Bài dự thi Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột

Chia sẻ: Bùi Văn Tiến | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:18

0
236
lượt xem
31
download

Bài dự thi Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tỉnh Đăk Lăk nằm trên cao nguyên phía Tây miền Trung của Việt Nam. Trải dài từ vĩ độ 11044’ đến 13032, trải dài từ 107023’ đến 109006’ kinh độ Đông, với diện tích gần 13.125 km2. Phía Bắc giáp Gia Lai, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên, phía Tây giáp với tỉnh Modol Kiri (Campuchia). Lịch sử của vùng đất gắn liền với cuộc mở nước về phương Nam của vua Lê Thánh Tông (1471), quân Đại Việt tiến lên Tây Nguyên. Nhà vua đặt Tây Nguyên thành nước Nam Bàn, một phiên thuộc Đại...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột

  1. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột TRƯỜNG THPT BUÔN MA THUỘT TỔ : ĐỊA LÍ GIÁO VIÊN: BÙI VĂN TIẾN Câu 1: Tỉnh Đăk Lăk được thành lập từ năm nào? Tỉnh Đăk Lăk hiện nay có bao nhiêu huyện, thị, thành phố và tên gọi các huyện, thị, thành phố? Tỉnh Đăk Lăk nằm trên cao nguyên phía Tây miền Trung của Việt Nam. Trải dài từ vĩ độ 11044’ đến 13032, trải dài từ 107023’ đến 109006’ kinh độ Đông, với diện tích gần 13.125 km2. Phía Bắc giáp Gia Lai, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên, phía Tây giáp với tỉnh Modol Kiri (Campuchia). Lịch sử của vùng đất gắn liền với cuộc mở nước về phương Nam của vua Lê Thánh Tông (1471), quân Đại Việt tiến lên Tây Nguyên. Nhà vua đặt Tây Nguyên thành nước Nam Bàn, một phiên thuộc Đại Việt. Năm 1540, vua Lê phong vương cho Thuỷ Xá (Vua nước) và Hoả Xá (Vua Lửa ) cử Bùi Tá Hán, trấn thủ Quảng Nam, kết hợp nhà chức trách địa phương, tổ chức di dân, lập ấp, xây dựng dinh điền, chỉnh đốn việc giao thương giữa người Thượng với người Kinh. Có thể nói rằng từ thế kỷ XV trở về trước Tây Nguyên - Đăk Lăk chưa có một hệ thống hành chính hoàn chỉnh, về cơ bản vẫn là vùng đất được vận hành theo luật tục của các buôn làng độc lập. Từ thế kỷ XV, vùng đất này thuộc sự cai quản của Đại Việt. Vào ngày 22-11-1899, thực dân Pháp lập đại lí hành chính ở Bản Đôn. Đến cuối thế kỷ XIX, Đăk Lăk thuộc địa phận đại lý hành chính Kon Tum và bị thực dân Pháp nhập vào Lào. Đến 22/11/1904 theo nghị quyết của toàn quyền Đông Dương, Đăk Lăk được thành lập và tách khỏi Lào đặt dưới quyền cai trị của khâm sứ Trung Kỳ. Như vậy với nghị định này Đăk Lăk đã trở thành 1 trong 20 tỉnh thuộc quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kì. Đến 9/2/1913 Đăk Lăk trở thành một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum. Ngày 2/7/1923 tỉnh Đăk Lăk mới được thành lập lại. Lúc mới thành lập, Đăk Lăk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (buôn). Người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người Mnông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng. Trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương năm 1931, Đăk Lăk được chia làm 5 quận: Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrắk, dưới có 440 làng. Ngày 15/4/1950 Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt cao nguyên Trung Phần, trong đó có Đăk Lăk làm “hoàng triều cương thổ” có quy chế cai trị riêng. Sau năm 1975, Đăk Lăk có những thay đổi về hành chính: tháng 2- 1976, Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra nghị định giải thể khu và hợp nhất các tỉnh ở miền Nam, trong đó có Đăk Lăk và tỉnh Quảng Đức. Ngày 26-11-2003, Nghị quyết số 22/2003 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tách Đăk Lăk thành 2 tỉnh: Đăk Lăk và Đắk Nông. Hiện Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện (với 184 xã, phường và thị trấn), dân số tỉnh theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 là 1.728.380 người: 1. Thành phố Buôn Ma Thuột. 2. Thị xã Buôn Hồ (thành lập ngày 23 tháng 12 năm 2008, tách từ huyện Krông Buk). 3. Huyện Krông Buk (có từ năm 1976, trước kia là quận Buôn Hồ). 4. Huyện Krông Pak (có từ năm 1976, trước kia là quận Phước An). 5. Huyện Lắk (có từ năm 1976, trước kia là quận Lạc Thiện). 6. Huyện Ea Súp (thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1977, tách từ huyện Krông Buk). 7. Huyện M'Drăk (thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1977, tách từ huyện Krông Pak). 8. Huyện Krông Ana (thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách từ huyện Krông Pak và thị xã Buôn Ma Thuột). 9. Huyện Krông Bông (thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách từ huyện Krông Pak). 10. Huyện Ea H'leo (thành lập ngày 3 tháng 4 năm 1980, tách từ huyện Krông Buk). 11. Huyện Cư M'gar (thành lập ngày 23 tháng 1 năm 1984, tách từ huyện Ea Súp). 12. Huyện Krông Năng (thành lập ngày 9 tháng 11 năm 1987, tách ra từ huyện Krông Búk). 13. Huyện Buôn Đôn (thành lập ngày 7 tháng 10 năm 1995, tách từ huyện Ea Súp). 14. Huyện Ea Kar (thành lập ngày 13 tháng 9 năm 1986, tách từ huyện Krông Pak và huyện M'Drăk). Trường THPT Buôn Ma Thuột| 1
  2. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột 15. Huyện Cư Kuin (thành lập ngày 27 tháng 08 năm 2007, tách từ huyện Krông Ana). Câu 2: Vì sao Bộ Chính trị lại chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Tây Nguyên? Nêu tóm tắt diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Buôn Ma Thuột (l0/3/1975)? Buôn Ma Thuột là thành phố cao nguyên của tỉnh Đăk Lăk, đồng thời là thủ phủ kinh tế - chính trị của vùng Tây Nguyên trù phú. Thành phố đang sống trong những ngày tháng hoà bình, phát triển đầy hứa hẹn. Nhưng không ai có thể quên được cách đây gần 35 năm về trước, tháng 3 -1975, chính trên thành phố anh hùng này đã diễn ra “Trận Buôn Ma Thuột lịch sử”. Một trận đánh then chốt, mở đầu cho chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, là đòn điểm huyệt, tạo đột biến cho cuộc Tổng tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975. Bước sang năm 1974, trước sự suy yếu trầm trọng của địch, nhận định những điều kiện thuận lợi cho ta để kết thúc chiến tranh đang đến gần, tháng 10-1974, Bộ Chính trị - Trung ương Đảng đã họp và đề ra nhiệm vụ chiến lược mới: giải phóng hoàn toàn miền Nam trong vòng hai năm 1975-1976. Hội nghị khẳng định: “Mỹ đã rút khỏi miền Nam thì khó có khả năng đưa quân trở lại miền Nam, và dù chúng có can thiệp đi chăng nữa cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn”. Tiếp đó Hội nghị Bộ Chính trị họp mở rộng (từ 18 -12 -1974 đến 8 - 1 -1975) rà soát lại tình hình, nhất là sau chiến thắng Phước Long (6 - 1 - 1975), Bộ Chính trị hạ quyết tâm“Tổng công kích, tổng khởi nghĩa tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam” và “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị chọn Tây Nguyên - một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng,“ Là hướng chiến lược tấn công chủ yếu trong cuộc tiến công rộng lớn năm 1975”. Chấp hành nghị quyết của Trung ương tháng 10 -1974, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu V và Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên gấp rút triển khai kế hoạch mùa khô năm 1975 nhằm yêu cầu: “Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản“bình định” của địch, giải phóng đại bộ phận nông thôn, giải phóng một số địa bàn quan trọng, quyết tâm giành thắng lợi lớn, chuẩn bị phương án, kế hoạch khi có thời cơ, chống tư tưởng chần chừ rụt rè”. Buôn Ma Thuột là thị xã lớn của tỉnh Đăk Lăk và là thị xã lớn nhất của Tây Nguyên với trên 7 vạn người, một trung tâm chính trị ở vùng dân tộc, diện tích khoảng 25.000km 2 (17.000 đồng bào dân tộc). Bên cạnh đó, đây còn là một vị trí có tầm quan trọng nhiều mặt ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Buôn Ma Thuột lại tương đối cô lập, xa cách các trung tâm quân sự lớn, hạn chế sự chi viện lớn của địch. Do vị trí như vậy, nên một trận đánh lớn vào Buôn Ma Thuột sẽ gây rung động mạnh về chiến lược, tạo sức chấn động lớn và nhanh, và ảnh hưởng đến toàn cục. Chính xuất phát từ những nhận định đó, Trung ương chọn Buôn Ma Thuột làm điểm mở đầu và chủ yếu trong chiến dịch Tây Nguyên. Do ý nghĩa quan trọng của chiến dịch, đặc biệt là trận mở màn Buôn Ma Thuột, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên (tháng 2 -1975), đồng chí Văn Tiến Dũng được cử vào chỉ đạo và theo dõi tình hình. Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. - Chủ trương của Tỉnh ủy Đăk Lăk Đầu năm 1975, ở thị xã Buôn Ma Thuột, có 2 trung đoàn quân ngụy (E45 và E53), Liên đoàn biệt động 21, 2 thiết đoàn, 2 pháo đội, các lực lượng cơ quan, các binh chủng xung quanh Sư bộ 23 và 1 liên đoàn bảo an 3 tiểu đoàn. Trong nội thị Buôn Ma Thuột, địch có nhiều khu vực trọng yếu (hậu cứ 23, Tiểu khu Đăk Lăk, khu hành chính tỉnh, sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình, kho thiết giáp, kho Mai Hắc Đế…). Xung quanh thị xã, địch có một hệ thống cứ điểm để bảo vệ từ xa. Bộ máy tề ngụy từ thị xã đến phường xóm hoàn chỉnh, kìm kẹp dân chặt chẽ. Đối với Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk, nhận rõ trách nhiệm, tầm quan trọng do Trung ương giao phó, toàn tỉnh khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu có tính chiến lược này. Phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Huỳnh Văn Cần - Bí thư tỉnh ủy họp bàn kế hoạch tấn công và nổi dậy trong toàn tỉnh Đăk Lăk. Để phối hợp với đòn tiến công quân sự, Tỉnh ủy Đăk Lăk ra kế hoạch cụ thể về chuẩn bị chiến trường, tổ chức nhiều đội công tác chính trị đi cùng bộ đội phát động quần chúng nổi dậy; đồng thời có kế hoạch phân công cụ thể cho các huyện chuẩn bị sẵn sàng truyền đơn, lời kêu gọi, thông báo, kêu gọi binh sĩ ngụy ra hàng, trấn áp bọn ác ôn, chuẩn bị thành lập Uỷ ban cách mạng ở vùng giải phóng. Hàng trăm cơ sở các loại, ở vùng ven có 3 lõm căn cứ ở các đồn điền Trường THPT Buôn Ma Thuột| 2
  3. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột phía đông, ở Buôn Ea Na phía nam và Đạt Lý 2 phía bắc thị xã có phong trào cách mạng khá mạnh, có trên 400 cơ sở chính trị các loại và gần 150 du kích mật quần chúng ở các lõm căn cứ có tinh thần cách mạng rất cao, sẵn sàng phục vụ công tác, bảo vệ che giấu cán bộ cách mạng. Đó là những yếu tố - những bàn đạp vô cùng thuận lợi, quan trọng cho lực lượng ta làm chỗ dựa để hoạt động vào thị xã. Chiến dịch mở màn-trận đánh Buôn Ma Thuột: giải phóng Buôn Ma Thuột và toàn tỉnh Đăk Lăk. Sáng ngày 5-3-1975, Trung đoàn 25 cắt đường 21. Ngày 8-3 Trung đoàn 48 đánh chiếm Thuận Mẫn và căn cứ Cẩm Ga cắt đường 14 diệt 1D bảo an, bắt 120 tên địch, thu 200 súng. Ngày 9-3 Sư đoàn 10 đánh quận lỵ Đức Lập, căn cứ Núi Lửa, cứ điểm 22. Nhưng chiến sự kéo dài đến ngày 10-3 mới chiếm lại được quận lỵ và các cứ điểm Đăk Song, Đăk Sắc, diệt 1 tiểu đoàn của E53, 1 tiểu đoàn bảo an, bắt 100 tên địch, thu 14 pháo, 20 xe tăng thiết giáp. Sau đòn nghi binh ở PleiKu và Kon Tum, chiến dịch mở màn bằng cuộc tiến công chiến lược của quân chủ lực vào Buôn Ma Thuột. Đúng 2giờ 03 phút sáng ngày 10-3 từ các hướng quân ta đã nổ súng tấn công thị xã Buôn Ma Thuột (ngã Sáu). Đặc công đánh mạnh ở các nơi trọng điểm như sân bay thị xã, kho Mai Hắc Đế, bộ binh đánh sân bay Hòa Bình… Đây thực sự là cuộc đọ sức quyết liệt, sống còn giữa ta và địch trong thị xã. Trong ngày này, ta đã hạ nhiều mục tiêu trong thị xã, nhưng vẫn chưa chiếm được Sư bộ 23 và mục tiêu phía đông tiểu khu. Cho dù tuớng Phú ra lệnh “tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá” nhưng điều đó đã bị vô hiệu hóa, bởi 10 giờ ngày 11-3, ta đã làm chủ các mục tiêu, chiếm lĩnh Sư bộ 23 - mục tiêu cuối cùng trong thị xã Buôn Ma Thuột. Phối hợp với tấn công quân sự, những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, nhanh chóng phá rã toàn bộ lực lượng kìm kẹp của địch ở cơ sở, xóa sạch tung tích địch, thiết lập chính quyền tự quản của nhân dân, tiền thân của Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân cách mạng các cấp. Tại thị xã Buôn Ma Thuột: Ngay trong đêm 11-3-1975, khi chủ lực vừa tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu, đoàn cán bộ chính trị gồm 83 người, do đồng chí Tô Tấn Tài (Ama H’Oanh), Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột dẫn đầu, tiến vào thị xã, tỏa xuống các đường phố, các khu dân cư, phát động quần chúng nổi dậy xóa sạch quân ngụy, phối hợp tiễu trừ bọn tàn binh địch, truy quét gián điệp và tàn quân trốn tại các khu gia cư, thu gom vũ khí, tổ chức giữ gìn trật tự an ninh, kêu gọi những người chạy lánh trở về, kêu gọi tề ngụy ra trình diện…. Ở các vùng ven thị, tranh thủ sự thắng lợi quân sự, các đội công tác kịp thời bám vào các khu đồn, ấp chiến lược cùng cơ sở tại chỗ, đưa quần chúng nổi dậy tấn công chính trị, binh vận, giải tán tề, tước vũ khí của nghĩa quân dân vệ, phòng vệ dân sự, xóa bỏ mọi tổ chức và tàn quân địch, phá banh các khu đồn, bung dân và đưa họ về làng cũ, ổn định cuộc sống. Sau 5 ngày liên tục tiến công và nổi dậy, trên 70.000 dân thị xã Buôn Ma Thuột được hoàn toàn giải phóng. Ngày 18 - 3 - 1975, Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột, do Đại tá Y Bốc Êban - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban Cách mạng lâm thời tỉnh Đăk Lăk, làm Chủ tịch, ra mắt trước 300 đại biểu nhân dân trước đình Lạc Giao. Nhân dân hân hoan, phấn khởi với những thắng lợi to lớn mà cách mạng đã giành được. Ở địa bàn nông thôn: Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công quân sự, tiêu diệt, bức rút các lực lượng địch ở các chi khu, quận lỵ, những cứ điểm lẻ. Ở các huyện, cùng với lực lượng du kích, cơ sở tại chỗ, quần chúng đã nổi dậy quét sạch bọn ngoan cố, giải tán tề ngụy, xóa tàn tích địch. Cùng phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, lực lượng địa phương tỉnh Kon Tum, Gia Lai cùng quần chúng nổi dậy phá hàng loạt khu ấp dồn dân, ấp chiến lược, giải phóng thị xã Kon Tum (16 - 3 - 1975), thị xã PleiKu (17 - 3 - 1975). Ngày 28 -3-1975, toàn tỉnh Đăk Lăk hoàn toàn được giải phóng, chính quyền cách mạng về tay nhân dân. Chiến thắng Buôn Ma Thuột là “đòn điểm huyệt” đã làm cho quân ngụy không thể nào gượng dậy nổi. Sau chiến dịch Tây Nguyên, là chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những điều kiện thuận lợi đã được mở ra sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, “cái chìa khóa của mọi sự nằm ở Buôn Ma Thuột” quả thật không sai. Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã đi vào lịch sử là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta trong cả nước, mở màn thắng lợi cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam. Chiến thắng Buôn Ma Thuột trước hết là nhờ sự chỉ đạo sáng suốt tài tình của Bộ Chính trị, của Quân uỷ Trung ương đã có quyết tâm cao, chọn đúng thời cơ lịch sử, chọn đúng điểm Trường THPT Buôn Ma Thuột| 3
  4. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột quyết chiến chiến lược và tập trung cao độ binh hoả lực để giành thắng lợi. Chiến thắng Buôn Ma Thuột là chiến công chung của quân và dân trong cả nước mà trực tiếp là các lực lượng chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên đã nghi binh giỏi, tạo thế bí mật bất ngờ cho trận đánh từ xa, hợp đồng binh chủng chặt chẽ, tấn công địch liên tục bằng nhiều trận then chốt: đánh địch ở trọng điểm, đánh diệt địch phản kích, truy diệt địch chạy. Chỉ trong thời gian chưa đầy 1 tháng đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ sinh lực địch và phương tiện chiến tranh trên một chiến trường rộng lớn toàn Tây Nguyên. Góp phần vào chiến thắng vẻ vang ấy, quân dân Đăk Lăk dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đã đoàn kết một lòng đứng lên tiến công và nổi dậy. Đặc biệt sự đóng góp sức người, sức của, của đồng bào các dân tộc trong tỉnh là chất kết dính sức mạnh đấu tranh. Đó là truyền thống đoàn kết Kinh - Thượng đã được vun xới từ trong lịch sử xa xưa. Với chiến thắng này, vùng đất và con người Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk đã đi vào lịch sử dân tộc như những trang sử oanh liệt. Đó là niềm tự hào vô hạn của những thế hệ hôm nay với sự hy sinh của bao thế hệ cha ông đi trước. Đó là một tài sản, một vốn quí cần được gìn giữ và phát huy Câu 3: Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Đăk Lăk, các kì đại hội Đảng, các đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ qua các thời kì. Đảng Cộng sản VN ra đời (3-2-1930) là một bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt hoàn toàn vấn đề khủng hoảng lãnh đạo của cách mạng VN. Sự ra đời của ĐCSVN có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tiến trình phát triển thắng lợi của của phong trào giải phóng dân tộc ở Đăk Lăk nói riêng, Tây Nguyên nói chung. - Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt chú ý đến công tác lãnh đạo, tổ chức và vận động cách mạng trong khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, coi “ lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn. Giải phóng đồng bào các dân tộc là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, là một bộ phận của cách mạng thế giới”. - Qua trình phát triển cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Đắk Lắk từ năm 1930 trở đi là quá trình đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk đi theo tiếng gọi của Đảng và cũng là quá trình Đảng dần dần xâm nhập vào phong trào ở đây để nắm quần chúng và lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Ngay từ lúc thực dân Pháp xây dựng những đồn điền đầu tiên, ở Đắk Lắk đã có những hình thức đấu tranh khá sôi nổi và mạnh mẽ. Những cuộc đấu tranh đó từ những hình thức bất hợp tác đến những cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm...v.v đã thể hiện một quá trình phong trào đi từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn. Tiêu biểu là phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền Mai Dô (1927), của công nhân đồn điền MêWal, C.H.P.I, Rô Si (1933), đấu tranh của công nhân làm cấu đường 14 ở KrôngBúk (1935) và cuộc đấu tranh của công nhân dồn điền Ca Đa (1940)... Phong trào đấu tranh của công nhân và sự trưởng thành của đội ngũ công nhân ở Đăk Lăk đã tạo ra tiền đề khách quan hết sức thuận lợi cho sự phát triển cách mạng ở Đắk Lắk. Bên cạnh đó, ở Nhà đày Buôn Ma Thuột, một tổ chức trung kiên được hình thành ngay trong nhà tù để lãnh đạo cách mạng. Các chiến sĩ cộng sản ở đây đã đấu tranh không mệt mỏi, đòi cải thiện tù nhân, chống tra tấn khủng bố, đòi tự do, báo chí, hội họp...nhiều cuộc đấu tranh trong tù đã làm cho thực dân Pháp hoảng sợ. Trong những năm 1930 đến 1940, nhiều cuộc tổ chức vượt ngục của các chiến sĩ đã thành công. Trên cơ sở đó, vào cuối năm 1940 do tình hình đòi hỏi, một số chiến sĩ cộng sản ( khoảng 10 đồng chí trong các tổ chức bí mật nhà tù) tự thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ( Chi bộ lúc đó thành lập có 10 đồng chí). Đến lúc ra tù ( 4-1945) đã có trên 150 đồng chí. Ban Chấp hành có các đồng chí: Trần Hữu Dục (Bí thư), Ngô Tuân (Ba Đốc), Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Trần Tống, Nguyễn Hữu Khiếu. Với các kí hiệu tên gọi khác nhau, chi bộ được tổ chức hoạt động và phát triển đội ngũ đảng viên của mình theo Chính cương, Điều lệ Đnảg và tự xác định phải thực hiện cho được các nhiệm vụ sau: - Làm hạt nhân tổ chức và lãnh đạo toàn thể tù nhân đấu tranh để bảo vệ quyền lợi, bảo vệ và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho tù nhân. - Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, chuẩn bị cho hoạt đô ngj cho từng người sau khi ra tù. Trường THPT Buôn Ma Thuột| 4
  5. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột - Tìm cách liên lạc để tổ chức vận động cách mạng ở thị xã Buôn Ma Thuột mà trước hết là hai đối tượng là: quần chúng lao động và binh lính địch. - Tổ chức các cuộc vượt ngục, vọt tàu lửa để đưa cán bộ về cho Đảng. Bồi dưỡng lí luận cách mạng và chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho những người sắp hết hạn tù để trở ra hoạt động cách mạng. Với việc chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà đày Buôn Ma Thuột ra đời không những đã thống nhất được sự lãnh đạo của Đảng trong tù mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động cách mạng ở Đắk Lắk phát triển thêm một bước mới, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk. CÁC KÌ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ra đời ở Đắk Lắk (năm 1940), đến nay Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đã trải qua 14 kì đại hội. - Tháng 8-1969, dưới sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V, tỉnh Đắk Lắk (lúc này gồm 4 huyện M’Đrắk, đông Cheo Reo, tây Cheo Reo và Buôn Hồ) triệu tập Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất tại vùng núi Chư Djũ:. Về dự đại hội có 50 đại biểu được bầu ra từ các huyện và các cơ quan tỉnh. Đại hội đã kiểm điểm tình hình của tỉnh từ sau Hiệp định Giơnevơ đến năm 1960, đề ra phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 15. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 15 đồng chí, đồng chí Nguyễn Hồng Ưng được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Từ giữa năm 1961, các đồng chí Nguyễn Hồng Ưng và Nguyễn Liên được điều động về Khu uỷ VI, đồng chí Nguyễn Tuấn ( Ama Đăng), Phó Bí thư Tỉnh uỷ là Bí thư. Tháng 6-1962, đồng chí Nguyễn Tuấn về Khu VI, đồng chí Nguyễn Viên ( Bình) Trưởng ban Quân sự tỉnh làm Quyền Bí thư. Cuối năm 1962, Khu uỷ VI điều động đồng chí Nguyên Liên làm Bí thư tỉnh uỷ. - Tháng 8- 1963, Đại hội lần thứ II của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (B3):, họp tại Ea Drăh vùng căn cứ đồng Chư Djũ. Đại hội kiểm kiểm tình hình chỉ đạo của thời kì địch chuyển sang chiến tranh đặc biệt và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, tập trung vào nhiệm vụ trung tâm là phát động quần chúng phá kềm, phá ấp giành lại nông thôn. Đại hội cũng đặc biệt nhấn mạnh đến công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự đoàn kết trong Đảng bộ, khắc phục tư tưởng ngại gian khổ, cố thủ rụt rè, tập trung cho công tác tiến công ra phía trước. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá II, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Tháng 7 -1966, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ III: được triệu tập tại vùng căn cứ phía nam của tỉnh ( Ea Play xã Dak Tuôr) để kiểm điểm tình hình và sự chỉ đạo của tỉnh, đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn chống chiến tranh cục bộ. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá III, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Tháng 4 -1969, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ IV: họp tại buôn M Năng Dơng vùng căn cứ phía nam của tỉnh, để kiểm điểm tình hình và sự chỉ đạo của tỉnh trong giai đoạn chống chiến tranh cục bộ, đề ra nhiệm vụ chống bình định nông thôn, chống “ Việt Nam hoá chiến tranh” và tăng cường công tác xây dựng Đảng. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá IV, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Sau đó, Thường vụ Khu uỷ V quyết định đưa đồng chí Võ Trung Thành ( Năm Vinh) Khu uỷ viên Khu V về làm Bí thư thay đồng chí Nguyễn Liên về Khu V nhận công tác mới. - Tháng 10 -1971, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ V : họp tại buôn Ngô, vùng căn cứ phía nam của tỉnh. ĐH kiểm điểm tình hình và sự chỉ đạo của tỉnh sau Tết Mậu Thân và bàn phương hướng chống “Việt Nam hoá chiến tranh”, chống bình định và lấn chiếm, chuẩn bị cho đợt hoạt động năm 1972. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá V gồm 31 đồng chí, đồng chí Huỳnh Văn Cần được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Tháng 9-1973 Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VI : họp tại buôn Ea MDlan vùng căn cứ phía bắc tỉnh. Đại hội xác định nhiệm vụ chống lấn chiếm bình định và giữ vững vùng giải phóng, chuẩn bị mọi điều kiện cho cách mạng trong tỉnh, xây dựng hành lang an toàn, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trường THPT Buôn Ma Thuột| 5
  6. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Đắk Lắk khoá VI gồm 27 đồng chí, đồng chí Huỳnh Văn Cần tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VII: được họp vòng 1 từ ngày 12-11-1976 đến 20-11-1976, vòng 2 từ ngày 13-6-1977 đến ngày 19-6-1977, tại thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu được triệu tập là 252 đồng chí (25 đồng chí dự khuyết). Đại hội kiểm điểm tình hình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá- xã hội, an ninh- quốc phòng của tỉnh sau 2 năm đầu mới giải phóng, đề ra nhiệm vụ mới “ quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 1976-1980”. Xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ, quân dân các dân tộc trong tỉnh tập trung cao độ vào mặt trận sản xuất nông nghiệp. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá VII gồm 39 đồng chí, đồng chí Trần Kiên được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VIII: tiến hành từ ngày 07 đến ngày 10-11- 1979, tại thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu được triệu tập 351 đồng chí đến từ 16 tổ chức đảng bộ trực thuộc. Đại hội kiểm điểm tình hình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá- xã hội, an ninh- quốc phòng của tỉnh trong nhiệm kì VII và đề ra chủ trương, phương hướng, biện pháp kinh tế -xã hội trong thời kì mới (1980-1981). Đại hội xác định các nhiệm vụ: tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông – lâm – công nghiệp phát triển toàn diện, cùng nhiệm vụ sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu là trọng tâm. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá VIII gồm 43 đồng chí, đồng chí Y Ngông Niê Kđăm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ IX : được tiến hành trong 2 vòng, vòng 2 từ ngày 5-3-1983 đến ngày 9-3-1983 tại thị xã BMT, số lượng đại biểu được triệu tập là 372 đồng chí chính thức đại diện cho 9.000 đảng viên thuộc 20 đảng bộ trực thuộc trong tỉnh. Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh khoá VIII đã tạo ra cơ sở vật chất, kĩ thuật ban đầu cho nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Đại hội đề ra phương hưóng, nhiệm vụ chung cho Đảng bộ trong 3 năm (1983-1985) là ra sức phát triển phong trào quần chúng sâu rộng, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Đề ra các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, tiếp tục xác định vững chắc cơ cấu kinh tế công - nông – lâm nghiệp, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá- giáo dục- y tế đi vào chất lượng. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá IX gồm 45 đồng chí (4 dự khuyết) đồng chí Y Ngông Niê Kđăm được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ X: họp tại thị xã Buôn Ma Thuột từ ngày 9- 10 đến ngày 14-10-1986. Về dự đại hội có 400 đồng chí đại biểu chính thức đến từ 24 đảng bộ trực thuộc, đại diện cho hơn 10.000 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội đã kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới từ 1986-1990 là “ nắm vững đường lối và quan điểm cơ bản của Đảng, ra sức phấn đấu đến mức cao nhất với tinh thần tự lực tự cường và ý chí quyết tâm cao, phát huy triệt để sức mạnh tổng hợp của từng đại phương, cơ sở của toàn tỉnh, hướng mạnh về phía trước, tạo ra một sự thay đổi lớn trên mọi lĩnh vực...” Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá X gồm 45 đồng chí (10 dự khuyết) đồng chí Huỳnh Văn Cần được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XI: Tiến hành trong 2 vòng, vòng 2 khai mạc vào ngày 08-1-1992 đến ngày 11-1-1992 tại thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu 292, thay mặt cho hơn 16.509 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội nhấn mạnh: Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc theo định hướng XHCN. Ổn định và phát triển kinh tế của tỉnh theo cơ cấu: nông – lâm –công nghiệp chế biến và dịch vụ. Đổi mới quản lí và điều hành kinh tế của nhà nước trên cơ sở xác định được chức năng, quyền hạn được qui định. Tiếp tục chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá XI gồm 47 đồng chí, đồng chí Huỳnh Văn Cần được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ. Đến Hội nghị giữa nhiệm kì đồng chí Huỳnh Văn Cần nhận nhiệm vụ khác, đồng chí Ama Pui được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Trường THPT Buôn Ma Thuột| 6
  7. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XII: Triệu tập từ ngày 07-5-1996 đến ngày 10-5-1996 tại thành phố BMT, về dự đại hội có 349 đồng chí đại diện cho hơn 17.000 đảng viên của 23 đảng bộ trực thuộc trong tỉnh. Đại hội đã kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới từ 1996-2000. Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc theo định hướng XHCN. Ổn định và phát triển kinh tế của tỉnh theo cơ cấu: nông – lâm –công nghiệp chế biến và dịch vụ. Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá XII gồm 49 đồng chí, đồng chí Mai Văn Năm được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ. Tháng 9 -1999, đồng chí Mai Văn Năm về Uỷ ban kiểm tra Trung ương, đồng chí Nguyễn An Vinh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIII: Diễn ra từ ngày 31-1-2001 đến ngày 02-2-2001 tại thành phố Buôn Ma Thuột, có 397 đại biểu tham dự thay mặt cho hơn 27.930 đảng viên của 24 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Với không khí đoàn kết, dân chủ, đổi mới, Đại hội bầu ra 47 đồng chí trong Ban chấp hành khoá XIII (2001- 2005), đồng chí Y Luyện Niê Kdăm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Trên cơ sở kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII, đaịi hội nhấn mạnh trong những năm tới bảo đảm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định trên cơ sở phát huy nội lực, khơi dậy tiềm năng to lớn của địa phương, kết hợp với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, tăng cường hợp tác đầu tư mở rộng thị trường nước ngoài. Tiếp tục phát triển mạnh nông sản xuất khẩu đi đôi vớichuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển mạnh các nghành công nghiệp, dịch vụ, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp chế biến- nông – lâm sản. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với môi trường, thực hiện tốt các vấn đề xã hội... Phấn đấu đến năm 2010 đưa tỉnh ta trở thành một tỉnh có kinh tế phát triển đạt trên mức trung bình của cả nước; có nền văn hoá tiên tiến, giữ được bản sắc dân tộc, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đến ngày 31-12-2003, tỉnh Đắk Lắk được tách thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông theo Nghị quyết 22 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ định Ban Chấp hành lâm thời gồm 46 đồng chí, đồng chí Y Luyện Niê Kđăm tiếp tục làm Bí thư Tỉnh uỷ. - Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIV: Tiến hành từ ngày 12-12-2005 đến ngày 14-12-2005 tại thành phố Buôn Ma Thuột. Có 299 đại biểu về dự, thay mặt cho hơn 32.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trên cơ sở kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết của Đại hội khoá XIII, Đại hội nhấn mạnh: “ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức, mạnh đoàn kết các dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển kinh tế nhanh và bền vững”. Đại hội bầu ra 48 đồng chí trong Ban Chấp hành khoá XIV (2005-2010), đồng chí Niê Thuật được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. CÁC ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ TỈNH UỶ ĐẮK LẮK QUA CÁC THỜI KÌ 1. Đồng chí Phan Kiệm: sinh năm 1920 tại Thiệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau cách mạng tháng Tám thành công, với trách nhiệm là người phụ trách Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk, đồng chí chăm lo củng cố giữ vững chính quyền cách mạng còn non trẻ, chuẩn bịi cho ngày Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội khóa I nước Vịêt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Đắk Lắk. Đầu năm 1946, đồng chí được phân công về Khu V công tác, phụ trách mặt trận Bình Định, An Khê. Tháng 6 – 1947, Trung ương điều động vào chiến trường Nam Bộ. Năm 1954, đồng chí được phân công ở lại Sài Gòn- Gia Định. Năm 1960, đồng chí tham gia vào Thành uỷ Sài Gòn – Gia Định. Năm 1976 nghỉ công tác. Đồng chí mất năm 1996. 2. Đồng chí Nguyễn Khắc Tính: Bí danh “ Nguyễn Sách”, sinh năm 1920 tại Sơn Tiến, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Đồng chí tham gia trong ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Trường THPT Buôn Ma Thuột| 7
  8. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Đắk Lắk tại thị xã Buôn Ma Thuột. Cuối năm 1946, Ban cán sự Đảng Đắk Lắk được thành lập, đồng chí làm Bí thư cho đến năm 1942. Năm 1962, đồng chí là Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Đức. Năm 1970, làm Bí thư Khu X ( Phước Long, Quảng Đức, Bình Long cũ). Năm 1975, đồng chí làm Phó trưởng ban kinh tế mới Trung ương cục miền Nam. Năm 1977, đồng chí chuyển công tác về Bộ nông nghiệp, năm 1980 đồng chí nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh. 3. Đồng chí Lê Vụ: ( tức Thái Căn), sinh ngày 14-3-1923 tại thôn Long An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tháng 11- 1940, đồng chí bị địch bắt vào nhà lao Buôn Ma Thuột. Tháng 5-1945, sau khi ra tù đồng chí hoạt động và giữ những chức vụ quan trọng: Phó chủ nhiệm Việt Minh, Uỷ Viên Ban thường vụ Tỉnh Quảng Trị, Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên..Tháng 10-1949 đến tháng 4-1952, đồng chí làm Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 5-1952, là uỷ viên dự khuyết của Khu uỷ V, làm Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên. Từ tháng 7-1961 đến tháng 2-1967, làm Khu uỷ viên Liên khu V, chánh văn phòng Trung ương cục miền Nam. Tháng 3-1967 là uỷ viên Ban thống nhất Trung ương. Tháng 8-1975, công tác tại Ban dân tộc Trung ương đến tháng 5-1987 nghỉ hưu và đồng chí mất ngày 18-10 -1990 tại Hà Nội. 4. Đồng chí Trương Quang Giao: sinh năm 1910 tại Mĩ Khê ( Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi). Từ tháng 2 -1939 đến tháng 1-1944 bị địch bắt và đày vào nhà lao Buôn Ma Thuột, sau đó chuyển đồng chí về Ba Tơ ( Quảng Ngãi). Cuối tháng 12-1944, đồng chí vượt ngục thành công và tiếp tục hoạt động, làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi. Năm 1950 làm Bí thư cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk. Năm 1955, đồng chí tập kết ra Bắc tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng: Phó Ban tổ chức Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Uỷ ban thống nhất của Chính phủ. Năm 1977 nghỉ hưu tại Đà Nẵng và đồng chí mất năm 1983. 5. Đồng chí Lê Văn Nhiễu: sinh tháng 1-1920 tại xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tháng 9-1940 bị địch bắt và đày vào nhà lao Buôn Ma Thuột. Sau cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được điều về làm cán bộ tuyên huấn Liên khu V, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 125. Từ năm 1952-1954, là Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Đắk Lắk kiêm Chính uỷ Trung đoàn 84. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đồng chí tiếp tục dẫn đoàn cán bộ Đắk Lắk tập kết ra Bắc, tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội, đồng chí mất tháng 5-1976. 6. Đồng chí Trương Quang Tuân: sinh năm 1923 tại thôn Trà Bình, xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 5-1947, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi. Cuối năm 1949 đến năm 1951, làm thư kí riêng cho đồng chí Phạm Văn Đồng. Từ năm 1955-1957, là Uỷ viên Liên Khu uỷ V, Bí thư cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Ban cán sự Liên tỉnh IV. Năm 1959, trên đường đi công tác đồng chí đã hi sinh tại Trà My, tỉnh Quảng Nam. 7. Đồng chí Nguyễn Hồng Ưng: bí danh “ Vũ Anh Ba”, sinh ngày 14-4-1922 tại Tịnh Hà, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí được Khu uỷ V phân công ở lại làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai. Giữa năm 1959 được phân công về làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 8- 1956, trong Đại hội Đảng bộ tỉnh lần II, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Sau năm 1975, đồng chí làm Trưởng ban kinh tế mới- định canh, định cư tỉnh Lâm Đồng. Năm 1978, đồng chí nghỉ hưu, năm 1996 đồng chí mất. 8. Đồng chí Nguyễn Tuấn: ( A ma Đăng), sinh ngày 10-10-1924 tại thôn Long Tường, Phụng Tường, Tuy Hoà, Tổng Hoà Tường, tỉnh Phú Yên. Tháng 8-1960 đồng chí giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 12-1960, đồng chí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk thay cho đồng chí Nguyễn Hồng Ưng. 9. Đồng chí Võ Trung Thành: ( Năm Vinh), sinh ngày 14-10-1924 tại thôn Thuỷ Thạch, Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1953 đồng chí được điều động lên Tây Nguyên làm Phó Bí thư Liên tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Sau đó làm Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai. Tháng 6-1963, làm Bí thư B3 gồm 4 huyện M’Đrăk, đông Cheo Reo, tây Cheo Reo và Buôn Hồ. Sau khi thống nhất B3 và B4 thành tỉnh Đắk Lắk, đồng chí được điều về nhận công tác mới. Tháng 5-1969, đồng chí được điều động làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk thay cho đồng chí Nguyễn Liên. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí mất ngày 12-7-1982 tại Hà Nội. 10. Đồng chí Nguyễn Xuân Nguyên: ( tên khai sinh là Nguyễn Liên), bí danh (Mười Nguyên), sinh ngày 20-12-1922 tại Tịnh Thọ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí được phân công lên Tây Nguyên, giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum, Uỷ viên Liên khu III ( Tây Nguyên). Từ năm 1961-1963 là Uỷ viên Khu uỷ VI. Tháng 3-1963, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 7-1966, được bầu lại Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, tháng 4-1969 tiếp tục Trường THPT Buôn Ma Thuột| 8
  9. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Năm 1973, giữ chức vụ Trưởng ban miền núi Khu V, năm 1974, Uỷ viên Thường vụ Khu uỷ V, phụ trách tuyên huấn và Ban miền núi Khu V. Tháng 5- 1975, đồng chí được phân công làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Năm 1987, nghỉ hưu , đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá V, VI. 11. Đồng chí Trần Kiên: tên khai sinh Nguyễn Tài (Quế) và “ Sơn”, sinh ngày 15-5-1920 tại xã Nghĩa Kì, Tư Nghĩa,Quảng Ngãi. Từ năm 1954-1960 là Bí thưc Tỉnh uỷ Kon Tum, Tỉnh uỷ viên Liên khu IV ( Tây Nguyên). Cuối 1964 đến hết 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai-Kon Tum. Tháng 12- 1976, taị đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ 1977-1978 về làm Bí thư Tỉnh uỷ Đăk Lăk. Từ năm 1979-1980 là Bộ trưởng Bộ lâm nghiệp. Từ tháng 12-1980 là Bí thư Tỉnh uỷ Nghĩa Bình. Tại Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, là Bí thư Trung ương và là Trưởng ban kiểm tra Trung ương, là đại biểu Quốc hội khoá VI, đồng chí mất ngày 26-5-2004 tại Quảng Ngãi. 12: Đồng chí Huỳnh Văn Cần: tên khai sinh là Huỳnh Văn Mẫn, bí danh là “ Quyết”, sinh ngày 19-9-1927, tại xã Phổ Ninh, Đức Phổ, Quảng Ngãi. Tháng 10-1971, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 12-1973, tại Đại hội đại biểu Khu V lần III, đồng chí giữ chức vụ là Uỷ viên dự khuyết Khu uỷ V và tiếp tục làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 10-1986, đồng chí tiếp tục được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk trong kì đại hội lần thứ X. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 1-1992, đồng chí tiếp tục giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, là Uỷ viên Trung ương Đảng khoá VII... Tháng 10-1997 đồng chí nghỉ hưu. 13: Đồng chí Y Ngông Niê Kdăm: tên thường gọi là Y Ngông, bí danh là “ Nguyễn Aí Việt”, sinh ngày 13-8-1922 tại buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Năm 1941, theo học trường Y khoa Đông Dương tại Sài Gòn. Sau khi tốt nghịêp, đồng chí công tác tại Đắk Lắk, tham gia các đoàn thể cứu quốc: Hội Thanh niên cứu quốc, Hội truyền bá Quốc ngữ của tỉnh. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí tham gia Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Đắk Lắk, uỷ viên tuyên truyền của tỉnh. Ngày 6-1-1946, trong kì bầu cử Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đồng chí cùng với Y Wang Mlô Duôn Du là 2 đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Đắk Lắk. Tại kì họp thứ nhất của Quốc hội (3-1946), đồng chí được bầu vào Uỷ ban Thường trực Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1976, đồng chí được bầu làm uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV. Năm 1977, đồng chí giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và là Uỷ viên Hội đồng Nhà nước. Năm 1978, đồng chí làm Phó Chủ tịch, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982) của Đảng. đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1988, đồng chí làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá VIII, IX, đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá IX. 14. Đồng chí AMa Pui: Tên khai sinh Yliă Mjâo, sinh ngày 26-6-1932, tại buôn A Drơng, xã Chư Pơng, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk. Tháng 4-1975, đồng chí giữ chức vụ là Tỉnh uỷ viên, được phân công làm Phó Bí thư Thị uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma Thuột. Tháng 6-1991, tại Đại hội đaị biểu toàn quốc lẫn thứ VII, đồng chí được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1992, tại Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, Chủ tịch UBND tỉnh.... Năm 1977 đồng chí nghỉ hưu. 15. Đồng chí Mai Văn Năm: sinh ngày 3-5-1948 tại Hoà Hải, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Tháng 12-1990 đồng chí được điều động về thị xã Buôn Ma Thuột và được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh bầu làm Bí thư Thị uỷ. Từ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (1991), đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Tháng 5-1996, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk và tại Đại hội toàn quốc của Đảng đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, được bầu vào Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra. Tháng 3-2002, đồng chí được Bộ Chính trị điều động về làm Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên. 16: Đồng chí Nguyễn An Vinh: sinh ngày 06-7-1940 tại xa Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An. Từ tháng 12-1979 đến tháng 12-1994, là Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, sau đó là Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk. Đến tháng 5 -1996, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Đắk Trường THPT Buôn Ma Thuột| 9
  10. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Lắk khoá XII ( tháng 10-1999), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Đắk Lắk. Đồng chí liên tục là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk từ khoá I đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá X. 17. Đồng chí Y Luyện Niê Kdăm: tên thường gọi là Ama Hoa, sinh ngày 9-10 -1943 tại buôn Tay, xã Krông Jing, huyện M’Đrăk, tỉnh Đắk Lắk. Năm 1981, đồng chí là Phó Bí thư huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện Krông Ana. Từ năm 1983-1985 là Bí thư huyện uỷ Krông Ana. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XI, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Đầu năm 1995, đồng chí là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, tháng 11-1999 là Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, Chủ tịch UBND tỉnh. Tháng 2-2001, tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII, đồng chí giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Đồng chí là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh từ khoá I đến khoá VI, đại biểu Quốc hội khoá X. Tại kì họp thứ nhất Quốc hội khoá X, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc Quốc hội. 18: Đồng chí Niê Thuật: Sinh ngày 08-5-1956 tại xã Cư Drăm, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thức XIV( tháng 12-2005), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh. Đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2006). Tại kì họp thứ nhất Quốc hội khoá XII đồng chí được bầu là Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội. Câu 4: Vai trò của Chi bộ Đang Công san ở Nhà đày Buôn Ma Thuột trong thắng lợi ̉ ̣ ̉ của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk? Ngay từ năm 1900, khi chuyển tỉnh lỵ từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột, thực dân Pháp cũng đồng thời xây dựng một trại giam ở bên cạnh thị xã giam giữ những người chống lại sự xâm lược và “bình định” của chúng. Dần dần về sau chúng tiếp nhận tù chính trị từ nơi khác đến và biến nơi đây thành một nơi giam cầm, đầy ải các chiến sĩ cách mạng bị bắt trong các phong trào cách mạng ở trong nước. Sau cao trào 1930-1931 và Xô Viết-Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp bắt đày lên Buôn Ma Thuột trên 30 chiến sĩ cộng sản. Đến năm 1936, chúng bỏ nhà lao Lao Bảo và chuyển số tù nhân còn sống lên Buôn Ma Thuột, từ đây Buôn Ma Thuột trở thành một nhà tù lớn của Pháp ở Đông Dương. Nhà tù Buôn Ma Thuột được tổ chức khá quy mô và kiên cố. Toàn bộ nhà tù là một vùng đất hình vuông, mỗi chiều trên 100m, chung quanh có tường cao bao bọc. Chúng chia nhiều nhà lao để nhốt riêng từng loại tù, một dãy xà lim dài có thể nhốt hàng chục người. Ngoài ra, chúng còn một hệ thống canh gác ở vòng ngoài. Thực dân Pháp đã thi hành một chế độ nhà tù hết sức khắc nghiệt và tàn bạo. Tất cả tù nhân phải đóng số tù ở lưng. Lao dịch nặng nề cùng với những điều kiện khắc nghiệt, khổ sai làm cho bệnh tật, ốm đau hoành hành. Bởi vậy, nhà tù Buôn Ma Thuột là cả một sự tố cáo đanh thép về sự đối xử dã man tàn bạo nhất của thực dân đế quốc đối với những người yêu nước. Thực chất chế độ nhà tù là tìm mọi cách giết dần giết mòn và đi đến thủ tiêu hoàn toàn những người chiến sĩ cộng sản bị giam giữ. Trước sự giam cầm, đàn áp của thực dân, các tù nhân trong nhà tù Buôn Ma Thuột đã liên tiếp đứng dậy đấu tranh, coi đó là trường học chiến đấu của mình. Cuối năm 1940, do tình hình mới, một số chiến sĩ cộng sản ( khoảng 10 đồng chí trong các tổ chức bí mật) đã tự thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Với các kí hiệu tên gọi khác nhau, chi bộ được tổ chức và phát triển đội ngũ đảng viên của mình theo đúng chính cương điều lệ của Đảng và tự xác định phải thực hiện cho được những nhiệm vụ sau: - Làm hạt nhân tổ chức và lãnh đạo toàn thể tù nhân đấu tranh để bảo vệ quyền lợi , bảo vệ cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho tù nhân. - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, chuẩn bị cho hoạt động cách mạng của từng người sau khi ra tù. - Tìm cách liên lạc để tổ chức vận động cách mạng ở thị xã Buôn Ma Thuột mà trước hết là hai đối tượng quần chúng: lao động và binh lính của địch. Trường THPT Buôn Ma Thuột| 10
  11. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột - Tổ chức các cuộc vượt ngục, vọt tàu lửa để đưa cán bộ về cho Đảng bồi dưỡng lí luận cách mạng và chỉ thị nghị quyết của Đảng cho những ngừơi sắp hết hạn tù để trở ra hoạt động cách mạng. Như vậy, việc chi bộ Đảng ra đời không những đã thống nhất được sự lãnh đạo của Đảng trong tù mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động cách mạng ở Đăk Lăk phát triển thêm một bước mới. Từ năm 1942 trở đi, các chiến sĩ cách mạng ở nhà tù Buôn Ma Thuột đã được học tập nghị quyết ban đầu của này của Trung ương Đảng và cả chương trình hành động của Việt Minh. Những tài liệu bí mật các đồng chí hết hạn tù hoặc vượt ngục mang về đã trở thành những tài sản quí giá. Chính nhờ những hoạt động đó mà nhà tù Buôn Ma Thuột đã có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc cách mạng Tháng Tám sau này ở Đăk Lăk. Cũng từ đây, các chiến sĩ cách mạng trong tù rất quan tâm đến xây dựng những cơ sở cách mạng trong tù. Từ năm 1943 trở đi, trước tình hình cách mạng ngày càng lên cao, nhưng trong địa phương thiếu cán bộ lãnh đạo, Trung ương Đảng đã chủ trương cho cán bộ ra ngoài hoạt động. Thực hiện chủ trươg ấy, một số chi bộ Đảng trong nhà tù đã tổ chức thành công một số cuộc vượt ngục. Tháng 3 – 1943, theo số liệu của Trung ương Đảng, riên nhà tù Đăk Mil – Buôn Ma Thuột đã tổ chức thành công cho 3 đồng chí vượt ngục ra ngoài hoạt động. Sau năm 1943, nhà tù đã tổ chức hai vụ, trong đó 1vụ thành công đưa được 3 đồng chí trốn thoát: Nguyễn Chí Thanh, Lê Tất Đắc, Phan Doãn Gia.., một vụ kế tiếp đưa đồng chí Bùi San, Hồng Chương nhưng bị chúng bắt lại. Một số cuộc tho thoát ra được nhưng lại không có cơ sở nuôi dấu… Điều đó cho thấy rằng: việc xây dựng cơ sở cách mạng, kể cả bên ngoài và trong binh lính có một ý nghĩa hết sức thiết thực và luôn là những suy nghĩ hành động hàng ngày của những chiến sĩ cách mạng. Đấy chính là những hạt nhân quan trọng góp phần gây dựng cơ sở cách mạng và thúc đẩy phong trào cách mạng trong các tầng lớp nhân dân. Cuối năm 1944, chi bộ nhà tù đã xây dựng được những cơ sở trong đồn lính khố xanh. Các đồng chí trong tù đã thành lập các “Hội truyền bá quốc ngữ”, một số tổ chức bán hợp pháp để hoạt động. Những hạt nhân này được nhân rộng ra các đồn điền (mạnh nhất là đồn điền CADA). Những người cộng sản chiến đấu không biết mệt mỏi mằc dù với điều kiện đặc biệt, hễ có điều kiện là họ tranh thủ giác ngộ, giáo dục binh lính, liên lạc để tuyên truyền vận động quần chúng bên ngoài. Những thủ đoạn của Pháp thâm độc khi sử dụng chiêu bài “ dùng người Thượng đánh người Kinh” nhằm chia rẽ mối đoàn kết dân tộc đã hoàn toàn thất bại trước sự đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cộng sản trong tù. Tầng lớp binh lính đã nhận thức được lẽ phải, họ bắt đầu đứng về cách mạng, đó là một động lực lớn cho cách mạng ta. Ngoài ra họ còn gây cơ sở ở trạm xá nhà tù, một cơ sở y tế cách mạng trong tù được gây dựng bên cạnh một cơ sở đầu tiên của người Êđê. Đây là những con đường thuận lợi để bắt liên lạc và nhân rộng phong trào. Ảnh huởng của những phong trào đấu tranh cách mạng trong nhà tù Buôn Ma Thuột còn lan rộng ra trong các lớp học sinh, Sở lục bộ, nhà máy đèn, nhà máy nước, Sở giáo dục, Bưu điện… Những cơ sở cách mạng dần dần được xây dựng trong các công sở ngày một nhiều. Hoạt động đấu tranh trong tù, xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển ảnh hưởng cách mạng ra ngoài là nhiệm vụ cấp bách của những đảng viên cộng sản, của chi bộ nhà tù Buôn Ma Thuột lúc này. Những hoạt động đó có tác dụng trực tiếp làm phát triển mạnh mẽ phong trào cách mạng trong tỉnh. Bởi vậy, không thể nhìn nhà tù Buôn Ma Thuột như một cái gì biệt lập với phong trào cách mạng ở đây. Trái lại, những hoạt động của họ là yếu tố hữu cơ của cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Đăk Lăk. Ảnh hưởng của những hoạt động này có một ý nghĩa hết sức to lớn, quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân các dân tộc ở Đăk Lăk. Trường THPT Buôn Ma Thuột| 11
  12. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Nhà tù Buôn Ma Thuột, với cuộc chiến đấu không mệt mỏi của các đảng viên cộng sản, thực tế đã trở thành đầu mối trung tâm, là yếu tố quyết định cho cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở tỉnh Đăk Lăk, đưa cách mạng Tháng Tám đến thành công. Bước sang năm 1945, những vận hội mới đang đến gần với cách mạng nước ta, “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Lợi dụng tình hình giao điểm của sự kiện này, cuộc đấu tranh đòi thả tù chính trị diễn ra với qui mô lớn. Bên ngoài cùng với sức sống bên trong nhà tù trở thành ngọn lửa đấu tranh thiêu rụi chính quyền thực dân. Trước áp lực đấu tranh của nhân dân… Nhật và chính quyền tay sai buộc phải giải phóng tù chính trị. Nhưng chúng lại buộc tất cả tù nhân miền xuôi phải chuyển về Nha Trang. Thế nhưng những cuộc trở về của các chiến sĩ cộng sản đã thành công, họ quay lại với đồng bào, với cách mạng nhen nhóm ngọn lửa đấu tranh. Vừa ra khỏi tù, các chiến sĩ bắt tay vào nhiệm vụ của mình, là tiếp xúc, tuyên truyền đường lối cách mạng cho nhân dân, để chuẩn bị cho thời khắc quan trọng: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945. Sự thắng lợi nhanh chóng của cách mạng Tháng Tám ở Đăk Lăk có nhiều nguyên nhân, nhưng những hoạt động của chi bộ cộng sản trong nhà đày Buôn Ma Thuột có vai trò quan trọng, quyết định to lớn – là nhân tố - đầu mối trung tâm gắn kết và thúc đẩy phong trào cách mạng thành công. Câu 5: Nêu các thành tựu nổi bật trên lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk sau 35 năm giải phóng (từ 1975 đến nay). Ý nghĩa của những thành tựu đó? Sau 35 năm giải phóng, đặc biệt là qua hơn 20 năm tiến hành đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Đắk Lắk đã thu được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhất là về kinh tế - xã hội. • Trên lĩnh vực kinh tế: Từ một nền kinh tế nhỏ bé, mang tính tự túc-tự cấp, đến nay nền kinh tế của tỉnh trong những năm qua liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, hơn mức tăng trưởng trung bình của cả nước. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001-2003 đạt 9-10%. Tổng GDP năm 2008 ( tính theo giá so sánh năm 1994) ước tính gấp 1,46 lần so với năm 2005; bình quân trong 3 năm đạt 12,68%/ năm. Trong đó, nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,23% ; công nghiệp-xây dựng tăng 19,99%, dịch vụ tăng 24,95%. Thu nhập bình quân đầu người (theo giá hiện hành) 10,98 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế năm 2008, tính theo giá so sánh năm 1994 tỷ trọng nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 55,07% trong GDP; công nghiệp-xây dựng 15,94%; thương mại - dịch vụ 28,99%. Tính theo giá hiện hành nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 59,3%; công nghiệp-xây dựng 13,9%; thương mại-dịch vụ 26,8%. Trong 9 tháng đầu năm 2009, tuy chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn được duy trì ở mức 11,16%. Sản xuất nông-lâm nghiệp hàng năm đếu có bước tăng trưởng khá và tương đối toàn diện. Từ chỗ thiếu ăn trầm trọng trong những năm đầu sau ngày giải phóng đến nay tỉnh Đắk Lắk không chỉ đáp ứng được yêu cầu lương thực tại chỗ mà còn có đủ lương thực dự trữ và đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn. Nếu như năm 1975, tổng sản lượng lương thực có hạt 61.532 tấn, năm 1985 là 209.300 tấn, năm 2003 đạt trên 851.000 tấn, đến năm 2008 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 946.789 tấn. Sau năm 1975, cả tỉnh chỉ có 200 ha ruộng lúa nước, 5.000 ha cà phê, 3.000 ha cao su thì đến nay đã có trên 25.000 ha ruộng lúa nước, 181.120 ha cà phê, 23.900 ha cao su… Sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn tạo ra nguồn nông sản hàng hóa lớn phục vụ cho xuất khẩu. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, niên vụ cà phê 2009 – 2010, Đắk Lắk chỉ đạt năng suất từ 22 đến 23 tạ cà phê nhân/ha, sản lượng cà phê nhân đạt 400.000 tấn, giảm gần 15.500 tấn so với niên vụ cà phê 2008-2009. Đắk Lắk hiện có trên 185.000 ha cà phê, trong đó có 173.233 ha cà phê kinh doanh cho thu hoạch. Trong chăn nuôi, hình thành nhiều trang trại có quy mô lớn, đàn gia súc, gia cầm không ngừng được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Năm 1975, toàn tỉnh chỉ có 3.520 con trâu, 12.629 con bò, 66.158 con heo và 165.900 con gia cầm; Trường THPT Buôn Ma Thuột| 12
  13. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột đến nay (năm 2008) đã có 29.800 trâu, 212.000 bò, 624.000 heo, 68.000 dê và 5,8 triêu gia cầm các loại, gần 170.000 đàn ong, nuôi trồng thủy sản 6.319 ha… Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã đạt được một số kết quả nhất định theo hướng tăng giá trị kinh tế tiếp tục phát triển ổn định. Năm 2008, tổng ngân sách thu trên địa bàn là 844 tỷ đồng, vượt kế hoạch 10,8%; kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh đạt trên 700 triệu usd. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp không ngừng phát triển. Tổng đầu tư trong 5 năm (2001-2006) cho các thành phần kinh tế thuộc lĩnh vực công nghiệp đạt 3.700 tỷ đồng. Một só ngành công nghiệp đã khẳng định được vị trí của nó trong nền kinh tế của tỉnh như : công nghiệp chế biến cà phê, chế biến gỗ… Một số ngành sản xuất mới xuất hiện đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất trên địa bàn như sản xuất vật liệu xây dựng, phân bón,…các cụm, khu công nghiệp đang được khai thác, đầu tư và đi vào hoạt động. Đầu tư trực tiếp nước ngaòi (FDI) có chuyển biến tốt, hiện đang có 04 dự án đang được triển khai thực hiện, với tổng số vốn đăng ký gần 20 triệu USD; khả năng thu hút vốn ODA đạt kết quả khá, hiện có 20 dự án đang triển khai thực hiện với tổng số vốn đầu tư khoảng 1.727.928 tỷ đồng. Hoạt động thương mại dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực góp phần thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng xã hội. Thị trường mở rộng đến tận vùng nông thôn, buôn làng vùng sâu vùng xa. Các dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp như: sữa chữa cơ khí, vận chuyển, sơ chế và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, bảo vệ thực vật,… phát triển đa dạng và chất lượng ngày càng cao; tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ năm 2008 ước đạt 13.770 tỷ đồng. • Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội: + Hoạt động văn hóa thông tin được đẩy mạnh, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc được giữ gìn và phát huy; toàn tỉnh có trên 70% xã có nhà văn hóa và hầu hết các thôn buôn có nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng. + Ngành giáo dục phát triển khá cả về quy mô và chất lượng. + Công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng + Công tác thực hiện chính sách xã hội được chú trọng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 16%; hàng năm tạo việc làm mới cho hàng chục nàg lao động trong đồng bào dân tộc thiểu số. + Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng được giữ vững; hệ thống chính trị ngày càng được củng cố, kiện toàn về mọi mặt. Hoạt động của các tổ chức đoàn thể quần chúng ngày càng có hiệu quả và phát triển đi vào chiều sâu. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng. Câu 6: Nêu tóm tắt mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về kinh tế - xã hội, quốc phòng-an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị do Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005-2010) đã đề ra? Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV tiến hành từ ngày 12-12-2005 đến ngày 14-12-2005 tại thành phố Buôn Ma Thuột. Về dự Đại hội có 299 đại biểu đại diện cho gần 32.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đại hội xác định tiếp tục thực hiện đồng bộ các chương trình có tính chất đột phá để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị các cấp trong tỉnh. Tập trung xây dựng các chương trình như: phát triển thủy lợi; phát triển công nghiêp - tiểu thủ công nghiệp nông thôn; phát triển kinh tế buôn, thôn; phát triển chăn nuôi; chương trình xóa đói giảm nghèo; chương trình đào tạo nhân lực… Đại hội đề ra các chỉ tiêu chủ yếu cho đến năm 2010: 1. Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 11- 12%/năm, trong đó nông – lâm nghiệp tăng 5-6%, công nghiệp – xây dựng 22-23%, thương nghiệp - dịch vụ 18-19%. Buôn Ma Thuột-Đắk Lắk ngày Trường THPT Buôn Ma Thuột| 13 càng phát triển
  14. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Cơ cấu kinh tế của tỉnh xác định là: Nông- lâm nghiệp – công nghiệp - dịch vụ; trong đó tỷ trọng nông - lâm nghiệp chiếm 48-49%, công nghiệp – xây dựng chiếm 20,5-21% và thương mại – dịch vụ chiếm 30,5 – 31%. 2. Thu nhập bình quân đầu người đạt 850 ÚD ( tính theo giá so sánh năm 1994), từ 9 - 9,5 triệu đồng ( tính theo giá hiện thời). 3. Phát triểncơ sở hạ tầng - Thủy lợi: bảo đảm tưới chủ động cho trên 70% diện tích cây trồng có nhu cầu nước tưới. - Giao thông: cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa toàn bộ các tuyến đường tỉnh lộ, đường đến trung tâm xã, 50% hệ thống đường huyện, 25% đường xã và liên xã. - Điện: 95% trở lên thôn, buôn có điện, trong đó 90 – 95% số hộ được dùng điện. Mức tiêu thụ điện bình quân 350 KW/ người/năm. 4. Nâng độ che phủ của rừng đạt 50% diện tích tự nhiên. 5. Thu ngân sách hàng: hàng năm huy động 11-12% GDP (theo giá hiện hành). 6. Phấn đấu giá trị xuất khẩu đạt từ 1.600 – 1.700 triệu usd, nhập khẩu đạt trên 100 triệu usd. 7. Huy động đầu tư toàn xã hội bình quân đạt từ 33-35% GDP, tăng bình quân hàng năm 18,5%. 8. Giảm tỷ xuất sinh hàng năm 0,1%; tốc độ tăng dân số tự nhiên đến năm 2010 còn 1,5%; dân số khoảng 1,91 triệu người ( trong đó có 30% dân số thuộc khu vực thành thị), với gần 1 triệu lao động; giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,5% mỗi năm. 9 Tất cả các trạm y tế xã có bác sĩ và đủ điều kiện làm việc; 85% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 25%. 10 Giải quýet việc làm cho 170.000 lao động, đưa tỷ lệ lao động thông qua đào tạo đến năm 2010 đạt 36%, trong đó qua đào tạo nghề 28%. 11. Tất cả các huyện, thành phố có trường dân tộc nội trú; có trung tâm giáo dục thường xuyên. Phổ cập trung học cơ sở trong độ tuổi đạt 85-90%; phấn đấu hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở vào năm 2008; 80-85% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo; 60% trường học được kiên cố hóa; 11% trường Mầm non, 52 % trường Tiểu học, 18% trường Trung học cơ sở và 23% trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. 12. Phấn đấu đến năm 2010 có 85% hộ trở lên đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa các cấp; 30% xã ,phường, thị trấn; 50% thôn, buôn, tổ dân phố; 80-85% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa; 100% buôn có nhà văn hóa cộng đồng vào năm 2007; 100% xã có đài truyền thanh vào năm 2006; phủ sóng phát thanh và truyền hình toàn tỉnh. Quy hoạch đất để xây dựng hội trường, điểm sinh hoạt văn hóa - thể thao ở 100% thôn buôn. 13. Đến năm 2010 có 100% dân cư đô thị, 70% dân cư nông thôn được dùng nước sạch. 14. xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc; giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Xây dựng lực lượng vũ trang bảo đảm số lượng, có chất lượng toàn diện. Giải quyết dứt điểm vấn đề FULRO bên trong, không để xẩy ra biểu tình, bạo loạn, vượt biên , xâm nhập trái phép. 15. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong tình hình mới, đồng thời chăm lo xây dựng hệ thống chính trị vững mạng; 100% thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ Đảng vào năm 2010; 75% số tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh; 90% đảng viên đủ tư cách hàon thành nhiệm vụ, trong đó có 35% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bình quân mỗi năm kết nạp từ 2.500 - 3.000 đảng viên. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU I/Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với việc xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống dân cư nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ phát triển công nghiệp, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nền kinh tế. Phát triển thương mại- dịch vụ theo hướng cơ cấu kinh tế mở, hội nhập tận dụng cơ hội phát triển thị trường trong nước và nước ngoài. Trường THPT Buôn Ma Thuột| 14
  15. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Đẩy mạnh vàn nâng cao chất lượng, hiệu quả quy hoạch, phát huy tối đa các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường. Làm tốt công tác quy hoạch tổng thể kinh tê – xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực bảo đảm cho định hướng phát triển lâu dài. Thực hiện chiến lược huy động các nguồn lực của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mà trọng tâm là thủy lợi, giao thông, điện, trường học, y tế với tỷ trọng lớn, trước hết là vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vùng xa. Tiếp tục củng cố phát triển các thành phần kinh tế nhằm khai thác tối đa các nguồn lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. II/ Phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân và các vấn đề xã hội Tập trung tạo chuyển biến cơ bản về giáo dục – đào tạo phục vụ yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn lực. Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Ổn định mức tăng dân số hợp lý, tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống và giải quyết việc làm cho người lao động. Thực hiện tốt chính sách dân tộc và các chính sách xã hội khác bảo đảm công bằng xã hội. Thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. III- Đảm bảo quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị để phát triển kinh tế - xã hội Các cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và các tổ chức trong hệ thống chính trị phải nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tập trung xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm tốt công tác giáo dục chính trị huấn luyện quân sự, chuyên môn nghiệp vụ sát với yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh các phương án phòng thủ, kế hoạch B, kế hoạch phòng không nhân dân nhất là phương án phòng chống gây rối, biểu tình, bạo loạn, khủng bố ở cấp xã, huyện, tỉnh. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, quan tâm đầu tư các công trình phòng thủ, quy hoạch, sắp xếp, bố trí dân cư phù hợp với thế trận phòng thủ, nhất là các điểm dân cư ở các xã biên giới, xây dựng biên giưới hòa bình, hữu nghị, ổn định lậu dài, tăng cường mối quan hệ hữu nghị với tỉnh Mondulkiri – Campuchia. Đẩy mạnh công tác phát động quần chúng, tuyên truyền giáo dục nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng. Chủ động phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu quả các tình huống xẩy ra ngay tại cơ sở; giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan đến an ninh nông thôn. Nâng cao vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; xây dựng lực lượng cơ sở cốt cán ở nông thôn, buôn vững mạnh toàn diện. Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm; kiềm chế tiến tới làm giảm vi phạm, tội phạm nhất là các tội phạm nguy hiểm, tội phạm có tổ chức, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tăng cường quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng an ninh, trật tự xã hội, đặc biệt là quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ. Nâng cao chất lượng điều tra, truy tố xét xử và thi hành án; xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật các loại tội phạm; giải quyết có hiệu quả các khiểu nại, tố cáo của nhân dân. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và các cơ quan nội chính trong sạch vững mạnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ; tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho cơ quan tư pháp. IV- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tích cực xây dựng chỉnh đốn Đảng; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện Tiếp tục xây dựng bộ máy Nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả. Trường THPT Buôn Ma Thuột| 15
  16. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột Tăng cường đoàn kết toàn dân, chăm lo xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân vững mạnh. Không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; năng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng đi vào chiều sâu, làm chuyển biến mạnh mẽ về chất. Câu 7: Viết về một tấm gương đảng viên giỏi Y on – người đảng viên “hai giỏi” Không chỉ lo làm giàu cho gia đình mình, Y On Niê còn biết chia sẻ, hỗ trợ bà con trong cộng đồng cùng vươn lên. Đối với đồng bào Ê-đê ở buôn Ea Sút, thị trấn Ea Pốc, huyện Cư Mgar (Đăk Lăk), Y On là tấm gương về người cán bộ, đảng viên “hai giỏi”. Trưởng thành và lập gia đình sau ngày đất nước giải phóng; vốn là cán bộ y tế của Nông trường cà phê Ea Pốc, nên Y On có điều kiện tiếp thu và biết áp dụng những khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trở thành tấm gương lao động giỏi ở buôn Ea Sút. ở huyện Cư Mgar cũng như cả vùng Tây Nguyên, vào những năm cà phê được giá, mọi người đua nhau trồng cà phê, cứ có đất là có cà phê. Thậm chí có gia đình trồng cà phê cả trên vùng đất bấp bênh về nguồn nước. Trong khi đó Y On có tới 20 ha đất rẫy. Rẫy của Y On ở gần suối và tiện lợi cho việc đào giếng khai thác nước ngầm phù hợp với cây cà phê. Nhưng Y On vẫn quyết định chỉ trồng 5ha cà phê, còn lại 15ha, Y On đầu tư trồng cao su tiểu điền. Năm 1992, khi Y On trồng cao su lại là thời điểm cao su đang rớt giá. Nhiều hộ dân ở Tây Nguyên chặt bỏ cao su trồng cà phê. Và việc Y On dành 15 ha đất trồng cao su đã làm cho nhiều người ngạc nhiên, thậm chí cho anh là người không thức thời. Nhưng Y On lại nghĩ khác. Anh cho rằng việc giá cả là do thị trường quyết định, khi cung thấp hơn cầu thì sản phẩm làm ra có giá cao. Đến khi mọi người đổ xô vào cùng làm cà phê, thì sản phẩm làm ra quá nhiều sẽ dư thừa, dẫn tới rớt giá. Trên thực tế có không ít người nông dân ở Tây Nguyên đã phải hứng chịu nhiều bài học cay đắng chỉ vì chạy theo giá cả thị trường, để rồi cứ chặt cây này đi trồng cây khác, sản xuất thiếu tính ổn định. Thấy được điều đó, Y On quyết định một lúc trồng hai thứ cây mũi nhọn là cà phê và cao su, để lấy cây này nuôi cây kia cho chắc ăn. Y On cho biết, ở buôn Ea Sút nói riêng, cũng như tất cả các buôn làng khác ở Tây Nguyên nói chung, trước đây đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ hộ nào cũng có 5-7 ha đất; nhiều hộ có hàng chục đến cả trăm ha. Nhưng do bà con không biết tính toán làm ăn, lại đua nhau bán đất đi lấy tiền xây nhà, mua xe, ăn tiêu lãng phí, dẫn tới thiếu đất, không có việc làm và rơi vào tình trạng nghèo đói. Ngày mới lập gia đình, đời sống của Y On cũng khó khăn lắm, nhưng ngược lại hai vợ chồng anh luôn biết bảo ban nhau làm ăn, chịu thương chịu khó. Ngoài làm rẫy, vợ chồng Y On còn chăn nuôi, nên kinh tế gia đình khấm khá dần lên. Khi có đồng tiền dư dật, anh mạnh dạn đầu tư phát triển cao su tiểu điền. Sau 10 năm đầu tư, giờ đây cây cao su đã cho thu hoạch, mỗi tháng Y On cạo được 14-15 tấn mủ, trị giá khoảng 20 triệu đồng. Chỉ tính trong năm 2004, từ trang trại cao su Y On thu được gần 200 triệu đồng; ngoài ra 4 ha cà phê, cho sản lượng 15 tấn nhân, trị giá trên 150 triệu đồng. Y On tâm sự: “Với chừng ấy cà phê và cao su mình muốn trở thành tỷ phú, có nhà lầu, xe hơi không phải là khó. Nhưng trong lúc nhiều hộ ở buôn mình còn khó khăn, mình phải có trách nhiệm với bà con”. Nghĩ thế nào làm như vậy. Từ trang trại của mình, Y On đã tạo việc làm cho hàng chục gia đình ở buôn Ea Sút, trong đó có 5 lao động thường xuyên với mức thu nhập từ 900.000 đồng đến 1,3 triệu đồng/người/tháng. Mỗi khi có hộ nào trong buôn cần sự giúp đỡ về vốn đầu tư, gạo ăn khi thiếu đói… Y On luôn sẵn lòng giúp đỡ. Mỗi năm anh dành ra hàng chục triệu đồng cho bà con trong buôn và cả những buôn khác mượn không lấy lãi. Y On không chỉ được biết đến là nông dân biết làm kinh tế giỏi, mà anh còn là người cán bộ, đảng viên có trách nhiệm với dân. Từ cán bộ y tế của Nông trường cà phê Ea Pốc, Y On được bà con và cấp uỷ, chính quyền tín nhiệm giao các chức vụ Bí thư đoàn, Phó công an, rồi Phó Chủ tịch UBND thị trấn Ea Pốc. ở cương vị nào, Y On cũng phấn đấu làm tốt nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên. Anh tâm sự: “Người cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trước hết phải thực sự gần dân, hiểu dân và phải biết nói cho dân hiểu, làm cho dân theo. Cán bộ mà không nắm chắc tư Trường THPT Buôn Ma Thuột| 16
  17. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột tưởng và đời sống của dân thì không làm được việc gì cho dân cả!”. ở Tây Nguyên, có được những cán bộ “hai giỏi” như Y On thật đáng quý Câu 8: Suy nghi, cam xuc cua ban thân về lich sử vẻ vang cua Đang bộ tinh ta qua 70 ̃ ̉ ́ ̉ ̉ ̣ ̉ ̉ ̉ năm hinh thanh và phat triên: ̀ ̀ ́ ̉ Đắk Lắk là một tỉnh nằm trên địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh. Hiện nay, sau khi chia tách tỉnh, Đắk Lắk thành Đắk Lắk (mới) và Đắk Nông, từ 1-1-2004 Đắk Lắk (mới) có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, dân số gần 1,7 triệu người, với gần 44 dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 29,5% dân số toàn tỉnh. Tỉnh Đắk Lắk nằm ở độ cao từ 400m- 600m so với mặt biển, có vùng đất bazan rộng lớn, tương đối bằng phẳng và rất màu mỡ, thích hợp với các loại cây công nghiệp, hiện có 210.000 ha cà phê với sản lượng 350.000 tấn nhân, nhiều nhất cả nước. Sản phẩm cà phê của tỉnh chiếm tỷ trọng 70% tổng giá trị kinh tế của ngành nông nghiệp. Diện tích cao su khoảng 25.000 nghìn ha với sản lượng mủ khai thác 17.000 tấn mủ khô/năm. Diện tích cây bông vải đạt trên 12.000 ha, cao nhất cả nước. Ngành công nghiệp của tỉnh phát triển chủ yếu ở các lĩnh vực chế biến nông sản với quy mô vừa và nhỏ, trên địa bàn có Nhà máy Thuỷ điện Đray H'linh với công suất 12 MW. Hiện nay, Nhà nước đang đầu tư xây dựng công trình thuỷ điện Buôn Kuốp công suất 260 MW và công trình thuỷ điện ĐrayH'linh2 với công suất 18 MW trên dòng sông Sêrêpốc. Là một tỉnh có tiềm năng lớn về kinh tế, tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng, phong phú, đặc biệt có diện tích đất và rừng khá lớn, có lợi thế trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh có bước phát triển khá, trình độ dân trí và mặt bằng văn hoá từng bước được nâng lên. Từ năm 2001 đến nay, tình hình Đắk Lắk (cũ) có những khó khăn, bất lợi, nhất là thiên tai, hạn hán và lũ lụt, giá một số mặt hàng nông sản chủ lực như cà phê, hồ tiêu giảm đã tác động xấu đến sản xuất và đời sống, song nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 2001-2003 đạt 7,84% cao hơn bình quân chung của cả nước. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp có bước phát triển khá; các ngành dịch vụ có những chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng xã hội; thị trường nông thôn nhìn chung có sự phát triển đáng kể, cơ bản đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân. Kết cấu hạ tầng phát triển khá nhanh, đã tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Các vấn đề xã hội, y tế, giáo dục từng bước có những thay đổi lớn, tích cực. Có được những kết quả trên, trước hết là sự cố gắng của tất cả nhân dân trong tỉnh, các cơ quan chức năng đã phối hợp và tranh thủ sự giúp đỡ của các Bộ, ngành có liên quan. Năm 2001- 2002, tỉnh chủ động mời 2 đoàn ngoại giao gồm 57 đại sứ, tổng lãnh sự của Việt Nam trước khi nhận nhiệm vụ tại các nước đến thăm và làm việc với lãnh đạo, các doanh nghiệp của tỉnh, giúp thực hiện nhiệm vụ quảng bá thông tin với bên ngoài về tiềm năng đất nước, con người; về nhu cầu phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội của địa phương, cũng như các thông tin về năng lực, tư cách pháp nhân của các đối tác nước ngoài. Trên thực tế, tỉnh đã kêu gọi đầu tư từ thị trường các nước có truyền thống quan hệ với Việt Nam, như: Trung Quốc, Nga, Bulgarie và thị trường các nước châu Á, các nước trong khối ASEAN. Cùng với việc thông tin qua các kênh báo chí, như họp báo, xuất bản chuyên san để giới thiệu tiềm năng về kinh tế, các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá-xã hội và con người Đắk Lắk. Hàng năm, tỉnh đã cử các đoàn cán bộ đi nghiên cứu tìm hiểu thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kết hợp thông tin giới thiệu với các đối tác tại các nước: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Úc, Pháp, Hàn Quốc, Anh, Mỹ... về chính sách mở cửa đầu tư của Việt Nam nói chung và các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, du lịch của tỉnh nói riêng. Ngoài ra, tỉnh đã xây dựng website "Đắk Lắk - Tiềm năng và triển vọng", mới đây Trung tâm xúc tiến thương mại tỉnh cũng đưa ra website vào vận hành, nhằm giới thiệu định hướng phát triển - đầu tư vào Đắk Lắk, cũng như các thông tin để tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế... Năm 2001, tỉnh tổ chức được 95 đoàn với tổng số 341 cán bộ, năm 2002 có 166 đoàn với 523 cán bộ, năm 2003 có 147 đoàn với 449 cán bộ, đi nghiên cứu tìm hiểu thị trường xuất khẩu và đối tác kinh doanh, đặc biệt là trên lĩnh vực xuất khẩu lao động bắt đầu triển khai thực hiện có kết quả, mở ra hướng đi mới trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động. Bên cạnh việc tăng cường thông tin đối ngoại, Đắk Lắk cũng không ngừng xây dựng mối quan hệ láng giềng hữu nghị với tỉnh bạn Mondunkiri, Campuchia, thiết lập quan hệ gắn bó, gần gũi, đoàn Trường THPT Buôn Ma Thuột| 17
  18. Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và 35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột kết giữa nhân dân Việt Nam nói chung, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk nói riêng. Những thành tựu trên là rất to lớn, mở cho ra hướng mới cho sự phát triển của Đắk Lắk trong thời gian tới. Nhìn lại quãng đường 70 năm qua, tỉnh Đăk Lăk đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố của lịch sử “Hết đánh Pháp lại kiên cường đánh Mĩ ” nhưng hơn thế-hôm nay Đăk Lăk càng ngày càng phát triển đi lên không ngừng về mọi lĩnh vực: chính trị, văn hoá, kinh tế… Có được như ngày hôm nay, trước hết phải kể đến vai trò lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng. Thêm nữa là nhờ sự nỗ lực của toàn thể cán bộ và nhân dân trên toàn tỉnh. Mặt khác còn nhờ ở sự cộng tác đắc lực của các tỉnh bạn…Suốt chặng đường dài đầy khó khăn ,gian khổ, hy sinh và mất mát, Đảng ta đã từng bước làm thay đổi bộ mặt của miền đất đỏ bazan đầy nắng và gió này. Đạt được những thành tựu trên đây trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, của các cơ quan , ban ngành và cùng với sự nỗ lực của toàn dân trong tỉnh Chúng ta thật tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của đảng bộ tỉnh ta! Cảm ơn Đảng đã đưa đường chỉ lối để cho bộ mặt tỉnh Đăk Lăk có nhiểu khởi sắc! Là những nhà giáo từ mọi miền Tổ quốc về đây làm công tác giáo dục, chúng ta nguyện đem hết năng lực, trí tuệ và lòng nhiệt tình của mình phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh ta ngày một tiến triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng, chúng ta quyết tâm đem công sức của mình để đào tạo thế hệ trẻ tương lai thành những nhân tài hữu ích cho quê hương đất nước. Buôn Ma Thuột, ngày 25 tháng 01 năm 2010 Trường THPT Buôn Ma Thuột| 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản