Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam đại cương

Chia sẻ: mat_den_trongveo

Phương Đông khái niệm văn hoá bắt nguồn từ tiếng Hán, văn là văn vẻ (ý đẹp lời hay) hoá là sự biến đổi giáo hoá… Chính vì vậy phương Đông khái niệm văn hoá biểu hiện thế ứng xử đẹp, vẻ đẹp của con người nặng về văn hoá chuẩn mực, đạo đức xã hội. Văn hoá là nét đẹp, thế ứng xử đẹp.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam đại cương

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HOÁ
VÀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VĂN HOÁ VIỆT NAM
1.1. Văn hóa và những đặc trưng, chức năng của nó
1.1.1. Khái niệm văn hóa
1.1.2. Những đặc trưng và chức năng của văn hoá
1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và văn minh
1.3. Văn hoá với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
1.4 Cấu trúc của hệ thống văn hoá
1.5. Các loại hình văn hoá
1.6. Điều kiện hình thành văn hoá Việt Nam
1.6.1. Tự nhiên
1.6.2. Lịch sử - xã hội
1.6.3. Con người- Chủ thể của văn hoá Việt Nam
Chương 2
DIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM
2.1. Văn hoá Việt Nam thời tiền sử
2.2. Văn hoá Việt Nam thời sơ sử
2.3. Văn hoá Việt Nam thiên niên kỷ đầu công nguyên
2.4. Văn hoá Việt Nam thời tự chủ (thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ
XIX)
2.5. Văn hoá Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945
2.6. Văn hoá Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Chương 3:
CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM

3.1. Vùng văn hóa Tây Bắc
3.2. Vùng văn hóa Đông Bắc
3.3. Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ
3.4. Vùng văn hóa Trung Bộ
3.5. Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên
3.6. Vùng văn hóa Nam Bộ
Chương 4: NHỮNG THÀNH TỐ CƠ BẢN CỦA VĂN HOÁ
VIỆT NAM
4.1. Văn hoá nhận thức
4.1.1 Nhận thức về vũ trụ: Triết lý Âm- Dương; nguyên lý Ngũ
hành; Hà đồ và Lạc thư; Tứ tượng và bát quái; lịch pháp và hệ
đếm can - chi
4.1.2. Nhận thức về con người: Con người tự nhiên và con
người xã hội
4.2. Văn hoá tổ chức đời sống tập thể
4.2.1. Tổ chức gia đình, gia tộc
4.2.2 Tổ chức nông thôn
4.2.3. Tổ chức đô thị
4.2.4. Tổ chức quốc gia
4.2.5. Tổ chức giáo dục và khoa cử
4.3 Văn hoá tổ chức đời sống cá nhân
4.3.1.Tín ngưỡng
4.3.2.Phong tục
4.3.3. Lễ hội
4.3.4. Lễ tết
4.3.5. Luật tục
4.3.6.Văn hoá giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ
4.3.7.Nghệ thuật thanh sắc và hình khối.
4.4. Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên
4.4.1 Tận dụng môi trường tự nhiên
4.4.2.Đối phó với môi trường tự nhiên
4.5. Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội
4.5.1.Giao lưu với Ấn Độ: Ấn Độ giáo,Bà la môn giáo, Phật
giáo tiểu thừa.
4.5.2.Giao lưu với Trung Hoa: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đại
thừa.
4.5.3.Giao lưu với Phương Tây: Thiên Chúa giáo.
4.5.4.Hồi giáo với văn hoá Việt Nam
KẾT LUẬN:
Văn hoá và phát triển
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam
4.5.2.Giao lưu với Trung Hoa: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đại
thừa.
4.5.3.Giao lưu với Phương Tây: Thiên Chúa giáo.
4.5.4.Hồi giáo với văn hoá Việt Nam
KẾT LUẬN:
Văn hoá và phát triển
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam
Học liệu
Học liệu bắt buộc:
1. Trần Quốc Vượng (chủ biên) Cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB Đại
học Quốc Gia Hà Nội, 1996.
2. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB TP HCM, 1996.
3. Lê Văn Chưởng, Cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB Trẻ, TP HCM,
1999.
Tài liệu tham khảo:
1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, NXB VHTT, Hà Nội,
2002.
2.Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Thành phố Hồ Chí
Minh,1990.
3. Lương Duy Thứ (chủ biên), Đại cương văn hoá Phương Đông,
NXB Giáo dục, Hà Nội 1996.
4.Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Phong tục tập quán các dân t ộc
Việt Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội,1997
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HOÁ VÀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH
VĂN HOÁ VIỆT NAM
1.1. Văn hóa và những đặc trưng, chức năng của nó
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Ở phương Đông khái niệm văn hoá bắt nguồn từ tiếng Hán, văn là
văn vẻ (ý đẹp lời hay) hoá là sự biến đổi giáo hoá… Chính vì vậy
phương Đông khái niệm văn hoá biểu hiện thế ứng xử đẹp, vẻ
đẹp của con người nặng về văn hoá chuẩn mực, đạo đức xã hội.
Văn hoá là nét đẹp, thế ứng xử đẹp. Nhà triết học nhìn nhận văn
hoá dưới dạng chinh phục nhận thức thế giới thiên nhiên, con
người trong quá trình lịch sử. Nhà dân tộc học nhìn nhận văn hoá
dưới dạng những sắc thái văn hoá đặc thù của dân tộc. Nhà văn
hoá học nhìn nhận văn hoá dưới góc độ sáng tạo văn hoá của
nhân loại. Nhà Sử học nhận thấy tiến trình phát triển văn hoá-
lịch sử con người => Chính vì vậy cách tiếp cận về khái niệm
văn hoá rất đa tuyến và nhiều chiều.
Từ "văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ
những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau.
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa
thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối
sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để
chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hóa
Đông Sơn),...
-Với ông Taylor lần đầu tiên văn hoá có 1 định nghĩa:
“Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ
phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật,
đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng
tập quán khác mà con người có được với tư cách là
một thành viên của xã hội.
̉ ́ ́ ́
-Federico Mayor, Tông giam đôc UNESCO, cho biêt:
"Đôi với môt số người, văn hoa chỉ bao gôm những
́ ̣ ́ ̀
kiêt tac trong cac linh vực tư duy và sang tao; đôi với
̣́ ́̃ ́ ̣ ́
nhưng người khac, văn hoa bao gôm tât cả những gì
̃ ́ ́ ̀ ́
lam cho dân tôc nay khac với dân tôc khac, từ những
̀ ̣ ̀ ́ ̣ ́
san phâm tinh vi hiên đai nhât cho đên tin ngưỡng,
̉ ̉ ̣ ̣ ́ ́́
phong tuc, tâp quan, lôi sông và lao đông. Cach hiêu
̣ ̣ ́ ́́ ̣ ́ ̉
thứ hai nay đã được công đông quôc tế châp nhân tai
̀ ̣ ̀ ́ ́ ̣̣
Hôi nghị liên chinh phủ về cac chinh sach văn hoa hop
̣ ́ ́ ́ ́ ́ ̣
̣
năm 1970 tai Venise“.
- Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc,
ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng
tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn" .
- Theo ông Trần Ngọc Thêm: Văn hoá là một hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội của mình
Ban đầu khái niệm văn hoá là từ gốc la tinh
(culture) có nguồn gốc là vun trồng. Khái niệm
văn hoá của phương Tây nặng về chinh phục,
cải tạo tự nhiên. Sau này nó phát triển và lý giải
theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận.
Văn hoá là biểu hiện của phương thức sống của
con người. Cho đến nay, các nhà khoa học đã
thống kê có trên 500 định nghĩa về văn hoá. Sở dĩ
có nhiều định nghĩa về văn hoá bởi có nhiều
ngành khoa học khác nhau tìm hiểu về văn hoá,
lấy văn hoá làm đối tượng nghiên cứu.
Như vậy, văn hoá là sự sáng tạo của con người,
là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng
đồng người nhất định. Văn hoá là lối sống
của cộng đồng người, của xã hội và hệ thống
các giá trị. Văn hoá là sản phẩm của con
người nhằm sản sinh ra những giá trị vật chất
và tinh thần phục vụ cho chính bản thân con
người. Văn hoá là quá trình biến đổi cái tự
nhiên tạo nên những khuôn mẫu mới và là dấu
ấn của cộng đồng tộc người về mọi phương
diện vật chất và ý thức cũng như nhân sinh
quan và thế giới quan (ứng xử với môi trường
tự nhiên và xã hội).
Văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo
ra, là nhân hóa.
Văn hóa là tất cả những gì không phải của tự
nhiên.
Văn hóa là cái gì phân biệt được con người ta
với các sinh vật khác, là cái phần của môi
trường do con người sáng tạo ra.
Văn hóa là đối lập với tự nhiên...
Con người mong muốn càng ngày càng trở nên
con người hơn . Nhân loại mong muốn tiến đến
một nhân loại tiến bộ hơn. Văn hóa hướng tới
một nền văn hóa ngày càng cao, hoàn hảo hơn,
nhân bản hơn. Văn hóa là cái nhân loại có rồi,
nhưng luôn luôn còn thiếu. Nghị trưởng Pháp
Edouard Herriot nói: “Văn hóa là cái còn lại khi
người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi
người ta đã học tất cả” ( La culture c’ est ce qui
rest quand on a tout oublié, c’ est ce qui manque
quand on a tout appris).
1.1.2. Những đặc trưng và chức năng của văn hoá :
Trước đây người ta chia văn hoá thành hai lĩnh vực vật
chất và tinh thần, UNESCCO phân chia văn hoá thành
hai lĩnh vực văn hoá hữu thể - văn hoá vô thể, văn hoá
vật thể - phi vật thể… Gần đây với những góc độ tiếp
cận khác nhau các nhà nghiên cứu văn hoá có trình bày
các đặc trưng, chức năng của văn hoá như sau:
+ Ông Tạ Văn Thanh: Chức năng chính của văn hoá là
chức năng giáo dục, và các chức năng dưới đây góp
phần thực hiện các chức năng trên:
- Chức năng nhận thức
- Chức năng định hướng, đánh giá xác định chuẩn
mực, điều chính xã hội, điều chỉnh cách ứng xử của
con người.
-Chức năng giao tiếp
- Chức năng đảm bảo tính kế tục lịch sử
-Trong giáo trình Văn hoá Xã hội chủ nghĩa có trình bày các
chức năng của văn hoá:
- Chức năng giáo dục; Chức năng nhận thức; Chức năng
thẩm mỹ; Chức năng dự báo;Chức năng giải trí
Sở dĩ có sự khác nhau trong cách trình bày các chức năng
của văn hoá là do góc độ tiếp cận của từng tác giả khác
nhau hay là cách nói khác nhau về cùng một chức năng
văn hoá.
Theo ông Trần Ngọc Thêm các đặc trưng và chức năng của
văn hoá như sau:
a. Nói đến văn hoá là nói đến tính hệ thống. Sự phân biệt
tính hệ thống với tính tập hợp giúp chúng ta hiểu biết
những sợi dây liên hệ vô hình nhằm phát hiện ra những
đặc trưng và tìm ra quy luật hình thành và phát triển của
văn hoá trong thời điểm lịch sử nhất định.
Nhờ có tính hệ thống mà văn hoá với tư cách là đối tượng bao trùm
mọi hoạt động xã hội thực hiện chức năng tổ chức xã hội. Chính
văn hoá thường xuyên làm tăng tính ổn định của xã hội.
b. Đặc trưng thứ 2 của văn hoá đó là tính giá trị. Văn hoá theo nghĩa
thuần nhất của nó trở nên đẹp và có giá trị. Ở đây tính giá trị là
chuẩn để phân biệt với phi giá trị. Trong tính giá trị chúng ta có
thể phân chia thành:
- Về mục đích: giá trị vật chất của văn hoá và giá trị tinh thần.
Không phân biệt rạch ròi giữa mục đích vật chất và tinh thần.
- Về ý nghĩa: Có thể phân chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức
và giá trị thẩm mỹ.
- Về thời gian: giúp chúng ta nhìn nhận sự vật hiện tượng khách
quan khoa học (đồng đại và lịch đại)… Điều này giúp văn hoá
thực hiện chức năng thứ 2 của mình là điều chỉnh xã hội, giúp xã
hội cân bằng và tự hoàn thiện theo đúng quy luật đồng thời nó
cũng thích ứng với những biến đổi của môi trường xã hội giúp
định hướng các hệ thống giá trị chuẩn mực làm động lực cho sự
phát triển của xã hội.
c. Đặc trưng thứ 3 của văn hoá là tính nhân sinh. Tính nhân sinh cho
phép phân biệt văn hoá như hiện tượng xã hội (chủ thể sáng tạo
văn hoá) với các giá trị của tự nhiên. Văn hoá là tất cả những gì
con người tác động vào tự nhiên mang tính vật chất hay tinh thần
để tạo nên văn hoá cho chính mình. Tính nhân sinh của đặc trưng
văn hoá gắn liền với hoạt động của con người trong xã hội. Văn
hoá trở thành công cụ giao tiếp quan trọng và trở thành chức
năng giao tiếp (nếu ngồn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn
hoá là nội dung của sự giao tiếp).
d. Văn hoá được hình thành trong quá trình tồn tại và phát triển của
mỗi cộng đồng dân tộc. Văn hoá cũng được tích luỹ qua nhiều
thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hoá một chiều sâu. Trong quá
trình lịch sử văn hoá tự tiếp biến, biến đổi cho phù hợp với các
giá trị đương đại. Chính vì vậy tính lịch sử vô cùng quan trọng
trong tiến trình phát triển văn hoá. những giá trị văn hoá tương
đối ổn định: kinh nghiệm tập thể trong trị thuỷ, chống ngoại
xâm, lao động sản xuất…) qua thời gian và không gian lịch sử
nhất định được đúc kết thành các khuôn mẫu xã hội và cố định
dưới các dạng: ngôn ngữ, phong tục, tập quán lễ nghi, pháp
luật…
Truyền thống văn hoá tồn tại nhờ vào chức năng giáo dục của văn
hoá. Chính chức năng giáo dục của văn hoá (những giá trị văn
hoá ổn định và đang hình thành) đã dần tạo nên những hệ thống
chuẩn mực mà con người chủ thể của văn hoá phải tiếp thu,
phát tín hiệu để hình thành nhân cách. Chức năng giáo dục
hướng lý tưởng cao đẹp, đạo đức của con người vào điều hay
lẽ phải theo khuôn mẫu xã hội quy định.
1.2. Mối quan hệ giữa văn hoá và văn minh NHOM 1
Lâu nay, không it người vân sử dung "văn minh" (civilization,
́ ̃ ̣
civilisation) như môt từ đông nghia với "văn hoa". Thực ra, như
̣ ̀ ̃ ́
viên sĩ D. Likhacho[1990] có nhân xet, "đây là những khai niêm
̣ ̣ ́ ́ ̣
gân gui, có liên quan mât thiêt với nhau, song không đông nhât.
̀ ̃ ̣ ́ ̀ ́
Văn hoa giau tinh nhân ban, nó hướng tới những giá trị muôn
́ ̀́ ̉
thuơ; trong khi đó thì văn minh hướng tới sự hợp ly, săp đăt cuôc
̉ ́́ ̣ ̣
sông sao cho tiên lợi". Noi đên văn minh, người ta chủ yêu nghĩ
́ ̣ ́́ ́
đên cac tiên nghi vât chât. Văn minh là giai đoạn phát triển của xã
́ ́ ̣ ̣ ́
hội đối lập với giai đoạn mông muội, dã man. Theo quy luật tất
cả các dân tộc sẽ bước vào thời đại “văn minh” sau khi đã trải
qua giai đoạn”mông muội, dã man”.
Đối với nền văn minh nhân loại thì chính trị được
xuất hiện như nền tảng đầu tiên. Bởi lẽ khi con
người quần tụ lại thành xã hội, thì điều thiết yếu
đầu tiên là làm sao con người có thể cùng chung
sống với nhau một cách an ninh, và thế là chính trị
xuất hiện. Aristote nói: “Chính trị là nghệ thuật
quyền lực mạnh nhất”.
Đường sắt, ga xe lửa, xe hơi tiện nghi, sân bay
hiện đại, rạp hát đa chức năng, nghi lễ tôn giáo
nhanh,gọn giản tiện... ? Một xã hội sống trong
nhân ái công bằng là nhờ ở nền chính trị tiến bộ,
nền chính trị ấy chẳng là gì khác hơn là theo đuổi
công bằng cho xã hội.
Khi sắt thép càng được khai thác rầm rộ, khoa học kỹ
thuật quân sự phát triển thì con người càng rơi vào
thảm họa diệt chủng bằng chính vũ khí tàn khốc của
mình, khi xã hội càng giải phóng những tập tục của
mình thì xã hội càng rơi vào lối sống buông thả, phóng
dật, và những bệnh dịch phi luân càng ngày càng phát
triển: nạn đồng tính luyến ái, lưỡng dục, AIDS... khi
người ta càng giải phóng phụ nữ thì phụ nữ ngày càng
bị hạ thấp nhân phẩm, thân xác bị biến thành phương
tiện hoá để phục vụ nền công nghệ trục lợi phái đẹp,
hay hội chợ thương mại hoá đàn bà (instrumentalization
de la femme), Sradadhkrishnan nói: “Sự đầu hàng của
con người trước quyền lực của vật chất là nhược điểm
chính của nền văn minh hiện đại”.
Văn minh là gì? Nó chẳng là gì khác hơn là cách thức của
đời sống hơn là chính đời sống. Một con người có văn hoá
không phải vì anh ta ngồi trong xe hơi mà là cách thức
ngồi của anh ta. Một xã hội có văn minh, không phải xã
hội có xe hơi, rạp hát, hay trường đại học, mà ở chỗ xã
hội đó sống trong những giá trị văn minh đã được khai
sáng. Một nhà hát dù to nhưng đó chưa phải là giá trị văn
hoá khi mà những gánh diễn bên trong vẫn phô diễn
những trò vô văn hoá. Một xã hội nhà cao cửa rộng, người
xe tấp nập, không hẳn đã văn minh khi những công dân
của nó sống bê tha, bừa bãi, phóng túng, phi luật pháp,
phép tắc và đạo lý. White Head nói: “Các nền văn minh chỉ
có thể hiểu được bởi những người được văn minh hoá”.
Văn minh là sự giao thoa, giao tiếp các giá trị của toàn thể nhân loại
trong đời sống của mỗi dân tộc. Văn minh chủ yếu liên quan đến
kỹ thuật làm chủ thế giới, biến đổi thế giới sao cho đáp ứng đòi
hỏi của con người. Như vây, văn hoa và văn minh khac nhau ̣ ́ ́
trước hêt là ở tinh giá trị: trong khi văn hoa là môt khai niêm bao
́ ́ ́ ̣ ́ ̣
trum, nó chứa cả cac giá trị vât chât lân tinh thân, thì văn minh
̀ ́ ̣ ́̃ ̀
thiên về cac giá trị vât chât mà thôi.
́ ̣ ́
Văn hoa và văn minh con khac nhau ở tinh lich sử: trong khi văn hoa
́ ̀ ́ ́ ̣ ́
luôn luôn có bề day cua quá khứ (tinh lich sử) thì văn minh chỉ là
̀ ̉ ́ ̣
môt lat căt đông đai, nó chỉ cho biêt trinh độ phat triên cua văn
̣́ ́ ̀ ̣ ́ ̀ ́ ̉ ̉
hoa; từ "văn minh" có thể được đinh nghia khac nhau trong cac từ
́ ̣ ̃ ́ ́
điên khac nhau, song chung thường có chung môt net nghia là noi
̉ ́ ́ ̣́ ̃ ́
đên "trinh độ phat triên".
́ ̀ ́ ̉
Văn minh luôn là đăc trưng cua môt thời đai: nêu như vao thế kỷ
̣ ̉ ̣ ̣ ́ ̀
XIX, chiêc đâu may hơi nước đã từng là biêu tượng cua văn minh
́ ̀ ́ ̉ ̉
thì sang thế kỷ XX, nó trở thanh biêu tượng cua sự lac hâu, ̀ ̉ ̉ ̣ ̣
nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và may vi tinh. Môt dân tôc có trinh ́ ́ ̣ ̣ ̀
độ văn minh cao vân có thể có môt nên văn hoa rât ngheo nan, và
̃ ̣̀ ́ ́ ̀ ̀
ngược lai, môt dân tôc lac hâu vân có thể có môt nên văn hoa
̣ ̣ ̣ ̣ ̣ ̃ ̣ ̀ ́
́
phong phu.
Và sự khac biêt về nguôn gôc: Văn hoa găn bó nhiêu hơn với phương
́ ̣ ̀ ́ ́ ́ ̀
Đông nông nghiêp, con văn minh găn bó nhiêu hơn với phương Tây
̣ ̀ ́ ̀
đô thị. Cac nên văn hoa cổ đai hinh thanh từ trên hai nghin năm trước
́ ̀ ́ ̣̀ ̀ ̀
công nguyên như Ai Câp, Lưỡng Ha, Ân Đô, Trung Hoa... đêu là san ̣ ̀́ ̣ ̀ ̉
phâm cua phương Đông. Nên văn hoa phương Tây sớm nhât là văn
̉ ̉ ̀ ́ ́
hoa Hy Lap thì cung sau cac nên văn hoa phương Đông cổ đai tới
́ ̣ ̃ ́ ̀ ́ ̣
hang nghin năm (thế kỷ XI-III trước công nguyên) và được hinh
̀ ̀ ̀
thanh trên cơ sở tiêp thu những thanh tựu cua cac nên văn hoa
̀ ́ ̀ ̉ ́ ̀ ́
phương Đông gân nó nhât là Ai Câp và Lưỡng Hà - từ hệ thông thân
̀ ́ ̣ ́ ̀
thoai, lich phap cho đên chữ viêt - chỗ nao cung thây dâu ân cua anh
̣̣ ́ ́ ́ ̀ ̃ ́ ́́ ̉̉
hưởng phương Đông. Về vị trí và đăc điêm kinh tế thì cac nên văn ̣ ̉ ́ ̀
hoa phương Đông đêu hinh thanh ở lưu vực cac con sông lớn là
́ ̀ ̀ ̀ ́
nhưng nơi san xuât nông nghiêp.
̃ ̉ ́ ̣
Trong cac ngôn ngữ phương Tây, từ "văn hoa" băt nguôn từ chữ cultus
́ ́ ́ ̀
tiêng La-tinh có nghia là "trông trot". Từ trông trot phat triên ra nghia
́ ̃ ̀ ̣ ̀ ̣ ́ ̉ ̃
chăm soc (cây côi), từ "chăm soc (cây côi)" dân đên chăm soc (con
́ ́ ́ ́ ̃ ́ ́
người) = giao duc. Trong khi đó thì từ "văn minh" trong cac ngôn
́ ̣ ́
ngữ phương Tây đêu băt nguôn từ chữ civitas tiêng La-tinh có nghia
̀ ́ ̀ ́ ̃
là "thanh phô". ̀ ́
Nghia gôc nay keo theo minh hang loat từ và nghia phai sinh trong cac ngôn
̃ ́ ̀ ́ ̀ ̀ ̣ ̃ ́ ́
ngữ châu Âu: "thị dân", "công dân" (civilis)..., từ đó đên civilisation, ́
civilization là "lam cho trở thanh đô thi", đây đủ tiên nghi như đô thị (=
̀ ̀ ̣ ̀ ̣
văn minh).
Sự khac biêt cua văn hoa và văn minh về giá trị tinh thân và tinh lich sử dân
́ ̣̉ ́ ̀ ́ ̣ ̃
đên sự khac biêt về pham vi: Văn hoa mang tinh dân tôc, bơi lẽ nó có giá
́ ́ ̣ ̣ ́ ́ ̣ ̉
trị tinh thân và tinh lich sử, mà cai tinh thân và cai lich sử là cua riêng,
̀ ́ ̣ ́ ̀ ̣́ ̉
không dễ gì mua ban hoăc thay đôi được; con văn minh thì có tinh quôc
́ ̣ ̉ ̀ ́ ́
tế, nó đăc trưng cho môt khu vực rông lớn hoăc cả nhân loai, bởi lẽ nó
̣ ̣ ̣ ̣ ̣
chứa giá trị vât chât, mà cai vât chât thì dễ phổ biên, lây lan.
̣ ́ ̣́ ́ ́

Như vây, VĂN MINH (văn = vẻ đep, minh = sang) là khai niêm mang tinh
̣ ̣ ́ ́ ̣ ́
quôc tê, có nguôn gôc từ phương Tây đô thị và chỉ trinh độ phat triên
́́ ̀ ́ ̀ ́ ̉
nhât đinh cua văn hoa chủ yêu về phương diên vât chât.
̣́ ̉ ́ ́ ̣ ̣ ́
Ở Viêt Nam con có cac khai niêm "văn hiên" và "văn vât". Từ điên thường
̣ ̀ ́ ́ ̣ ́ ̣ ̉
đinh nghia văn hiên là "truyên thông văn hoa lâu đời", con văn vât là
̣ ̃ ́ ̀ ́ ́ ̀ ̣
"truyên thông văn hoa biêu hiên ở nhiêu nhân tai và nhiêu di tich lich
̀ ́ ́ ̉ ̣ ̀ ̀ ̀ ́ ̣
sử", "công trinh, hiên vât có giá trị nghệ thuât và lich sử". So sanh cac
̀ ̣ ̣ ̣ ̣ ́ ́
đinh nghia nay, ta thây "văn hiên" và "văn vât" thực ra chỉ là những khai
̣ ̃ ̀ ́ ́ ̣ ́
niêm bộ phân cua "văn hoa", chung chỉ khac văn hoa ở độ bao quat cac
̣ ̣ ̉ ́ ́ ́ ́ ́́
giá tri:
̣
Văn hiên là văn hoa thiên về "truyên thông lâu đời", mà truyên
́ ́ ̀ ́ ̀
thông lâu đời con lưu giữ được không bị chiên tranh và thời gian
́ ̀ ́
huy hoai chinh là cac giá trị tinh thân, con văn vât là văn hoa thiên
̉ ̣ ́ ́ ̀ ̀ ̣ ́
về cac giá trị vât chât (nhân tai, di tich, công trinh, hiên vât).
́ ̣ ́ ̀ ́ ̀ ̣ ̣
Chinh vì vây mà ông cha ta thường noi đât nước ta có hàng ngàn
́ ̣ ́ ́
năm văn hiên (chứ không noi ...văn vât, vì trai qua hàng ngàn
́ ́ ̣ ̉
năm, phân lớn cac giá trị vât chât đã bị tan pha), nhưng lai noi Hà
̀ ́ ̣ ́ ̀ ́ ̣́
Nôi - Thăng Long ngan năm văn vât (vì trong 1000 năm trở lai
̣ ̀ ̣ ̣
đây, từ khi Lý Công Uân đinh đô ở Thăng Long, cac giá trị vât
̉ ̣ ́ ̣
chât con lưu giữ được nhiêu).
́̀ ̀
Phương Tây không có hai khai niêm "văn hiên" và "văn vât", cho
́ ̣ ́ ̣
nên hai khai niêm nay không thể dich ra cac ngôn ngữ phương
́ ̣ ̀ ̣ ́
Tây được. Văn vât và văn minh tuy cung thiên về giá trị vât chât,
̣ ̀ ̣ ́
nhưng lai rât khac xa nhau.
̣́ ́
1.3. Văn hoá với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
(Đọc tài liệu)
1.4.Cấu trúc của hệ thống văn hóa:
Theo cach nhin truyên thông, văn hoa có câu truc hai phân rât đơn
́ ̀ ̀ ́ ́ ́ ́ ̀́
gian: văn hoa vât chât và văn hoa tinh thân. Câu truc nay không
̉ ́ ̣ ́ ́ ̀ ́ ́ ̀
sai, nhưng nó là câu truc cơ sở, rât đơn gian, không thể cho thây
́ ́ ́ ̉ ́
hêt được sự phong phú và phức tap cua hệ thông văn hoa.
́ ̣ ̉ ́ ́
+ L. White phân chia văn hoa thanh ba tiêu hê: công nghê, xã hôi và ́ ̀ ̉ ̣ ̣ ̣
tư tưởng. Đao Duy Anh dựa theo F. Sartiaux mà chia văn hoa
̀ ́
thanh ba phân: sinh hoat kinh tê, sinh hoat xã hôi và sinh hoat trí
̀ ̀ ̣ ́ ̣ ̣ ̣
thức. Nhom Văn Tân thì phân biêt văn hoa vât chât, văn hoa xã
́ ̣ ́ ̣ ́ ́
hôi và văn hoa tinh thân; nhưng văn hoa xã hôi (phong tuc, tâp
̣ ́ ̀ ́ ̣ ̣ ̣
quan...) đâu có năm ngoai văn hoa tinh thân? M.S. Kagan cung
́ ̀ ̀ ́ ̀ ̃
́ ̀ ́ ́ ̣ ́ ̣ ́
chia văn hoa ra ba thanh tô, trong đo, bên canh văn hoa vât chât
và văn hoa tinh thân là văn hoa nghệ thuât;nhưng có nghệ thuât
́ ̀ ́ ̣ ̣
nao lai không phuc vụ cac nhu câu tinh thân?
̣̀ ̣ ́ ̀ ̀
+ Môt số tac giả khac noi đên bôn thanh tố như văn hoa san xuât,
̣ ́ ́ ́́ ́ ̀ ́̉ ́
văn hoa xã hôi, văn hoa tư tưởng, văn hoa nghệ thuât [Ngô Đức
́ ̣ ́ ́ ̣
Thinh 1987], hoăc hoat đông sinh tôn, hoat đông xã hôi, hoat
̣ ̣ ̣̣ ̀ ̣̣ ̣ ̣
đông tinh thân, hoat đông nghệ thuât [Nguyên Tân Đăc].
̣ ̀ ̣̣ ̣ ̃ ́ ́
• Trên cơ sở nay, chung tôi thây hợp lý hơn cả là xem văn hoa
̀ ́ ́ ́
như môt hệ thông gôm bôn thanh tố (bôn tiêu hê) cơ ban, môi
̣ ́ ̀ ́ ̀ ́ ̉ ̣ ̉ ̃
tiêu hệ lai có hai vi hệ nhỏ hơn như sau: Môi nên văn hoa đêu là
̉ ̣ ̃̀ ́ ̀
tai san cua môt công đông người nhât đinh - môt chủ thể văn
̀̉ ̉ ̣̣ ̀ ̣́ ̣
hoa. Trong quá trinh tôn tai và phat triên, công đông người - chủ
́ ̀ ̣̀ ́ ̉ ̣ ̀
thể văn hoa đó luôn có nhu câu tim hiêu, và do vây đã tich luy
́ ̀̀ ̉ ̣ ́ ̃
được môt kho tang kinh nghiêm và tri thức phong phú về vũ trụ
̣ ̀ ̣
và về ban thân con người - đó chinh là hai vi hệ cua tiêu hệ văn
̉ ́ ̉ ̉
hoa nhân thức.
́ ̣
• Tiêu hệ thứ hai liên quan trực tiêp đên những giá trị văn hoa nôi
̉ ́ ́ ́ ̣
tai cua công đông người - chủ thể văn hoa: đó là văn hoa tổ
̣̉ ̣ ̀ ́ ́
chức công đông. Nó bao gôm hai vi hệ là văn hoa tổ chức đời
̣ ̀ ̀ ́
sông tâp thể (nhưng vân đề liên quan đên tổ chức xã hôi trong
́ ̣ ̃ ́ ́ ̣
môt quy mô rông lớn như tổ chức nông thôn, quôc gia, đô thi),
̣ ̣ ́ ̣
và văn hoa tổ chức đời sông cá nhân (nhưng vân đề liên quan
́ ́ ̃ ́
đên đời sông môi người như tin ngưỡng, phong tuc, đao đức,
́ ́ ̃ ́ ̣ ̣
văn hoa giao tiêp, nghệ thuât...).
́ ́ ̣
• Công đông người (chủ thể văn hoa) hiên nhiên là tôn tai trong
̣ ̀ ́ ̉ ̣̀
quan hệ với hai loai môi trường - môi trường tự nhiên (thiên ̣
nhiên, khí hâu, v.v.) và môi trường xã hôi (hiêu ở đây là cac xã
̣ ̣ ̉ ́
hôi, dân tôc, quôc gia lang giêng). Cho nên, hệ thông văn hoa con
̣ ̣ ́ ́ ̀ ́ ́ ̀
bao gôm hai tiêu hệ nữa liên quan đên cach thức xử sự cua công
̀ ̉ ́ ́ ̉ ̣
đông dân tôc với hai loai môi trường ây. Hai tiêu hệ đó là văn
̀ ̣ ̣ ́ ̉
hoa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hoa ứng xử với
́ ́
môi trường xã hôi. ̣
• Vơi môi loai môi trường, đêu có thể có hai cach xử thế phù hợp
́ ̃ ̣ ̀ ́
vơi hai loai tac đông cua chung (tao nên hai vi hê): tân dung môi
́ ̣́ ̣ ̉ ́ ̣ ̣ ̣ ̣
trường (tac đông tich cực) và đôi phó với môi trường (tac đông
́ ̣ ́ ́ ́ ̣
tiêu cực). Với môi trường tự nhiên, có thể tân dung để ăn uông ̣ ̣ ́
và giữ gin sức khoe, để tao ra cac vât dung hang ngay...; đông
̀ ̉ ̣ ́ ̣̣ ̀ ̀ ̀
thơi phai đôi phó với thiên tai (trị thuy), với khoang cach (giao
̀ ̉ ́ ̉ ̉ ́
thông), vơi khí hâu và thời tiêt (quân ao, nhà cửa, kiên truc). Với
́ ̣ ́ ̀́ ́ ́
môi trường xã hôi, băng cac quá trinh giao lưu văn hoa, tiêp biên
̣ ̀ ́ ̀ ́ ́ ́
văn hoa, môi dân tôc đêu cố găng tân dung cac thanh tựu cua cac
́ ̃ ̣ ̀ ́ ̣ ̣ ́ ̀ ̉ ́
dân tôc, quôc gia lân bang để lam giau thêm cho nên văn hoa cua
̣ ́ ̀ ̀ ̀ ́ ̉
minh; đông thời lai phai lo đôi phó vơi họ trên cac măt trân quân
̀ ̀ ̣ ̉ ́ ́ ́ ̣ ̣
sự, ngoai giao … ̣
1.5 Các loại hình văn hoá:TIN HOC, NHOM 3
So sanh cac nên văn hoa trên thế giới, người ta thây chung vô cung đa
́ ́ ̀ ́ ́ ́ ̀
dang và phong phu. Chinh vì vây mà khi noi đên chung, người ta
̣ ́ ́ ̣ ́́ ́
thường liêt kê; chăng han, Arnold Toynbee kể ra 38 nên văn minh
̣ ̉ ̣ ̀
thế giới, trong đó văn minh Viêt Nam xêp canh văn minh Triêu ̣ ́ ̣ ̀
Tiên, Nhât Ban. Song, cung đã từ lâu, người ta nhân thây giữa cac
̣ ̉ ̃ ̣ ́ ́
nên văn hoa có không it net tương đông.
̀ ́ ́́ ̀
Từ cuôi thế kỷ XIX ở Tây Âu đã phổ biên thuyêt Khuêch tan văn hoa
́ ́ ́ ́ ́ ́
(cultural diffusion) vơi những đai biêu như F. Ratsel, L. Frobenius,
́ ̣ ̉
F. Grabner, W.Schmidt ở Đức, Ao; G. Elliot Smith, W. Rivers ở ́
Anh... Quan điêm chủ yêu cua những người theo thuyêt nay là văn
̉ ́ ̉ ́̀
hoa được hinh thanh từ môt trung tâm rôi được "truyên ba", "lan
́ ̀ ̀ ̣ ̀ ̀ ́
toa" ra cac nơi khac băng cach mô phong hoăc nhờ những cuôc
̉ ́ ́ ̀ ́ ̉ ̣ ̣
thiên di cua cac dân tôc. Có lan toa toan bộ hoăc lan toa bộ phân
̉ ́ ̣ ̉ ̀ ̣ ̉ ̣
(truyên bá những yêu tố riêng lẻ cua môt nên văn hoa); lan toa tiên
̀ ́ ̉ ̣̀ ́ ̉
phat (trực tiêp từ nơi phat sinh) hoăc lan toa thứ sinh. Viêc cực
́ ́ ́ ̣ ̉ ̣
đoan hoa thuyêt nay đã dân đên chỗ bị giới câm quyên thực dân lợi
́ ́̀ ̃ ́ ̀ ̀
dung để đề cao dân tôc nay và khinh rẻ cac dân tôc khac, đi ngược
̣ ̣ ̀ ́ ̣ ́
lai quyên lợi cua con người.
̣ ̀ ̉
Đâu thế kỷ XX, từ những ý kiên cua F. Boas, cac nhà
̀ ́ ̉ ́
nhân chung hoc Mỹ C.L. Wisler và A.L. Kroeber đã
̉ ̣
phan đôi thuyêt khuyêch tan văn hoa và đề xuât thuyêt
̉ ́ ́ ́ ́ ́ ́ ́
vung văn hoa (cultural areas). Trên cơ sở nghiên cứu
̀ ́
văn hoa cac dân tôc da đỏ My, cac tac giả nay đã khăng
́ ́ ̣ ̃́́ ̀ ̉
đinh sự tôn tai cua nhiêu dân tôc trên cung môt vung
̣ ̣̀̉ ̀ ̣ ̀ ̣ ̀
lanh thổ mà văn hoa cua họ có những điêm chung.
̃ ́ ̉ ̉
Nghĩa là các dân tộc ở cùng một vị trí tương đồng sẽ
hình thành nên những đặc trưng chung về văn hoá.
Họ chú ý đến yếu tố địa/ văn hoá và phân loại ra
nhiều cấp độ: văn hoá vùng (phương Đông- Phương
Tây), các vùng và tiểu vùng trong khu vực nhất định.
Trong cùng một quốc gia có các vùng văn hoá và các
tiểu vùng.
Văn hoá vùng cũng kết hợp các nhân tố lịch sử, kinh tế-
xã hội là cách phân loại hợp lý về các loại hình văn
hoá.
Từ cach tiêp cân vung văn hoa trên cơ sở môt đăc trưng han
́ ́ ̣ ̀ ́ ̣̣ ̣
hep, C.L. Wisler và môt số tac giả về sau đã đi đên kêt
̣ ̣ ́ ́ ́
luân về sự cân thiêt lựa chon môt tâp hợp những đăc
̣ ̀ ́ ̣ ̣̣ ̣
trưng, tao nên tip, hay loai hinh văn hoa vung.
̣ ̣̀ ́ ̀
Trên cơ sở quan điêm nay, từ những năm 30, trong dân tôc
̉ ̀ ̣
hoc Xô-viêt đã hinh thanh thuyêt loai hinh kinh tế - văn
̣ ́ ̀ ̀ ́ ̣̀
hoa mà đai biêu là N.N. Cheboksarovà môt số tac giả
́ ̣ ̉ ̣ ́
khac. Họ cho rằng các dân tộc trên thế giới cách xa nhau
́
không có liên hệ chung với nhau nhưng có 2 yếu tố
chung: Sống trong một môi trường địa lý có sự tương
đồng, có cùng một loại hình kinh tế thì sẽ sản sinh ra
những đặc trưng văn hoá giống nhau. Đây chính là loại
hình kinh tế -văn hoá. Cac hoc giả nay cho răng trong ́ ̣ ̀ ̀
lich sử văn hoa nhân loai từng tôn tai ba nhom loai hinh
̣ ́ ̣ ̣̀ ́ ̣̀
kinh tế - văn hoa: loai hinh kinh tế - văn hoa săn băt, hai
́ ̣̀ ́ ́ ́
lượm và đanh ca; loai hinh kinh tế - văn hoa nông nghiêp
́ ́ ̣̀ ́ ̣
dung cuôc và chăn nuôi; loai hinh kinh tế văn hoa nông
̀ ́ ̣̀ ́
nghiêp dung cay với sức keo đông vât [xem:
̣ ̀ ̀ ́ ̣ ̣
Cheboksaro1971].
• Nguyên lý và cơ sở của các loại hình văn hoá: Thông qua các
thuyết luận trên, sự giống nhau của văn hoá nhân loại xuất
hiện, bắt nguồn từ nguyên lý tự nhiên, lịch sử, con người dân
cư, dân tộc… các nguyên lý trên bổ sung cho nhau và hình thành
nên các hằng số chung của các dân tộc trên thế giới.
• a. Yếu tố địa lý: Trong quá trình phát triển thì yếu tố địa lý có
vai trò quan trọng là môi trường sống, đối tượng con người
sáng tạo ra văn hoá. Con người tồn tại trước thiên nhiên như
một thực thể của tự nhiên và có xu hướng quay về với tự
nhiên, dựa vào tự nhiên ngay cả khi con người chinh phục tự
nhiên thì con người cũng phải dựa vào các yếu tố của tự nhiên.
Tự nhiên là đối tượng để con người sáng tạo ra văn hoá, yếu tố
tự nhiên để lại dấu ấn rõ nét trong sáng tạo văn hoá của các
dân tộc. Dù ở cách xa nhau nhưng trong cùng một khu vực địa
lý, môi trường tương đồng; dù ở trình độ cao hay thấp đều sản
sinh ra văn hoá tương đồng
• b. Lịch sử và nguồn gốc tộc người (nguồn gốc
là sự hình thành, lịch sử là sự phát triển).
NHOM 3
Yếu tố chủng tộc liên quan đến sự hình thành
các tộc người là yếu tố phụ thuộc rất lớn vào
điều kiện địa lý, chủng tộc ít nhiều có liên
quan đến các sắc thái văn hoá. Dường như
chủng tộc và văn hoá có mối liên hệ trong quá
trình hình thành và phát triển về sau này. Do
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan (số
lượng người đông lên, chiến tranh, thiên tai..)
buộc các chủng tộc có sự di cư đến nhiều
vùng đất khác nhau (địa lý có phần cách biệt)
tuy nhiên họ vẫn giữ những yếu tố văn hoá
Trong quá trình phát triển tộc người gắn
liền với vận mệnh lịch sử các dân tộc có
những mục đích chung như chống giặc
ngoại xâm, hệ thống thuỷ lợi, lao động
sản xuất… thì sẽ nảy sinh các hằng số
văn hoá chung. Nhân tố nguồn gốc tộc
người ít nhiều tham gia vào các hằng số
chung về văn hoá của các dân tộc trên thế
giới.
Từ trung tâm phia Tây, con người nguyên thuy phân tan
́ ̉ ́
̀ ̣ ̉ ̣ ̉
ra thanh hai đai chung: a) Đai chung Âu (Europeoid)
bao gôm cac chung: Ban-tich, Trung Âu và Đia Trung
̀ ́ ̉ ́ ̣
̉ ̣ ̉ ̀ ́ ̉
Hai; b) Đai chung Phi (Negroid) bao gôm cac chung:
́
Nam Ân (Dravidien), Etiopi, Đông Phi, Trung Phi, Nam
Phi.
Từ trung tâm phia Đông, con người nguyên thuy cung
́ ̉ ̃
phân tan ra thanh hai đai chung: a) Đai chung Á
́ ̀ ̣ ̉ ̣ ̉
̀ ́ ̉ ́
(Mongoloid) bao gôm cac chung: Băc Mongoloid,
Đông Mongoloid, Nam Mongoloid, Mỹ (Indien); b) Đai ̣
chung Uc, hay phương Nam (Australoid, t.La-tinh
̉ ́
Austra = "phương Nam") bao gôm cac chung: Negrito, ̀ ́ ̉
́ ́
Melanesien, Australien, Tasmanien, Polinesien, Ainu
Sự phân biêt hai trung tâm vừa xet thanh "Tây" và
̣ ́ ̀
"Đông" là thuân tuy dựa vao đia ly. Trong quá
̀ ́ ̀ ̣́
trinh phat triên cua lich sử nhân loai, hinh thanh
̀ ́ ̉ ̣̉ ̣ ̀ ̀
sự phân biêt hai khai niêm "phương Tây" và
̣ ́ ̣
"phương Đông" về măt văn hoa. Sự phân biêt
̣ ́ ̣
nay do người châu Âu đăt ra: "phương Tây" là
̀ ̣
khu vưc châu Âu nơi họ cư trú (vung Tây-Băc
̣ ̀ ́
cua cựu luc đia A-Âu); vung đât rông lớn phia
̉ ̣̣́ ̀ ̣́ ́
Đông-Nam con lai mà họ chưa biêt tới, bao gôm
̣̀ ́ ̀
toan bộ châu Á và mở rông tới châu Phi, được
̀ ̣
goi là "phương Đông“. Cac nhà khoa hoc nghiên
̣ ́ ̣
cưu về vung đât nay được goi là cac nhà "Đông
́ ̀ ́̀ ̣ ́
phương hoc". ̣
Bơi văn hoa là san phâm cua con người và tự nhiên nên nguôn gôc sâu
̉ ́ ̉ ̉ ̉ ̀ ́
xa cua moi sự khac biêt về văn hoa chinh là do những khac biêt về
̉ ̣ ́ ̣ ́ ́ ́ ̣
điêu kiên tự nhiên (đia ly- khí hâu) và xã hôi (lich sử - kinh tê) quy
̀ ̣ ̣́ ̣ ̣̣ ́
̣
đinh.
- Điều kiện tự nhiên- Môi trường sống: Môi trường sông cua cac công ́ ̉ ́ ̣
đông cư dân ở phương Đông (chinh xac hơn là Đông Nam) là xứ
̀ ́ ́
nong sinh ra mưa nhiêu (âm), tao nên những những con sông lớn với
́ ̀ ̉ ̣
cac vung đông băng trù phú . Con phương Tây (chinh xac hơn là Tây
́ ̀ ̀ ̀ ̀ ́ ́
Băc) lai là xứ lanh vơi khí hâu khô, không thich hợp cho thực vât
́ ̣ ̣ ́ ̣ ́ ̣
sinh trưởng, có chăng chỉ là những vung đông cỏ mênh mông. ̀ ̀
Hai loai đia hinh đông băng và đông cỏ dân đên chỗ cư dân cua hai khu
̣̣̀ ̀ ̀ ̀ ̃ ́ ̉
vưc phai sinh sông băng hai nghề chủ yêu là trông trot và chăn nuôi.
̣ ̉ ́ ̀ ́ ̀ ̣
Kinh tế trông trot băt buôc người dân phai sông đinh cư, vì trông cai
̀ ̣́ ̣ ̉́ ̣ ̀ ́
cây xuông thì phai chờ cho nó lớn lên, ra hoa kêt trai để con thu
́ ̉ ́ ́ ̀
hoach. Ây là chưa kể đên những loai cây lâu năm, phai trông công
̣ ́ ́ ̣ ̉ ̀
phu, phai chờ 5-10 năm mới có qua, rôi lai thu hoach nhiêu lân. Lôi
̉ ̣̉̀ ̣ ̀̀ ́
sông chăn nuôi thì khac: tai san cua dân du muc là đan gia suc. Gia
́ ́ ̀̉ ̉ ̣ ̀ ́
suc ăn cỏ và không bị cố đinh như cai cây, ăn hêt cỏ không thể ngôi
́ ̣ ́ ́ ̀
đơi cho cỏ moc mà phai đi tim bai cỏ khac. Cho nên sông băng nghề
̣ ̣ ̉ ̀ ̃ ́ ́ ̀
du muc là lôi sông du cư ̣ ́́
Nghề chăn nuôi ở phương Tây phổ biên đên mức trong Kinh Thanh, ́ ́ ́
từ "cừu" được nhăc tới trên 5.000 lân, tin đồ được goi là "con
́ ̀ ́ ̣
chiên", Chua là người "chăn chiên" .Theo tac giả cuôn Lich sử
́ ́ ́ ̣
nhân loai thì "ngay xưa, người Hy Lap chỉ nuôi dê và cừu, it
̣ ̀ ̣ ́
người lam nghề nông, phân đông lo viêc muc suc và hang hai";
̀ ̀ ̣ ̣ ́ ̀ ̉
người La Mã uông sữa bo, ao quân dêt băng lông cừu hoăc băng
́ ̀́ ̀ ̣̀ ̣ ̀
da thú vât . ̣
- Hai loai hinh kinh tế: Văn hoa kiêu nông nghiêp thì lo tao dựng môt
̣̀ ́ ̉ ̣ ̣ ̣
̣ ́ ̉ ̣ ̀ ́ ̣ ́ ́ ̣
cuôc sông ôn đinh lâu dai, không xao trôn - chung mang tinh trong
tinh; con văn hoa kiêu du muc thì lo tổ chức lam sao để có thể
̃ ̀ ́ ̉ ̣ ̀
thường xuyên di chuyên môt cach gon gang, nhanh chong, thuân ̉ ̣́ ̣ ̀ ́ ̣
̣ ́ ́ ́ ̣ ̣ ́ ̀ ́ ̣ ̣
tiên - chung mang tinh chât trong đông. Cac nên văn hoa hiên đai
dù đang thuôc giai đoan văn minh nao (nông nghiêp, công nghiêp,
̣ ̣ ̀ ̣ ̣
hay thâm chí hâu công nghiêp) cung đêu không thoat ra ngoai hai
̣ ̣ ̣ ̃ ̀ ́ ̀
loai hinh cơ ban là TRONG TINH và TRONG ĐÔNG mà căn cứ
̣̀ ̉ ̣ ̃ ̣ ̣
theo nguôn gôc thì có thể goi chung là cac loai hinh văn hoa GÔC
̀ ́ ̣ ́ ́ ̣̀ ́ ́
NÔNG NGHIÊP và GÔC DU MUC. Điên hinh cho loai trong tinh
̣ ́ ̣ ̉ ̀ ̣ ̣ ̃
(gôc nông nghiêp) là cac nên văn hoa phương Đông; con điên hinh
́ ̣ ́ ̀ ́ ̀ ̉ ̀
cho loai trong đông (gôc du muc) là cac nên văn hoa phương Tây.
̣ ̣ ̣ ́ ̣ ́ ̀ ́
- Trong cach ứng xử với môi trường tự nhiên hinh thanh hai thai
́ ̀ ̀ ́
độ đôi lâp: Dân nông nghiêp sông phụ thuôc nhiêu vao thiên
̣́ ̣ ́ ̣ ̀ ̀
nhiên, ở cố đinh môt chỗ với cai nha, cai cây cua minh nên có ý
̣ ̣ ́ ̀́ ̉ ̀
thưc tôn trong, không dam ganh đua với thiên nhiên. Sông hoa
́ ̣ ́ ́ ̀
hợp với thiên nhiên - đó là mong muôn cua cư dân cac nên văn ́ ̉ ́ ̀
hoa trong tinh phương Đông. Người Viêt Nam mở miêng là noi
́ ̣ ̃ ̣ ̣ ́
"lay trời", "nhờ trời", "ơn trời": "Lay trời mưa xuông, Lây nước
̣ ̣ ́ ́
tôi uông, Lây ruông tôi cay, Lây đây bat cơm, Lây rơm đun bêp";
́ ́ ̣ ̀ ́ ̀ ́ ́ ́
"Ơn trời mưa năng phai thi, Nơi thì bừa can, nơi thì cay sâu"...
́ ̉ ̀ ̣ ̀
(ca dao).
• Con dân du muc thì nêu thây ở nơi nay không thuân tiên, họ có
̀ ̣ ́ ́ ̀ ̣ ̣
thể dễ dang bỏ đi nơi khac, do vây dân đên tâm lý coi thường
̀ ́ ̣ ̃ ́
thiên nhiên; bơi vây mà cac nên văn hoa phương Tây trong đông
̣̉ ́ ̀ ́ ̣ ̣
luôn mang trong minh tham vong chinh phuc và chế ngự thiên
̀ ̣ ̣
nhiên. “Khuynh hướng khuyên khich môt thai độ thù đich với
́ ́ ̣ ́ ̣
thiên nhiên...: thiên nhiên phai được chinh phuc, vì nó là thù
̉ ̣
̣
nghich"
Môi thai độ đêu có măt hay măt dở riêng cua no. Tôn trong thiên nhiên
̃ ́ ̀ ̣ ̣ ̉ ́ ̣
có cai hay là giữ gin được môi trường sông tự nhiên nhưng có cai
́ ̀ ́ ́
dở là khiên con người trở nên rut re, e ngai. Coi thường thiên nhiên
́ ̣̀ ̣
có cai hay là khuyên khich con người dung cam đôi măt với thiên
́ ́ ́ ̃ ̉ ́ ̣
nhiên, khuyên khich khoa hoc phat triên, nhưng có cai dở là huy
́ ́ ̣ ́ ̉ ́ ̉
hoai môi trường.
̣
- Về măt nhân thức, hai loai hinh văn hoa nay tao nên hai kiêu tư
̣ ̣ ̣̀ ́ ̣̀ ̉
duy trai ngược nhau: Nghề nông, nhât là nghề nông nghiêp lua
́ ́ ̣́
nước, sông phụ thuôc vao thiên nhiên rât nhiêu - không chỉ phụ
́ ̣ ̀ ́ ̀
thuôc vao môt hai hiên tượng riêng lẻ nao, mà là cung môt luc phụ
̣ ̀ ̣ ̣ ̀ ̀ ̣́
thuôc vao tât ca: Trời, đât, năng, mưa... Năng nhiêu quá cung chêt
̣ ̀́̉ ́ ́ ́ ̀ ̃ ́
mà không năng cung chêt, mưa nhiêu quá cung chêt mà không mưa
́ ̃ ́ ̀ ̃ ́
cung chêt. Cho nên người Viêt noi: Trông trơi, trông đât, trông
̃ ́ ̣́ ̀ ́
mây, Trông mưa, trông năng, trông ngay, trông đêm... Trông cho ́ ̀
chân cứng đá mêm, Trời yên bể lăng mới yên tâm long (ca dao). Đó
̀ ̣ ́ ̀
chinh là đâu môi cua lôi tư duy tông hợp4. Tông hợp keo theo biên
́ ̀ ́̉́ ̉ ̉ ́ ̣
chứng - cai mà người nông nghiêp quan tâm không phai là tâp hợp
́ ̣ ̉ ̣
cua cac yêu tố riêng re, mà là những môi quan hệ qua lai giữa
̉ ́ ́ ̃ ́ ̣
chung. Tông hợp là bao quat được moi yêu tô, con biên chứng là
́ ̉ ́ ̣́́̀ ̣
chú trong đên moi môi quan hệ giữa chung - đó chinh là đăc trưng
̣ ́ ̣ ́ ́ ́ ̣
tư duy cua văn hoa gôc nông nghiêp trong tinh mà nông nghiêp lua
̉ ́ ́ ̣ ̣ ̃ ̣́
Ngược lai, đôi tượng quan tâm cua nghề chăn nuôi
̣ ́ ̉
không tan man mà tâp trung vao đan gia suc, con
̉ ̣ ̣ ̀ ̀ ́
vât. Xuât phat từ cai chinh thê, tư duy cua con
̣ ́ ́ ́ ̉ ̉ ̉
người tât yêu đi theo lôi phân tich để tach ra cac
́́ ́ ́ ́ ́
yêu tố câu thanh; từ con vât hoan chinh mổ xẻ
́ ́ ̀ ̣ ̀ ̉
chia ra cac bộ phân. Và đôi tượng quan tâm ở đây
́ ̣ ́
tâp trung vao chinh cac bộ phân riêng lẻ ây (vì môi
̣ ̀ ́ ́ ̣ ́ ́
liên hệ giữa chung trong chinh thể đã là đương
́ ̉
́ ́ ̀
nhiên), cho nên phân tich keo theo siêu hinh -
Phân tich và siêu hinh - đó chinh là đăc trưng tư
́ ̀ ́ ̣
duy cua văn hoa trong đông mà phương Tây là
̉ ́ ̣ ̣
̉ ̀
điên hinh.
- Về măt tổ chức công đông, ta có thể xem xet
̣ ̣ ̀ ́
trên hai phương diên: nguyên tăc tổ chức̣ ́
công đông và cach thức tổ chức công đông.
̣ ̀ ́ ̣ ̀
Về nguyên tăc tổ chức công đông, con người
́ ̣ ̀
nông nghiêp ưa tổ chức theo nguyên tăc
̣ ́
trong tinh. Hang xom sông cố đinh lâu dai
̣ ̀ ̀ ́ ́ ̣ ̀
vơi nhau phai tao ra môt cuôc sông hoa thuân
́ ̣̉ ̣ ̣ ́ ̀ ̣
trên cơ sở lây tinh nghia lam đâu: Môt bồ cai
́̀ ̃̀ ̀ ̣ ́
lý không băng môt tí cai tinh (tuc ngữ). Lôi
̀ ̣ ́̀ ̣ ́
sông trong tinh cam tât yêu dân đên thai độ
́ ̣ ̀ ̉ ́́ ̃ ́ ́
trong đức, trong văn, trong phụ nữ.
̣ ̣ ̣
Đên phương Tây thì nguyên tăc tổ chức
́ ́
công đông cua họ là trong sức manh,
̣ ̀ ̉ ̣ ̣
trong tai, trong vo, trong nam giới. Vao
̣ ̀ ̣ ̃ ̣ ̀
thơi La Mã cổ đai, phụ nữ không hề có tên
̀ ̣
riêng: cho đên nay, nhiêu nước châu Âu
́ ̀
vân giữ tuc lệ phụ nữ mang họ + tên chông
̃ ̣ ̀
trong cả cac văn ban chinh thức; ở môt số
́ ̉ ́ ̣
dân tôc phương Tây, con cai mang họ cha
̣ ́
chưa đủ mà con phai luôn kem thêm cả tên
̀ ̉ ̀
̣ ̀ ́ ́
cha bên canh. Truyên thuyêt Thiên Chua
giao coi người đan bà chỉ là cai xương
́ ̀ ́
sườn cua người đan ông mà thôi!
̉ ̀
Lôi tư duy tông hợp và biên chứng, luôn phai đăn đo cân
́ ̉ ̣ ̉́
nhăc cua người lam nông nghiêp công với lôi sông
́ ̉ ̀ ̣ ̣ ́́
trong tinh đã dân đên cach thức tổ chức công đông theo
̣ ̀ ̃ ́ ́ ̣ ̀
lôi linh hoat, luôn biên bao cho thich hợp với từng
́ ̣ ́ ́ ́
hoan canh cụ thê, dân đên triêt lý sông cua người Viêt
̀ ̉ ̉̃ ́ ́ ́ ̉ ̣
Nam la: Ở bâu thì tron, ở ông thì dai; Đi với But thì
̀ ̀ ̀ ́ ̀ ̣
măc ao cà sa, đi với ma măc ao giây (tuc ngữ). Nguyên
̣́ ̣́ ́ ̣
tăc sông trong tinh cam và nhu câu về môt cuôc sông
́ ́ ̣ ̀ ̉ ̀ ̣ ̣ ́
hoa thuân cang lam cho lôi sông linh hoat trở nên đâm
̀ ̣ ̀ ̀ ́́ ̣ ̣
net hơn và là cơ sở cua tâm lý hiêu hoa trong quan hệ
́ ̉ ́ ̀
xã hôi. Lôi sông trong tinh và cach cư xử dân chủ dân
̣ ́́ ̣ ̀ ́ ̃
đên đăc trưng quan trong bâc nhât cua văn hoa nông
́ ̣ ̣ ̣ ́̉ ́
nghiêp là tâm lý coi trong tâp thê, công đông. Người
̣ ̣ ̣ ̣̉ ̀
Viêt Nam lam gì cung phai tinh đên tâp thê, luôn có tâp
̣ ̀ ̃ ̉́ ̣́ ̉ ̣
thể đứng sau.
Ngược lai, tư duy phân tich và siêu hinh cua văn hoa
̣ ́ ̀ ̉ ́
trong đông dân đên cach thức tổ chức công đông theo
̣ ̣ ̃ ́ ́ ̣ ̀
nguyên tăc. Cuôc sông du cư cua tổ tiên khi xưa đoi
́ ̣ ́ ̉ ̀
hoi con người luôn phai sông có tổ chức, phai tuân thủ
̉ ̉́ ̉
kỷ luât chăt che, sớm dân đên sự hinh thanh môt nêp
̣ ̣ ̃ ̃ ́ ̀ ̀ ̣́
sông theo phap luât, với tinh tổ chức cao. Cach thức tổ
́ ́ ̣ ́ ́
chưc theo nguyên tăc liên quan đên lôi sông trong lý -
́ ́ ́ ́́ ̣
đề cao lý trí . Tư duy phân tich, cach tổ chức công đônǵ ́ ̣ ̀
́ ̃ ́ ̣̣ ̉ ̣
theo nguyên tăc, v.v... dân đên môt đăc điêm quan trong
cua văn hoa phương Tây là tâm lý trong cá nhân. Thời
̉ ́ ̣
trung cổ trở về trước là coi trong cá nhân người cai tri, ̣ ̣
thời dân chủ tư san về sau là coi trong tự do cá nhân
̉ ̣
cua môi con người.
̉ ̃
Môi lôi sông có cai ưu và nhược điêm riêng cua no. Không phai cứ
̃́́ ́ ̉ ̉ ́ ̉
linh hoat, trong tinh, dân chủ là tôt; ngược lai, nguyên tăc, trong
̣ ̣ ̀ ́ ̣ ́ ̣
vo, quân chủ là xâu.
̃ ́
Nêu như măt trai cua nguyên tăc là may moc, râp khuôn cứng nhăc;
́ ̣ ́̉ ́ ́ ́ ̣ ́
măt trai cua quân chủ là ap đăt thiêu binh đăng thì măt trai cua
̣ ́̉ ́ ̣ ́̀ ̉ ̣ ́̉
linh hoat là tuy tiên, măt trai cua dân chủ là tâm lý hoa cả lang,
̣ ̀ ̣ ̣ ́̉ ̀ ̀
bênh coi thường phep nước (Phep vua thua lệ lang - tuc ngữ).
̣ ́ ́ ̀ ̣
Biêu hiên tiêu biêu cua bênh tuy tiên là tât co gian trong khai
̉ ̣ ̉ ̉ ̣ ̀ ̣ ̣ ̃ ́
niêm giờ giâc (giờ cao su), cua bênh coi thường phep nước là sự
̣ ́ ̉ ̣ ́
thiêu tôn trong phap luât, rõ nhât là trong giao thông... Nguyên tăc
́ ̣ ́ ̣ ́ ́
sông trong tinh cam lam cho bênh tuy tiên và coi thường phep
́ ̣ ̀ ̉ ̀ ̣ ̀ ̣ ́
nước cang trở nên trâm trong hơn: Đưa nhau đên trước cửa
̀ ̀ ̣ ́
quan, Bên ngoai là ly, bên trong là tinh (ca dao)... Nó dân đên tệ
̀ ́ ̀ ̃ ́
"đi cưa sau" trong giai quyêt công viêc (môt khi tinh cam đã
̉ ̉ ́ ̣ ̣ ̀ ̉
thông thì moi viêc đêu có thể "linh đông" xong hêt): Nhât thân,
̣ ̣ ̀ ̣ ́ ́
nhì quen, tam thân, tứ thế (tuc ngữ mới). Trong tinh và linh hoat
̀ ̣ ̣ ̀ ̣
lam cho tinh tổ chức cua người nông nghiêp kem hơn hăn so với
̀ ́ ̉ ̣ ́ ̉
cư dân gôc du muc. ́ ̣
Trong lôi ưng xử với môi trường xã hôi, tư duy
́́ ̣
tông hợp và phong cach linh hoat cua văn hoa
̉ ́ ̣̉ ́
nông nghiêp con quy đinh thai độ dung hơp
̣ ̀ ̣ ́ ̣
trong tiêp nhân và mêm deo, hiêu hoa trong đôi
́ ̣ ̀ ̉ ́ ̀ ́
pho; trong khi đó tinh thân trong vo, lôi sông
́ ̀ ̣ ̃́́
́ ̉ ́ ̣ ̣ ̃ ́
theo nguyên tăc cua văn hoa trong đông dân đên
lôi ứng xử đôc tôn trong tiêp nhân và cưng răn,
́ ̣ ́ ̣ ́ ́
hiêu thăng trong đôi phó (ưa giai quyêt mâu
́ ́ ́ ̉ ́
thuân băng vũ lực và khi giai quyêt luôn có tham
̃ ̀ ̉ ́
vong buôc đôi phương khuât phuc hoan toan).
̣ ̣ ́ ́ ̣ ̀ ̀
̣ ̃ ̣ ̣
VH TRONG TINH VH TRONG ĐÔNG
́ ̣ ́ ̣
(gôc nông nghiêp) (gôc du muc)
Đăc trưng gôc Đia hinh Đông băng (âm, thâp)
̣ ́ ̣̀ ̀ ̀ ̉ ́ Đông cỏ (khô, cao) Nghề
̀
́ ̀ ̣
chinh Trông trot Chăn nuôi
Cach sông Đinh cư
́ ́ ̣ Du c ư
Ưng xử với môi trường tự nhiên
́
Tôn trong, sông hoa hợp với thiên nhiên
̣ ́ ̀ Coi thường, tham vong ̣
chê ́ ng ự thiên nhiên
Lôi nhân thức,
́ ̣
Tư duy Thiên về tông hợp và ̉
biên chứng (trong quan hê);
̣ ̣ ̣ Thiên về phân tich và siêu hinh ly ́ tinh
́ ̀ ́
và thực
̣
nghiêm
Tổ chức công đông Nguyên tăc ̣ ̀ ́
Trong sức manh, trong tai, trong
̣ ̣ ̣ ̀ ̣
Trong tinh, trong đức,
̣ ̀ ̣
CĐ Linh hoat và dân chu, ̣ ̉
Nguyên tăc va ̀ quân chu ̉ cá nhân
́
Ưng xử với
́
môi trường xã hôi Dung hợp ̣
trong tiêp nhân; mêm deo, hiêu hoa trong đôi phó
́ ̣ ̀ ̉ ́ ̀ ́ ̣
Đôc tôn
Chương 2:
DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM
2.1. Văn hoá Việt Nam thời tiền sử
Thời tiền sử: có thể tính từ khi có con người trên đất nước ta
cho đến thế kỷ I trước công nguyên. Đây là giai đoạn dài và có
tính chất quyết định , giai đoạn hình thành và định vị của văn
hoá Việt Nam. Việt Nam trong bối cảnh là chiếc nôi của loài
người ở khu vực Đông Nam Á. Cách ngày nay 40-50 vạn năm,
khí hậu Việt Nam đặc trưng nhiệt đới ẩm thích hợp cho sự
sinh sống của con người. Mở đầu cho giai đoạn tiền sử là Núi
Đọ (Thanh Hoá) người ta đã phát hiện được các mảnh ghè
(mảnh tước), rìu tay…
Từ 20 đến 15 ngàn năm trước công nguyên, con người hiện đại
Homo Sapiêns đã cư trú trên trên một địa bàn rất rộng, họ là
chủ nhân của nền văn hoá Sơn Vi. Thời kỳ này họ sống thành
các bộ lạc săn bắt, hái lượm, dùng đá cuội để chế tác công
cụ. Công cụ tuy thô sơ song đã có bước tiến lớn trong kỹ
thuật chế tác, nhiều loại hình đã có tính chất ổn định. Tiêu
biểu những hòn đá cuội được ghè đẽo ở hai cạnh.
Đa số là công cụ chặt, nạo, hay cắt. Vết tích cư trú chỉ hạn chế ở
một số vùng, trên một số gò đồi, hang động. Người nguyên thuỷ
thời kỳ này đã biết dùng lửa. Họ chôn người chết ngay nơi cư
trú. Điều này nói lên niềm tin của người nguyên thuỷ về một thế
giới khác mà ở đó người nguyên thuỷ vẫn “sống”; thức ăn chủ
yếu là nhuyễn thể, những cây quả, hạt và một số động vật vừa
và nhỏ.
Cách ngày nay một vạn năm đã có những thay đổi quan trọng, đánh
dấu bước tiến mới trong lối sống của con người. Loài người bắt
đầu bước vào thời kỳ đá mới đặc trưng tiến bộ về phương thức
sản xuất cũng như kỹ thuật sản xuất. Con người đã biết tận
dụng và sử dụng nguyên vật liệu như đá, đất sét, xương, sừng,
tre, gỗ… Kỹ thuật chế tác đạt đến đỉnh cao, xuất hiện nhiều
loại hình công cụ. Đặc biệt con người đã biết làm gốm, thuần
dưỡng động vật, cây trồng, bắt đầu sống định cư, dân số gia
tăng. Tiêu biểu giai đoạn này là văn hoá Hoà Bình. Cư dân đã
biết săn bắt, hái lượm.Người ta đã tìm thấy hạt và quả của
nhiều loại cây thuộc họ rau đậu và bầu bí được coi là thuần
dưỡng trong một số di chỉ của văn hoá Hoà Bình. Đã xuất hiện
nền nông nghiệp sơ khai. Cuộc sống định cư tương đối ổn định.
Thời kỳ tiếp theo con người đã biết mở rộng môi trường sinh
thái núi, trước núi và ven biển, nghề đánh cá phát triển mạnh.
Cư dân thời đại đá mới có tri thức phong phú về tự
nhiên, Thời kỳ này cũng để lại những dấu vết nghệ
thuật như những hiện vật xương có vết khắc hình cá,
hình thú, hình người vẽ … Tư duy về thời gian vũ trụ
còn được thể hiện bằng những hình hoa văn, ký hiệu
biểu thị hình mặt trời, hình tròn, hình chữ vẽ trên
gốm… có thể đã hình thành một loại nông lịch sơ
Thời kỳ này đã xuất hiện
khai.

những tín ngưỡng nguyên
thuỷ sơ khai như mưa, gió và
đặc biệt mặt trời đã trở thành một trong những thần
linh quan trọng đối với con người.
2.2 Thời Sơ sử: (LOP THU 2)
Cách đây khoảng 4.000 năm từ lưu vực sông Hồng đến sông Đồng
Nai đã bước vào thời đại kim khí. Trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại
3 trung tâm văn hoá: Đông Sơn (Miền Bắc), Sa Huỳnh (Miền
Trung) và Đồng Nai (ở Miền Nam).
+ Văn hoá Đông Sơn được hình thành trực tiếp từ ba nền văn hoá ở
lưu vực sông Hồng, Sông Cả, sông Mã. Các nền văn hoá Phùng
nguyên - Đồng Đậu- Gò Mun thuộc giai đoạn đồng thau (từ
khoảng 2.000-7000 năm trước CN). Trong thời kỳ này con người
vẫn sử dụng đá, gỗ tre, nứa, xương sừng để chế tạo công cụ và
vũ khí, đồ gốm đạt độ nung cao hơn, dày và cứng hơn, đa số có
màu xanh mốc. Bên cạnh đó cũng xuất hiện vật liệu mới đồ
đồng đã tác động to lớn đối với kinh tế, xã hội, văn hoá của các
cộng đồng người.
Cư dân tiền Đông Sơn là cư dân trồng lúa nước, nông nghiệp dùng
cày đồng với nhiều chủng loại phù hợp với từng loại đất…họ đã
biết chăn nuôi gia súc trâu, bò, lợn gà… làng mạc thời kỳ này có
diện tích rộng và tầng văn hoá dày. Bên cạnh nơi cư trú còn có di
chỉ mộ táng…
Họ có đời sống tinh thần phong phú điều đó biểu hiện trong tư duy
và sáng tạo nghệ thuật trong trang trí đối xứng, các mô tif hoa
văn… điều này cho thấy sự phát triển nhận thức hình học và tư
duy chính xác nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp và kỹ
thuật chế tạo đá, đúc đồng.Trên trống đồng khắc hoa văn hình
bò… Việc thuần dưỡng voi đựơc phổ biến để làm phương tiện
chuyên chở. Kỹ thuật đúc đồng thau đạt đến đỉnh cao với trình độ
điêu luyện đáng kinh ngạc. Số lượng và loại hình vũ khí tăng vọt.
Đặc biệt họ đã đúc những hiện vật bằng đồng với kích thước lớn
đó là thạp đồng, trống đồng..
Kỹ thuật luyện và rèn sắt cũng khá phát triển, đặc biệt giai đoạn
cuối của văn hoá Đông Sơn người Đông Sơn còn biết dệt vải,
làm thuỷ tinh, làm mộc, đan lát, làm gốm, chế tác đá…
Làng xóm thường phân bố ở những nơi cao, thậm chí sườn núi hay
quả đồi gần các con sông lớn và chi lưu của chúng, xung quanh
làng có các vòng đai phòng thủ
Người Đông Sơn đã có những phong tục, y phục khá
phong phú và đa dạng, đầu tóc có 04 loại. Người Đông
Sơn rất thích đồ trang sức. Di chuyển bằng thuyền.
Thời kỳ này gắn liền với nó là các huyền thoại, thần
thoại..
Những nghi lễ và tín ngưỡng giai đoạn này là nghề trồng
lúa nước, tục thờ mặt trời, mưa, nghi lễ phồn thực,
nghi lễ nông nghiệp khác như hát đối đáp, gái trai, tục
đua thuyền, thả diều…
+ Văn hoá Sa Huỳnh: Trong khi ở Bắc bộ tồn tại nền
văn hoá Đông Sơn thì trên dải đất miền Trung tồn tại
nền văn hoá mà các nhà khảo cổ gọi là văn hoá Sa
Huỳnh. Không gian văn hoá Sa Huỳnh phân bố từ
Bình Trị Thiên cho đến lưu vực sông Đồng Nai, từ
biển lên miền núi theo trục Đông Tây
Những người truyền giáo và nhà buôn Ấn Độ đầu tiên
đặt chân ở nước ta từ đầu công nguyên. Dấu vết cổ còn
tìm thấy ở Óc Eo (An Giang, ở ven biển miền Trung, ở
Luy Lâu (Bắc Ninh). Khi người Chăm lập ra Vương
quốc Champa (192 SCN), thoát ra khỏi ách đô hộ của
phong kiến Trung Quốc.Họ tiếp nhận người Ấn Độ đến
truyền
giáo, theo đó tiếp thu nhiều giá trị văn hóa khác. Văn hóa
Ấn Độ thấm sâu vào văn hóa Chăm từ thế kỉ 7 đến hết
thế kỉ 15 khi Champa chấm dứt sự tồn tại độc lập với tư
cách
là một quốc gia và sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt.
Bà la môn giáo (Bramanism) thờ đấng tối cao tên là
Brahma (có nghĩa là đại hồn) được miêu tả trong bộ kinh
Brahma gồm có 3 ngôi: Brahma (sáng tạo), Visnu
(bảo vệ) và Siva (hủy diệt). Khi đạo Phật phát sinh
ở Ấn Độ, Bà la môn giáo tự cải cách thành Ấn Độ
giáo (Hinduism). Thực ra văn hóa Chăm còn chịu ảnh
hưởng của khu vực kế cận và văn hóa gốc miền
Trung (văn hóa Sa Huỳnh). Địa hình, khí hậu, lối
sống khắc nghiệt ở miền Trung tạo ra tính cách
Chămdương tính (cứng rắn, thượng võ, hiếu chiến).
Thành tựu văn hóa Chăm còn lại ngày nay gồm 1 số
lãnh vực: kiến trúc, điêukhắc và tôn giáo, trong đó
tôn giáo là linh hồn của nền văn hóa ấy.
Ngày nay những tháp Chàm còn đó sừng sững trở
thành những điểm du lịch hấp dẫn du khách bốn
phương.
Quần thể tháp Chăm
Tháp Chàm (Chăm) nổi tiếng về kĩ thuật xây
dựng độc đáo giũa đất núi và đá. Nội dung của
tháp là: trong lòng làm lăng mộ vua, trên nóc thờ
thần linh tối cao Bà la môn. Vị thần linh được
thờ nhiều nhất là thần Si Va, do nhu cầu đồng
hóa với sinh thực khí nam (dương tính trong tín
ngưỡng phồn thực). Cùng với Bà la môn, đi vào
văn hóa Chăm còn có đạo Hồi (thế kỷ XVI)
(Islam). Hồi giáo có quy tắc khắt khe nhưng đã
được người Chăm cải biên nhiều. Hồi giáo gốc
coi trọng nam giới, thì Hồi giáo Chăm Việt Nam
vẫn coi trọng phụ nữ.
Ngoài ra khi nói đến văn hoá Chăm còn phải
kể đến âm nhạc Chăm tuy còn sâu đậm ấn
tượng Ấn Độ (buồn bã, sâu thẳm) nhưng cũng
pha trộn giai điệu trữ tình phóng khoáng
phương Nam.
Hiện tại, do những biến thiên của lịch sử,
người Chăm ở Việt Nam có khoảng 137.133
người cư trú chủ yếu ở Bình Thuận, Ninh
Thuận (90.175 người) , rải rác Tây Ninh và
An Giang, Bình Định và Phú Yên
- Văn hoá Óc Eo
Ngay từ đầu TK 20 những cổ vật đầu tiên của
văn hóa Óc Eo đã được phát hiện trên cánh
đồng Óc Eo- Ba Thê thuộc xã Vọng Thê- huyện
Thoại Sơn - tỉnh An Giang. Do sự phong phú
cuả loại hình, sự độc đáo của chất liệu và vẻ
đẹp rực rỡ của mỹ thuật chế tác nên ngay từ
lúc bấy giờ, các di vật của văn hóa Óc Eo đã lôi
cuốn sự chú ý của nhiều học giả nổi tiếng
người Pháp như: G.Coedès, L.Malleret,
H.Parmentier…Tuy nhiên công cuộc nghiên cứu
văn hóa này chỉ thực sự bắt đầu bằng cuộc khai
quật của L.Malleret tại di tích Óc Eo vào năm
1944 và những năm sau đó
Xã hội Óc Eo là một xã hội phát triển nhiều ngành nghề
thủ công như nghề gốm, nghề luyện đồng, luyện sắt,
luyện thiếc, nghề kim hoàn. Đặc biệt nông nghiệp và
thương nghiệp lúc này đã khá phát triển với một loạt
chứng cứ như những công trình thuỷ lợi cổ, kênh
rạch vừa tưới tiêu vừa là đường giao thông, sản
phẩm thủ công thể hiện sự chuyên hoá, những đồng
tiền bằng vàng, bạc, thiếc còn nguyên hay cắt làm tư
làm tám, các loại trang sức, con dấu bằng đá quý,
thuỷ tinh, nhiều sản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập.
Nền văn hoá này còn để lại nhiều kiến trúc khác nhau
như vết tích nhà sàn, những kiến trúc đồ sộ bằng
gạch đá lẫn lộn thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật
xây dựng. Nghệ thuật tạc tượng điêu luyện gồm hai
nhóm tượng Ấn Độ giáo và Phật giáo. Ngoài ra còn
tìm thấy chữ viết trên các con dấu, mặt nhẫn, bia
đá… đó là dạng chữ Phạn (Brami ) thế kỷ V thời kỳ
Gúpta của Ấn Độ cổ đại
nền văn hóa này là sản phẩm của một nhà nước
cổ đại tồn tại từ thế kỷ II đến thế kỷ VI ở
Đông Nam Á, từng được sử Trung Quốc ghi
chép nhiều lần, đó là Vương quốc Phù Nam.
Tính chất cảng thị thể hiện qua vị trí địa lý của
thành thị Óc Eo và các di vật có nguồn gốc từ
Ấn Độ, Điạ Trung Hải, Trung Đông, Trung Hoa
làm cho văn hóa Óc Eo mang đậm yếu tố
“ngoại sinh”, được những nhà nghiên cứu
trước đây coi là nguyên nhân chủ yếu của sự
phát triển văn hóa này.
Cư dân văn hóa Óc Eo cư trú trên những tiểu
vùng sinh thái khác nhau nên có những đặc
điểm khác nhau về lối sống, thể hiện trên các
di tích và di vật khảo cổ học. Đó là các tiểu
vùng: tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười,
ven biển Tây Nam (vùng Bạc Liêu- Cà
Mau),hạ lưu sông Tiền, Đông Nam bộ và khu
vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam bộ.
Điạ bàn sinh tụ cuả cư dân văn hóa Óc Eo rất
rộng lớn nhưng họ đã thích ứng được với mọi
hoàn cảnh, tạo lập cuộc sống ổn định và phát
triển nền văn hoá đặc sắc cuả mình.
Di tích kiến trúc trong văn hóa Óc Eo gồm di tích cư trú, kiến trúc
đền tháp và mộ táng. Vật liệu xây dựng gồm gỗ, gạch, đá: dấu
tích các cọc nhà sàn và một số cấu kiện trang trí hoa văn, phế
tích hay nền móng đền tháp thờ hoặc đền tháp-mộ táng. Gỗ và
đá là nguyên vật liệu cư dân bản điạ quen dùng từ thời tiền sử
còn gạch là vật liệu mới do tiếp thu kỹ thuật cuả Ấn Độ từ đầu
Công nguyên. Vật liệu đá có kích thước rất lớn, tham gia vào
các công trình là bộ phận cuả kiến trúc chứ không chỉ là các chi
tiết trang trí, được lắp ghép-kết nối bằng kỹ thuật chốt mộng.
Hầu hết phế tích cho biết đây là đền tháp theo kiểu Ấn Độ có
bình đồ hình vuông, nền móng dày đến hơn 1m xây bằng gạch,
đất sét và đá sỏi để có thể chịu lực cuả công trình đồ sộ bên
trên. Đặc biệt, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện
được loại hình mộ táng mà trước đây các học giả Pháp chưa
biết đến. Đó là các huyệt mộ hình vuông, hình chữ nhật hay
hình phễu, bên trên ốp gạch hay lát đá tạo thành bề mặt khá
bằng phẳng. Trong các huyệt mộ có cát trắng lẫn nhiều hiện
vật quý giá như các mảnh vàng chạm khắc những biểu tượng
cuả Bàlamôn hay Phật giáo, đồ trang sức, một số đồ tuỳ táng
khác.
Hiện vật nguyên vẹn làm bằng các chất liệu
như vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, thuỷ tinh, đá,
gỗ, gốm và hàng trăm ngàn mảnh hiện vật
đang được bảo quản và trưng bày tại bảo
tàng các tỉnh Nam bộ là nguồn tài liệu chủ
yếu giúp các nhà khoa học nghiên cứu về
nhiều mặt đời sống cư dân văn hóa Óc Eo.
Nổi bật là các loại đồ trang sức, tượng thờ và
đồ gốm gia dụng. Đây cũng là sản phẩm cuả
các nghề thủ công phát triển cao, đa dạng và
tinh xảo. Nhiều di chỉ -xưởng chế tạo đồ
gốm, đồ trang sức được tìm thấy ở khu di
tích lớn như Óc Eo-Ba Thê, Nền Chuà, Cạnh
Đền, Gò Tháp, Gò Hàng…
Hiện vật bằng vàng có nhiều kiểu dáng như nhẫn, bông tai, hạt
chuỗi, các lá vàng chạm khắc chế tác bằng nhiều kỹ thuật khác
nhau mà đặc sắc nhất là kỹ thuật khắc miết tạo ra hình và chữ
trên lá vàng. Đồ trang sức bằng đá ngọc, mã não, thạch anh,
thuỷ tinh với nhiều màu sắc, nhiều kích cỡ, nhiều hình dáng.
Tượng thờ Bàlamôn và Phật giáo bằng đá và bằng gỗ, một số ít
bằng đồng, được tìm thấy trong nhiều di tích và rải rác trên
khắp vùng Nam bộ cả miền Tây và miền Đông. Giai đoạn phát
triển rực rỡ nhất cuả nghệ thuật điêu khắc Hindu giáo và Phật
giáo ở đây là từ TK 5 đến TK7. Sự đa dạng về loại hình và hình
thức thể hiện đã phản ánh sự phức tạp và đan xen cuả các
nguồn gốc ảnh hưởng trong đó chủ yếu là nghệ thuật An Độ,
đồng thời vẫn thể hiện rõ xu hướng hiện thực - bản điạ hóa các
hình tượng tôn giáo Ấn Độ. Về loại hình không phải chỉ có
tượng và biểu tượng thần phật mà còn có nhiều hình tượng linh
thú, thần thoại trong điện thờ Ấn Độ giáo và Phật giáo.
Đồ gốm có mặt trong hầu hết các di tích khảo cổ và là
loại hình hiện vật thể hiện truyền thống bản địa
nhất. Sản phẩm gồm các loại bình, hũ, nồi, nắp, bát,
cốc, chai… Đặc biệt là loại bếp lò làm bằng gốm
(“cà ràng” theo cách gọi của người Khmer hiện nay ở
đồng bằng sông Cưủ Long). Đây là vật dụng quen
thuộc và rất cần thiết cuả cư dân sống ở vùng ven
biển và sông rạch, trên nhà sàn hay trên ghe xuồng.
Bếp lò gốm đã xuất hiện trong các di tích cư trú và
cả trong mộ táng (với chức năng là đồ tuỳ táng) từ
thời tiền sử trước đó ở lưu vực sông Vàm Cỏ- Đồng
Nai và đến văn hóa Óc Eo đã trở thành di vật đặc
trưng cuả văn hóa này. Hiện nay bếp lò gốm phổ
biến ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á. Ngoài đồ
gốm gia dụng, vật liệu xây dựng bằng đất nung như
gạch ngói, phù điêu trang trí cũng là di vật chủ yếu
trong các di tích kiến trúc đền tháp cuả văn hóa Óc
Eo.
2.3 Văn hoá Việt Nam thiên niên kỷ đầu công nguyên TIN
HOC
Kể từ Triệu Đà (179.tr.CN) dùng mưu mô thâm độc (cho
Trọng Thuỷ sang ở rể mà truyền thuyết Trọng Thuỷ
Mỵ Châu còn ghi lại) đánh bại vua An Dương Vương
của nước Âu Lạc đến khi Ngô Quyền giành lại độc
lập dân tộc (938).
Ý thức đối kháng kiên trì, bất khuất trước nguy cơ xâm
lăng của phong kiến phương Bắc. Những cuộc kháng
chiến liên tiếp qua các thế kỉ như Hai Bà Trưng, Bà
Triệu, Lí Bí,Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng
Hưng, Cha con họ Khúc, Dương Diên Nghệ và đỉnh
cao là cuộc đại thắng của Ngô Quyền năm 938.
Giai đoạn này không có những thành tựu văn hóa đáng kể.
Nếu có, chúng ta cần nói đến hai nguồn văn hóa Ấn Độ
truyền vào nước ta theo con đường hòa bình, đó là văn
hóa Phật giáo thâm nhập vào miền Bắc, Bà la môn đi
vào miền Trung bộ tạo dựng nên vương quốc Chămpa.
Các thế lực phong kiến phương Bắc ra sức phá huỷ, tiêu
diệt thành tựu văn hóa dân tộc ta như: thu gom sách vở,
bắt thay thế trang phục Hán.v.v… nhưng không đạt
được mục đích Có thể hệ thống văn tự Việt đã bị xóa
bỏ trong suốt ngàn năm đô hộ này.
2.4. Văn hoá Việt Nam thời tự chủ (thế kỷ X đến nửa
sau thế kỷ XIX)
Sau chiến thắng của Ngô Quyền, nước ta lại xây dựng
nền độc lập.Trải qua các triều đại ngắn Đinh Bộ Lĩnh
(968-980), Lê Hoàn, phải đến thời nhà Lý (1009-1225 -
quốc hiệu Đại Việt được đặt vào năm 1054 thời vua Lê
Thánh Tông) nền văn hóa Đại Việt mới phát triển
mạnh với tinh thần phục hưng mãnh liệt.
Tiếp theo là nhà Trần, nền văn hóa Đại Việt đạt được
bước phát triển rực rỡ, gọi chung là thời đại văn hóa Lý - Trần.
Đạt tới đỉnh cao rực rỡ là thời nhà Lê, nước ta đã có
một nền văn hóa phong kiến ngang tầm khu vực, đủ
sức tự cường và giữ vững độc lập dân tộc.
Dân tộc ta phát triển về phương Nam vừa nhằm mục
đích bảo vệ lãnh thổ, vừa phát triển đất nước. Sáp
nhập vương quốc Chăm pa ở miền Trung vào lãnh
thổ để mở đầu cho cuộc Nam tiến.
Dân tộc ta khẩn trương tiếp thu văn hóa phong kiến
Trung Hoa, chủ yếu là hệ thống giáo dục Nho Giáo,
Phật giáo Trung hoa, kể cả Đạo giáo, theo xu
hướng”Tam giáo đồng quy”. Với phương châm”Việt
Nam hóa”những thứ văn hóa ngoại lai, nghĩa là tiếp
nhận văn hóa và vận dụng cho phù hợp hoàn cảnh và
bản lĩnh, tính cách dân tộc Việt, nhân dân ta đã tạo
nên một nền Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt
Nam...
Nhân dân ta tiếp nhận chữ Hán, nhưng tạo ra chữ
Nôm (TK VII- VIII) để ghi âm tiếng Việt – tiêu
biểu có Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi,
Truyện Kiều (3254 câu thơ lục bát) của
Nguyễn Du…
Những lớp trí thức Hán học đã đóng vai trò nòng
cốt trong bộ máy quan lại phong kiến Việt Nam
các triều đại Lý, Trần, Lê và Nguyễn.
Thủ đô bền vững từ đây đặt tại Thăng Long
(1010), với Quốc Tử Giám được coi là trường
đại học đầu tiên, cùng với Văn Miếu (1070),
khẳng định một giai đoạn phát triển cao của
Đại Nam là quốc hiệu do Nhà Nguyễn Minh Mạng đặt (1838) sau
tên Việt Nam do Gia Long đặt (1804). Giai đoạn này tính từ thời
các chúa Nguyễn cho đến khi thực dân Pháp chiếm được nước ta
làm thuộc địa.
Sau thời kì hỗn loạn Lê - Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, đến nhà
Nguyễn, Nho giáo lại được phục hồi làm quốc giáo, nhưng nó đã
đến hồi suy tàn, không còn đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phát
triển văn hóa tiến kịp phương Tây.
Thiên chúa giáo bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam do các giáo sỹ
phương Tây đến các vùng duyên hải nước ta truyền đạo. Nhà
Nguyễn ban đầu cho họ vào vì mục đích chính trị nhất là thời
Nguyễn Ánh cần quân lực để chiếm lại đất cũ (Đàng trong) từ
tay Tây Sơn, về sau lại ngăn cản do ngại sự can thiệp và đe doạ
của phương Tây
(thời vua Minh Mạng (1820-1840) là cò nhiều chỉ dụ cấm đạo ngặt
nghèo và thảm khốc nhất, nhiều cha cố và giáo dân bị giết trong
giai đoạn này.
2.5. Văn hoá Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945
Vào thế kỷ XVI, các Giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam, cùng các
nhà buôn . Từ năm 1615, các Giáo sĩ dòng Tên bắt đầu thiết lập
những cộng đồng giáo dân rồi đặt hai trung tâm ở Hội An và
Thăng Long. Cũng còn nhiều dòng khác, như dòng Đa Minh
(Dominicain), dòng thánh Francos (Franciscain)... và người Bồ
Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Pháp... Năm 1658, Giáo hoàng cho
phép lập Hội truyền giáo nước ngoài ở Paris cho các giáo sĩ đại
diện Roma hoạt động ở Trung Quốc và Đông Dương... Cho đến
năm 1788, đất nước ta bị chia cắt.
Ở Đàng trong (Hội An) , thương nhân Bồ Đào Nha giúp chúa
Nguyễn mở lò đúc súng ở Huế. ở Đàng ngoài , hãng buôn Hà Lan
ở Phố Hiến giúp chúa Trịnh tàu và súng đạn.
Mới đầu, các chúa Trịnh và Nguyễn đều để cho truyền đạo Thiên
Chúa. Nhưng vài chục năm sau, đạo bị cấm, tùy thời kỳ cấm ngặt
hay lỏng. Vào cuối thế kỷ XVIII, Giáo sĩ Pháp Pigneau de
Behaine giúp chúa Nguyễn Ánh nên Gia Long lên ngôi cho truyền
đạo. Mấy vua sau lại cấm đạo và đàn áp giáo dân, giết linh mục.
Đồng thời buôn bán và phương Tây bị ngưng trệ, khiến
đế quốc Pháp lấy cớ tấn công Việt Nam từ 1858 và
chiếm hoàn toàn đất nước vào năm 1885.
Thời kỳ thế kỷ XVII - 1885, cuộc đối thoại Việt Nam -
phương Tây không lấy gì làm mặn mà, công cuộc
hiện đại hóa mờ nhạt. Văn hóa phương Tây gây một
cú sốc đối với văn hóa truyền thống Việt Nam nặng
ảnh hưởng Khổng học.
Nhà vua và quần thần , các Nho sĩ đều đánh giá thấp văn
hóa phương Tây, cho là chỉ thiên về vật chất, thiếu
đạo đức cơ bản của Thánh hiền. Những nhà Nho tiến
bộ đề ra cải cách, theo kỹ thuật phương Tây (Nguyễn
Trường Tộ, Bùi Viện... ) đều bị gạt
Còn đạo Thiên Chúa thì bị cấm vì cho là tà đạo,
không chấp nhận thờ cúng tổ tiên, thần thánh
của Tam Giáo. Nhưng đạo Thiên Chúa đã mang
lại cho Việt Nam một thành quả quý báu mà
không ai ngờ tới: chữ Quốc ngữ vào thế kỷ
XVII, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Pháp...
đã sáng tạo ra Quốc ngữ để truyền giáo cho dễ
(đọc kinh bổn, cầu nguyện...). Không ngờ đầu
thế kỷ XX nó sẽ là công cụ tuyệt vời để làm
cách mạng và phát triển mà ngành khoa học, văn
nghệ, chính trị (thay cho chữ Nho).
Tiếp biến văn hóa với phương Tây (1884 - 1945)
Đây là thời kỳ Pháp thuộc. Tiếp biến văn hóa dĩ nhiên là
cưỡng bức, nhất là trong thời kỳ đầu, do đó luôn luôn
có sự chống lại ngoại lai để bảo vệ bản sắc dân tộc.
Nhưng dần dần, cũng đồng thời có đối thoại tự
nguyện.
Thiết tưởng, không cần nhắc lại những tai họa mà thực
dân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam. Chính những
người Pháp tiến bộ đã tùng lên án chính sách tàn bạo
và ngu dân cửa chính quyền thục dân. Nhưng có điều
đáng nói là không phải chỉ đối thủ Đông - Tây đã tạo
ra những giá trị văn hóa mới cho Việt Nam, mà chính
sách thực dân cũng có phần tạo ra những tiếp biến
(Acculturation) văn hóa làm giàu văn hóa Việt Nam,
nhiều khi ngoài ý muốn của thực dân
Khi Pháp mới chiếm ta, đối đầu văn hóa là chủ yếu. Tri
thức Nho học không muốn đổi bút lông lấy bút chì để
học Quốc ngữ và tiếng Pháp. Nhưng từ những năm 20,
30 của thế kỷ XX, song song với đối đầu là đối thoại
văn hóa. Các nhà Nho hiện đại như Phan Chu Trinh,
Phan Bội Châu, Dương Quảng Hàm, các trí thức mới
như Nguyễn Công Tiễu, Hoàng Xuân Hãn. Nhất Linh...
đưa khoa học và dân chủ phương Tây vào ta. Khái niệm
"cái tôi" của phương Tây và chủ nghĩa lãng mạn Pháp
đã giúp tạo ra thơ mới và cả một dòng văn học Việt
Nam. Cuộc gặp gỡ Tây - Đông đã sinh ra hội họa hiện
đại Việt Nam. Kiến trúc sư He'brard tạo ra phong cách
Đông Dương kết hợp Đông Tây.
Đối thoại với dân chủ và cách mạng phương Tây, kể cả
CHXH đã giúp cho các nhà cách mạng Việt Nam vạch
ra chiến lược giải phóng dân tộc. Điển hình là lãnh tụ
Hồ Chí Minh, người được đánh giá là "Con người hiện
đại tiêu biểu nhất cho Việt Nam"
Với cớ bảo vệ đạo, thực dân Pháp đã nổ súng cướp
nước ta vào 1858 tại Bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, mở
đầu cho thời kỳ nước ta bị đô hộ và cai trị hơn 100
năm
(1858 -1945, có sách 1858 -1954; Sử gọi là 100 năm đô
hộ giặc Tây là gọi giai đoạn này). Cũng trong giai
đoạn quá trình giao lưu văn hoá Việt Nam- phương
Tây mà chủ yếu là Pháp đã diễn ra rất mạnh mẽ theo
hướng văn hoá Việt Nam bị cưỡng bức theo văn hoá
Pháp.
Hiện nay, trên đất nước ta còn rất nhiều công trình mang
dáng dấp văn hoá Pháp, tiêu biểu có Đại học quốc gia
Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh,
Nhà thờ Đức Bà tại TPHCM…
Đạo Thiên chúa thì không được lòng dân vì Pháp đã xâm
chiếm Việt Nam dưới bóng cây thập tự, và chính
quyền thực dân luôn ủng hộ giáo dân và khuyến
khích đạo để có chỗ dựa. Chức sắc giáo dân luôn đi
với ngoại bang. Năm 1885, sau khi Pháp chiếm đóng,
giáo dân mới có nửa triệu. Năm 1939, con số lên
1.500.000 dường như vẫn sống ngoài lề dân tộc.
Cuộc đối thoại với đạo Thiên Chúa có bước ngoặt
quyết định sau chiến tranh, khi Tổng giám mục
Nguyễn Văn Bình tuyên bố giáo dân phải cùng dân
tộc bắt tay vào tái thiết đất nước. Ta có một nền văn
hóa Thiên Chúa giáo Việt Nam phong phú cần thiết
phát huy.
Tiếng Pháp đưa vào dạy chính thức ở nhà
trường.
Hệ thống chữ quốc ngữ được được sử dụng
phổ biến hơn, giúp cho phong trào học tập,
truyền bá văn hóa mới được nhanh chóng.
Hệ tư tưởng dân chủ tự do tư sản truyền bá
vào nước ta.
Lối sống phương Tây ảnh hưởng chủ yếu ở
thành thị
Văn học, nghệ thuật phương Tây gây ảnh
hưởng sâu sắc trong đời sống văn nghệ nước
ta (giai đoạn 1930 -1945) Kịch, thơ mới, tranh
Đặc biệt, tư tưởng cách mạng vô sản Marx -
Lenin đã được tiếp thu sáng tạo vào Việt Nam
qua những trí thức trẻ giàu lòng yêu nước như
Nguyễn Ái Quốc.
Nhìn chung, dân ta vừa chấp nhận Âu hoá, vừa
chống Âu hóa trong chừng mực nhất định, bảo
đảm vừa tiến kịp trình độ thế giới, vừa giữ gìn
bản sắc dân tộc.
Những giá trị văn hóa mới đang định hình cần có
thời gian thử thách và lựa chọn.
2.6 Văn hoá Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Cách mạng Tháng 8/1945 đã chấm dứt 80 năm
Pháp đô hộ. Cho đến 1986 (đổi mới) chủ yếu là
30 năm chiến tranh (1946 - 1975) chống Pháp và
chống Mỹ có tính chất quốc tế vì vấn đề Việt
Nam được quốc tế hóa.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -
1954), cuộc đối thoại văn hóa Việt - Pháp thời
kỳ Pháp thuộc đã khai hóa kết quả một cách bất
ngờ, do những trí thức và văn nghệ sĩ trưởng
thành đã đem hết tài năng phục vụ đất nước
độc lập.
Chữ Quốc ngữ của các Giáo sĩ phương Tây tạo ra đã phổ
biến thời Pháp thuộc trong đó sống chính trị, văn hóa,
nhưng đến năm 1945, 90% dân vẫn mù chữ. Cách
mạng đã tích cực vận động xóa nạn mù chữ.
Các Bác sĩ thời Pháp như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng ,
Đặng Văn Ngữ... mở trường Y và đào tạo các Y, Bác
sĩ cho mặt trận và hậu phương. Đa số văn nghệ sĩ thời
trước đều phục vụ kháng chiến. Một số nhà nghiên
cứu đã có tên tuổi trong thời Pháp thuộc (như Đào Duy
Anh, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giáp... ) đã đặt nền
móng cho khoa học xã hội (Sử, Dân tộc học, Khảo cổ
học, Ngôn ngữ học...). Các họa sĩ do Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương đào tạo cũng mở trường đào
tạo các lớp sau. Nghệ thuật và văn học thời chiến
(đến 1975) không còn lãng mạn như trước 1945 mà
phục vụ cuộc chiến tranh yêu nước, thích hợp với chủ
nghĩa hiện thực XHCN.
Sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ (1954), các
cường quốc dàn xép cắt đôi Việt Nam để
phục vụ chiến tranh lạnh. Miền Nam chịu
ảnh hưởng văn hóa Tây Âu - Mỹ, còn miền
Bắc chịu ảnh hưởng văn hóa XHCN Đông Âu
- Trung Quốc. Có điều nên nói là miền Bắc
cũng có cơ hội đối thoại với văn hóa dân tộc
các nước Đông Âu và Trung Âu. Do đó mà
hàng loạt các tác phẩm cổ điển của Nga,
Đức, Ba Lan. Tiệp Khắc, Rumani, Bungari,
Anbani... được dịch và phổ biến rộng rãi.
Hơn 90% ở nông thôn trong toàn quốc, tư duy
và phong tục tập quán vẫn in đậm dấu
truyền thống nặng ảnh hưởng Khổng học,
phong kiến. Chỉ với hiện đại hóa lần thứ ba
(1945 - 1986), xã hội mới thực sự có những
biến đổi cơ bản do cách mạng và chiến
tranh, ảnh hưởng thế giới đa dạng và sâu
sắc. Có những cố gắng cộng nghiệp hóa và
đô thị hóa có hệ thống. Những cố gắng này ít
kết quả do chiến tranh kéo dài và tư duy
chưa thoáng. Sau chiến tranh (1975) mãi đến
Đổi mới (1986), hiện đại hóa mới có điều
kiện sâu rộng, kể cả đối thoại với văn hóa
phương Tây.
Đuổi theo kinh tế các nước láng giềng ở Đông
Nam Á vì sau 30 năm chiến tranh, kinh tế cửa ta
yếu kém, mức sinh hoạt nhân dân thấp. Đổi
mới với hai yếu tố (kinh tế thị trường - mở
cửa) góp phần giải quyết các vấn đề trên. Nó ra
đời ít lâu trước khi xuất hiện toàn cầu hóa vào
thập kỷ 90.
Toàn cầu hóa nói chung có lợi cho các nước giàu
phương Tây và có hại cho các nước đang phát
triển như nước ta. Nó có thể dẫn đến tương
đồng văn hóa (homogenisation), làm mất bản
sắc dân tộc của nước nghèo, ta phải chấp nhận
nó, đấu tranh cho nó có một bộ mặt nhân bản,
khai thác các cạnh khía tích cực của nó để bảo
đảm cho đa dạng văn hóa.
Ta đối thoại văn hóa và phương Tây không ở thế cân bằng
do kinh tế phát triển chậm, không kiểm soát nó những
văn hoá phẩm vật thể và phi vật thể nước ngoài tràn
vào, không phải dễ dàng bảo vệ bản sắc dân tộc. Nhưng
qua lịch sử, ta đã có kinh nghiệm tiếp biến văn hoá thành
công, giữ được và làm giàu bản sắc dân tộc, qua đấu
tranh và đối thoại thời Bắc thuộc và Pháp thuộc. Đối
thoại với văn hóa phương Tây, ta cần sử dụng những cơ
hội do cách mạng thông tin và giao thông tạo ra để đóng
góp với thế giới.
Có nhiều cơ hội trao đổi văn hóa với phương Tây qua con
đường Chính phủ và nhân dân. Ấy là không kể Internet,
các Website... Ta có dịp đưa ra ngoài hội họa, múa rối
nước, tuồng, chèo, ẩm thực... Quan trọng nhất là vừa
giữ được bản sắc dân tộc vừa hiện đại hóa
Chương 3:Các vùng văn hoá Việt Nam
3.1. Vùng văn hóa Tây Bắc
3.2. Vùng văn hóa Đông Bắc
3.3. Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ
3.4. Vùng văn hóa Trung Bộ
3.5. Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây
Nguyên
3.6. Vùng văn hóa Nam Bộ
Theo thống kê dân số năm 1979 thì Việt Nam có
54 dân tộc. 54 dân tộc cùng chung sống trên
lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc thái riêng, cho
nên văn hoá Việt Nam là một sự thống nhất
trong đa dạng. Ngoài văn hoá Việt-Mường
mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hoá
đặc sắc khác như Tày-Nùng ,Thái,Chàm, Hoa-
Ngái, Môn- Khơme, H’Mông-Dao, nhất là văn
hoá các dân tộc Tây Nguyên giữ được những
truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả
một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng
núi tự nhiên.
54 dân tộc có thể chia thành 8 Nhóm, các dân tộc cùng nhóm có
quan hệ gần gũi họ hàng với nhau:
Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh,
Mường, Thổ.
Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán
Chay, Tày, Thái.
Nhóm Môn-Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều,
Chơ-ro, Co, Cơ-ho,Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ
mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi,Xinh-mun,Xơ-
đăng,Xtiêng.
• Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.
• Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La chí, La ha, Pu péo.
• Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-
glai.
• Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.
• Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà Nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá,
Si la
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều
nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân
tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc
thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ
hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao
lưu văn hóa với nhau, nhưng các dân tộc vẫn
lưu giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân
tộc mình. ở đây cái đa dạng của văn hóa các
dân tộc được thống nhất trong qui luật chung
- qui luật phát triển đi lên của đất nước, như
cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp
phạm trù triết học.
* Khái quát các đặc điểm của các dân tộc ở Việt nam:
Việt nam là một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc có số lượng
dân số không đều nhau.
Các dân tộc ở Việt nam có truyền thống đoàn kết trong đấu
tranh chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống giặc ngoại
xâm nhằm xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất.
Các dân tộc ở Việt nam cư trú phân tán và xen kẽ.Các dân tộc
ở Việt nam có cư trú ở đồng bằng, ở trung du, nhưng tập
trung nhất là ở vùng núi - nơi có một ví trí chiến lược hết
sức quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng và môi
trường sinh thái.
Các dân tộc ở Việt nam có trình độ phát triển kinh tế, xã hội,
có mức sống, mức thu nhập, sự giàu nghèo, hưởng thụ các
thành tựu của xã hội văn minh hiện đại không giống nhau.
Mỗi một dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng,
nhưng do cùng sống với nhau lâu đời, lại cùng
chung mục đích trong đấu tranh với tự nhiên
và xã hội, nên dần dần đã hình thành bản sắc
văn hoá chung thống nhất trong đa dạng.
Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào
việc tham mưu cho nhà nước đưa ra đường lối
dân tộc dựa trên các nguyên tắc cơ bản.
• Nguyên tắc đoàn kết
• Nguyên tắc bình đẳng
• Nguyên tắc tương trợ giúp đỡ nhau
• Nguyên tắc phát triển và phát triển bền vững.
• Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có
tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên
chúa giáo, Tin lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt
Nam như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; có tôn giáo
hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ
khai. Có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động
ổn định; có những tôn giáo chưa ổn định, đang trong
quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
Theo ban Tôn giáo chính Phủ , ước tính, hiện nay ở
Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng gần 20 triệu
tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động bình
thường, ổn định, chiếm 25% dân số. Cụ thể:
- Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ, có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong
cả nước, trong đó tập trung đông nhất ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định,
Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình
Định, Khánh Hoà, TP Hồ ChíMinh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Sóc
Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ..
- Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong
đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình,
Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh
Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh
Long, An Giang, thành phố Cần Thơ...
- Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ
như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền
Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau,
An Giang.. .
- Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh
miền
Tây Nam Bộ như: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh
Long.
- Đạo Tin lành: khoảng 1 triệu tín đồ, tập trung ở các
tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Bến
Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk
Phước
Nông, Bình Trà Vinh và
mộ t số tỉnh Bắc.
phía
- Hồi Giáo: Hơn 90 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh:
An Giang, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh
Thuận...
Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình
thường, còn có một số nhóm tôn giáo địa phương,
hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật giáo,
hoặc mới du nhập ở bên ngoài vào như: Tịnh độ cư
sỹ, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên
Chính giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ phái tin
lành.Mới đây, năm2007 Chính phủ vừa chính thức
cho thêm 2 tôn giáo Tịnh độ cư sỹ và Tứ Ân Hiếu
Nghĩa được phép hoạt động truyền giáo và lập giáo
hội chính thức nâng số tôn giáo chính thức ở Việt
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng,
tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt
Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới.
Về khía cạnh văn hoá, sự đa dạng các
loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần
làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú
và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó
khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ
trương, chính sách đối với tôn giáo nói
chung và đối với từng tôn giáo giáo cụ
thể.
Chương 3:
CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM

3.1. Vùng văn hóa Tây Bắc
3.2. Vùng văn hóa Đông Bắc
3.3. Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ
3.4. Vùng văn hóa Trung Bộ
3.5. Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên
3.6. Vùng văn hóa Nam Bộ
* Không gian văn hoá Việt Nam
Thông thường người ta chia thành 03 vùng lớn, miền
Bắc, miền Trung , miền Nam.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu chia một số khu vực như sau:
Miền Bắc: có 03 khu vực: Trung du Bắc bộ, Đồng
bằng sông Hồng, sông Mã.
Miền Trung từ Bắc Nghệ Tĩnh đến đèo Hải Vân, gồm
02 khu vực : Khu vực Nghệ Tĩnh (khu vực sông
Lam) và khu vực Bình Trị Thiên (sông Gianh-sông
Hương)
Miền Nam gồm 03 khu vực:
1.Khu vực sông Thu Bồn, Trà Khúc
2. Khu vực Nam trung bộ.
3. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Ngô Đức Thịnh trong công trình văn hoá
vùng và phân vùng văn hoá Việt Nam chia
thành 07 vùng văn hoá:
1.Đồng bằng Bắc bộ
2.Việt bắc
3.Tây Bắc và miền núi Bắc trung bộ
4.Đồng bằng duyên hải Bắc Trung bộ
5. Duyên hải Trung và Nam trung bộ
6. Trường Sơn – Tây Nguyên
7. Gia Định- Nam Bộ
Tác giả Trần Quốc Vượng phân chia thành 6 vùng:
1. Vùng văn hóa Tây Bắc
2. Vùng văn hóa Việt Bắc
3. Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ
4. Vùng văn hóa Trung Bộ
5. Vùng văn hóa Trường Sơn- Tây Nguyên
6. Vùng văn hóa Nam Bộ
Tác giả Lê Văn Hảo cho rằng Việt nam có thể chia thành
10 vùng văn hóa bao gồm: Thăng Long - Hà Nội, Phú
Xuân - Huế, Sài Gòn - Gia Định, Trung du và đồng
bằng Bắc bộ, Đông Bắc, Tây Bắc và Trường Sơn Bắc,
Trường Sơn Nam - Tây Nguyên, đồng bằng ven biển
Bắc Trung bộ, đồng bằng ven biển Trung và Nam
Trung bộ, Nam bộ.
Theo chúng tôi có thể phân thành 6 vùng
chính sau:
1. Vùng văn hóa Tây Bắc
2. Vùng văn hóa Đông Bắc
3. Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ
4. Vùng văn hóa Trung Bộ
5. Vùng văn hóa Trường Sơn- Tây
Nguyên
6. Vùng văn hóa Nam Bộ
3.1. Vùng văn hóa Tây Bắc:
Tây Bắc thật ra là tên gọi theo phương vị, lấy Hà Nội làm điểm
chuẩn, hiện tại là địa bàn gồm 5 tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Sơn
La, Yên Bái, Hòa Bình, và phần vùng núi của tỉnh Thanh Hóa,
Nghệ An giáp giới nước Lào.
Đây là vùng có hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông
Hồng,thuộc lưu vực sông Đà., kéo dài tới phía bắc tỉnh Thanh
Hóa và Nghệ An.Có trên 20 dân tộc sinh sống, tiêu biểu là hai
dân tộc Thái và Mường
Tây Bắc, xứ sở của hoa ban, quê hương của xoè hoa, miền đất
dịu ngọt của những thiên tình sử”tiễn dặn người yêu”- Truyện
thơ cổ dân tộc Thái,nhưng cũng tràn đầy nước mắtcủa những
thân phận người”Tiếng hát làm dâu”- Truyện thơ cổ Dân tộc
Hơmông.
- Hệ thống mương phai dẫn nước từ suối vào ruộng trồng lúa.
- Trang phục hoa văn sặc sỡ: Khăn Piêu, khăn váy áo.
- Ca múa xòe, khèn, sáo...
3.2. Vùng văn hóa Đông Bắc
Đông Bắc thật ra là tên gọi theo phương vị, lấy
Hà Nội làm điểm chuẩn, hiện tại là địa bàn
gồm sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn,
Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang và phần
miền núi của các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ,
Bắc Giang và Quảng Ninh.
Núi non hiểm trở bên tả (bên trái) ngạn sông
Hồng. Cư dân chủ yếu người Tày và Nùng
Trang phục giản dị, quần áo chàm
Có hệ thống văn tự sớm, văn học phát triển.
3.3.Vùng văn hóa Bắc Bộ (vùng Thăng Long, vùng
đồng bằng sông Hồng)
Gồm các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ : Hà Nội- Hà
Tây, Hà Nam, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải
Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam
Định, Ninh Bình, Thái Bình. Cư dân chủ yếu là
người Việt Kinh, sống thành làng xã.Vùng này
đất đai trù phú, phát triển toàn diện, sẽ là
nguồn cội của văn hóa Trung bộ và Nam bộ
sau này và trở thành trung tâm văn hóa cả nước.
3.4.Vùng văn hóa Trung Bộ
Dải đất hẹp và dài dọc theo biển Đông, từ tỉnh
Thanh Hoá đến Bình Thuận
Khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn. Dân Việt
từ ngoài vào, sinh sống chủ yếu bằng nghề
biển. Con người chịu đựng gian khổ, cần cù,
hiếu học.
Chủ nhân đầu tiên là người Chăm (gốc Nam
đảo- Austronésien), trước đây dựng nên
vương quốc Cham Pa, sau sáp nhập vào nước
Đại Việt (thời Lê). Bộ phận văn hóa Chăm
chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ với nhiều
thành tựu đặc sắc về kiến trúc và điêu
khắc...tiêu biểu là những Tháp Chàm.
3.5.Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên
Phía Đông dãy Trường Sơn, hiện gồm 5 tỉnh Gia Lai,
Kontum, Đak Lak, Đak Nông, Lâm Đồng. Trên 20 dân
tộc.Các sắc tộc tiêu biểu cho gia đình Môn-Khmer
(Nam Á) là Ba Na, Xơ Đăng, Mơ Nông, Mạ, Xtiêng...
Còn các sắc tộc tiêu biểu cho gia đình Malayo-
polynésien (Nam Đảo) là Ê Đê, Gia Rai, Raglai, Chu
Ru., đây là vùng có nhiều thành tựu văn hóa cổ đặc
sắc, như các lễ hội, nhạc cụ cồng chiêng, dân ca, lễ
hội, trường ca cổ (Đam San, Xing Nhã...)
Lễ hội đâm trâu, các nhà mộ Tây Nguyên là những đặc
sắc trong văn hoá của họ.Tục uống rượu cần - nối
kết cộng đồng.
Di sản văn hoá phi vật thể thế giới: không gian văn hoá
cồng chiêng (2005)
3.6. Vùng văn hóa Nam Bộ
Hai lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long, gọi là miền Đông
Nam Bộ vàTây Nam bộ, trung tâm là thành phố Sài Gòn -Gia
Định.
Đồng bằng rộng rãi, kinh rạch chằng chịt, khí hậu 2 mùa mưa và
khô rõ rệt, điều hòa.
Những cư dân bản địa như Khmer (miền Tây) và Mạ, Stieng, Chơ
ro, Mnông sinh sống (miền Đông) cùng với những cư dân đến
sau như Việt, Hoa, Chăm xây dựng cuộc sống.
* Nét văn hoá nổi bật
Nhà ở dọc theo kênh rạch và đường lộ trong những làng xã mở
Sản xuất chủ yếu làm ruộng lúa nước và nghề đánh bắt cá sông
biển.
Đồ ăn thiên về thủy sản.
Tín ngưỡng, tôn giáo rất phong phú và đa dạng: hầu như các tôn
giáo lớn của Việt Nam và thế giới đều có mặt tại đây, ngoài ra
đây cũng là vùng phát sinh ra hai tân đạo Hoà Hảo (1939) và
Cao Đài (1926) ở Việt Nam
Tính cách con người phóng khoáng.
Vùng đất này tiếp xúc sớm với phương Tây: Tờ
báo đầu tiên: Gia Định báo bằng chữ quốc
ngữ ra đời ở vùng đất này, chủ bút là Học giả
Trương Vĩnh Ký (1865).
Nhìn chung, các dân tộc Việt liên hệ gắn bó mật
thiết với các dân tộc Đông Nam Á từ trong
nguồn gốc: giống người, ngôn ngữ, lối sống.
Đây là cơ sở tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa
văn hóa Việt Nam và Trung Hoa.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản