có thể thấy hoặc buộc phải thấy trước. Lỗi trong vi phạm pháp luật cạnh tranh là yếu tố bắt buộc phải được chứng minh khi khẳng định chủ thể có vi phạm pháp luật hay không. Quan hệ pháp luật cạnh tranh có thể phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa chủ thể kinh doanh với cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh. Trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, dù bên khiếu nại vụ việc cạnh tranh (nguyên đơn) là chủ thể kinh doanh hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan quản lý cạnh tranh vẫn là chủ thể có trách nhiệm tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh tính có lỗi của hành vi. 93
  16. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Hành vi trái pháp luật cạnh tranh không mặc nhiên bị coi là có lỗi mà cần phải được chứng minh trên thực tế. Nếu không chứng minh được yếu tố lỗi thì hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. • Mặt khách quan của vi phạm pháp luật cạnh tranh Yếu tố quan trọng nhất cần phải được xác định trong mặt khách quan của bất kỳ vi phạm pháp luật nào là hành vi trái pháp luật. Ngoài ra, mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn bao gồm yếu tố hậu quả thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thực tế. o Hành vi trái pháp luật là yếu tố bắt buộc phải xác định trong mọi vi phạm pháp luật, hành vi trái pháp luật cạnh tranh trong thực tế rất đa dạng và thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp có thể được phân thành hai nhóm như sau: Hành vi gây hạn chế cạnh tranh: Là những hành vi được thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh nhằm làm giảm áp lực cạnh tranh trên thị trường. Thông thường, hành vi gây hạn chế cạnh tranh tồn tại dưới dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng sức mạnh thị trường nhờ vào việc doanh nghiệp có vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh trên thị trường ấy và hành vi tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp nhằm có được sức mạnh thị trường để loại bỏ cạnh tranh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Là những hành vi được thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích xã hội, lợi ích của các đối thủ cạnh tranh và lợi ích của người tiêu dùng. o Trong khi đó yếu tố hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả không nhất thiết phải xác định trong mọi vi phạm pháp luật. Nếu theo quy định của pháp luật, trong cấu thành chỉ cần mô tả hành vi thì trường hợp đó gọi là cấu thành hình thức. Trong trường hợp cấu thành đòi hỏi phải xác định được cả hành vi, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa chúng thì gọi là cấu thành vật chất. Như vậy, cấu thành vi phạm pháp luật cạnh tranh có thể tồn tại dưới dạng cấu thành hình thức hoặc cấu thành vật chất. Trong pháp luật cạnh tranh, việc áp dụng cấu thành hình thức đối với một vi phạm pháp luật còn được gọi là áp dụng quy tắc cấm đoán tự thân. Theo quy tắc này, pháp luật sẽ quy định những hành vi bị cấm tuyệt đối, không có ngoại lệ. Chủ thể kinh doanh chỉ cần thực hiện hành vi đó là bị coi vi phạm pháp luật cạnh tranh mà không cần xác định thiệt hại do hành vi đó gây ra là gì. Quy tắc này được áp dụng đối với một số hành vi như thông đồng để thắng thầu hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập thị trường. Bên cạnh quy tắc cấm đoán tự thân, pháp luật cạnh tranh còn sử dụng quy tắc lý do để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. 94
  17. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Quy tắc này được áp dụng đối với một số hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường, tập trung kinh tế. Quy tắc lý do đòi hỏi phải xem xét vì lý do nào mà hành vi trái pháp luật cạnh tranh được thực hiện. Nếu các hành vi đó được thực hiện để thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ và lợi ích mà hành vi đó mang lại lớn hơn những thiệt hại do tính hạn chế cạnh tranh của nó gây ra thì không bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. Như vậy, ở một chừng mực nhất định, quy tắc lý do đòi hỏi phải xác định thiệt hại do hành vi phản cạnh tranh mang lại, tức là đòi hỏi phải xác định được cấu thành vật chất. Tuy nhiên, những thiệt hại đó không nhất thiết là đã phải xảy ra mà có thể sẽ xảy ra trong tương lai. Chính vì vậy, cấu thành vật chất trong trường hợp này chỉ mang tính giả định. Như vậy, với quy tắc lý do, một hành vi trái pháp luật cạnh tranh không mặc nhiên bị coi là vi phạm pháp luật mà đòi hỏi phải xác định được tại sao hành vi đó được thực hiện. Nếu hành vi đó mang lại lợi ích cho xã hội và cho nền kinh tế lớn hơn những thiệt hại xảy ra hoặc có thể xảy ra thì lý do thực hiện hành vi được coi là tình tiết loại trừ tính phản cạnh tranh của hành vi đó. Quy tắc lý do xuất phát từ cơ sở kinh tế của luật cạnh tranh đó là cạnh tranh phải hướng đến hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Vì vậy, yếu tố hiệu quả luôn phải được xem xét khi giải quyết các vụ việc cạnh tranh. 4.3.2. Các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh 4.3.2.1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là trường hợp các chủ thể kinh doanh cùng nhau thỏa thuận những cách thức để làm giảm bớt hoặc triệt tiêu cạnh tranh giữa họ trong hoạt động kinh doanh. Như vậy, trong trường hợp này, thay vì phải nỗ lực cạnh tranh để giành được phần thắng trong cuộc đua, các doanh nghiệp đi đến thỏa hiệp với nhau để giảm đến mức tối đa sức ép cạnh tranh. Hệ quả của hoạt động này là các doanh nghiệp lẽ ra cạnh tranh với nhau lại trở thành các chủ thể thông đồng với nhau. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể tồn tại dưới hai dạng là thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc. Thỏa thuận ngang là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan. Thông thường, thỏa thuận ngang tồn tại dưới các dạng sau đây: • Thỏa thuận ấn định giá. Các doanh nghiệp cùng nhau ấn định giá mua hoặc giá bán hàng hóa, dịch vụ nhằm triệt tiêu cạnh tranh về giá. • Thỏa thuận kiểm soát sản lượng. Các doanh nghiệp cùng nhau thỏa thuận về số lượng, 95
  18. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh khối lượng hàng hóa, dịch vụ sẽ được cung cấp trên thị trường nhằm hạn chế về mặt cung, qua đó tác động đẩy giá sản phẩm lên cao. • Thỏa thuận phân chia thị trường. Toàn bộ thị trường được chia nhỏ thành nhiều phần và mỗi doanh nghiệp sẽ độc quyền kinh doanh trên phần thị trường của mình. • Thỏa thuận thông đồng trong đấu thầu. Các doanh nghiệp cùng nhau thông đồng để một hoặc một số chủ thể nhất định thắng thầu. Trong nhiều trường hợp, để thực hiện được những thỏa thuận nói trên, các doanh nghiệp cùng nhau lập ra một tổ chức chỉ đạo và giám sát thực hiện các thỏa thuận đó. Những tổ chức này được gọi là các-ten (cartel) hoặc tờ-rớt (trust). Tuy nhiên, không nhất thiết mọi thỏa thuận ngang đều phải thành lập các-ten mà chỉ cần có hợp đồng thỏa thuận dưới dạng văn bản hoặc thỏa thuận ngầm giữa các bên là đủ. Những thỏa thuận không thành lập các-ten tồn tại trong một số trường hợp như các doanh nghiệp liên kết cùng sản xuất một sản phẩm hoặc cùng phát triển thị trường… Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn tồn tại dưới dạng thỏa thuận dọc. Đây là trường hợp các doanh nghiệp trong cùng một chuỗi sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ thỏa thuận với nhau để thực hiện hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan. Chẳng hạn như, các hãng bia thỏa thuận với cửa hàng bia không được quảng cáo sản phẩm của hãng khác. Trong thực tế, thỏa thuận ngang thường có mức độ gây hạn chế cạnh tranh lớn hơn nhiều so với thỏa thuận dọc. Chính vì vậy, pháp luật cạnh tranh của các nước đều chú ý nhiều hơn đến việc điều chỉnh các thỏa thuận ngang. Luật Cạnh tranh của Việt Nam quy định 8 loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều thuộc trường hợp thỏa thuận ngang, bao gồm các thỏa thuận về: • Ấn định giá • Phân chia thị trường • Hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng • Hạn chế đầu tư • Ấn định các điều kiện thương mại không liên quan • Kìm hãm doanh nghiệp khác gia nhập thị trường; • Loại bỏ doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận • Thông đồng để thắng thầu. Trong tám loại hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở trên, các hành vi thỏa thuận để kìm hãm doanh nghiệp khác gia nhập thị trường, loại bỏ doanh nghiệp khác và thông đồng để thắng thầu có cấu thành hình thức. Nói cách khác, quy tắc cấm đoán tự thân được sử dụng để xác định các hành vi này có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không. Theo quy định của 96
  19. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh pháp luật, bản thân những hành vi này khi được thực hiện sẽ mang lại những thiệt hại phản cạnh tranh mà không thể giải thích bằng bất cứ lý do nào khác. Chính vì vậy, những hành vi này bị cấm tuyệt đối. Chủ thể kinh doanh chỉ cần thực hiện các hành vi nói trên là được xem như là đã dủ yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật cạnh tranh và phải chịu trách nhiệm pháp lý. Đối với các thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế và kiểm soát số lượng và khối lượng, hạn chế đầu tư và ấn định các điều kiện thương mại không liên quan sẽ sử dụng quy tắc lý do và thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận để xác định tính hợp pháp của chúng. Bản thân những hành vi này tiềm ẩn nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh nhưng chúng chỉ bị coi là vi phạm pháp luật nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp đủ lớn để chi phối thị trường và việc thực hiện những hành vi đó không nhằm mang lại hiệu quả kinh tế xã hội và hướng đến thu lợi cho các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Thị phần sản phẩm của một doanh nghiệp được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp đó với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp đó với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan theo tháng, quý hoặc năm. Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế. Theo quy định của Luật Cạnh tranh, nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận nhỏ hơn 30% thì thỏa thuận đó vẫn được phép thực hiện. Nếu thị phần kết hợp vượt ngưỡng 30% thì quy tắc lý do tiếp tục được sử dụng để xác định tính hợp pháp của hành vi. Nếu lợi ích mà hành vi thỏa thuận mang lại lớn hơn những thiệt hại do tác động phản cạnh tranh của nó gây ra thì hành vi đó được phép thực hiện do được hưởng các yếu tố miễn trừ. ĐIỀU 10 LUẬT CẠNH TRANH Điều 10 Luật Cạnh tranh đưa ra điều kiện chấp nhận thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận nhằm hạ giá thành, khiến cho người tiêu dùng được hưởng lợi thông qua các biện pháp sau: • Hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; • Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; • Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; • Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và yếu tố của giá; • Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ; Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. 97
  20. Bài 4: Pháp luật cạnh tranh Pháp luật một số nước trên thế giới còn xác định một lý do khác trong việc loại trừ tính phản cạnh tranh của hành vi thỏa thuận là một thỏa thuận được thực hiện nhằm mục đích phục vụ cho thỏa thuận chính. Bản thân thỏa thuận chính được thực hiện mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn những hạn chế cạnh tranh thì cả thỏa thuận chính và thỏa thuận bổ trợ đều không bị coi là bất hợp pháp. Lý do này được gọi là quy tắc hạn chế cạnh tranh bổ trợ. Tuy nhiên, hiện nay Luật Cạnh tranh của Việt Nam chưa quy định lý do này là trường hợp miễn trừ tính phản cạnh tranh của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Mô hình dưới đây miêu tả quá trình xác định các hành vi thỏa thuận vi phạm pháp luật cạnh tranh: Thỏa thuận về: 1. Ấn định giá cả Xác định thị phần của 2. Phân chia thị trường thị trường liên quan 3. Hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng 30% 4. Hạn chế đầu tư 5.Ấn định các điều kiện thương mại không liên quan 6. Kìm hãm doanh nghiệp khác gia nhập thị trường Thoả thuận được Xác định xem thoả thuận 7. Loại bỏ doanh nghiệp khác chấp nhận có được miễn trừ không 8. Thông đồng để thắng thầu Không Có Thoả thuận được miễn trừ Cấm đoán tự thân Thoả thuận trong một thời gian bị cấm nhất định CẠNH TRANH THEO LUẬT Luật Cạnh tranh có hiệu lực từ ngày 1-7-2005. Đến nay, hầu như chưa có vụ việc nào đáng kể được đưa ra ánh sáng công luận. Suy cho cùng, Luật Cạnh tranh ra đời là để bảo vệ người tiêu dùng, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Vậy mà luật gần như “vắng mặt” trước hàng loạt sự kiện đang gây bức bối dư luận như giá xăng dầu, giá điện, giá sắt thép, giá vốn (lãi suất ngân hàng). Có thể nói, có luật nhưng chưa… cạnh tranh. Làm sao có thể giải thích hiện tượng thị trường có tới 11 đầu mối kinh doanh xăng dầu với bộ máy nhập khẩu, chi phí, quy mô khác nhau nhưng đều “đồng tâm” giảm giá giống hệt nhau? Sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là thỏa thuận “ngầm” giữa các đại gia? Nếu đúng thế thì hành vi này rõ ràng là đã vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Theo đó, nếu chứng minh có việc thỏa thuận và các bên tham gia thỏa thuận ấn định giá cả hàng hóa chiếm thị phần kết hợp trên 30% là đã đủ yếu tố để xử lý vi phạm. Trong khi những câu hỏi về giá xăng dầu giảm… từng giọt chưa có ai đứng ra trả lời, thì lại “đẻ” ra vụ việc dính dáng đến giá thép. Trong một cuộc họp mới đây của Hiệp hội Thép Việt Nam, các thành viên đã thống nhất giữ giá thép ở mức 13,5-14 triệu đồng/tấn với cái lý “không để cho thị trường tụt dốc” nhằm… giải cứu các nhà sản xuất trong nước đang hoạt động cầm chừng vì nguồn cung dư thừa, không tiêu thụ nổi. Thỏa thuận này có thể giúp một số doanh nghiệp, thậm chí cả ngành thép vượt qua cơn “hoạn nạn”, nhưng bản chất hành vi đó là triệt tiêu tính cạnh tranh của thị trường. 98

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản