BÀI GIẢNG LÝ LUẬN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Chia sẻ: gianem_chiviyeuem

Thể dục thể thao ngay từ khi xuất hiện và phát triển trong xã hội loài người đến khi hình thành một hệ thống như ngày nay, đã trải qua hàng ngàn năm.Lịch sử phát triển của Thể dục thể thao luôn phù hợp với các thời kỳ phát triển của xã hội loài người.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: BÀI GIẢNG LÝ LUẬN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc




BÀI GIẢNG
LÝ LUẬN GIÁO DỤC THỂ CHẤT




Người soạn: Phạm Dũng



2
3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ DỤC THỂ THAO
Tóm tắt lịch sử phát triển chung về thể dục thể thao:
1.
Thể dục thể thao ngay từ khi xuất hiện và phát triển trong xã hội loài người
đến khi hình thành một hệ thống như ngày nay, đã trải qua hàng ngàn năm.L ịch s ử
phát triển của Thể dục thể thao luôn phù hợp với các thời kỳ phát triển của xã hội
loài người.
Thời kỳ nguyên thủy: Cuộc sống tự nhiên đòi h ỏi các thành viên nh ững yêu
cầu nhất định về sự chuẩn bị thể lực, sự khéo léo, s ức m ạnh, s ức b ền, kh ả năng
hoàn thành nhiệm vụ trong săn bắn, chiến tranh và chống chọi với sự khắc nghiệt
của điều kiện tự nhiên. Chính vì vậy đã hình thành và phát tri ển h ệ th ống giáo
dục thể chất đa dạng. Thời kỳ này càng chứng minh sự tồn tại và phát triển của
con người phụ thuộc trực tiếp vào trình độ chuẩn bị và phát tri ển các t ố ch ất th ể
lực. Nhiều Bộ tộc thời cổ đại đã biết sử dụng các bài tập phát triển thể lực và trò
chơi vận động như một phương tiện đặc biệt nhăm chuẩn bị cho con người vào
các lao động tự nhiên. Ở một số bộ tộc có quy định nghiêm ngặt không cho phép
thanh niên được cưới vợ nếu chưa trải qua những thử thách nhất định về sự
chuẩn bị thể lực....
Dù trình độ phát triển lực lượng sản xuất xã hội đến mức độ nào thì vai trò
quyết định giá trị phát triển để có tư chất th ể lực vẫn có trong đời s ống xã h ội và
tự nhiên. Sự phát triển của chúng luôn là bộ phận quan trọng của nền giáo d ục
con người.
Trong xã hội nô lệ, điển hình là thời cổ Hy lạp, để tiến hành chi ến tranh
xâm lược và đàn áp nô lệ; giai cấp chủ nô đã rất chú trọng đ ến vi ệc giáo d ục cho
các chiến binh có những kiến thức phong phú và có thể lực tốt; từ đó họ có nh ững
đội quân hùng mạnh. Thời cổ hy lạp, nếu ai không bi ết đọc, vi ết và b ơi l ội thì b ị
coi là mù chữ. Giáo dục trong các quốc gia cổ Hy lạp: Spart và Afin là m ột lo ại
hình cổ của sự phát triển Thể dục thể thao. Nội dung, mục đích của Giáo dục th ể
chất thời kỳ này nhằm đảm bảo tính phù hợp với điều kiện và yêu cầu c ủa ch ế
độ nông nô. Người học các môn khoa học tự nhiên, xã hội ph ải h ọc Th ể d ục-
Đấu kiếm- Cưỡi ngựa- Bơi lội và Chạy; từ 15 tuổi trở lên ph ải học cả V ật và
Vật chiến đấu. Nhờ đó con người được giáo dục sức mạnh, sự khéo léo và các t ố
chất cần thiết. Tiêu biểu nhất về sự phát triển Th ể dục thể thao c ủa th ời kỳ này
là các Đại hội Olympic; đây là hoạt động có giá trị lịch sử, văn hóa cao trong đ ời
sống của thời kỳ c hy lạp. Những người chiến thắng trong Olympic được xã hội
tôn vinh như vị anh hùng, được xã hội ca ngợi- làm th ơ- t ạc tượng. Nhi ều nhà
khoa học vĩ đại thời cổ đại nổi tiếng thế giới cũng từng là nh ững v ận đ ộng viên
xuất sắc. Ví dụ: Nhà toán học Pitagor là nhà vô địch Olympic về vật chi ến đ ấu;
Nhà triết học Platon cũng nổi danh về vật. Các nhà triết học: Socrate và Aristote,

3
4
diễn giả Démosthène, nhà văn Lukian và các vĩ nhân khác đã đánh giá ý nghĩa l ớn
lao của Giáo dục thể chất và khâm phục sự biểu hiện sức mạnh, lòng dũng cảm
và hào hiệp. Aristote đã từng khẳng định: “ Không có cái gì làm tiêu hao và phá
hủy con người hơn là sự ngưng trệ vận động”. Trong ch ế độ nông nô, các bài t ập
thể dục khác nhau (Vật, nhào lộn, cưỡi ngựa, đấu kiếm) đã được sử dụng rộng
dãi ở Ai cập, Babilon, Ba tư, Trung quốc, Ấn độ và đặc biệt ở thành cổ Rôma.
Bắt đầu từ chế độ nông nô, Thể dục thể thao được coi là phương tiện ph ục vụ
cho giai cấp thống trị.
Trong chế độ phong kiến, Giáo dục thể chất mang tính ch ất phục vụ chi ến
tranh. Giáo dục thể chất trong hệ thống quân đội của tầng lớp phong kiến với
mục tiêu nắm vững 7 yêu cầu của người hiệp sỹ: cưỡi ngựa, đấu kiếm, bắn
cung, bơi lội, săn bắn, chơi cờ và đọc thơ. Những hiệp sỹ đó làm nên đội quân
hùng mạnh để giai cấp phong kiến tiến hành chiến tranh xâm lược và đàn áp
phong trào nồi dậy của nông dân.
Trong xã hội tư bản, Thể dục thể thao phát triển ở trình độ cao. Sự xuất
hiện và phát triển sâu rộng của Thể dục thể thao nh ư là m ột b ộ ph ận quan tr ọng
của nền văn hóa xã hội (Thể thao nghiệp dư và nhà nghề). Đồng thời trong giai
đoạn này đã xuất hiện cơ sở về nền lý luận giáo dục thể ch ất tư s ản. Th ể dục
thể thao trong xã hội tư bản biểu hiện rõ rệt tính chất giai cấp; Giai cấp tư sản sử
dụng Thể dục thể thao với mục đích đặc quyền của tầng lớp bóc lột, đánh lạc
hường quần chúng lao động và đặc biệt là lôi kéo t ầng l ớp thanh niên ra kh ỏi đ ời
sồng chính trị xã hội và phong trào cách mạng; kích động và đào tạo thanh niên đ ể
chuẩn bị cho chiến tranh.
Một số khái niệm cơ bản của Giáo dục thể chất.
2.
Giáo dục Thể chất: Là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào t ạo th ế h ệ
trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài
tuổi thọ của con người.
Hệ thống Giáo dục thể chất: là sự tổng hợp các cơ sở khoa h ọc về quan
điểm và phương pháp luận của Giáo dục thể chất cúng với các cơ quan tổ chức
thực hiện và kiểm tra công tác Giáo dục thể chất quốc dân.
Văn hóa Thể chất: là một bộ phận của nền văn hóa chung, là m ột lo ại hình
hoạt động đặc biệt nhăm hình thành các tố ch ất th ể lực, tăng c ường s ức kh ỏe và
khả năng làm việc của dân chúng. Các yếu tố cơ bản của hoạt động này là các bài
tập thể lực có liên quan chặt chẽ với quá trình hình thành, phát tri ển của nền văn
hóa, giáo dục chung của con người. Giáo dục Thể chất là bộ phận cấu trúc nên
nền văn hóa thể chất.
Phong trào Thể thao: là một hình thức đặc biệt của các hoạt động xã hội, có
nhiệm vụ phối hợp nâng cao trình độ văn hóa thể chất và phát triển thể thao trong
nhân dân. Phong trào thể thao là hoạt động có tính mục đích của các tổ ch ức nhà

4
5
nước, xã hội nhằm phát triển Thể dục thể thao. Phong trào th ể thao là một b ộ
phận hoạt động văn hóa, giáo dục; nó có vị trí và ch ức năng quan tr ọng trong giáo
dục sự hài hòa về nhân cách và thể chất con người.
Phát triển thể chất: là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất tự nhiên
về hình thái, chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội. Phát tri ển th ể
chất của mỗi người phụ thuộc vào những đặc điểm sinh học, điều kiện sống và
quá trình giáo dục của xã hội. Các chỉ số để đánh giá trình độ phát triền thể lực là:
chiều cao- cân nặng- lồng ngực- dung tích sống.
Chuẩn bị thể lực: Là nội dung của quá trình giáo dục thể chất, đây là ho ạt
động chuyên môn hóa nhằm chuẩn bị cho con người học t ập, lao đ ộng và b ảo v ệ
tổ quốc.
Trình độ thể lực: Là kết quả của quá trình chuẩn bị thể lực, kỹ năng vận
động cho một loại hình hoạt động nào đó.
Học vấn thể chất: Là sự xác định các tri thức chung, các hê thống kỹ năng-
kỹ xảo đề điều khiển các hoạt động của cơ thể trong những điều kiện sống và
hoạt động khác nhau của con người.


CHƯƠNG II
GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Mục đích và nhiệm vụ của Giáo dục thể chất:
1.
Mục đích: Góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa h ọc
kỹ thuật, quản ký kinh tế và văn hóa xã hội có thể chất cường tráng- phát tri ển
hài hòa- đáp ứng được yêu cầu của chuyên môn ngh ề nghiệp và có kh ả năng ti ếp
cận với thực tiễn lao động, sản xuất... của nền kinh tế thị trường.
Nhiệm vụ:
- Giáo dục đạo đức, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật;
xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác h ọc tập và rèn luy ện
thân thể ; chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc.
Cung cấp các kiến thức lý luận cơ bản về nội dung – phương pháp
-
luyện tập Thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số
môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng kh ả năng sử dụng các ph ương
tiện đó để tự rèn luyện thân thể, cải thiện đời s ống tinh th ần c ủa b ản thân; đ ồng
thời tham gia các phong trào thể dục thể thao của nhà trường và xã hội.
Góp phần duy trì- củng cố sức khỏe và phát triển cơ thể của sinh viên
-
một cách hài hòa; xây dựng những thói quen lành mạnh và kh ắc ph ục các thói
quen xấu; tránh xa các tệ nạn xã hội.


5
6
Trong các trường Đại học và cao đẳng, hiệu trưởng là người chịu trách
nhiệm chung trong chỉ đạo, kiểm tra công tác giáo dục thể chất – phong trào th ể
thao và theo dõi sức khỏe của sinh viên. Bộ môn Giáo dục thể chất có trách nhiệm
về việc tổ chức và tiến hành quá trình sư phạm và giáo dục th ể chất cho sinh
viên theo kế hoạch giảng dạy của trường. Các hoạt động Th ể dục th ể thao qu ần
chúng và nâng cao thành tích thể thao do chi hội thể thao đại h ọc và chuyên
nghiệp( Ban văn thể ) Trường cùng với Bộ môn Giáo dục thể chất phối hợp với
các tổ chức quần chúng khác như Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường
thực hiện. Công tác kiểm tra sức khỏe định kỳ và theo dõi tình trạng s ức khỏe của
sinh viên trong quá trình luyện tập và thi đấu Th ể dục thể thao do Y t ế tr ường
phối hợp với Bộ môn Giáo dục thể chất tiến hành.
Các hình thức Giáo dục thể chất:
2.
Giáo dục thể chất trong các trường đại học phải được tiến hành b ằng các
hình thức sau:
Giờ học thể dục thể thao:
-
+ Giờ chính khóa: (150 tiết chia thành 5 học ph ần) trang b ị các ki ến th ức v ề
lý luận giáo dục thể chất; nguyên lý kỹ thuật một số môn th ể thao theo đi ều ki ện
cơ sở vật chất và con người của trường; các phương pháp tập luy ện để duy trì và
nâng cao thể lực cho sinh viên.
+ Giờ ngoại khóa: ( 320 tiết chia ra 4 năm học, năm thứ nhất và thứ 2 mỗi
năm 60 tiết, năm thứ 3 và năm thứ tư mỗi năm 100 tiết) nhằm củng cố và hoàn
thiện các bài học trong giờ chính khóa.
+ Các bài tập thể dục vệ sinh và chống mệt mỏi hàng ngày.
+ Các hoạt động thể thao quần chúng: Giải thể thao của khoa, trường và
các đội tuyển trường tham gia thi đấu ở các giải do các cấp ban ngành tổ chức.
Trách nhiệm của sinh viên:
3.
Tham gia đầy đủ các buổi học thể dục thể thao( cả lý luận và thực
-
hành) theo thời khóa biểu và kế hoạch giảng dạy của nhà trường.
- Kiểm tra thể lực và sức khỏe định kỳ ( thực hiện các thử nghiệm cần
thiết để xác định trình độ thể lực và tình trạng các cơ quan chức năng của cơ thể)
Tích cực học tập và tìm hiểu các tài liệu về thể dục th ể thao tạo điều
-
kiện tiếp thu kiến thức về lý luận và phương pháp giáo dục thể chất.
Có chế độ sinh hoạt, học tập và nghỉ ngơi hợp lý.
-
- Thường xuyên tập thể dục buổi sáng, thể dục giữa giờ và tự luyện tập
để phát triển thể lực theo sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn Giáo dục thể chất.



6
7
Củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực trên cơ sở tiêu chuẩn rèn
-
luyện thân thể và hoàn thiện kỹ thuật các môn thể thao.
- Tích cực tham gia các phong trào thể thao quần chúng từ lớp, khoa, khóa,
trường và ngoài trường.


CHƯƠNG III
CƠ SỞ KHOA HỌC SINH HỌC CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Giáo dục thể chất được xây dựng dựa trên những thành tựu của các khoa
học Y sinh học về cơ thể con người như: Sinh lý, Sinh hóa, Sinh cơ, Giải ph ẫu,
Vệ sinh, Y học.... Không có những kiến thức về cấu tạo của cơ thể, vè quy luật
hoạt đọng của từng cơ quan của các hệ cơ quan chức năng của cơ thể cũng như
đặc điểm của các quá trình sống phức tạp thỉ không thể tổ chức và tiến hành công
tác giáo dục thể chất đạt hiệu quả.
1. Cơ thể con người là hệ sinh học thống nhất. Trao đổi chất và năng
lượng:
- Cơ thể con người là hệ sinh học thống nhất:
Y sinh học hiện đại khi nghiên cứu cơ thể sống thường tách nó ra thành các
cơ quan, hệ cơ quan và các chức năng riêng biệt. Tuy nhiên, cơ thể con người luôn
là một hệ sinh học hoàn chỉnh và thông nhất, có khả năng t ự đi ều ch ỉnh và t ự phát
triển. Sự thông nhất đó thể hiện ở cả hai mặt: Giữa các cơ quan, hệ cơ quan hoặc
các chức năng của cơ thể luôn có sự tác động qua lại với nhau; sự biến đổi của một
cơ quan nhất thiết sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan khác và nói chung
đến toàn bộ cơ thể. Hoạt động của cơ thể bao gồm sự phối hợp của hoạt động tâm
lý, hoạt động dinh dưỡng và vận động trong mối liên hệ chặt chẽ với môi trường
xung quanh và chịu sự tác động của môi trường. Sự thay đổi của môi trường bao
gồm cả sự thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội sẽ dẫn đến những thay đổi
trạng thái của cơ thể.
- Trao đổi chất và năng lượng:
Sự thống nhất của cơ thể với môi trường bên ngoài thể hiện ở sự trao đổi
chất và năng lượng. Không một tế bào nào của cơ thể có thể tồn tại nếu không
liên tục nhận được các chất dinh dưỡng, ô xy và đào thải các sản phẩm phân giải.
Sự trao đổi chất và năng lượng liên tục của cơ thể được phân chia ra làm hai quá
trình. Quá trình Đồng hóa là quá trình h ấp th ụ các ch ất dinh dưỡng và ô xy đ ể tích
lũy tiềm năng vật chất của cơ thể; Quá trình di hóa là quá trình liên t ục phân gi ải
các chất hóa học phức tạp đã hấp thụ được đào tạo thành năng l ượng cho c ơ th ể
sống và hoạt động.
Quá trình trao đổi chất của cơ thể được chia làm Ba giai đoạn:

7
8
- Giai đoạn 1: Đưa các chất dinh dưỡng và ôxy vào cơ thể
- Giai đoạn 2: Các cơ quan- tổ chức hấp thụ các chất dinh dưỡng và ô xy để
tích lũy và giải phóng năng lượng
- Giai đoạn 3: Đào thải các sản phẩm phân giải
Ô xy được đưa vào cơ thể bằng hệ hô hấp và hệ tim mạch; còn các ch ất
dinh dưỡng( đường- đạm- mỡ- muối khoáng- vitamin) vào cơ thể cùng thức ăn.
Quá trình trao đổi chất xảy ra mạnh và liên tục trong su ốt cu ộc đ ời con
người; Các tế bào luôn phân hủy và được sản sinh; trong 3 tháng cơ th ể đã thay
đổi gần ½ lường Prôtêin; ví dụ : sau 5 năm học, niêm mạc dạ dày của sinh viên đã
thay đổi tới 500 lần. Sự trao đổi chất của cơ thể luôn xảy ra song song với sự trao
đổi năng lượng; sự cân bằng giữa năng lượng hấp thụ và năng lượng tiêu hao là
chỉ số quan trọng để đánh giá sự trao đổi năng lượng. Cân bằng dưỡng khi hấp
thụ lớn hơn tiêu hao, lúc này cơ thể éo lên, ưa vận đ ộng, n ếu đ ể cân b ằng d ương
kéo dài sẽ bị bệnh béo phì, sức khỏe giảm sút; cân bằng amaam sẽ làm sút cân,
người mệt mỏi, giảm khả năng vận động; nếu để kéo dài sẽ dẫn đến bệnh suy
dinh dưỡng.
Quá trình tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động được diễn ra theo 2 cách:
Đốt chấy đường & mỡ: Khi cơ thể được cung cấp đủ Ôxy thì quá trình
-
tạo ra nguồn năng lượng lớn ; máu đảm nhiệm việc vận chuy ển ch ất dinh d ưỡng
và các sản phẩm phân giải; cơ chế đốt cháy là nguồn năng lường chiếm ưu th ế
lúc yên tĩnh khi vận động nhẹ, thời gian dài.
Phân hủy các chất giàu năng lượng (khi cơ thể hoạt động trong đi ều
-
kiện nguồn cung cấp Ôxy không đáp ứng đủ): Cơ chế này tạo ra năng lượng
nhanh, không cần phải có Ôxy song lại tạo ra Axit lactic là chất tích t ụ trong c ơ
làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ( gây chuột rút).
Đường (Gluxit) là chất cung cấp năng lượng chính của cơ thể ( 1g
đường cung cấp 4,1Kcal). Đường được sử dụng mạnh ở não và cơ. Cơ thể luôn
được bão hòa đường dưới dạng Glucoza chứa trong tất cả các mô c ủa c ơ th ể;
nguồn cung cấp đường chủ yếu là các thức ăn có nguồn gốc thực vật. Trong
máu , hàm lượng đường glucoger luôn ổn định ở khoảng 80 – 120 mg %. Ngoài ra
cơ thể còn dự trữ đường dưới dạng Glucogen ở gan và cơ. Hàm l ượng Glucogen
dự trữ này khoảng300g. Ở những vận động viên trình độ cao lượng Glucogen
này lên tới 500g. Trong các hoạt động thể lực và trí óc căng th ẳng, l ượng Glucoza
tăng lên theo phản xạ giúp cho cơ thể hoạt động tốt h ơn và thích nghi nhanh h ơn
với hoạt động. Khi hoạt động căng thẳng- kéo dài thì hàm lượng đường trong máu
giảm xuống. Với người bình thường nếu lượng đường giảm xuống tới 70 mg %
thì hoạt động của não sẽ bị rối loạn và nếu xuống tới 60 mg % thì não không hoạt
động được nữa; nhưng với các VĐV có trình độ cao thì vẫn tiếp tục thi đấu được
thậm chí cả khi hàm lượng đường trong máu xuống tới 40 mg %. Đi ều đó cho
8
9
thấy rằng tập luyện thường xuyên, đúng phương pháp đã nâng cao kh ả năng ch ịu
đựng của cơ thể.
Mỡ ( lipit ) là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng rất cao ( 1g mỡ khi
phân giải cung cấp 9,3 Kcal); mỡ có nhiều trong cả th ức ăn động v ật và th ực v ật.
Trong cơ thể , mỡ còn có chức năng bảo vệ cơ thể kh ỏi bị mất nhi ệt, b ảo v ệ các
cơ quan nội tạng khi có va chạm cơ học. Mỡ còn tham gia c ấu t ạo màng t ế bào.
Khi cung cấp năng lượng mỡ được sử dụng dưới dạng các Axit béo, và ch ủ y ếu
cho cơ trơn; con cơ vân chỉ sử dụng mở để tạo năng lượng trong các hoạt động
nặng – kéo dài và khi lượng dự trữ đường đã cạn; 80 % năng lượng của cơ thể
được cung cấp bằng cách phân giải mỡ. Vì vậy việc tập luy ện TDTT có tác dụng
kích thích việc sử dụng mỡ, chống được bện béo phì.
Đạm ( Prôtêin) là chất cấu tạo cơ bản của cơ thể. Song nếu b ị đói kéo
dài, đường và mỡ dự trữ đã cạn thì đạm cũng có thể sử dụng để cung cấp năng
lượng ( 1g đạm khi phân giải cung cho 4,1 Kcal); Đạm không được dự trữ trong
cơ thể, vì vậy khi bị đói- đạm của cơ quan này sẽ được sử dụng để duy trì sự
sống của cơ quan khác quan trọng hơn.
Muối khoáng, vi tamin, nước: là những chất không sinh năng lượng.
Nước và muối khoáng chủ yếu để duy trì áp suất thể dịch c ủa c ơ th ể và ổn đ ịnh
môi trường bên trong cơ thể. Vitamin có tác dụng xúc tác các quá trình chuy ển hóa
các chất và nâng cao khả năng hoạt động của cơ thể, đặc biệt là các hoạt động
thể lực.
2. Cơ thể con người là bộ máy vận động:
Vận động ;à điều kiện để cơ thể tồn tại và phát triển. Cơ thể con người
được cấu tạo và hoạt động giống như một bộ máy vận động. Bộ máy vận động
của cơ thể gồm có xương- cơ- dây chằng( là những bộ phận trực tiếp đảm nhiệm
chức năng vận động); các hệ cơ quan (hô hấp- tuần hoàn& máu) đảm bảo cung
cấp Ôxy và vận chuyển các chất dinh dưỡng cho cơ tồn tại, phát tri ển và cung
cấp năng lượng cho cơ quan vận động hoạt động. Tất cả các hoạt động đ ều ch ịu
sự điều khiển của hệ thần kinh TW.
2.1 Bộ máy vận động: (Gồm xương, cơ, dây chằng& thần kinh điều
khiển hoạt động của cơ) trong đó xương, cơ, dây chằng là bộ phận trực ti ếp th ực
hiện các động tác.
- Bộ xương: (Gồm hơn 200 chiếc) Là giá đỡ thân th ể và bảo v ệ các c ơ
quan nội tạng. Các xương liên kết với nhau tạo nên các khớp xương; trong khớp
có sụn và dịch nhầy; xung quanh khớp có dây chằng giữ cho kh ớp ổn đ ịnh – v ững
chắc. Mỗi khớp chỉ có khả năng hoạt động theo một hướng và m ức độ nh ất đ ịnh
nhưng nếu được tập luyện thì mức độ linh hoạt của khớp s ẽ tăng lên đáng k ể
song cấu trúc giải phẫu mới là yếu tố quyết định đến vi ệc l ựa ch ọn đ ộng tác
trong tập luyện.

9
10
- Cơ bắp: (có 3 loại là cơ trơn, cơ vân, cơ tim). Cơ trơn cấu tạo ở mạch
máu, các cơ quan nội tạng và ở da; cơ tim cấu tạo ở tim hai loại cơ này hoạt động
không theo ý muốn, chúng hoạt động rất bên bỉ. Cơ vân có đặc đi ểm là co nhanh
nhưng chóng mệt mỏi và hoạt động theo ý muốn.
- Thần kinh cơ: Để cơ có thể hoạt động thì phải có các xung th ần kinh
đi đến cơ theo các sợi thần kinh. Các sợi TK đi đến cơ là các sợi nhành của tế bào
thần kinh vận động; thân của té bào nằm ở tủy sống hoặc não; m ột t ế bào TK có
thể có rất nhiều nhánh đi đến nhiều sợi cơ. Tế bào TK và nh ững sợi cơ mà nó
điều khiển tạo thành một đơn vị vận động. Đơn vị vận động có thể rất nh ỏ, ch ỉ
chứa vài sợi cơ, nhưng cúng có thể rất lớn, chứa đến 2000 sợi cơ.




Sơ đồ cấu tạo đơn vị vận động
2.2 Máu và tuần hoàn máu:
a. Máu: là chất lỏng màu đỏ, lưu thông trong hệ thống tuần hoàn khép
kín. Máu là một mô liên kết đặc biệt gồm chất lỏng đặc biệt( huyết tương) và các
tể bào máu( huyết cầu). Có ba loại huyết cầu: Hồng cầu- bạch cầu và tiểu cầu.
- Hồng cầu: Là những tế bào không nhân hình đĩa lõm ở giữa, cấu tạo từ
một chất đạm đặc biệt gọi là huyết cầu tố(hemoglobin). Huy ết cầu t ố có kh ả
năng kết hợp với Ôxy thành một hợp chất và nhờ đó Ôxy được vận chuy ển t ới
các tổ chức cơ quan và khí cacbonic lại được chuyển từ các tổ chức cơ quan ra
phổi,
- Bạch cầu: Chủ yếu thực hiện chức năng bảo vệ; chúng tiêu diệt các
chất lạ xâm nhập vào cơ thể .
- Tiểu cầu: nhỏ hơn hồng cầu và có vai trò qua trọng trong việc làm đông
máu.

10
11
Các tế bào máu năm trong huyết tương, trong huyết tương còn có các
chất dinh dưỡng, muối khoáng, các sản phẩm phân giải của quá trình trao đ ổi
chất, các nội tiết tố, các loại vi khuẩn và các kháng thể đối với các chất độc hại...
- Máu được tuần hoàn trong hệ mạch máu để đảm nhiệm các chức năng rất quan
trọng:
+ Chức năng dinh dưỡng: cung cấp các chất dinh dưỡng đến các mô cho
hoạt động sống của các tế bào
+ Chức năng điều khiển: các nội tiết tố và các chất khác có trong máu có
tác dụng điều hòa hoạt động của các cơ quan - tổ chức.
+ Chức năng bảo vệ: Nhở quả trình thực bào và quá trình mi ễn d ịch c ủa
bạch cầu.
+ Chức năng điều nhiệt: Màu làm nhiệm vụ vận chuyển nhiệt, làm cho
cơ thể không bị quá nóng và sưởi ấm cho các bộ phận bị lạnh.
b. Hệ tuần hoàn: (Gồm có Tim và hệ thống các mạch máu) Màu được di
chuyển trong hệ tuần hoàn nhờ lực bóp của tim và sự nhu động của thành mạch máu;
máu được đảy từ tim vào các động mạch, sau đó chia nhánh nhiều lần, cuối cùng ở
các cơ quan và tổ chức là mao mạch (các mạch máu rất nhỏ có cấu tạo các màng bán
thấm).
Tim là bộ phận quan trọng nhất của hệ tuần hoàn; cấu t ạo nh ư một cái
bơm để đảy máu đi và hút máu về; nhờ tim mà máu tuần hoàn trong cơ thể. Tim
hoạt động tự động song cũng chịu sự tác động gián tiếp của các cơ quan t ổ ch ức
khác đặc biệt là hệ thần kinh. Tim được chia làm 4 ngăn, hai buồng phía dưới là
tâm thất phải và trái, hai buồng phía trên là tâm nhĩ phải và trái.
Sự tuần hoàn diễn ra theo hai vòng:
Vòng lớn bắt đầu từ Tâm thất trái theo động mạch mang các chất dinh
dưỡng và Ôxy tới các tổ chức cơ quan sau đó theo tĩnh mạch trở về tâm nhĩ phải.
Vòng tuần hoàn nhỏ từ Tâm nhĩ phải đổ xuống tâm th ất ph ải rồi từ đó theo
theo động mạch đem khí cácbonic lên phổi đổi lấy Ôxy và trơ về tâm nhĩ trái; từ
tâm nhĩ trái màu lại đổ xuống tâm thất trái để chuẩn bị một vóng tuần hoàn mới.




11
12




Sơ đồ vòng tuần hoàn
1. Động mạch chủ 2. Động mạch gan 3. Động mạch ruột 4. Lưới
mao mạch 5. Tĩnh mạch cửa 6. Tĩnh mạch gan 7. Tĩnh mạch chủ dưới 8.
Tĩnh mạch chủ trên 9. Tâm nhĩ phải 10. Tâm thất phải 11. Động mạch phổi
12. Lưới mao mạch 13. Tĩnh mạch phổi 14. Tâm nhĩ trái 15. Tâm thất phải
Các chỉ số sinh lý đặc trưng của hệ tim mạch là: huyết áp- mạch đập- th ể
tích tâm thu- thể tích phút.
- Mạch (tần số co bóp của tim): người bình thường khoảng 60- 80 lần/
phút; người tập luyện thường xuyên có thể xuống 50 lần/ phút thậm chí các
VĐV bơi, chạy dài mạch xuống dưới 50 lần / phút (khi yên tĩnh)
Huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch. Khi tim co bóp, áp suất lên
-
đến 120mmHg và được gọi là h/a tối đa hay h/a tâm thu; khi tim giãn ra, áp l ực ở
động mạch khoảng 70-80mmHg gọi là h/a tối thiểu hay là h/s tâm trương.
Khi tập luyện TDTT thì mạng lưới mạch máu dày đặc h ơn, đ ộ đàn h ồi c ủa
thành mạch lớn hơn nên sự tuần hoàn của máu tốt hơn.
- Thể tích tâm thu:là lượng màu tâm thất trái đẩy ra trong mỗi lần co bóp.
Thể tích phút l: là lượng máu tâm thất trái đảy đi trong một phút. Khoảng
-
5 – 6 lit khi yên tĩnh và khi vận động thì cả thể tích tâm thu và mạch đập đều tăng
lên theo cường độ vận động; ở VĐV thể tích tâm thu khi vận động có thể từ 30- 40
lít
C. Hệ hô hấp:



12
13
Hô hấp là tổ hợp các quá trình sinh lý đảm bảo việc cung cấp Ôxy cho cơ
thể và đào thải khí Cacbonic do bộ máy hô hấp và hệ tuần hoàn đảm nhiệm.
Bộ máy hô hấp gồm có : Mũi, Phế quản và quan trọng nh ất là Ph ổi; ph ổi
được cấu tạo từ các phế nang, ( diện tích trải ra của phế nang khoảng 100 m2);
thành các phế nang mỏng, phía ngoài là mạng lưới các mao m ạch dày đ ặc nên s ự
trao đổi khí giữa phổi và máu rất thuận lợi.
Quá trình hô hấp được chia thành hô hấp ngoài và hô h ấp trong. Hô h ấp
ngoài là quá trình trao đổi khí giữa không khí ở ph ế nang và máu- sự v ận chuy ển
các chất khí trong máu ( ở phế nang ÔXY thấm qua thành ph ế nang vào máu,
Cacbonic thấm từ máu thải ra không khí ở phế nang). Hô h ấp trong còn g ọi là hô
hấp tế bào xảy ra giữa máu và tổ ch ức cơ quan của c ơ th ể; ôxy s ẽ đi t ừ máu qua
dịch kẽ rồi váo tế bào còn khí Cacbonic thì ngược lại. Quá trình hô h ấp th ường
được đánh giá bằng các chỉ số sinh lý: Tần số hô hấp- Thể tích hô hấp- Thông khí
phổi- Dung tích sống- nhu cấu Ôxy- Hấp thụ Ôxy.
Tần số hô hấp: là số lần thở trong một phút; bình thường khoảng 16-20
lần/phút; khi vận động có thể tăng lên đến 30- 40 lần/phút.
Thể tích hô hấp: Là lượng không khí đi qua phổi trong một lần thở; bình
thường khoảng 250- 700 ml; khi hoạt động nặng có thể lên tới 2- 2.5 lít.
Thông khí phổi: là lượng không khí đi qua phổi trong một phút ( = Th ể tích
hô hấp X tần số hô hấp)
Dung tích sống: Là lượng không khí tối đa mà người ta có thể th ở ra sau
khi hít vào hết sức; dung tích sống phụ thuộc vào tuổi- giới tính- tình trạng s ức
khỏe- trình độ tập luyện và nhiều yếu tố khác...; Bình th ường kho ảng 2.5- 3.5 lít
còn VĐV có trình độ cao có thể tới 6- 7 lít.
Nhu cầu Ôxy: Là lượng Ôxy mà cơ thể cần trong một phút để đảm bảo sự
trao đổi chất; nó tương ứng với mức năng lượng tiêu hao của cơ thể.
Hấp thụ Ôxy là lượng Ôxy thực tế cơ thể đã sử dụng trong một phút; Vo2
max là khả năng hấp thụ Ôxy tối đa; ở người bình thường khoảng 2- 3.5 lít , ở các
VĐV các môn thể thao sức bền có thể lên tới 6 lít.
d. Điều hòa sự hoạt động của cơ thể: Mọi sự hoạt động của cơ thể đều
chịu sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương và cơ chế điều hòa thể dịch.
- Hệ thần kinh trung ương điều khiển sự hoạt động của các cơ quan bằng
các xung động thần kinh và việc tiếp nhận các tín hiệu từ bên ngoài và bên trong
cơ thể; hệ thần kinh hoạt động theo cơ chế phản xạ; mỗi một ph ản xạ của cơ
thể xảy ra theo một đường lan truyền hưng phấn cố định (cung phản xạ)




13
14




Sơ đồ cung phản xạ
- Cơ chế điều hòa thể dịch điều hòa hoạt động của các cơ quan thông qua
các chất chứa trong máu. Các chất hóa học đó có thể là nội tiết tố do các tuy ến
dịch tiết ra- các chất khí- các sản phẩm trao đổi chất...
3.Cơ sở sinh lý của hoạt động thể lực:
3.1 Kỹ năng vận động: Là một hình thức hành động được hình thành theo
cơ chế phản xạ có điều kiện nhờ quá trình tập luyện th ường xuyên; hay nói cách
khác kỹ năng vận động là các động tác được thực hiện một cách tự động hóa do
đã trở thành thói quen như : đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy là các kỹ năng vận động
cơ bản của mọi người. Tất cả các kỹ thuật Thể thao đều là những kỹ năng vận
động.
Kỹ năng vận động được hình thành dần dần theo ba giai đo ạn: Lan toả;
Tập trung; Tự động hóa.
Giai đoạn lan toả: hưng phấn lan rộng trên vỏ đại não vì chưa hình thành
-
được một tổ hợp các phản xạ tối ưu; nhiều nhóm cơ không cần thiết cũng tham
gia vào vận động, động tác vì thế không chính xác, thiếu kinh tế, nhiều cử động
thừa.( ví dụ về người tập đi xe đạp)
Sau một thời gian tập luyện, động tác được hoàn thiện dần tức là giai
-
đoạn lan toả đã chuyển dần sang giai đoạn tập trung; ở giai đoạn này, h ưng ph ấn
được tập trung ở những vùng nhất định trên vở não cần thiết cho vận động, các
động tác thừa mất đi, cơ co duỗi hợp lý , động tác trở nên nh ịp nhàng chính xác và
thoải mái; kỹ năng vận động đã được hình thành tương đối ổn đ ịnh nh ưng khi
thực hiện động tác người tập vẫn cần có sự tập trung nh ất định n ếu không r ất có
thể động tác sẽ lại bị phá vỡ.
Khi kỹ năng được thực hiện lặp lại nhiều , được củng cố đến mức khi
-
thực hiện bài tập, củ động của người tập hầu như tự động không cần có sự chú ý
của ý thức. Kỹ năng vận động ở giai đoạn này rất ổn định, sự tự động hóa kỹ
năng vận động cho phép có thể thực hiện chính xấc nhi ều động tác khác nhau
cùng một lúc( vừa đi xe đạp vừa nói chuyện.....). Đỉnh cao của các kỹ năng vận
động là các kỹ xảo; ở một số động tác nhất định đ ộng tác k ỹ thu ật phát tri ển t ới
mức ngoại suy, người ta có thể thực hiện động tác trong các tình hu ống r ất ph ức
tạp mà vẫn đạt kết quả tốt: đi xe đạp bắt chéo tay, bỏ hai tay, nhấc bánh trước....
3.2. Các tố chất vận động:( Sức nhanh- sức mạnh- sức bền- khéo léo)
- Sức nhanh: Là khả năng thực hiện động tác với thời gian ngắn nh ất; sức
nhanh có thể được biểu hiện bằng hình thức đơn giản( 1 là th ời gian ti ềm tàng
của phản ứng, đó là khoảng thời gian từ khi kích thích cho tới khi có phản ứng trả
14
15
lời; 2 là thời gian của động tác đơn lẻ; 3 là t ần s ố đ ộng tác) ho ặc hình th ức ph ức
tạp là kết quả của các thử nghiệm vận động và bài tập th ể thao nh ư ch ạy ngắn,
tần số đánh bóng, tốc độ đập bóng....Để thực hiện các hình thức sức nhanh thì các
quá trình hưng phấn và các quá trình sinh hóa trong thần kinh và cơ phai xảy ra
thật nhanh, các trung tâm thần kinh phải có tính linh hoạt cao; trong hoạt động th ể
thao thì sức mạnh và tốc độ có liên quan mật thiết với nhau; s ự phát tri ển s ức
mạnh ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ. Trong quá trình tập luyện thì s ức nhanh phát
triện chậm và khó khăn hơn nhiều so với sức mạnh và sức bền; sức nhanh phát
triển tốt nhất là ở độ tuổi thanh thiếu niên.
- Sức mạnh: Là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài của cơ bắp; Sức
mạnh cơ bắp phụ thuộc vào đặc tính của các quá trình thần kinh điều khiển sự
co cơ và số lượng các đơn vị vận động chứa trong cơ. Để có thể thực hiện sức
mạnh tối đa, cơ phải được huy động với số lượng tối đa đồng th ời s ự h ưng ph ấn
cũng phải rất tập trung để tránh các nhóm cơ đối kháng cùng tham gia vào m ột c ử
động. Sự cung cấp dinh dưỡng cho cơ cũng có vai trò hết sức quan trọng để cơ
phát húy sức mạnh. Cơ sở sinh lý cơ bản để phát huy sức mạnh là c ần ph ải có s ố
lượng lớn cơ tham gia co cùng một lúc đồng thời các cơ đối kháng thì lại thả lỏng
(tăng cường sự phối hợp giữa các nhóm cơ, muốn làm được đi ều đó ph ải có quá
trình tập luyện). Ngoài ra luyện tập còn làm sợi cơ phát triển ( tăng tiết diện
ngang do tích lũy dĩnh dưỡng chuẩn bị cho việc chuyển hóa thành năng lượng).
- Sức bền: Là khả năng thực hiện hoạt động trong một thời gian dài; đó là
sự thể hiện khả năng chống đỡ của cơ thể đối với những biến đổi bên trong x ảy
ra khi hoạt động cơ bắp kéo dài. Sự phát triển của sức bền phụ thuộc vào mức độ
hoàn thiện của sự phối hợp chức năng vận động và chức năng dinh dưỡng; vào sự
bền vững chức năng của các cơ quan nội tạng, đặc biệt là c ơ quan hô h ấp và tim
mạch; sự phát triển sức bền phụ thuộc vào mức độ phát triển chức năng của hệ
tuần hoàn và hệ hô hấp; khả năng dự trữ năng lượng của cơ th ể... Trong các ho ạt
động thể thao, có các loại: Sức bền, Sức bền chuyên môn, Sức bền tốc độ, Sức
bền mạnh.
- Khéo léo: Là khả năng thực hiện các động tác phức tạp về phối hợp vận
động trong điều kiện môi trường thay đổi. Cơ sở sinh lý của tố chất này là các
phản xạ phối hợp phức tạp, trạng thái của hệ th ần kinh trung ương, t ốc độ x ử lý
thông tin và các chương trình hành động; ngoài ra tố chất khéo léo còn ph ụ thu ộc
vào mức độ phát triển của các tố chất khác.
Sự tập luyện thể dục thể thao có hệ thống sẽ phát triển các tố ch ất v ận
động, cơ chế phát triển của các tố chất có nhiều điểm tương đồng vì v ậy khí t ập
để hoàn thiện một tố chất thì các tố chất khác ở một mức độ nào đó cũng s ẽ bi ến
đổi. Tuy nhiên sẽ có một số bài tập phát triển tố ch ất này s ẽ ảnh hưởng xấu t ới
tố chất khác ( bài tập tạ để phát triển sức mạnh tuyệt đối sẽ ảnh h ưởng tới s ức
bền trong chày cự ly dài....); khi ngừng tập thì các tố chất cũng s ẽ ng ừng phát

15
16
triển và dần thoái hóa trở về trạng thái ban đầu, sức nhanh là t ố ch ất gi ảm nhanh
nhất, sau đó đến sức mạnh, sức bền; trong một ngày các tố ch ất v ận đ ộng ở m ức
thấp nhất lúc mới ngủ dậy và trước khi đi ngủ.
3.3 Chức năng vận động và sự thích nghi của cơ thể với môi trường : Sự
thích nghi của cơ thể có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc s ống c ủa con ng ười; s ự v ận
động trong quá trình GDTC là nhăm làm cho cơ thể thích nghi với các hoạt động
cơ bắp, tăng cường sự phối hợp hoạt động của tất cả các bộ phận ch ức năng của
cơ thể; tất cả các biến đổi thích nghi trong quá trình t ập luy ện TDTT đã tác đ ộng
mạnh mẽ tới quá trình thích nghi của cơ thể với những biến đổi của môi trường
xung quanh.
CHƯƠNG IV
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Cơ sở cấu trúc của các phương pháp Giáo dục thể chất:
1.
Lượng vận động và quãng nghỉ là các thành tố c ủa phương
1.1
pháp giáo dục thể chất:
Lượng vận động trong các bài tập thể lực là mức độ tác động của chúng
-
tới cơ thể người tập; sự tiêu hao năng lượng trong vận động cũng nh ư sự m ệt
mỏi chính là nguyện nhân tạo nên sự hoàn thiện cơ thể bằng vận động. Những
mệt mỏi sau vận động không mất đi mà còn để lại “dấu vết”, quá trình tích lũy
“dấu vết ”đó sẽ làm phát triển trình độ tập luy ện; hiệu qu ả c ủa các bài t ập t ỷ l ệ
thuận với khối lượng và cường độ vận động, ( thường thì khối lượng vận động
và cường độ vận động có tác động lên cơ thể tỷ lệ nghịch, khi c ường độ v ận
động lớn thì người tập chỉ thực hiện trong thời gian ngắn- khối lượng vận động
đạt được nhỏ như chạy cự lý ngăn và ngược lại như chạt cự lý dài)
Người ta phân biệt lượng vận động bên trong và lượng vận động bên
-
ngoài: lượng vận động bên trong là mức độ biến đổi về sinh lý- sinh hóa trong c ơ
thể khi thực hiện bài tập; thường thì lượng vận động bên ngoài và l ượng v ận
động bên trong tương xứng với nhau, cường độ và khối lượng vận động càng l ớn
thì biến đổi trong cơ thể càng mạnh...nhưng cơ thể luôn có s ự biến đ ổi thích nghi
và hơn nữa cơ thể chịu tác động của lượng vận động trong các trạng thái khác
nhau nên cùng một lượng vận động thì cúng có những phản ứng khác nhau của cơ
thể. Việc lập kế hoạch và điều chỉnh lượng vận động là nội dung cơ bản trong
xây dựng phương pháp giáo dục thể chất; song hiệu quả của tập luyện còn phụ
thuộc vào trật tự kết hợp một cách khoa học giữa lượng vận đ ộng và quãng ngh ỉ.
Có hai hình thức nghỉ ngơi( nghỉ thụ động và nghỉ ngơi tích cực)
Căn cứ vào mức độ hồi phục sau vận động , người ta chia ba lo ại quãng
-
nghỉ: Đầy đủ- Ngắn- Vượt mức. Nghỉ đầy đủ là quãng nghỉ đủ cho lượng vận
động tiếp theo ở vào thời điểm khả năng vận động hồi phục về mức ban đ ầu;
Nghỉ ngăn là lượng vận động được lặp lại khi các chức năng riêng lẻ hoặc toàn
16
17
bộ cơ thể chưa được hồi phục dầy đủ; Vượt mức là quãng nghỉ đủ để lượng vận
động lặp lại ở vào thời điểm cơ thể được hồi phục vượt mức.
Chính vì vậy người ta đã phải áp dụng rất nhiều phương pháp tập luyện
khác nhau để tăng hiệu quả của việc tập luyện thể dục thể thao.
1.2 Những cách thức tiếp thu và định mức hoạt động vận đ ộng : Có hai
cách thức tiếp thu động tác là tiếp thu từng phần và tiếp thu toàn th ể;( tùy theo
mức độ phức tạp hay đơn giản của từng bài tập); Trong quá trình l ịch s ử đã hình
thành các hình thức định mức hoạt động khi thực hiện các bài tập th ể lực là th ể
dục – thể thao – trò chơi. Đến cuối thế kỷ XIX đầu th ế k ỷ XX, trò ch ơi-th ể d ục-
thể thao được tách biệt thành các xu hướng phương pháp độc đáo của Giáo dục
thể chất; ngày nay bất kỳ một hệ thống giáo dục th ể ch ất nào cũng bao g ồm h ệ
thống phương tiện – phương pháp giáo dục- thể thao và trò ch ơi. Căn c ứ vào đ ặc
điểm định mức hoạt động các phương pháp Giáo dục thể chất được chia thành
hai loại: phương pháp bài tập định mức và các phương pháp thi đấu và trò chơi.
2. Các phương pháp giáo dục thể chất:
2.1 Các phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ: Là nhóm phương
pháp hoạt động của người tập được tổ chức và điều chỉnh một cách chi tiết sự
định mức được thể hiện ở những điểm :
- Định trước chương trình các động tác(quy định trước thành phần các ĐT,
trật tự lặp lại....)
- Định lượng chính xác và điều khiến diễn biến lượng vận động; xác định
chính xác quãng nghỉ và trật tự luận phiên lượng vận động.
- Tạo ra hoặc sử dụng điều kiện bên ngoài hỗ trợ cho việc điều khiển hành
động của người tập( tổ chức và phân công vị trí tập luyện cho các nhóm tập, sử
dụng các dụng cụ , thiết bị ký thuật tập luyện...)
Phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ có rất nhiều phương án
cụ thể; việc lưa chọn các phương pháp đó phụ thuộc vào nội dung bu ổi t ập, t ừng
thời kỳ trong quá trình giáo dục thể chất.
2.1.1 Phương pháp phân chia và phương pháp nguyên vẹn động tác trong
trong tập luyện kỹ thuật thể thao:
- Phương pháp phân chia: được sử dụng trong trong trường hợp động tác –
tổ hợp các động tác có thể tách nhở thành các phần tương đối độc l ập mà không
làm sai lệch đáng kể cơ cấu chung. ( ví dụ về việc tập mô ph ỏng kỹ thuật nh ảy
cao kiểu năm nghiêng có thể tập theo trình tự: Xác định chân dậm nhảy-Mô phỏng
ĐT đá lăng kết hợp đánh tay-Mô phỏng ĐT bật nhảy kết h ợp đá lăng đánh tay-Mô
phỏng ĐT bật nhảy kết hợp đá lăng quay tiếp đất..... )
- Phương pháp nguyên vẹn: Khi chia nhỏ ĐT bị biến động lớn về cấu trúc
nên người ta phải thực hiện bằng việc đơn giản hóa cấu trúc ĐT b ẵng cách l ược
17
18
bỏ các phần tương đối độc lập, sau đó mới lại ghép dần chúng lại và hoàn thi ện
chúng trên cơ sở thực hiện toàn vẹn ĐT ( ví dụ tập nhảy cao kiểu úp bụng trình
tự tập là: Chạy đà ngắn dậm nhảy kết hợp đá lăng qua xà th ấp; Ch ạy đà ng ắn
dậm nhảy kết hợp đá lăng qua xà kết hợp mở hông bên chân dậm nh ảy và ti ếp
đất bằng tay- vai- chân bên chân lăng qua xà th ấp ...Th ực hi ện toàn b ộ ĐT v ới đà
ngắn mức xà thấp; Tập nâng dần xà...)
2.1.2 Phương pháp tập ổn định và phương pháp tập biến đổi trong giáo d ục
tố chất vận động:
- Phương pháp tập ổn định theo chế độ vận động liên tục và ngắt quãng:
được sử dụng trong giáo dục tất cả các tố chất vận động; trong đó ph ương pháp
tập ổn định liên tục thường được sử dụng nhiều trong giáo dục sức bền( phương
pháp tập đồng đều); còn phương pháp tập ổn định ngắt quãng sử dụng nhiều
trong giáo dục sức mạnh(tạ) sức nhanh( chạy cự lý 200m).
- Phương pháp tập biến đổi theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt
quãng: Ở đây sự biến đổi là có chủ đích để mở rộng tính linh hoạt của các k ỹ
xảo, mở rộng khả năng điều chỉnh động tác, tạo khả năng phối h ợp vận động
một cách tinh tế và hiệu quả. Phương pháp tập biến đổi liên tục thường được áp
dụng trong các bài tập có tính chu kỳ ( điển hình là phương pháp ch ạy bi ến t ốc
trên cự ly dài)...Các phương pháp tập biến đổi ngắt quãng là sự luân phiên có hệ
thống giữa vận động và nghỉ ngơi ( Phương pháp tăng ti ến là đi ển hình c ủa nhóm
này)
2.1.3 Phương pháp tổng hợp:
Trong thực tế thì tất cả các phương pháp luôn được phối hợp với nhau
thành những bài tập tổng hợp cho phù hợp với mục đích và n ội dung của các bu ổi
tập; Các bài tập tổng hợp rất đa dạng do sự kết h ợp đan xen gi ữa các ph ương
pháp và cả về lượng vận động và quãng nghỉ..
2.2. Phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu:
2.2.1 Phương pháp trò chơi: Là một hiện tượng phổ biến trong xã hội;
phương pháp này không nhất thiết phải gắn với một môn th ể thao hay trò ch ơi c ụ
thể nào mà nó sẽ sử dụng cơ sở của bất kỳ bài tập thể lực nào và được tổ chức
lại cho phù hợp với buổi tập; chúng những đặc điểm: tổ ch ức theo ch ủ đ ề, phong
phú về phương thức đạt tới mục đích và tính tổng hợp của hoạt động, phát huy
tính tự lập- chủ động sáng tạo và khả năng khéo léo linh hoạt của người chơi, tạo
nên sự đua tranh căng thẳng- tạo nên nhiều cảm xúc- gây hứng thú tập luyện , tính
chương trình của buổi tập – tính chính xác của lượng vận động bị hạn chế .
2.2.2 Phương pháp thi đấu: Tho đấu có ý nghĩa quan trọng như một phương
thức tổ chức và kích thích hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời s ống
như sản xuất, nghệ thuật, thể thao....

18
19
Trong Giáo dục thể chất, phương pháp thi đấu được sử dụng cả ở hình
thức đơn giản( trong buổi tập để kích thích hưng ph ấn và động viên tính tích c ực
trong việc thực hiện nhiệm vụ của người tập) và hình thức phức t ạp( thi đ ấu
kiểm tra, các giải thi đấu ..). Đặc điểm của thi đấu là th ể hi ện s ự đua tranh trong
những luật lệ nhất định; nó tạo nên những cảm xúc m ạnh m ẽ và ng ười t ập ph ải
thực hiên bài tập trong những điều kiện phức tạp; ngoài ra trong thi đấu động đội
còn đòi hỏi các phẩm chất: tinh thần tập thể, tính trách nhi ệm, s ự h ợp tác, đ ạo
đức tác phong....Thi đấu là phương pháp hoàn thiện cao nhất tất cả các phẩm chất
của con người( Đạo đức tác phong, lối sống, kỹ năng – kỹ xảo và khả năng tư
duy chiến thuật thể thao...)
2.3 Các phương pháp sử dụng lời nói và các phương tiện trực quan:
2.3.1 Phương pháp sử dụng lời nói:
+ Giáo viên:
- Giảng giải kỹ chiến thuật, luật thi đấu, các phương pháp tập luyện...
- Giải thích bổ xung...(cùng với các giáo cụ trực quan hoặc các thị phạm ĐT
mô phỏng hoặc phân tích cảm giác của các bộ phận cơ thể khi thực hiện ĐT)
- Chỉ thị và mệnh lệnh
- Nhận xét đánh giá
+ người học:
- Giải thích cho nhau
- Tự nhủ, tự đặt nhiệm vụ
2.3.2 Phương pháp trực quan:
- Thị phạm động tác
- Tranh ảnh, phim, video,...
- Mô hình, sa bàn....
- Các công cụ tái tạo cảm giác ( máy gõ nhịp, máy ghi âm, ti ếng còi, đèn
hiệu....) thậm chí cả những tác động trực tiếp vào cơ thể người tập( vỗ mạnh vào
người tập ở các vị trí cần có cảm giác, nắn trực tiếp các tư thế...)
- Đinh hướng theo các vật chuẩn, % lực sử dụng để thực hiện ĐT,...
CHƯƠNG V
CÁC NGUYÊN TẮC VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
1. Nguyên tắc tự giác tích cực: Quá trình giáo dục phải tạo được cho
người tập một thái độ học tập tốt, sự cố gắng nắm bắt được những kỹ năng- k ỹ
xảo và những hiểu biết liên quan; sự tự giác – tích cực được thể hiện trong quá
trình giáo dục thể chất :
19
20
- Hình thành hứng thú bền vững đối với mục đích tập luyện nói chung và
đối với nhiệm vụ cụ thể của từng buổi tập.
- Xác định được mục tiêu , nhiệm vụ và phương thức tập luyện của buổi
tập( cần phải tập gì, tập như thế nào, tại sao phải tập ĐT này ch ứ không ph ải là
ĐT khác, vì sao phải tuân theo nguyên tắc như thế này chứ không ph ải như th ế
kia)
- Hình thành việc phân tích một cách có ý thức các hoạt đ ộng t ập luy ện,
thói quen kiểm tra mức độ hợp lý của việc sử dụng sức với chất lượng của ĐT
- Giáo dục tính tự lập, khả năng sáng tạo trong quá trình gi ải quy ết các
nhiệm vụ tập luyện
2. Nguyên tắc trực quan: Trực quan trong giảng dạy là quá trình sử dụng
rất nhiều loại cảm giác, sự thụ cảm của nhiều cơ quan cảm giác của cơ thể để
có thể tiếp xúc trực tiếp nhiều mặt với hiện thực xung quanh. Tính trực quan có
vai trò đặc biệt quan trọng trong Giáo dục thể chất vì hoạt động của người tập
về cơ bản là mang tính thực hành và yêu cầu chuyên môn của nó là phát tri ển toàn
diện các cơ quan cảm giác.Điều quan trọng là hoạt động của các cơ quan cảm
giác khác nhau phải bổ xung cho nhau để làm chính xác h ơn “hình ảnh” c ủa đ ộng
tác; sự chính xác và sinh động của hình ảnh của ĐT sẽ làm cho kỹ năng và kỹ xảo
hình thành nhanh hơn, các tố chất thể lực và phẩm ch ất ý chí bi ểu hi ện cũng hi ệu
quả hơn.
3. Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa : tính chủ đạo của nguyên tắc này là
tính đến đặc điểm của từng người tập và mức độ của những nhiệm vụ học tập
đề ra đối với họ. Các bài tập có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các cơ quan chức
năng quan trọng của cơ thể; chỉ cần lượng vận động vượt quá mức chịu đựng của
cơ thể thì sẽ nảy sinh nguy cơ đối với sức khỏe người tập, gây h ậu quả không
tốt. Nên quá trình Giáo dục thể chất phải chú trọng đến mức độ thích h ợp c ủa
lượng vận động đối với các cá nhân người tập; lựa chon được các phương pháp
tiếp cận các hình thức tập luyện phù hợp để người tập vừa đảm bảo giải quy ết
đực nhiệm vụ tập luyện vừa đảm bảo được sức khỏe.
4. Nguyên tắc hệ thống: là tính thường xuyên trong tập luyện và hệ th ống
luân phiên giữa lượng vận động và nghỉ ngơi, tính tuần t ự trong tập luy ện và m ối
liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện và Giáo dục thể
chất chính là một quá trình liên tục bao gồm tất cả các th ời kỳ c ơ b ản trong cu ộc
sống; tập luyện hợp lý sẽ gây nên những biến đổi dương tính về cấu trúc và chức
năng của cơ thể nhưng chỉ cần ngừng nghỉ tập trong một thời gian tương đói
ngắn là những mối liên hệ của phản xạ có điều kiện vừa mới xuất hiện đã bắt
đầu mờ tắt đi, mức độ phát triển các khả năng chức ph ận vừa đ ạt đ ược cùng với
các chỉ số về thể hình cũng bắt đầu giảm.


20
21
5. Nguyên tắc tăng dần yêu cầu: việc đề ra các nhiệm vụ trong quá trình
giáo dục thể chất có liên quan trực tiếp với khối lượng và cường độ vận động
của người tập trong khí cơ thể luôn có sự biến đổi để thích nghi và phát tri ển( s ự
quen dần với các tác động của các bài tập ) nên với các ch ương trình giáo d ục th ể
chất cần thường xuyên đổi mới nhiệm vụ theo xu hướng tăng d ần l ượng v ận
động, độ khó của kỹ chiến thuật, tăng tỷ lệ sử dụng sức khi th ực bài t ập và tăng
thời gian tác động của bài tập (nhưng phải tuân thủ nguyên tắc thích h ợp và cá
biệt hóa ).Một vấn đề cũng hết sức quan trọng là nhiệm vụ tăng lên ph ải đ ảm s ự
phong phú, đa dạng không gây nhàm chán( ví dụ một buổi h ọc có thể có t ừ một
đến nhiều kỹ thuật với những yêu cầu khác nhau hoặc trong một bu ổi h ọc có th ể
áp dụng nhiều phương pháp tập khác nhau).
6. Mối quan hệ lẫn nhau của các nguyên tắc về phương pháp : Các
nguyên tắc giáo dục thể chất liên quan chặt chẽ và có phần trùng nhau; đó là vì
tất cả các nguyên tắc đó phản ánh các mặt riêng lẻ và các quy lu ật c ủa cùng m ột
quá trình mà về bản chất là thống nhất. Nguyên tắc tự giác tích c ực là ti ền đ ề
chung để thực hiện tất cả các nguyên tắc khác; không có bất cứ nguyên tắc nào
có thể thực hiện được dạy đủ nếu loại trừ, đối lập với các nguyên tắc khác; nh ư
vậy là có một nguyên tắc lớn nhất là phải biết kết h ợp hài hòa tất c ả các ph ương
pháp và tuân thủ các nguyên tắc về phương pháp một cách đầy đủ thì quá trình
giáo dục thể chất mới đạt hiệu quả cao.
CHƯƠNG VII
KIỂM TRA VÀ TỰ KIỂM TRA Y HỌC TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO
DỤC THỂ CHẤT.
Tập luyện các bài tập giáo dục thể chất và thể thao có những tác dụng to
lớn và phức tạp đối với cơ thể, góp phần tích c ực tăng c ường s ức kho ẻ, phát
triển thể lực và nâng cao khả năng làm việc, trong điều kiện quá trình tập luyện
được tổ chức và tiến hành thích hợp, dựa trên các nguyên tắc giáo dục thể ch ất và
phù hợp với đặc điểm y – sinh học của người tập. Ki ểm tra và t ự ki ểm tra y h ọc
đối với người tập trong quá trình giáo dục thể chất là nh ững biện pháp rất c ần
thiết để đảm bảo hiệu quả giáo dục nâng cao sức khoẻ, ngăn ngừa các tác động
xấu có thể xẩy ra.
Kiểm tra y học là một bộ phận của y học và là thành phần h ữu cơ của hệ
thống giáo dục thể chất. Kiểm tra y học trong quá trình giáo d ục th ể ch ất nghiên
cứu trạng thái sức khoẻ, mức độ tập luyện của người tập dưới tác đ ộng c ủa quá
trình tập luyện. Nó cho phép giáo viên cũng như bản than người tập có thể phát
hiện kịp thời những biến đổi trong cơ thể và trên cơ sở đó, tiến hành lập kế
hoạch tập luyện chính xác và tăng cường sức khỏe.
Nhiệm vụ chính của công tác kiểm tra y học là đảm bảo tính đúng đắn và
hiệu quả của tất cả các hình thức và phương tiện giáo dục th ể ch ất đ ể phát tri ển

21
22
hài hoà, củng cố và tăng cường sức khỏe người tập, góp phần xác định lượng vận
động đối với học sinh. Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, công tác kiểm tra y
học phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình giảng dạy và huấn luyện.
Trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghi ệp ki ểm tra y
học có thể được tiến hành bằng những hình thức sau:
- Kiểm tra y học thường kỳ đối với tất cả nh ững người tham gia t ập luy ện
thể dục thể thao.
- Theo dõi y học – sư phạm đối với người tập trong quá trình giáo d ục th ể
chất.
- Kiểm tra vệ sinh sân bãi, dụng cụ và các điều kiện tập luyện khác.
- Đề phòng và điều trị bước đầu các chấn thương và trạng thái bệnh lý
- Đảm bảo y tế cho các hình thức thể thao quần chúng và các cuộc thi
đấu thể thao.
- Tuyên truyền và phổ biến các kiến thức y học TDTT trong nhà trường.
1. TỔ CHỨC VÀ NỘI DUNG CỦA KIỂM TRA Y HỌC TRONG NHÀ
TRƯỜNG
Tất cả các học sinh, sinh viên tham gia tập luyện TDTT theo chương trình
giáo dục thể chất chinh khoá, ngoại khoá hoặc tự tập đều ph ải tra y h ọc bước
đầu trước khi tập luyện (vào đầu năm thứ nhất) để phân loại sức khoẻ và kiểm
tra định kỳ ít nhất 1 lần mỗi năm đới với nhóm cơ bản và 2- 4 lần đối với nhóm
yếu và nhóm nâng cao. Kiểm tra định kỳ là để xác định những biến đổi trong cơ
thể người tập nhằm đánh giá hiệu quả của quá trình giáo dục, huấn luy ện và đ ề
ra những thay đổi cần thiết trong chương trình tập luyện tiếp theo.
Trước các cuộc thi đấu hoặc sau khi người tập bị đau ốm, ch ấn th ương,
giáo viên có thể cho tiến hành kiểm tra y học bổ sung để xác định lại trạng thái
sức khoẻ và trình độ thể lực ở thời điểm hiện tại, cho phép hoặc không cho phép
tham gia thi đấu và luyện tập.
Nội dung kiểm tra y học chung thường bao gồm:
Hỏi về tiểu sử bản than, gia đình và quá trình tập luyện để nắm
1)
vững các thông tin về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, đặc điểm phát triển thể lực,
điều kiện sống và làm việc, thời gian và tính chất tập luyện TDTT v.v…
Kiểm tra sự phát triển thể lực
2)
Kiểm tra chức năng của các cơ quan.
3)
Thử nghiệm chức năng với lượng vận động định lượng
4)



22
23
Các nội dung kiểm tra y học nêu trên do giáo viên, huấn luy ện viên k ết h ợp
với các bác sĩ tiến hành. Khi cần thiết, có th ể có c ả các bác sĩ chuyên khoa và các
chuyên gia chẩn đoán chức năng y học thể thao cùng tham gia.
2. KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC
Sự phát triển thể lực là một trong những yếu tố quan trọng của tình trạng
sức khỏe và trạng thái chức năng của cơ thể. Sự phát triển thể lực thường được
đánh giá thông qua mức độ phát triển của các tổ chức xương, cơ, hình dáng, kích
thước của các bộ phận cơ thể và các chức năng cơ bản bằng các phương pháp
quan sát, đo đạc, thử nghiệm chức năng v.v…
Phương pháp quan sát dung để đánh giá trạng thái da, bộ xương, mức độ
phát triển của cơ và lớp mỡ mô dưới da. Khi quan sát cần phải xác định hình dáng
lồng ngực, lưng, bụng và tứ chi. Tất cả các yếu tố nêu trên t ạo nên th ể hình c ủa
người tập.
Hình dáng lồng ngực có thể có thể có các hình dạng ống, hình ph ễu và
phẳng dẹt. Hình dáng lồng ngực xác định theo vị trí bên dưới của s ương s ườn, t ỉ
lệ chiều dày và chiều rộng của lồng ngực (xem hình)




Hình dáng lồng ngực
a. Lồng ngực hình phễu b. Lồng ngực hình ống c. Lồng ngực phẳng dẹt
Người có sự phát triển thể lực tốt lồng ngực thường có hình dạng ốn,
sương sườn nằm ngang, hai bờ dưới xương sườn kết hợp với xương ức tạo
thành một góc gần 90 độ, tỷ lệ chiều dày và chiều rộng của lồng ngực lớn hơn 70
.Lồng ngực giữa như vậy thường gặp ở những người bị giãn ph ế quản, hen mãn
tính…Người mà sự phát triển thể lực yếu có lồng ngực hình phẳng dẹt, s ương
sườn sệ xuống, hai bờ xương sườn tạo thành một góc nhọn, ngự nhô ra trước,
chiều lồng ngực hẹp, chức năng hô hấp thường thấp.
Hình dáng lưng có thể bình thường phẳng hoặc cong vẹo. Hình dáng lưng
bình thường có những đoạn cong tự nhiên theo chiều trước sau ở đoạn th ắt lưng
và ngực không quá 3cm so với trục thẳng đứng của cột s ống. L ưng cong quá 3cm
ra trước gọi là ưỡn và quá 3cm ra sau gọi là gù (xem hình).


23
24




Hình dáng lưng
a. Bình thường c. Phẳng
b. Cong gù
Lưng có hình dáng phẳng khi các đoạn cong tự nhiên không rõ, cột sống như n ằm
trên một mặt phẳng. Bình thường cột sống không có các đoạn cong theo trục ph ải
trái, cột sống có thể cong vẹo sang bên phải, bên trái với d ạng ch ữ C (thu ận hay
ngược), S (thuận hay ngược). Đôi khi có thể bắt gặp đ ộng th ời nhi ều lo ại cong v ẹo
cột sống theo cả hai trục trước sau và phải trái. Các hình dáng lưng cong vẹo là k ết
quả của nhiều loại bệnh, trạng thái chức năng chung của cơ th ể kém và còn do thi ếu
vận động, cũng như học tập, làm việc với tư thế không đúng. Giáo d ục th ể ch ất,
nhất là tập luyện thể thao là một biện pháp có hi ệu qu ả cao đ ể đ ề phòng và đi ều tr ị
cong vẹo cột sống.
Hình dáng bụng phụ thuộc vào sự phát triển của cơ thành bụng và lớp mỡ
dưới da ở vùng bụng. Những người có sự phát triển thể lực tốt trên vùng bụng
nổi rõ hình các cơ bụng, thành bụng hơi thụt vào, lớp mỡ dưới da mỏng. Nh ững
người ít hoạt động thể lực bụng phệ, lớp mỡ dưới da dày, cơ bụng phát tri ển
yếu.
Hình dáng chân và cung bàn chân. Hình dáng chân có thể bình thường
hoặc chân hình chữ O, dạng vòng kiềng hay hình chữ X - dạng chữ bát.
Chân có hình dáng bình thường khi đứng thẳng hai chân ti ếp xúc v ới nhau ở
các điểm 2 mắt cá trong, hai cạnh trong của khớp gối và cạnh trong c ủa đùi. Khi
chân có hình chữ O, thì hai cạnh trong của chân không ti ếp xúc v ới nhau. N ếu
khoảng cách đó hơn 5cm thí có thể coi là loại nặng. Chân hình chữ X khi đ ứng
thẳng hai mắt cá trong không tiếp xúc với nhau nh ưng hai đ ầu gối ch ạm nhau
(xem hình)




24
25




Hình dáng chân
a. Bình thường b. Hình chữ X c. Hình chữ O
Chân hình chữ O hoặc chữ X có thể là kết quả của một số bệnh t ật đã mắc
phải, như còi xương, do cơ bắp phát triển yếu hoặc do khi còn tr ẻ ph ải làm vi ệc
nặng quá sớm, không tương ứng với các mức độ phát triển của bộ xương.
Hình dáng bàn chân có thể bình thường hoặc bàn chân bẹt. Hình dáng bàn
chân có thể xác định bằng cách quan sát và in dấu bàn chân. Bình th ường m ặt
dưới bàn chân có độ cong tự nhiên, khi in dấu bàn chân tỉ lệ giữa ph ần cong so
với phần tiếp xúc với mặt đất là 2/1. Nếu vòm bàn chân sụt xuống thì hình bàn
chân được gọi là bàn chân bẹt, tỉ lệ giữa phần cong và ph ần ti ếp xúc v ới đ ất trên
hình in sẽ ít hơn 2/1 (xem hình).




Hình dáng bàn chân
a. Bình thường b và c. Bàn chân bẹt các mức độ khác nhau
Các phương pháp nhân trắc hay còn gọi là phép đo người, bổ sung cho
phương pháp quan sát và cung cấp những số liệu khách quan, chính xác về sự phát
triển thể lực, độ tương ứng của thể lực với tuổi, giới tính cũng nh ư nh ững sai
lệnh về phát triển thể lực có thể xảy ra dưới tác động của tập luyện TDTT
không hợp lý.

25
26
Các phương pháp đo người cần phải được tiến hành vào cùng một thời gian
trong ngày, tốt nhất là vào buổi sang, theo một phương pháp tiêu chuẩn, đã được
kiểm tra độ chính xác. Người được kiểm tra phải mặc quần áo lót ngắn để không
làm ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo.
Trong kiểm tra y học, để đánh giá sự phát triển thể l ực ít nh ất c ần ph ải đo
các chỉ số sau: chiều cao đứng và ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng b ụng, vòng c ổ,
vòng cánh tay, cẳng tay, vòng đùi và cẳng chân, chiều rộng vai, chi ều rộng hông,
dung tích sống, lực kéo lưng, lực bóp tay, độ dày lớp mỡ dưới da.
Chiều cao đứng và ngồi được đo bằng thước đo chiều cao, có độ chuẩn
đến 0,5cm. Chiều cao đứng được đo từ mặt đất tới đỉnh đầu. Ng ười đ ược đo
đứng ở tư thế đứng nghiêm, lưng quay về phía thước đo và tiếp xúc với thước đo
ở 3 điểm: gót chân, mông và lưng. Đầu thẳng sao cho góc ngoài của m ắt và l ỗ tai
ngoài nằm trên một đường thẳng ngang (xem hình).




Đo chiều cao đứng và ngồi
Khi đo chiều cao ngồi người được đo ngồi ngay ngắn trên gh ế có chi ều
cao vừa đủ để khi ngồi bàn chân chạm đất cẳng chân vuông góc v ới đùi l ưng và
mông tiếp xúc với thước đo. Chiều cao ngồi được tính từ mặt ghế tới đỉnh đầu,
chiều cao đứng trừ đi chiều cao ngồi có thể cho ta s ố đo chi ều dài chi d ưới (hình
8).
Khi đo chiều cao cần phải chú ý rằng chiều cao của c ơ th ể có th ể thay đ ổi
trong ngày, buổi chiều tối chiều cao có thể giảm đi 1-2cm, sau các ho ạt đ ộng th ể
lực nặng, chiều cao có thể giảm đi 3-5cm.
Theo hằng số sinh học của người Việt Nam (1967) chiều cao đứng của
người Việt Nam là: nam 158,9cm ± 4cm và nữ 149,5cm ± 3cm.
26
27
Cân nặng (trọng lượng cơ thể) có ý nghĩa quan trọng để đánh giá sự phát
triển thể lực và tình trạng sức khoẻ của người tập. Đặc biệt là trong các môn thể
thao có quy định hạng cân như vật, võ, quyền Anh v.v…trọng l ượng c ơ th ể ch ỉ là
chỉ số quyết định quyền thi đấu của VĐV.
Cân nặng chỉ là chỉ số dễ biến đổi và chịu tác động của các yếu tố khác
nhau. Sau một buổi tập nặng, cân nặng có thể giảm tới 2-3kg. Cân n ặng đ ược đo
bằng cân y tế với độ chính xác là 50kg.
Các số đo vòng được đo bằng thước đo mềm.
Vòng cổ được đo ngang sụn giáp trạng của thanh quản, sát đáy chữ V của
sụn giáp trạng.
Vòng ngực được đo ở ba trạng thái: vòng ngực bình thường, vòng ngực hít
vào hết sức và vòng ngực thở ra hết sức. Thước dây được đặt trên lồng ngực phía
lưng ngang với góc dưới xương bả vai, phía ngực ngang qua mũi ức của xương
ức. Khi đo cần chú ý để người được đo không căng cơ và nâng vai khi hít vào,
không cúi khom lưng khi thở ra hết sức được gọi là độ linh hoạt của lồng ngực
hay hiệu số giãn ngực. Trung bình hiệu số này vào khoảng 5-7cm. Ở các VĐV các
môn thể thao sức bền hệ số này có thể lên tới 10 -12cm.
Vòng bụng được đo ở hai trạng thái căng cơ và thả lỏng cơ.
Vòng cánh tay đo ở phần cẳng tay lớn nhất khi cơ thả lỏng.
Vòng đùi và vòng cẳng chân đo khi người được đo đứng ở tư thế chân rộng
bằng vai trọng lượng cơ thể phân bố đến hai chân, cơ chân thả lỏng. Vòng đùi đo
ngay dưới nếp lằn mông. Vòng cẳng chân đo ngay qua phần to nhất của cẳng chân.
Các chiều rộng, chiều dầy của các bộ phận cơ th ể được đo b ằng compa nhân
trắc (xem hình).




Compa nhân trắc để đo các chiều dày của cơ thể


27
28
Chiều rộng vai đo bằng cách đặt hai đầu compa vào hai đi ểm xa nh ất c ủa đ ầu
vai.
Chiểu rộng hông đo ở hai điểm xa nhất ngang hông. Khi đo chiều rộng hai đ ầu
compa phải cùng nằm trên một mặt phẳng ngang.
Dung tích sống của phổi được đo bằng một dụng cụ đặc biệt gọi là phế dung
kế. Trước khi đo, người được kiểm tra hít thở 3-4 lần sau đó hít vào th ật sâu r ồi th ở
ra hết sức vào ống của máy đo, có thể dung tay để bịt mũi khi thở ra. Thường thường
người ta đo dung tích sống ba lần rồi lấy kết quả cao nhất. Dung tích sống trung bình
ở nam khoảng 3-4lit, nữ khoảng 2-3lit. Ở các VĐV bơi, dung tích sống cao hơn
người bình thường. VĐV bơi có thể có dung tích sống đến 7lit.
Lực bóp tay đo bằng lực kế tay. Người được đo đứng ở tư thế bình thường,
tay duỗi thẳng, long bàn tay có đồng hồ đo hướng ra phía tr ước, bóp h ết s ức v ới
cường độ tăng dần đều. Mỗi tay bóp ba lần lấy kết quả cao nhất.
Lực kéo lưng được đo bằng lực kế lưu. Khi đo người được kiểm tra dẫm hai
chân lên đầu chân của lực kế, hai tay nắm và đ ầu tay c ủa l ực k ế đã đ ược đi ều ch ỉnh
sao cho tay nắm ở ngang đầu gối. Người được kiểm tra ph ải kéo bằng cách ưỡn
thân người với lực tăng dần, trong khi tay và chân vẫn giữ thẳng (xem hình).




Tư thế đo lực kéo lưng
Trước khi đo lực kéo lưng người được kiểm tra phải khởi động lưng thân và
vai. Không nên kiểm tra lực kéo lưng của những người đau cột sống, đau lưng, đau
bụng, phụ nữ có thai.
Các số liệu kiểm tra thu được bằng phương pháp quan sát và đo đạc phải
được sử lý và đánh giá, trên cơ sở đó mới có thể rút ra những kết lu ận c ần thi ết v ề
mức độ phát triển thể lực của người được kiểm tra.
Mức độ phát triển thể lực có thể được đánh giá bằng cách so sánh v ới tiêu
chuẩn và bằng cách tính các chỉ số thể lực.


28
29
So sánh với tiêu chuẩn là phương pháp so sánh các số liệu thu được qua kiểm
tra với tiêu chuẩn đã có sẵn qua đó rút ra những kết luận nhất định về mức độ phát
triển của chỉ số nghiên cứu.
Những giá trị tiêu chuẩn mẫu được xây dựng bằng cách khảo sát thực tế với
số lượng rất đông các đối tượng đồng nhất về chủng tộc, điều kiện sống, đi ều ki ện
nghề nghiệp, tuổi, giới tính v.v…để tìm ra giá trị trung bình (X) và đ ộ l ệch chuẩn (S)
của các chỉ số nghiên cứu, bằng phương pháp toán học thống kê.
Trên bảng 12 đã trình bày một số tiêu chuẩn về hình thái, điều tra ở h ọc sinh
các trường dạy nghề, trong đó nêu lên số trung bình (X) của giá trị tìm được và độ
lệch chuẩn (δ) của số trung bình, biểu thị độ dao động của các giá trị với s ố trung
bình. Độ lệch chuẩn càng nhỏ thì chỉ số nghiên cứu càng đồng nhất.
Khi các bảng tiêu chuẩn mẫu như ở bảng 12 ta có thể xây dựng những bảng
đánh giá dung để so sánh bằng cách thường dung trong y sinh học như sau:
Những giá trị bằng X ±½ δ được đánh gia là trung bình
Từ X ± 0,55 đến X ± 1 δ: trên và dưới trung bình
Từ X ± 1S đến X ± 2 δ: cao, thấp, trung bình
Từ X ± 2S đến X ± 3 δ: rất cao hoặc rất thấp


Ví dụ như chiều cao trung bình là 164, 0cm và độ lệch chuẩn là 5cm. Khi ki ểm
tra ta đo được ở một học sinh chiều cao là 170,0cm tức là em đó đã cao h ơn trung
bình 170 – 164 = 6cm, và 6 : 6 = 1,2 δ. Như vậy em đó có chiều cao là X ÷ 1,2 δ theo
bảng đánh giá em học sinh đó sẽ xếp vào loại cao. Các ch ỉ s ố khác cũng đ ều có th ể
đánh giá như vậy.
Kết quả so sánh với các tiêu chuẩn mẫu có thể biểu diễn bằng đồ th ị b ằng
cách kể một bảng được gọi là hình thái đồ. Trong đó có đường trung bình (đường
của giá trị X). Phía trên và phía dưới đường trung bình là nh ững đ ường th ẳng t ương
ứng với ± 0,5 δ; ± 1 δ; ± 2 δ v.v…Trên hình thái đồ ta đánh dấu các đi ểm t ương ứng
của giá trị đo được theo cách tính thành độ lệch như nêu ở trên và nối các điểm đó
lại, ta sẽ được một đường cong đặc trưng cho sự phát triển thể lực của một người
so với mức trung bình (xem hình).
Chỉ số Nữ
Nam
Chiều cao đứng (cm) 164.0 ± 5 154.2 ± 4
Chiều cao ngồi (cm) 86.2 ± 4 81.5 ± 6
Cân nặng (kg) 49.4 ± 7 47.0 ± 4
Vòng ngực trung bình 79.6 ± 4 79.5 ± 9
(cm)
29
30

Vòng tay phải co (cm)
Vòng tay trái co (cm) 26.9 ± 3 26.4 ± 2
Vòng đùi (cm) 26.1 ± 2 26.6 ± 2
Lực bóp tay phải (kg) 45.1 ± 4 47.1 ± 3
Lực bóp tay trái (kg) 37.1 ± 6 23.9 ± 4
33.1 ± 5 20.4 ± 5


Trên hình thái đồ có thể dễ dàng nhận thấy những đặc điểm về mức độ phát
triển thể lực để xây dựng nội dung tập luyện phù hợp nh ằm kh ắc ph ục các y ếu
điểm.
Ví dụ như đối với học sinh biểu diễn hình thái đồ ở hình 11 c ần ph ải b ổ sung
các bài tập phát triển cả tay, nhất là tay trái vì các ch ỉ s ố vòng tay trái, l ực bóp tay trái
của học sinh này đều ở mức dưới trung bình.




Hình thái đồ
Phương pháp thứ hai dùng để đánh giá các số đo là phương pháp tính các chỉ số
thể lực khi đánh gia sự phát triển thể lực qua các số đo riêng l ẻ, nhi ều khi khó có th ể
thấy được sự liên quan giữa các số đo với nhau và tính cân đối, hài hoà của cơ th ể.
Vì vậy để đánh giá một cách toàn diện, người ta thường lập những mối quan hệ toán
học nhất định giữa các số đo để xây dựng các chỉ số thể lực.
Có rất nhiều chỉ số để đánh giá thể lực, dưới đây chỉ trình bày cách tính một
số chỉ số thể lực thường dùng nhất.
1. Chỉ số pinhê (pignet):

30
31
Pinhê = Cao (cm) - [cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]. Chỉ số này hay
được dùng ở các nước, với tiếng Pháp. Ở Việt Nam chỉ số Pinhê được đánh giá nh ư
sau:
rất khoẻ
20,9 – 24,1
khoẻ
24,2 – 27,4
27,5 – 33,9 trung bình
yếu
34,0 – 37,2
rất yếu
37,3 – 40,5
2. Chỉ số dung tích sống (chỉ số Deruevy) là tính tỉ số giữa dung tích sống
(ml) và cân nặng (kg):
Dung tích sống (ml)
Cân nặng (kg)
Ở Việt Nam trung bình chỉ số này là 70ml (nam) và 68 ml (nữ).
3. Chỉ số Eristman được tính như sau:
Vòng ngực trung bình (cm) - chiều cao (cm) . Chỉ số lớn hơn 0 đánh giá là
2
tốt; nhỏ hơn 0 đánh giá là xấu.
4. Chỉ số quay vòng cao (QVC):
Các tác giả Việt Nam: Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Như C ương (1969) đ ề
nghị chỉ số quay vòng cao như sau:
QVC = chiều cao (cm) - [vòng ngực hít vào (cm) + vòng đùi ph ải (cm) + vòng
cánh tay phải co (cm)].
Cách đánh giá:
Cực khoẻ < -4
Rất khoẻ - 0,4 – 1,9
Khoẻ 2,0 – 7,9
Trung bình 8,0 – 14,0
Yếu 14,1 – 20,0
Cực yếu trên 26
5. Chỉ số sức mạnh:
Lực bóp tay thuận (kg) x 100
Cân nặng (kg)

31
32
Chỉ số sức mạnh trung bình là 65,80% đối với nam và 48 – 50% đối với nữ.
3. KIỂM TRA CHỨC NĂNG CỦA CÁC HỆ CƠ QUAN
Cùng với việc đo và đánh giá sự phát triển th ể lực bên ngoài đ ể nh ận đ ịnh
đúng trình độ thể lực và khả năng hoạt động thể lực cân ph ải kiểm tra ch ức năng
của các hệ cơ quan trong cơ thể, tức là sự hoạt động của chúng. Th ường th ường
trạng thái chức năng của các cơ quan tương ứng với hình thể bên ngoài của cơ thể.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tầm vóc có thể phát triển rất t ốt nh ưng tình tr ạng
chức năng của các cơ quan lại có thể không tốt. Vì vậy kiểm tra ch ức năng là n ội
dung không thể thiếu được của kiểm tra y học.
Kiểm tra chức năng của cơ quan thường phải tiến hành trong lúc yên tĩnh, và
kiểm tra phản ứng của các cơ quan đối với hoạt động th ể lực. Đó là hai mặt khác
nhau, mặc dù có liên quan với nhau của một trạng thái chức năng.
Trong hoạt động thể lực, nhu cầu của cơ thể về oxi tăng cao để tăng cường
các quá trình cung cấp năng lượng. Vì vậy, mặc dù hầu như ở tất cả các cơ quan đều
có những thay đổi nhất định, nhưng hệ tuần hoàn và hệ hô hấp là nh ững thay đ ổi
nhất định, nhưng hệ tuần hoàn và hệ hô hấp là nh ững h ệ cơ quan có vai trò quan
trọng nhất trong hoạt động thể lực, nhất là những hoạt động thể l ực có tính ch ất
giáo dục thể chất.
Những phương pháp kiểm tra chức năng của hệ hô hấp và tim m ạch, th ể hiện
khả năng hoạt động thể lực chung của cơ thể là:
a. Thử nghiệm 30 giây (test Iaukêlêvich). Thử nghiệm 30 giây của Iaukêlêvich
có hai mức độ:
- Đứng lên, ngồi xuống 20 lần trong 30 giây. Khi ngồi, mông ph ải ch ạm gót
chân, khi đứng thẳng hai tay đưa ra trước.
- Nhẩy bật tại chỗ 60 lần trong 30 giây nhẹ nhàng bằng mũi chân, b ật cao
khoảng 5 – 6cm. Đánh giá hai thử nghiệm trên như sau: đo mạch trước vận đ ộng.
Sau vận động 30 giây, đo số lần mạch đập của giai đoạn h ồi ph ục trong 10 giây, sau
đó tính ra phút, nhân với 6. Nếu mạch tăng 25 – 50% so v ới m ức ban đ ầu đánh giá là
tốt, tăng 50 – 70% trung bình, trên 75% - kém. Sau 1 – 2 phút h ồi ph ục mạch sẽ trở
về mức ban đầu. Nếu sau 2 phút mạch chưa trở về mức ban đầu thì th ử nghi ệm s ẽ
được đánh giá là kém.
b. Thử nghiệm trước bục (test Havard). Trong thử nghiệm này, người được
kiểm tra thực hiện một lượng vận động là bước lên bục cao 50cm đối với nam và
45cm đối với nữ, với tần số bước là 30 lần trong 1 phút. Bước trong thời gian 5 phút.
Nếu người được kiểm tra không thể bước được 5 phút thì tính thời gian thực tế đã
bước được.



32
33
Cách đánh giá như sau. Đo mạch ở tư thế ngồi ở phút hồi ph ục sau vận động
thứ 2, 3 và 4. Trong đó mạch ở 30 giây đầu của mỗi phút. Kết quả được tính thành
chỉ số Havard theo công thức sau:
t . 100
Chỉ số Havard =
(f1 + f2 + f3) . 2
Trong đó:
t: Thời gian thực tế bước bục tính bằng giây (nếu thực hiện đúng quy định 5
phút thì t = 300)
f1 + f2 + f3: là số mạch trong 30 giây đầu của phút hồi ph ục t ứ 2, 3 và 4. Ch ỉ s ố
Havard được đánh giá như sau:
55 - kém
dưới trung bình
55 – 65
65 – 79 trung bình
80 – 89 trên trung bình
tố t
90 -
c. Thử nghiệm nín thở sau khi hít vào (Test Stange).
Sau khi nghỉ ngơi 5 – 7 phút, người được kiểm tra ngồi trên gh ế hít vào r ồi th ở
ra bình thường vài lần, sau đó hít vào sâu (khoảng 80 – 90% mức tối đa) và nín th ở.
Đo thời gian nín thở bằng đồng hồ bấm giây. Những người kho ẻ m ạnh bình th ường
thời gian nín thở được khoảng 40 – 50 giây. Ở các VĐV t ập luy ện t ốt th ời gian này
có thể lên đến 2 – 3 phút.
d. Thử nghiệm nín thở sau khi thở ra (Test Genchi)
Cũng tiến hành như thử nghiệm nín thở sau khi hít vào người được kiểm tra sẽ
nín thở sau khi thở ra sâu. Bình thường, người khoẻ mạnh có th ể nín th ở 20 – 30
giây.
Câu hỏi ôn tập
1. Phân tích tác dụng của thể dục thể thao qua từng thời kỳ phát tri ển c ủa xã

hội?
2. Nêu khái niệm GDTC?

3. Nêu khái niệm Văn hoá thể chất?

4. Nêu khái niệm Phong tr ào TDTT?

5. Nêu khái niệm Phát triển thể chất?

33
34
6. Nêu khái niệm Chuẩn bị thể lực?

7. Nêu khái niệm Học vấn thể chất?

8. Ý nghĩa của Giáo dục thể chất trong trường Đại học, so sánh chương trình
Giáo dục thể chất ở bậc đại học và chương trình môn học thể dục ở trường
trung học phổ thông?
9. Phân tích quá trình hình thành kỹ năng - kỹ xảo, cho ví dụ minh hoạ?

10. Khái niệm tố chất vận động, sức nhanh, sức mạnh, sức bền & khéo léo, cho

vd.
11. Phân tích sự khác biệt và mối liên quan tương hỗ giữa các ph ương pháp giáo

dục thể chất?
12. Phân tích sự khác biệt và mối quan hệ giữa các nguyên tắc về phương pháp

giáo dục thể chất?




34
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản