BÀI GIẢNG : PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Chia sẻ: hoangvanchuc_kn40a

Quan tâm lớn hiện nay đối với công cuộc phát triển là tìm kiếm những chiến lược phát triển “Lấy con người làm trung tâm”. Phương thức này nhấn mạnh sự tham gia với vai trò ngày càng cao của người dân ở cơ sở vào tất cả các giai đoạn của tiến trình phát triển. Đó là sự phát triển dựa vào sáng kiến của người dân và sự tự lực của họ. Những nỗ lực như vậy dẫn đến thay đổi phương pháp: từ cung cấp phúc lợi xã hội cho người dân, coi họ như là những...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: BÀI GIẢNG : PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN




BÀI GIẢNG

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
(Dùng cho sinh viên ngành Khuyến nông và Phát triển nông thôn)




Biên soạn
Th.S. Phí Thị Hồng Minh



THÁI NGUYÊN 2005




BÀI MỞ ĐẦU

1
Quan tâm lớn hiện nay đối với công cuộc phát triển là tìm ki ếm nh ững chi ến
lược phát triển “Lấy con người làm trung tâm”. Phương thức này nhấn mạnh sự tham
gia với vai trò ngày càng cao của người dân ở cơ sở vào tất cả các giai đo ạn c ủa ti ến
trình phát triển. Đó là sự phát triển dựa vào sáng kiến của người dân và sự tự lực của
họ. Những nỗ lực như vậy dẫn đến thay đổi phương pháp: từ cung cấp phúc lợi xã
hội cho người dân, coi họ như là những người hưởng lợi thụ động, sang phát tri ển
cộng đồng nhằm giúp họ nâng cao năng lực để giải quyết vấn đề của họ. Phương
pháp phát triển cộng đồng lấy con người làm trung tâm là tăng tính tự quyết và phát
huy tiềm năng của họ. Nó dựa trên triết lý rằng: người dân có thể tự định hướng và
điều khiển sự phát triển của chính họ khi họ nhận thức được giá trị và s ức m ạnh c ủa
chính mình. Sự tham gia tích cực và chủ động của cộng đồng vào hoạt động phát triển
được coi là phương tiện và cũng là mục tiêu của phát triển.
Hoạt động phát triển cộng đồng mang tính chất đa dạng và liên ngành. Tuỳ
thuộc vào bối cảnh thực hiện chương trình, các vấn đề trọng tâm c ủa môic huyên
ngành có thể được nhấn mạnh. Chương trình phát triển cộng đồng có thể bắt đầu với
các dự án mở rộng sản xuất tăng thu nhập, chăm sóc sức kho ẻ, c ải thi ện dinh d ưỡng,
cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, phát triển lãnh đạo, hỗ trợ tín d ụng, xoá mù
chữ, phát triển cơ sở hạ tầng…Tuy nhiên mục tiêu bao quát của các dự án phát tri ển
cộng đồng là hướng đến tạo lập chuyển biến xã hội tích cực trong cộng đồng nông
thôn, làm cơ sở cho tăng trưởng kinh tế – xã hội, cải thi ện đ ời s ống người dân và
đóng góp vào công cuộc phát triển chung của quốc gia. ở Việt Nam, khái niệm phát
triển cộng đồng đã được áp dụng từ lâu nhưng mới được đưa vào ch ương trình giáo
dục trong những năm gần đây nên chưa có tính hệ thống và định hướng rõ rệt. Tài
liệu này được biên soạn từ những tài liệu khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu đào t ạo
chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn và các ngành liên quan trong Trường
Đại học. Xin giới thiệu với bạn đọc quan tâm và mong nhận đ ược ý ki ến góp ý đ ể tài
liệu được hoàn chỉnh hơn




CHƯƠNG 1:


2
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CỘNG ĐỒNG:
Cộng đồng được khái niệm như là một hệ thống xã hội, một nhóm ng ười cùng
có những đặc điểm chung. Ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ
những tài nguyên và lợi ích chung…Nói một cách khác, cộng đồng là m ột nhóm ng ười
cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, họ có chung đ ặc đi ểm v ề tâm lý,
tác động qua lại và sử dụng các tài nguyên vốn có để đạt được mục đích chung.
1.1.1. Những thành tố cơ bản của cộng đồng:
- Con người: Dân cư hay một nhóm người có mối quan hệ qua lại riêng biệt do h ọ có
những mối quan tâm chung nhằm đáp ứng nhu cầu chung của họ.
- Lãnh thổ: Khu vực, xét về đặc điểm tâm lý và không gian, mà con ng ười sinh s ống
có thể là làng, xã, huyện, tỉnh, trong một khu vực địa lý nhất định.
- Tương tác xã hội : là mối quan hệ mà trong đó hành động của người này có ý nghĩa
và chi phối đến người khác.
- Ràng buộc chung: Con người có văn hoá, chuẩn mực, niềm tin, truy ền th ống chung
trong các hoạt động hàng ngày.
- Nhu cầu chung: Con người tập trung lại với nhau là do họ có cùng mối quan tâm đáp
ứng nhu cầu chung cho tất cả mọi người, như là: Dịch vụ chăm sóc s ức kho ẻ, các
phương tiện cộng cộng…
1.1.2. Quá trình hình thành cộng đồng:
Quá trình hình thành cộng đồng gồm các bước sau:
+ Quá trình tập hợp lại theo một hình thức t ổ ch ức nào đó: Ví d ụ con ng ười di
chuyển đến nơi có điều kiện để làm việc và sinh sống
+ Sự tập trung hoá, quyết định bởi chức năng cơ bản của yếu tố trung tâm
chung. Ví dụ: Hoạt động sinh kế, đường giao thông, trung tâm th ương mại, và nh ững
cái khác xung quanh thành phố hoặc cộng đồng.


3
+ Chuyên môn hoá: Là phân loại sử dụng, chức năng các lo ại hình hoạt đ ộng ở
vùng nông thôn và thành thị.
+ Sự phân tán: Con người cùng với chức năng vùng đô thị di chuy ển đến vùng
ngoại ô thành phố hoặc vùng dân cư mới, nói một cách khác, đây là s ự di chuy ển ra xa
trung tâm.
+ Sự phân vùng: một số dạng người hoặc loại hình hoạt đ ộng nào đó đ ược t ập
trung ở một vùng cụ thể.
1.1.3. Đặc điểm xã hội cộng đồng:
Mô tả đặc điểm xã hội Cộng đồng bao gồm các nội dung sau:
+ Cấu trúc xã hội: loại cấu trúc và vai trò có quan hệ với nhau.
+ Mục đích chung: nó rạo ra tinh thần đoàn kết trong cộng đồng.
+ Tài nguyên: Một cộng đồng không thể sống nếu không có tài nguyên
+ Thứ bậc xã hội: Không phải mọi người đều như nhau trong cộng đồng; Các
cộng đồng khác nhau có những tiêu chí phân loại khác nhau.
+ Sự thưởng phạt: là cần thiết để cộng đồng thực hiện tốt chức năng của nó.
+ Quyền lực/sự ảnh hưởng: Bạn có thể không có quyền lực nh ưng b ạn có m ột
sức mạnh (sự ảnh hưởng) để kiểm soát người khác.
+ Lãnh thổ: nó bao gồm cả lãnh thổ về mặt không gian và lãnh th ổ v ề m ặt tâm
lý.
1.1.4. Khái niệm về phát triển và phát triển cộng đồng
Thách thức hiện nay đối với những người làm công tác phát triển là tìm ki ếm
những chiến lược phát triển “Lấy con người làm trọng tâm” nhấn mạnh sự tham gia
tích cực của người dân. Những nỗ lực trong lĩnh vực này hầu hết dựa vào ph ương
pháp phát triển dựa trên sáng kiến từ cơ sở và sự tự lực. Những nỗ lực như thế đã dẫn
tới kết quả là chuyển từ phương pháp hướng về cung cấp an sinh xã h ội đối v ới
người dân là những người thụ hưởng sang phương pháp phát triển cộng đồng, nhằm
giúp cộng đồng có nghĩa là họ tự giúp họ bằng cách tham gia tích cực.



4
Phát triển là quá trình biến đổi về chất lượng. Về số lượng thì đó là s ự tăng
tưởng, còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến động về m ặt ch ất lượng
theo hướng tiến bộ. Vận dụng vào phát triển xã hội thì phát triển xã h ội có nghĩa là s ự
tăng trưởng, đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế cùng với sự biến ch ất xã hội theo
chiều hướng tiến bộ xã hội, nghĩa là theo hướng đúng hơn, tốt hơn và đẹp hơn.
Phát triển là một quá trình chuyển biến xã h ội mà qua đó con ng ười d ần d ần có
khả năng kiểm soát (điều khiển) được điều kiện vật chất, xã hội và môi trường quyết
định đến cuộc sống, công việc và lợi ích mà họ có được do sự kiểm soát đó tạo nên.
Đồng thời giúp họ có khả năng tự quyết định và tổ chức thực hiện.
Phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng là một bộ môn m ới hình thành, đang
trên con đường hoàn thiện, do đó việc định nghĩa chúng là m ột quá trình hoàn thi ện
dần dần. Nhìn chung các định nghĩa đều nhất trí trên những nội dung cơ bản sau:
Phát triển cộng đồng là một qúa trình chuyển biến xã h ội trong c ộng đ ồng mà
thông qua đó con người phát triển và trưởng thành trong ph ạm vi ti ền năng v ốn có c ủa
họ. Đó là những nỗ lực có kế hoạch, có tổ ch ức nh ằm giúp cho nh ững cá nhân có
được những thái độ và quan niệm phù hợp, kỹ năng tốt để họ tham gia tích c ực và dân
chủ vào việc đưa ra các giải pháp cải thiện có hiệu quả các v ấn đ ề chung theo th ứ t ự
ưu tiên được xác định. Các khái niệm cụ thể là:
“Những tiến trình qua đó nỗ lực của người dân kết hợp với nỗ lực của chính
quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của các c ộng đồng và giúp
các cộng đồng này hội nhập và đồng thời góp vào sự phát tri ển của quốc gia” Theo
định nghĩa này Phát triển cộng đồng có hai nội dung ch ủ y ếu. Một là s ự tham gia c ủa
người dân với sự tự lực tối đa. Hai là hỗ trợ về kỹ thuật và các dịch vụ để khuyến
khích sáng kiến, sự tương thân tương trợ để nỗ lực của người dân có hiệu quả cao
hơn.
“Là một tiến trình giải quyết vấn đề của cộng đồng qua đó cộng đồng được
tăng sức mạnh do nâng cao kiến thức và kỹ năng phát hi ện phân tích v ấn đ ề , ưu tiên
hoá chúng, huy động tài nguyên để giải quyết và hành động chung. Phát tri ển c ộng

5
đồng không phải là một cứu cánh, là một kỹ thuật. Nó tăng sức mạnh cho c ộng đ ồng
để tự quyếtt định về sự phát triển của mình. Mục đích cuối cùng là sự tham gia chủ
động của người dân vào tiến trình phát triển”.
Người ta thừa nhận rằng phương pháp phát triển cộng đồng có kh ả năng giải
quyết những vấn đề, những thách thức mà những cộng đồng ở nông thôn và thành th ị
của các nước đang phát triển gặp phải. Phương pháp này cũng giúp gi ải quy ết nh ững
vấn đề của các nhóm bị thiệt thòi và đang bị lãng quên ở nh ững n ước đang phát tri ển.
Phương pháp phát triển cộng đồng là phương pháp lấy con người làm trung tâm và
quan tâm trước tiên đến nhân phẩm và tiềm năng của họ. Phương pháp này giả định
rằng: để người dân có thể tự kiểm soát và định hướng cho số phận của họ thì trước
hết họ phải nhận thức được giá trị và sức mạnh của mình. Phương pháp phát triển
cộng đồng tạo điều kiện cho các thành viên trong cộng đồng được tham gia vào mọi
phương diện liên quan tới quá trình phát triển. Tuy nhiên, kinh nghiệm trong quá khứ ở
các nước đang phát triển cho thấy phương pháp phát triển cộng đồng lấy toàn bộ cộng
đồng làm nhóm đối tượng đã không tác động nhiều đến những người nghèo nhất trong
số những người nghèo. Từ những nhận thức này đã dẫn tới việc hình thành phương
pháp hướng về đối tượng, tập trung trực tiếp vào những nhóm bị thiệt thòi..
1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
Phương pháp phát triển cộng đồng bắt đầu hình thành vào th ập k ỷ 50 ở nh ững
vùng nông thôn còn mang tính truyền thống và gần nh ư t ự cung t ự c ấp. Các đ ặc đi ểm
văn hoá xã hội của người dân rất đồng nhất và mối quan h ệ giữa họ thật chặt chẽ và
thân mật. Quyền lợi và nhu cầu của họ cũng giống nhau, nên làng xã là đ ối t ượng đ ầu
tiên của phát triển cộng đồng. Nhưng với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá,
đơn vị làng xã không thể sinh hoạt cô lập được nh ất là v ề m ặt kinh t ế. Mà chúng
phải hoà nhập vào tiến trình phát triển chung. Vả lại làng xã không th ể t ự phát tri ển
nếu không có một chính sách phát triển chung.
Khi chuyển biến từ nông thôn đến thành thị thì thôn xóm có th ể trở thành một
khu phố nếu đông dân cư, hay một phường hoặc một đơn vị rộng hơn. Ngoài ra với

6
điều kiện sống như ngày nay những người có những lợi ích chung ch ưa ch ắc gì đã c ư
trú gần nhau, nhưng họ lại liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, s ở thích hoặc
dưới hình thức hợp tác xã hay hiệp hội. Đây là những cộng đồng chức năng, như các
tổ chức quần chúng hoặc nhóm xã hội có thể được coi là “Cộng đồng”.
Phát triển cộng đồng được dịch từ tiếng Anh Community Development xuất
hiện vào những năm 1940 tại các cựu thuộc địa đầu tiên của Anh. ở Ghana m ột ng ười
Anh tốt bụng đã nảy ra ý kiến giúp dân cư cải thi ện đời s ống n ằng n ỗ l ực chung c ủa
chính quyền và người dân. Một bên góp công, một bên góp của để đắp đ ường, xây
trường học, trạm xá…Điều gây ngạc nhiên là người dân nghèo đã tích cực tham gia
đóng góp công sức và tiền của vào các chương trình, dự án có mục đích c ải thi ện cho
chính cuộc sống của họ. Kinh nghiệm này cũng cho th ấy phát tri ển ph ải đ ồng b ộ.
Kinh tế, sức khoẻ, văn hoá phải được nâng lên cùng một lúc. Nếu chỉ tiến công vào
một khía cạnh thì không thể nào phá vỡ cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt nát,
bệnh tật…
Kinh nghiệm tích cực này sớm được lan rộng ở hầu h ết các cựu thu ộc điạ ở
châu Á và châu Phi. Năm 1950 Liên hợp quốc công nhận khái ni ệm Phát tri ển c ộng
đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng Phát triển cộng đồng nh ư một công cụ
để thực hiện các chương trình phát triển quốc gia. Thập kỷ 60 – 70 được ch ọn là th ập
kỷ phát triển thứ nhất với những chương trình viện trợ qui mô lớn về kỹ thuật,
phương pháp và vốn liếng. Vào thời điểm ấy dân cư nông thôn chi ếm 80- 90% các
nước cựu thuộc địa nên Phát triển cộng đồng chủ yếu và phát triển nông thôn và các
cộng đồng nông thôn (làng xã).
Năm 1970 Liên hợp quốc đánh giá thập kỷ phát tri ển đ ầu tiên c ủa phát tri ển
cộng đồng. Kết quả cho thấy có một số tiến bộ rõ rệt như sự thay đổi bộ mặt nông
thôn, với hạ tầng cơ sở, tiện nghi công cộng phục vụ người dân. Tuy nhiên, phong trào
rầm rộ này tỏ ra máy móc và tốn kém. Thành quả tích cực nh ất là có đ ược m ột s ố c ơ
sở vật chất nhưng chúng không được sử dụng tốt và không đáp ứng được nhu c ầu
thực sự của người dân. Phong trào không đạt được kết quả mong muốn, nhất là không

7
tạo được sự chuyển biến đáng kể về mặt xã hội. Ví dụ: Nh ư ch ưa có s ự thay đ ổi v ề
hành vi, tập quán từ người dân để tiếp nhận tiến trình hiện đại hoá và phát tri ển c ủa
xã hội. Chưa có sự công bằng xã hội vì có một số ít khá lên, nh ưng ng ười nghèo v ẫn
nghèo thậm chí nghèo hơn. Sự tham gia của người dân theo nghĩa đích thực, nghĩa là
vào quá trình lấy quyết định, phát huy sáng kiến…còn rất hạn chế.
1.3. NGUYÊN LÝ, MỤC TIÊU VÀ QUI TẮC HÀNH ĐỘNG TRONG PHÁT
TRIỂN CỘNG ĐỒNG
1.3.1. Các nguyên lý trong phát triển cộng đồng
Như một đặc tính của phát triển xã hội, phát triển cộng đồng th ực ch ất là quá
trình tăng trưởng kinh tế cộng đồng cùng với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn
thiện các giá trị chân, thiện, mỹ. Trên cơ sở riêng của lý thuy ết phát tri ển c ộng đ ồng,
nguyên lý là tam vị nhất thể. Có nghĩa là coi c ộng đồng nh ư là m ột th ực th ể có 3 m ặt
như hình bên.
Ngoài ra triết lý tham gia (participation) là một
trong những quan điểm quan trọng của phát
triển cộng đồng, được dịch thành 2 từ,
nhìnchung là thống nhất: một là tham dự, hai là
tham gia. Cả hai từ này đều có mức độ ngữ
nghĩa có khác nhau đôi chút. Tham dự là tham
gia với mức thấp, còn tham gia là mức cao. Ví
dụ trong một cuộc họp, các đại biểu là người
tham dự, còn khi

phát biểu là người tham gia, tham gia phát biểu quá 3 lần là tham gia tích c ực. Đây là
sự phân biệt có tính chất để chỉ ra các mức độ tham dự mà thôi, nhìn chung ở n ước ta
gọi đó là Triết lý tham gia. Triết lý này được thể hiện như sau: thừa nhận rằng để cho
một cộng đồng phát triển tốt đẹp, bền vững thì phải có s ự hợp đ ồng tác chi ến c ủa t ất
cả các lực lượng xã hội, của các tổ chức và thiết chế xã hội, mà t ạm hình dung là có 4


8
lực lượng chủ chốt sau đây tham dự vào phát triển cộng đồng, đó là: Bản thân cộng
đồng; Nhà nước; Thị trường; và các nhân tố xã hội khác.
Về quan điểm, mấy thập kỷ xây dựng và hoàn thiện lý thuyết phát triển cộng
đồng và thực hành trong đời sống, trưước hết là ở các cộng đồng nông thôn, đã định
hình cho chúng ta một số quan điểm hoạt động, đó là:
1. Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (Bottom – up)
xuất phát từ nhu cầu của chính người dân. Muốn tự phát triển chính người dân phải tự
ý thức cũng như tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình.
2. Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội: kinh t ế, xã
hội, văn hoá…phải cùng được nâng lên. Chỉ tiến công vào một khía cạnh thì không th ể
nào phá vỡ được cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt nát và b ệnh t ật. Ngu ồn l ực thì
có hạn nhưng tính đồng bộ của sự phát triển luôn đòi hỏi các chương trình phải có tính
tính toán các điểm đột phá, từ đó tìm ra chìa khoá của sự phát triển. Phát triển cộng
đồng chỉ có hiệu quả kinh nằm trong một chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn.
3. Tham gia của quần chúng là quan điểm cơ bản của đường l ối phát tri ển cộng
đồng. Yếu tố tổ chức là hết sức quan trọng. Các tổ chức thuộc chính quyền địa
phương phải được điểu chỉnh để thực hiện chức năng phát triển, cũng như phải hỗ
trợ để xây dựng và củng cố các tổ chức của chính người dân t ại c ộng đồng. S ự tham
gia của chính quyền phải được coi như một nhân tố bên trong, không phải là một lực
lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà là thành phần quan trọng của cộng
đồng.
4. Tạo được chuyển biến xã hội mới là quan trọng. Đó là sự thay đổi nh ận thức,
hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển; là tạo được chuyển biến trong cơ
cấu tổ chức, các mối tương quan lực lượng trong chính cộng đồng đó.
5. Phát triển năng lực trên cơ sở không “ làm thay”, “làm cho” người dân. Người
dân không thể hành động nếu thiếu năng lực. Họ cũng không thể hành động đơn
phương, riêng lẻ mà phải kết hợp với các cá nhân, tổ chức cùng một chí h ướng và



9
quyền lợi để tạo thành quyền lực chung. Muốn cho người dân tự làm thì tổ chức thông
qua huấn luyện là then chốt.
6. Các nghiên cứu làm nền tảng cho việc triển khai các dự án ph ải đ ược đ ặt
ngang tầm với vị trí cần có của nó trong công tác phát triển cộng đồng. Ho ạt đ ộng
đánh giá (Evaluation) là một bước đo lường hiệu quả xã hội của các dự án và mở ra
những vấn đề mới cho cộng đồng. Chúng tăng tính hiệu quả của các dự án.
1.3.2. Mục tiêu của phát triển cộng đồng
Trọng tâm của phát triển cộng đồng là con người (thành vi ên của cộng đồng) và
phát triển con người vì con người. Điều này có nghĩa là mục tiêu c ủa phát tri ển là tăng
khả năng của con người để làm chủ đời sống và môi trường của mình. Nh ững ti ến b ộ
về vật chất không kèm theo sự phát triển kh ả năng con người và c ải ti ến đ ịnh ch ế xã
hội mà chỉ là thay đổi tạm bợ. Tăng trưởng kinh tế chỉ là một trong nh ững khía cạnh
của phát triển.
Mục tiêu bao trùm của phát triển cộng đồng là tạo ra nh ững chuy ển bi ến xã h ội
trong cộng đồng để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, mang lại sự bền vững về
môi trường. Phát triển cộng đồng còn góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức
và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng
đồng. Mục tiêu trên được thể hiện dưới 4 khía cạnh sau:
1. Hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, với sự cân bằng
về vật chất và tinh thần, qua đó tạo những chuyển biến xã hội trong c ộng
đồng.
2. Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng, kể
cả các nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nêu lên nguy ện vọng của mình và
được tham gia vào hoạt đồng phát triển, góp phần đẩy mạnh công bằng xã
hội.
3. Củng cố các thiết chế/tổ chức để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến biến
xã hội và tăng trưởng.



10
4. Gia tăng và phát huy sự tham gia tích cực chủ động của người dân vào tiến
trình phát triển.
1.3.3. Qui tắc tiến hành hoạt động phát triển cộng đồng
1. Tin tưởng vào năng lực người dân và cộng đồng: Phát tri ển c ộng đồng hoàn toàn có
khả năng quản lý cuộc sống và các vấn để của mình trừ khi h ọ b ị đè n ặng b ởi mối lo
âu để sống còn.
2. Đảm bảo công bằng xã hội: Công bằng phải dẫn tới sự tái phân ph ối tài nguyên,
bao gồm: tiền của, tiện nghi, kiến thức, quyền lực ở cấp vi mô cũng nh ư vĩ mô. Đi ều
này rất quan trọng vì không ít chương trình phát triển đã t ạo thêm kho ảng cách giàu –
nghèo.
3. Tạo các hình thức hợp tác thuận lợi để phát huy tinh thần trách nhiệm cộng đồng.
4. Đối tượng ưu tiên của phát triển cộng đồng là người nghèo và người thiệt thòi.
5. Bắt đầu với con người: Không nên có thái độ “Đỗ lỗi cho nạn nhân” với những lập
luận như ”Dân trí thấp”, “Người ít học khó tiếp thu”, “Người nghèo hay an phận”.
6. Phát triển chỉ có thể Nội sinh nghĩa là xuất phát từ một ý chí và nội lực từ bên
trong. Sự hỗ trợ bên ngoài về chuyên môn và nguồn lực là rất c ần thi ết nh ưng ch ỉ xúc
tác.
7. Mọi chương trình hành động đều phải thông qua tiến trình do cộng đồng tự quyết.
8. Dân chủ là một nguyên tắc phải hướng tới để đảm bảo rằng lợi ích chung s ẽ đ ược
tôn trọng. Nhưng dân chủ đòi hỏi một quá trình rèn luyện và có qui tắc.


1.4.TIẾN TRÌNH CHUNG CỦA PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
Phát triển cộng đồng được hình thành nhằm tạo ra những điều kiện cải thi ện
về kinh tế và xã hội cho cộng đồng, nhấn mạnh tầm quan trọng sự tham gia c ủa qu ần
chúng, biết định hướng nhu cầu, tự lực, nâng cao ý thức, phương pháp phát triển từ cơ
sở và tăng quyền lực cho cộng đồng. Trọng tâm của ph ương pháp này t ừ s ự h ội nh ập
và tính bền vững. Phát triển cộng đồng đặt nền tảng trên sự giả định rằng phát triển
bắt đầu ở cấp thấp nhất và sáng kiến, tính sáng tạo và năng lực của quần chúng có

11
thể được sử dụng để cải thiện chính cuộc sống của họ thông qua những tiến trình
dân chủ và những nỗ lực tự nguyện. Nó bao hàm việc nâng cao ý thức quần chúng ở
cấp thấp nhát khi họ được đánh thức để nhận ra năng lực của mình. Trong hoàn c ảnh
lý tưởng, những thành viên cộng đồng tự tổ chức lại một cách dân chủ để:
a. Xác định nhu cầu, khó khăn, vấn đề.
b. Triển khai kế hoạch và những chiến lược nhằm đáp ứng được những nhu
cầu này.
c. Thực hiện những kế hoạch như vậy với sự tham gia tối đa của cộng đồng
để đạt được thành quả.
Tiến trình chung của phát triển cộng đồng có thể được tóm tắt trong sơ đồ d ưới
đây:




TIẾN TRÌNH CHUNG CỦA DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG




12
Kết quả của tiến trình phát triển cộng đồng nhằm xây dựng năng lực c ộng
đồng theo các giai đoạn như sau:
Cộng đồng thức tỉnh: Là cộng đồng hiểu rõ thực trạng, nhu cầu thi ết th ực và nh ững
vấn đề của chính họ. Việc làm đầu tiên là phải giúp cộng đồng hiểu v ề chính mình
thông qua các cuộc trao đổi thảo luận, điều tra về các nhu cầu và nh ững vấn đề khó
khăn cũng như những tiềm năng và thuận lợi.

13
Cộng đồng đã gia tăng năng lực : Cộng đồng hiểu rõ và biết cách khai thác huy động
những gì mình có mà chưa sử dụng (đất đai, cơ sở, nhân tài), nh ững ngu ồn h ỗ tr ợ bên
ngoài (kiến thức chuyên môn, tín dụng, đầu tư, cơ quan viện trợ…) Thông qua h ọc
tập, huấn luyện cộng đồng khắc phục những hạn chế, tăng cường kiến thức và kỹ
năng để hành động. Ngoài ra còn biết cách liên kết tổ ch ức lại để hành động chung có
hiệu quả.
Cộng đồng tự lực: Thông qua hành động cộng đồng đã thay đổi và phát tri ển đó là s ự
tự lực. Mục đích cuối cùng không phải là giải quyết các khó khăn, kh ủng hoảng tr ước
mắt mà mỗi khi khó khăn nảy sinh, cộng đồng tự huy động tài nguyên bên trong và bên
ngoài để giải quyết. Mỗi lần như vậy cộng đồng sẽ tăng trưởng và tự lực h ơn. Ti ến
trình phát triển cộng đồng luôn tiếp diễn và tái diễn vì cuộc s ống là m ột quá trình gi ải
quyết vấn đề liên tục.




1.5. ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG
Tất cả chúng ta đề đã có những ý niệm nhất định về sự “Phát triển”, đó là sự
thay đổi mang lại sự cải thiện tốt hơn, sự thoả mãn hơn cho nhu c ầu s ống c ủa con
người. Điều đáng đề cập ở đây là sự tác động, ảnh hưởng đến các thành viên cộng
đồng không giống nhau,mà thường là đem đến lợi ích cho một cá nhân hay tầng lớp
nhất định, đồng thời đem đến sự thiệt hại cho các bộ phận cộng đ ồng khác. Phát tri ển



14
phải là một quá trình mang lại sự cải thiện cho hầu hết mọi người, phát tri ển không
đơn thuần mang lại lợi ích cho một cá nhân, hay chỉ một bộ phận nào đó.
Mục đích tối cao của phát triển là cải thiện chất lượng cuộc sống cho mọi thành
viên của cộng đồng, bởi vậy chúng ta ch ỉ có th ể giành được s ự phát tri ển đúng nghĩa
của nó theo cách như vậy. Thế giới xung quanh ta luôn thay đổi, sự đổi mới là ti ền đ ề
cho sự phát triển chỉ khi nào nó mang lại sự cải thi ện cho toàn th ể c ộng đ ồng. Chúng
ta tác động để tạo ra sự thay đổi (đẩy mạnh sản xuất, xây dựng h ạ tầng cơ sở, công
trình phúc lợi, kích thích phát triển kinh tế…)nh ưng ph ải đánh giá xem nh ững thay đ ổi
đó có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng hay không. Theo đúc kết của nhi ều
công trình nghiên cứu, những thay đổi ở vùng nông thôn mang lại s ự phát tri ển khi
những thay đổi đó có đặc tính như sau:
- Mang lại cải thiện điều kiện sống cho hầu hết mọi người
- Số người bị thiệt hại ít hơn đáng kể so với số người được hưởng lợi, hoặc
đã hạn chế đến mức tối thiểu số người bị thiệt hại.
- Phải đảm bảo thoả mãn được nhu cầu tối thiểu cho mọi người
- Phải phù hợp với nhu cầu, ý muốn đặc thù của mọi người trong cộng đồng.
- Kích thích và tăng được khả năng tự chủ của cộng đồng
- Mang lại sự cải thiện lâu dài, bền vững
- Không làm tổn hại mà không thể khắc phục được đối với môi trường thiên
nhiên.
Đánh giá phát triển cộng đồng thực chất là đánh giá chuy ển biến xã h ội trong
cộng đồng và tác động của các chuyển biến này đến năng lực gi ải quy ết vấn đ ề, c ải
thiện đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ môi trường, cũng như giải quy ết các xung
đột và đảm bảo công bằng xã hội đem lại nh ững thành quả trên đây. Các chuy ển bi ến
đó là:
- Chuyển biến để tổ chức cộng đồng
- Thay đổi về nhận thức, thái độ, hành vi, tinh thần trách nhiệm cộng đồng.



15
- Cải tiến về thể chế, các qui ưước, quy định trong hoạt động cộng đồng. Cải
thiện về giá trị tập tục giúp nâng cao đời sống và đảm bảo công bằng.
Phát triển cộng đồng không chỉ nói tới các cộng đồng thể. Đó ch ỉ là th ực th ể tác
động hơn là mục tiêu của phát triển cộng đồng. Tạo sự chuy ển bi ến xã h ội, trong đó
tăng cường năng lực tổ chức, khả năng đoàn kết xã hội, hướng tới kh ả năng nâng cao
tính cộng đồng mới là đích cuốic cùng của phát triển cộng đồng. Do đó, khi nói đ ến
phát triển cộng đồng là phải nói đến cả cộng đồng tính và cộng đồng th ể, nó có m ối
quan hệ hữu cơ, không thể tách rời. Trong một số tài liệu viết về phát triển và tổ chức
cộng đồng, khái niệm cộng đồng được hiểu theo nghĩa là nh ững c ộng đ ồng nh ỏ, ở
nông thôn thì đó là những dòng họ, gia đình, làng - xã, còn ở đô th ị thì đó là nhóm thân
hữu cho đến như cấu trúc nhỏ như là câu lạc bộ, nhóm người nghèo…
+ Cộng đồng tính là một thuộc tính hay một quan h ệ xã h ội được các nhà xã h ội
học xác định và cụ thể hoá trong các nghiên cứu của mình.
+ Cộng đồng thể là là những nhóm người có phạm vi tập h ợp và đ ặc tr ưng
nhóm rất khác nhau. Tốt nhất là chúng ta nên chọn một khái niệm làm việc với một số
đặc trưng nào đó mà ta có thể làm việc được.
Trong báo cáo phát triển hàng năm của Ngân hàng thế giới chúng ta thấy trong
đó có tới hơn 200 chỉ số về sự phát triển xã hội để so sánh giữa các nước, giữa các
khu vực về sự phát triển. Trong đó nếu gom lại thị có các nhóm chỉ số cơ bản sau đây:
+ Nhóm chỉ số tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là chỉ số về bình quân thu nhập đầu
người so sánh giữa các cộng đồng và các khu vực.
+ Nhóm chỉ số phát triển xã hội, người ta quan tâm nhiều nhất đến ch ỉ số phát
triển xã hội, đặc biệt là chỉ số phát triển dịch vụ xã h ội, trong đó có 2 d ịch v ụ c ơ b ản
nhất là dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế được đặc biệt quan tâm. Ch ỉ s ố phát tri ển con
người hay chỉ số phát triển nhân bản (HID – Human Development Index) là chỉ số tổng
hợp kinh tế – xã hội của sự phát triển, bao gồm (1) Thu nhập bình quân đầu người, (2)
Tuổi thọ trung bình, (3) Trình độ học vấn trung bình và một số chỉ báo khác.



16
Và cuối cùng là quan niệm rất hiện đại mà chúng ta vừa m ới ti ếp c ận. Đó là
những chỉ số phát triển bền vững – một quan niệm rất hiện đại. Lâu nay chúng ta m ới
chỉ quan tâm đến những chỉ số phát triển kinh tế, xã hội, con người, văn hoá…nhưng ít
đề cập tới quan hệ giữa con người và xã hội với tự nhiên trong xã hội h ọc. Lâu nay
trong giới khoa học xã hội và nhân văn cho thấy rằng đó là vấn đề của các khoa học
khác, nhưng chính xã hội theo nghĩa rộng của nó là ph ải nghiên cứu quan h ệ gi ữa con
người và tự nhiên, giữa xã hội và môi trường tự nhiên. Đó là nh ững quan ni ệm m ở
rộng, có một loạt các chỉ số có liên quan như chỉ số bảo vệ môi trường, phát triển con
người. Phát triển kinh tế – xã hội mà không bảo vệ môi trường thì có nguy c ơ s ẽ d ẫn
tới mặt trái của nó, tức là suy thoái mà thế giới hiện đại đã có quá nhi ều bài h ọc. Ví
dụ các chỉ số dưới đây:
1. Kinh tế/nguồn lực
- Sử dụng ít tài nguyên sẵn có để tăng thu nhập
- Cơ hội việc làm lớn
2. Xã hội:
- Tiếp cận với kỹ thuật và các dịch vụ xã hội như văn hoá, y tế, cơ sở hạ tầng.
- Có chỗ ở tốt hơn với đầy đủ các phương tiện (điện, đường,…)
- Nâng cao vị thế tổ chức
3. Văn hoá tinh thần
- Sự thống nhất cao hơn và tham gia nhiều hơn vào việc gi ải quy ết các v ấn đ ề
cộng đồng
- Số người tuân thủ pháp luật nhiều hơn
4. Chính trị
- Cuộc sống và tài sản được bảo đảm hơn (hoà bình, ổn định và trật tự)
- Tham gia nhiều hơn trong việc ra quyết định và hoạt động cộng đồng
- Con người không còn thoả mãn với điều kiện hiện tại
5. Sinh thái
- Bảo tồn và khôi phục tài nguyên thiên nhiên (lưu vực, rừng…)

17
- Tài nguyên nước trên đất liền và ven biển
- Đối với nông nghiệp, phương pháp canh tác không ảnh hưởng xấu đến môi
trường sinh thái.




CHƯƠNG 2
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
2.1. CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Cộng đồng nông thôn dưới con mắt của các nhà xã h ội h ọc là m ột h ệ th ống xã
hội gắn với hình thái kinh tế nông nghiệp, đối lập với một h ệ th ống xã h ội khác là đô
thị gắn với nền thương nghiệp và công nghiệp. Nông thôn tồn t ại và chi ếm m ột v ị trí
quan trọng trong lịch sử nhân loại như một kiểu xã hội có những đặc thù riêng. Phân

18
loại của Tonnies là một cách nhìn có tính khái quát về lịch sử phát triển các cộng đồng
người.
Bảng phân loại của P.A sorokin và C.C zimnerman
Đặc trưng Nông thôn Đô thị
1. Nghề Dân cư chủ yếu gắng với trồng Dân cư chủ yếu gắn với
nghiệp trọt, chăn nuôi, đánh bắt, nuôi thương mại – dịch vụ, quản trị,
trồng thuỷ sản và các nghề nông công chức, nghề tự do và các
nghiệp khác nghề phi nông nghiệp khác
2. Môi Môi trường tự nhiên ưu trội hơn Sự tách biệt với thiên nhiên lớn
trường môi trường xã hội – nhân văn. hơn. Môi trường nhân tạo lấn
Con người quan hệ trực tiếp với át môi trường tự nhiên
tự nhiên.
3. Kích cỡ Các cộng đồng nhỏ gồm nông Kích cỡ cộng đồng lớn hơn
cộng đồng trại và xóm – làng gắn với văn nhiều gắn vưói văn minh công
minh nông nghiệp nghiệp
4. Mật độ Thấp hơn cộng đồng đô thị, hình Lớn hơn cộng đồng nông thôn.
dân số thành 2 khái niệm tương phản: Tính đô thị và mật độ dân cư là
tính nông thôn và mật độ dân cư 2 khái niệm tương ứng nhau
5. Tính hỗn Thuần nhất hơn về đặc điểm Tính không đồng nhất lớn hơn
tạp và thuần chủng tộc và tâm lý so với các cộng đồng nông
nhất về dân thôn. Tính không thuần nhất và
cư tính đô thị là hai khái niệm
tương ứng nhau
6. Phân tầng Khoảng cách khác biệt và phân Sự khác biệt và phân tầng xã
xã hội tầng xã hội ít hơn xo với đô thị hội lớn hơn. Sự khác biệt và
phân tầng xã hội là những khái
niệm tương ứng với tính đô
thị.
7. Hướng di Những kiểu di động xã hội theo Gia tăng mạnh hơn. Tính độ thị
động xã hội lãnh thổ, nghề và những kiểu và tính di động là 2 khái niệm

19
khác thường có cường độ không tương ứng nhau. Chỉ trong giai
lớn, thường là di động cá nhân từ đoạn/hoàn cảnh đặc biệt mới
nông thôn ra thành thị có sự di động từ đô thị về nông
thôn
8. Hệ thống Quan hệ xã hội thường là các Quan hệ xã hội ẩn danh, được
tương tác quan hệ sơ cấp, dựa trên tình tiêu chuẩn hoá và hình thức hoá
thân láng giềng, huyết thống và ít
phức tạp hơn

Trong tiến trình thay đổi và phát triển chung thì cộng đồng mang các đặc thù nông thôn
và cộng đồng đô thị hoá. Các đặc thù này liên quan đến việc xác định các c ộng đ ồng
nông thôn ưu tiên cho các hoạt động phát triển hiện nay. Về khái ni ệm chung nh ất,
cộng đồng nông thôn có hoạt động kinh kế chính là trực ti ếp khai thác tài nguyên thiên
nhiên và sống dựa vào các nguồn tài nguyên này. Trên thế giới người ta dựa vào hai
tiêu chí chính để phân biệt vùng nông thôn và thành th ị là m ật đ ộ dân s ố và phát tri ển
hạ tầng cơ sở. Tuy nhiên tiêu chí này rất tương đối và thay đ ổi tuỳ theo t ừng n ước. ở
Việt Nam việc phân biệt các cộng đồng đô thị và nông thôn được thực hiện theo các
quyết định về tổ chức đơn vị hành chính. Một cộng đồng là đối tượng của phát triển
nông thôn gồm các thành viên được xác định theo ba tiêu chí chính:
+ Là cộng động mang tính xã hội nông thôn
+ Thành viên cộng đồng có cùng đơn vị hành chính
+ Thành viên cộng đồng có cùng khu vực cư trú tại vùng nông thôn
Tóm tắt các đặc điểm xã hội phân biệt cộng đồng nông thôn và thành thị
Cộng đồng nông thôn Cộng đồng thành thị
1. Sự thân thiện và quan hệ trao đổi Mối quan hệ bình thường giữa các cá
thân thuộc hàng ngày nhân có tính chất giao kèo và lý luận
2. Quan hệ ruột thịt mạnh mẽ theo hình Quan hệ tồn tại theo các hội, đoàn có
thức phả hệ gia đình chủ đích
3. Sự tự phát, cùng giúp đỡ lẫn nhau, Sự ràng buộc xã hội hướng theo các


20
cùng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn mục tiêu cụ thể
4. Sự thồng nhất cao theo các tập tục, ý Thống nhất theo phân chia lao động,
tưởng và những mong đợi của nhóm chuyên môn hoá theo chức năng có sự
phục thuộc lẫn nhau
5. Sự thống nhất dựa trên cơ sở sự Sự thống nhất đạt được dựa trên cơ sở
giống nhau về đặc thù phụ thuộc mục tiêu do chuyên môn hoá

Trong quá trình phát triển chung thì cộng đồng nông thôn có quá trình thay đổi
theo hướng đô thị hoá. Chỉ tiêu quan trọng nhất của quá trình này là giảm dần sự l ệ
thuộc trực tiếp vào khai thác tài nguyên thiên nhiên. Sinh kế của cộng đ ồng được đa
dạng hoá cùng với tiếp cận trao đổi với thị trường ngày càng tăng. Quá trình đó làm c ơ
sở cho tích luỹ cài tiến điều kiện hạ tầng cơ sở, thay đ ổi đ ặc đi ểm xã h ội truy ền
thống và thu hút lực lượng lao động lập nghiệp theo phương thức công nghiệp.
Về nhu cầu Phát triển nông thôn: Trong quá trình phát triển c ủa th ế giới , trong l ịch s ử
cho thấy sự cách biệt giữa các vùng nông thôn và thành thị ngày càng cách biệt vì s ự
thay đổi và tăng trưởng trong các vùng đã đô th ị hoá nhanh h ơn r ất nhi ều. Th ực t ế cho
thấy rằng cần phải chú trọng hơn nữa đến sự phát triển của các cộng đồng nông thôn.
Đó chính là phải phát triển cân đối giữa nông thôn và thành thị, và cân đối giữa các lĩnh
vực. Như vậy, không chỉ cần đầu tư phát triển ở nông thôn v ề ngu ồn l ực mà còn c ần
có các phương pháp phù hợp.
2.2. PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN VÀ NHU C ẦU C ỦA PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN
Phát triển nông thôn theo khái niệm chung nhất là hoạt động phát tri ển c ộng
đồng xã hội con người ở các vùng nông thôn, nó chú trọng nhiều đến phát tri ển con
người. Theo ngân hàng thế giới (1975): “Phát triển nông thôn là một chiến lược được
hoạch định để cải thiện đời sống kinh tế – xã hội của một tầng lớp người đã được
xác định – tầng lớp người nghèo ở nông thôn. Nó chú trọng đến vi ệc phân ph ối l ợi ích
của phát triển đến những người nghèo nhất đang kiếm sống trong các vùng nông thôn.



21
Tầng lớp này bao gồm nông dân sản xuất nhỏ, những ng ười thuê đất s ản xu ất và
những ngưồi làm công không có đất”
Theo UmaLele: “Phát triển nông thôn được khái niệm như là một quá trình cải
thiện mức sống của hầu hết những người thu nhập thấp đang sinh sống trong các
vùng nông thôn, đồng thời tạo lập tiến trình phát triển bền vững của họ”.
Theo Guy Hunter: “Mục đích cơ bản của phát triển nông thôn là phải làm cho
hầu hết dân cư nông thôn nghèo được thoả mãn nhu cầu sống thiết yếu bằng sự nỗ
lực của chính bản thân họ”.
Mục đích lâu dài của phát triển nông thôn đề cập chủ yếu đến sự cải thiện về
chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn. Có nghĩa rằng, phát triển nông thôn nhằm
giúp những người nông thôn làm cho điều kiện sống ở làng mạc thôn quê trở lên h ấp
dẫn đối với mọi người. Muốn đạt được mục tiêu lâu dài, phát tri ển nông thôn c ần
phải giành được những mục đích gần hơn, cụ thể hơn, thiết thực hơn hay còn gọi là
mục tiêu cấp bách trước mắt. Đó là phải tăng được năng lực của dân cư nông thôn,
đặc biệt là tầng lớp nghèo, để họ tự kiếm thêm, tiến t ới ki ếm đ ủ thu nh ập, trang tr ải
cho nhu cầu sống thiết yếu của họ. Đảm bảo đáp ứng nhu cầu về dinh d ưỡng, nhu
cầu về mặc và nhà ở, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ và giáo d ục, nhu c ầu v ề nguồn
nước và vệ sinh, nhu cầu về ánh sáng và giải trí, nhu cầu đi lại và sinh hoạt văn hoá
tín ngưỡng.
Một trong những nhân tố quyết định đảm bảo cho những cải thiện trên là môi
trường xã hội có khả năng cung cấp đầu đủ cơ hội kiến dược việc làm phù hợp vho
tất cả mọi người. Bên cạnh tăng thu nhập, mạng lưới cung ứng đầy đ ủ các lo ại d ịch
vụ và phương tiện cần thiết ở nông thôn cũng mục tiêu cần đ ạt được, đ ặc bi ệt là đ ối
với các vùng nông thôn xa xôi. Cơ sở giáo dục, y tế, mạng lưới giao thông và th ương
nghiệp… phải được cải tiến, tổ chức phù hợp, hoạt động có hiệu quả thoả mãn nhu
cầu dân cư trên cơ sở quan hệ bình đẳng.




22
Tóm lại: Mặc dù có những chú trọng khác nhau, nhưng nhìn chung phát tri ển
nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo thông qua việc tăng năng l ực c ủa dân c ư nông
thôn thực hiện các mục đích cụ thể sau đây:
+ Mở rộng sản xuất và tăng năng lực sản xuất
+Thúc đẩy để đạt một mức thu nhập cao hơn
+ Tạo ra công ăn việc làm ở nông thôn, đổi nghề nhưng không đổi chỗ ở.
+ Phân phối hợp lý và công bằng các lợi ích thu được từ phát triển.
+ Ưu tiên cải thiện điều kiện sống cho người nghèo.
+ Tạo lập được phát triển bền vững, phát triển từ những tiềm năng tại chỗ.
+ Tạo được sự tự chủ cho những người nghèo ở nông thôn hay tự phát triển.
Trong tiến trình phát triển chung của toàn xã h ội, phát tri ển nông thôn còn đ ược
xem như là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã h ội, kinh tế, văn hoá và
môi trường, nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa ph ương. Nh ấn
mạnh vào quá trình có chủ ý và bền vững. Phát triển nông thôn không ph ảilà m ột công
việc làm trong một thời gian ngắn. Nó cần được theo đu ổi trong m ột th ời gian dài
nhiều năm và có chủ ý.
Phát triển nông thôn nhấn mạnh nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Một số phát triển “Địa phương” hoặc “Khu vực” trước đây được khuyến khích do nhu
cầu quốc gia (như điện, nước hoặc quốc phòng), hơn là nhu cầu của bản thân người
dân địa phương. Nhu cầu quốc gia tất nhiên có thể được đáp ứng thông qua phát tri ển
nông thôn, và bất cứ sự đáp ứng thành công nào nhu cầu địa phương sẽ đóp góp gián
tiếp cho sự phồn thịnh của quốc gia. Nhưng khái niệm hiện đại v ề phát tri ển nông
thôn nhấn mạnh hàng đầu vào việc đáp ứng nhu cầi của người dân nông thôn.
* Tổng hoà phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn




23
Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa PTCĐ và PTNT
Khái niệm phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn có một số điểm tương
đồng và một số trọng tâm như nhau chính vì vậy việc sử dụng hai khái ni ệm này trong
những hoàn cảnh cụ thể có thể thay thế nhau. Việc phân biệt hai khái ni ệm này nh ằm
giúp cho cán bộ chuyên ngành và cán bộ nghiên cứu phát triển nông thôn thấy rõ h ơn
trọng tâm hoạt động ở hai khái niệm này.
Điểm tương đồng quan trọng nhất : Là phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn
có 2 nguyên lý chung là hướng đến tăng năng l ực c ủa c ộng đ ồng và t ạo ra các chuy ến
biến xã hội trong cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng nghèo, để giúp cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần, duy trì công bằng xã hội, và bảo vệ được tài nguyên môi
trường của họ.
Điểm phân biệt chính: là phát triển nông thôn có các hợp phần hoạt động rộng hơn
và tập trung chủ yếu vào đối tượng nghèo ở nông thôn. Trong khi đó phát triển cộng
đồng xem xét toàn thể cộng đồng nghèo trong một tiến trình phát tri ển liên t ục có th ời
kỳ mang đặc thù thành thị. Các điểm tương đồng và phân biệt chính gi ữa phát tri ển
cộng đồng và phát triển nông thôn có thể tóm tắt như sau:
Tóm tắt các đặc điểm chính phân biệt phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn

Đặc trưng của Đặc trưng của
Phát triển cộng đồng Phát triển nông thôn
Khái Là tiến trình có kế hoạch và có tổ Là chiến lược có kế haọch và có tổ
niệm chức, hỗ trợ cộng đồng tăng năng chức, hỗ trợ tầng lớp người nghèo
lực để cải thiện điều kiện kinh ở nông thôn để cải thiện điều kiện
tế, xã hội và môi trường thông sống về vật chất và tinh thần
qua nội lực là chính
Mục Cải thiện đời sống của toàn thể Ưu tiên cải thiện đời sống của
tiêu cộng đồng như là một đơn vị người nghèo của các cộng đồng
mục tiêu nông thôn

24
Nguyên Lấy con người làm trung tâm, Lấy con người làm trung tâm, thúc
lý cơ thúc đẩy tham gia, tăng sức mạnh đẩy tham gia, tăng sức mạnh và
bản và đảm bảo công bằng, thông qua đảm bảo công bằng, thông qua hợp
hợp tác tương trợ lẫn nhau tác tương trợ lẫn nhau
Cấu Phối hợp các cấp (trung ương, Phối hợp các cấp (trung ương, địa
trúc địa phương) các ngành và các phương) các ngành và các loại hình
hoạt loại hình tổ chức (cá nhân, nhà tổ chức (cá nhân, nhà nước, và các
động nước, và các tổ chức phi nhà tổ chức phi nhà nước)
nước)
Đối Cộng đồng nghèo (tổ chức, Người nghèo (cá nhân, nhóm, cộng
tượng nhóm, cộng đồng) ở vùng nông đồng) ở vùng nông thôn
mục thôn và thành thị
tiêu


2.3. TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TOÀN DI ỆN, B ỀN V ỮNG VÀ D ỰA
VÀO CỘNG ĐỒNG
2.3.1. Phát triển nông thôn toàn diện
- Nhấn mạnh các khía cạnh về Xã hội, kinh tế và môi trường
- Phải triển phải là cả “ Từ trên xuống” và “Từ dưới lên”. Nó phải bao trùm
chính sách, tiền tệ và hỗ trợ của Chính phủ (ở mọi cấp) và năng l ực, tài nguyên và s ự
tham gia của người dân
- Phải có sự tham gia của mọi khu vực đối tượng (nhà nước, tư nhân)
- Phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác
Nông, Lâm, Ngư nghiệp là một hệ thống sản xuất ở nông thôn, do người nông
dân thực hiện. Trong Nông, lâm, ngư nghiệp thì sản xuất chế biến – lưu thông – tiêu
thụ sản phẩm, cũng là một hệ thống sản xuất kinh doanh, trong đó người nông dân
thực hiện nhiều công đoạn. Trong kinh tế nông thôn, nông nghi ệp, các ngành ngh ề
tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn cũng là một h ệ th ống, do




25
người nông dân thực hiện. Tiếp cận phát triển nông thôn toàn diện đòi hỏi kiến thức
đa ngành.




Phát triển nông thôn đòi hỏi kiến thức đa ngành về các lĩnh vực kỹ thuật và xã hội.
2.3.2. Phát triển bền vững
Những nguyên tắc này nhấn mạnh vào một cách nhìn lâu dài về xã hội con
người và việc con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên của th ế gi ới. Trong b ối c ảnh
như vậy, phát triển bền vững được khái niệm như sau: “Phát triển nhằm thoả mãn
nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai” (Báo cáo Brunđtlan 1987). Một định nghĩa khác về phát triển bền
vững cũng được sử dụng thường xuyên là : “Phát triển tạo ra dòng chảy liên tục các
lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường”.
Các định nghĩa trên có thể là một điểm xuất phát có ích để suy nghĩ về sự bền
vững có ý nghĩa trong phát triển nông thôn. Để có thể đưa ra cơ sở đánh giá một
chương trình hoặc một dự án cụ thể có thực sự bền vững hay không. Chúng ta c ần có
một định nghĩa có thể hỗ trợ cho việc đánh giá đó, và phản ánh tầm quan trọng c ủa
cách tiếp cận toàn diện và phát triển dựa vào cộng đồng.

26
Phát triển bền vững được khái niệm là sự cải thiện chất lượng cuộc sống của
con người đang sinh sống trong khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái duy trì cuộc
sống đó. Trên cơ sở đó, một nền kinh tế bền vững là m ột n ền kinh t ế duy trì c ơ s ở tài
nguyên thiên nhiên, tiếp tục phát triển bằng cách nâng cao nh ận th ức, c ải thi ện t ổ
chức, hiệu năng kỹ thuật và công bằng xã hội.
Trên thực tế, nếu hiệu quả của tăng trưởng kinh tế không được phân ph ối đ ồng
đều trong xã hội, và nếu sự chênh lệch thu nhập di truyền từ th ế h ệ này sang th ế h ệ
khác, thì không những mức độ tăng trưởng sản xuất có thể suy giảm mà ngay cả xã
hội cũng trở nên mất ổn định và có thể sụp đổ trong dài hạn. Tương tự, tăng trưởng
kinh tế một cách thiển cận có khả năng làm cạn kiệt các tài nguyên không th ể tái sinh
quá nhanh, hay huỷ hoại môi sinh quá đà và do đó gây nhi ều v ấn đ ề nghiêm tr ọng cho
sự sinh tồn của con người. Trong chiều hướng này, tăng trưởng b ền v ững c ần h ội đ ủ
3 yếu tố: Những chủ đề trên đã được thảo luận tại 2 Hội nghị Thượng đỉnh về Phát
triển bền vững tại Rio de Janeiro năm 1992 và tại Johannesburg năm 2002.
+ Tổng sản phẩm chia đầu người gia tăng với mức độ tốt từ năm này sang năm
khác (nhất là khi nền kinh tế còn trong vòng đang phát triển);
+ Thành quả tăng trưởng được san sẻ tương đối đồng đều và mọi t ầng lớp dân
chúng đều có cơ hội bình đẳng như nhau; và
+ Môi trường thiên nhiên (như một phương tiện để sinh sống và sản xuất) được
duy trì thoả đáng.
Một hệ thống canh tác bền vững, bao gồm các biện pháp nuôi chồng nhằm
đảm bảo nhu cầu nông lâm sản của con người nhưng cũng góp phần cải thi ện môi
trường và tài nguyên, sử dụng hiệu quả các tài nguyên không tái t ạo, duy trì hi ệu qu ả
kinh tế của sản xuất và cải thiện đời sống nông dân trong bối cảnh xã hội chung. Khái
niệm về phát triển nông nghiệp bền vững đều hướng đến mục tiêu là dung hoà và k ết
hợp giữa 2 lĩnh vực đang phát sinh nhiều mâu thuẫn – ít nh ất trong giai đo ạn nông
nghiệp đang chuyển mình theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung - đó là ý chí phát
triển sản xuất, cải thiện đời sống với bảo vệ tài nguyên, môi trường.

27
*Phát triển bền vững xem xét các khía cạnh:
1, Con người: để bền vững, phát triển phải tuân theo các nguyên tắc:
- Dân chủ và an toàn;
- Bình đẳng và đối xử công bằng;
- Chất lượng cuộc sống cho mọi người dân;
- Hành động của người dân trong hợp tác với Chính phủ; và
- Tôn trọng tổ tiên và quyền lợi của những người chưa sinh ra.
2, Kinh tế: Để bền vững, phát triển phải:
- Hỗ trợ để tăng cường và đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn;
- Đảm bảo cho người dân có lợi ích đáng kể từ hoạt động địa phương;
- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn, hơn là vào lợi ích trước mắt; và
- Tránh gây tác động xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân và
đến các khu vực và địa phương khác trên lãnh thổ địa lý
3, Môi trường: Để bền vững, phát triển phải:
- Tôn trọng nguồn tài nguyên và tính toàn vẹn của môi trường
- Giảm thiểu sử dụng nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo
- Sử dụng tài nguyên với tốc độ phù hợp với khả năng tái tạo;
- Sử dụng tài nguyên có hiệu quả; và
- Tránh gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường.
4, Tổ chức: Để bền vững, phát triển phải:
- Nằm trong giới hạn năng lực của các tổ chức kinh tế để khống chế và quản
lý, để có thể đáp ứng các tiêu chí nêu trên;
- Không gây ra loại chi phí không được hỗ trợ trong tương lai.
*Những tiêu chí Phát triển bền vững trong Chiến lược của Chính phủ đến năm 2010
đề cập đến các cân nhắc về xã hội, kinh tế và môi trường.
Xã hội:




28
- Tạo điều kiện cho sự phân bố lại sức lao động địa ph ương theo h ướng gi ảm
dần số người lao động chỉ đơn thuần làm nghề nông, và tăng số người lao
động tham gia vào ngành công nghiệp và dịch vụ.
- Hạn chế và tiến tới xoá bỏ, di chuyển tự phát s ức lao động nông thôn ra
thành phố kiếm sống.
- Thành lập những điểm công nghiệp, thương mại và dịch vụ gắn li ền v ới
nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh quá trình đô thị hoá.
- Nâng cao tiêu chuẩn văn hoá, tri thức và xã h ội của người dân nông thôn theo
hướng văn minh và hiện đại, dần dần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và
thành thị.
Kinh tế:
- Tạo điều kiện cho các cơ sở công nghiệp gắn chặt với vùng nguyên li ệu,
giảm chi phí vận tải, và giá thuê nhân công rẻ hơn.
- Tận dụng điều kiện thuận lợi về đất đai ở nông thôn, nơi mà giá thuê đ ất r ẻ
hơn ở thành phố.
- Thúc đẩy chuyển hướng nhanh chóng của kinh tế nông thôn theo hướng có
nhiều hơn cơ sở vệ tinh sản xuất công nghiệp và dịch vụ khác.
- Khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nh ập và điều ki ện
sống ở cộng đồng nông thôn.
Môi trường
- Tận dụng điều kiện thuận lợi và việc xử lý chất thải ở nông thôn dễ dàng
hơn so với thành phố bởi vì có nhiều đất trống và mật độ dân cư thấp.
- Đảm bảo chất thải công nghiệp có thể tận dụng được: ví dụ, ch ất th ải công
nghiệp sau quá trình chế biến nông lâm sản có thể sử dụng như phân bón vi
sinh hoặc thức ăn gia súc.
2.3.3. Phát triển dựa vào cộng đồng
Với ý nghĩa này, phát triển nông thôn là cho người dân. Nh ưng nó cũng ph ải
được theo đuổi với con người, và do con người. Đó là phát triển nông thôn ph ải dựa

29
trên lợi ích, sự tham gia của cộng đồng sống trong khu v ực đó. H ọ là c ở s ở phát tri ển
nông thôn bền vững vì :
- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình.
- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản ph ẩm đ ịa ph ương
mà quá trình phát triển phải dựa vào đó.
- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức vă năng lực của họ là tiềm năng chính để
phát triển; và
- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng h ộ kế hoạch nào, k ế
hoạch đó sẽ không thực hiện được).
Cộng đồng nông thôn truyền thống ở Việt Nam là làng xã xuất hiện từ khi t ổ
tiên biết làm nông nghiệp, đặc biệt là từ khi biết trồng lúa nước. Cộng đồng làng xóm,
cùng nhau chung lưng đấu cật, khai phá đất đai, xây dựng đồng ruộng, làm thu ỷ lợi,
phòng lụt, chống hạn, để trồng lúa nước và nông nghiệp, và văn minh nông nghi ệp lúa
nước lại làm cho cộng đồng làng xã có mối quan hệ bền vững thêm.
Cộng đồng làng xã là một cơ cấu kinh tế xã hội bền vững trải qua nh ững bi ến
thiên của lịch sử đất nước vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua m ấy nghìn năm l ịch s ử,
đến nay nước ta có trên 9000 đơn vị xã, với khoảng 50.000 làng, ấp, buôn, b ản…Làng
xã không chỉ là đơn vị hành chính cơ sở đơn thuần, mà còn là một đơn v ị xã h ội dân s ự
truyền thống. Trong cộng đồng làng xã, trải qua các th ế hệ đã hình thành nh ững cung
cách làm ăn, nếp sống, phong tục tập quán thích ứng với điều kiện t ừng vùgn nông
thôn khác nhau (đồng bằng, miền núi, ven biển…)
Chính cộng đồng làng xã, do đòi hỏi của thực th ể s ản xu ất và đ ời s ống, đã sáng
tạo ra các hình thức tương trợ, hợp tác giúp nhau cấy, gặt, lo vi ệc hiếu h ỷ…Nh ững
loại hình hợp tác đa dạng, đơn giản, không thành văn, những có hiệu quả thiết thực,
được các thế hệ nông dân trong cộng đồng làng xã tự nguy ện th ực hiện, không c ần có
bất cứ mệnh lệnh nào. Đây là những tiền để của các tổ chức hoạt động kinh tế h ợp
tác hiện nay.



30
Trong cộng đồng làng xã cũng hình thành và phát tri ển các mối quan h ệ văn hoá
xã hội truyền thống, mang tính nhân văn sâu sắc, đậm đà bản sắc dân tộc, cần được
tiếp tục vun đắp và phát huy. Phát triển nông thôn và nông nghiệp trong th ời gian t ới
muốn phát triển mạnh mẽ và vững chắc, không thể không quan tâm đến vi ệc phát huy
sức mạnh của cộng đồng làng xã.
2.4. THÁCH THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG B ỀN
VỮNG Ở VIỆT NAM
Kể từ ngày cải tổ kinh tế, nông nghiệp Việt Nam đã đạt đ ược nhi ều thành qu ả
tốt đẹp. Sản lượng nông lâm thuỷ sản tăng nhanh, không những đảm bảo an toàn
lương thực cho cả nước mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn. Xuất khẩu
nông nghiệp đã trở thành nguồn thu ngoại tệ đáng kể t ừ đ ầu th ập k ỷ 1990. Hi ệp đ ịnh
thương mại Việt – Mỹ cũng như các hiệp ưước tương tự trong tương lai sẽ tiếp tục
khuyến khích sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, sự gia tăng sản lượng cũng như năng suất đạt được một ph ần là nh ờ
vào các phương pháp sản xuất có xu hướng gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng
môi sinh. Các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp trong nông nghiệp đã gây ra nhi ều s ự
suy thoái môi trường nghiêm trọng mà điển hình hơn hết là mức phá rừng cao, sử dụng
phân hoá học và thuốc diệt sâu bọ bừa bãi, và khai thác quá độ h ải sản d ọc theo b ờ
duyên hải. Những sự suy thoái này đã dẫn đến các v ấn đ ề quan h ệ tr ực ti ếp t ới nông
nghiệp như lũ lụt, đất xói mòn, nhiễm mặn, phèn hoá, tăng nồng độ hoá chất độc, ô
nhiễm nguồn nước, đất mất hoa màu và suy giảm đa dạng sinh học.
Với dân số gia tăng và diện tích canh tác giới hạn, năng suất nông nghiệp tính
trên đất canh tác phải tăng khoảng 20% trong 20 năm tới để thoả mãn nhu c ầu l ương
thực của dân chúng với mức tiêu thụ nh ư hiện tại. Đi ều này đòi h ỏi 3 đi ều ki ện: đ ầu
tư vốn nhân tạo, cải tiến kỹ thuật sản xuất và chất lượng môi trường được duy trì tốt.
Bốn thách thức to lớn cho phát triển nông thôn Việt Nam là:
1, Phải tiếp tục chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường;



31
2, Chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp đóng kín sang s ản xu ất hàng hoá ph ục v ụ
thị trường mở toàn cầu hoá;
3, Chuyển từ sản xuất tăng trưởng theo chiều rộng lấy khai thác tự nhiên và
tăng đầu tư tài nguyên làm động lực sang phát triển theo chi ều sâu l ấy ch ất l ượng
hiệu quả; và
4, Lấy phát triển bền vững làm mục tiêu, từ kinh tế nông nghiệp dang công
nghiệp hoá.
Cần có chính sách và thể chế vĩ mô thuận lợi
Những vấn đề về tính ổn định, hiệu quả và độ bền vững của sản xu ất nông
nghiệp hầu như bắt nguồn từ sự mất đồng bộ giữa sản xuất với các yếu tố: thị
trường tiêu thụ, giải quyết vấn đề tài nguyên môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải
thiện nông thôn, chuẩn bị nguồn nhân lực, đề xuất các chính sách và giải pháp. Như
vậy, vấn đề phát triển bền vững nông nghiệp cần đặt trong trong bài toán vĩ mô kinh
tế – xã hội, được xác định trong bối cảnh phát tri ển b ền v ững và m ối quan h ệ gi ữa 3
khu vực kinh tế.
Trưước tốc độ đổi mới nhanh chóng về kinh tế xã hội, câu hỏi về quan h ệ công
nghiệp – nông nghiệp, về tương quan giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thành th ị
dường như chưa có lới đáp thoả đáng. Biểu hiện rõ nhất là tỷ l ệ đ ầu t ư cho nông
nghiệp nông thôn là không tương xứng với vai trò quan trọng của lĩnh vực này. Mức
đầu tư hạn hẹp kéo dài làm cơ sở hạ tầng nông thôn nghèo nàn. Tỷ trọng đ ầu t ư cho
nông lâm ngư nghiệp trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội gi ảm từ năm 1990 là 17%
xuống 7,4% trong giai đoạn 1995 – 1997. Trong khi đó một số nước phát tri ển và đang
phát triển ở Châu á, vào giai đoạn có cơ cấu nông nghiệp trong tổng thu nh ập qu ốc
dân (GDP) tương tự như Việt Nam như Hàn Quốc, Malaysia, Philippines…đều có t ỷ
trọng đầu tư vào nông lâm nghiệp và thuỷ lợi trên 20%. Đầu t ư không công b ằng gi ữa
nông thôn và thành thị, cùng với một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thi ện trong chính
sách vĩ mô như tỷ giá, sản xuất hàng thay thế nhập kh ẩu công nghiệp…có l ẽ là



32
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “cánh kéo giá” làm cho t ốc độ tăng giá nông s ản
chậm hơn so với tốc độ tăng giá hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp và dịch vụ.
Đổi mới thể chế và chính sách trong nội bộ ngành nông nghiệp
Các chính sách quan trọng nhất trong quá trình đổi mới trưước đây chủ yếu
nhằm tháo bỏ các ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung nh ư chính sách đất
đai, tự do hoá thương mại, từ bỏ vai trò quản lý sản xuất c ủa h ợp tác xã…nh ưng th ực
tế mới đang đòi hỏi việc hoạch định chính sách và xây dựng thể ch ế ph ải đáp ứng
những yêu cầu về mở rộng cơ hội cho người sản xuất, kinh doanh, tăng cường năng
lực và tạo điều kiện pháp lý để học thực hiện những sự lựa chọn đó.
+ Để thích ứng với sự biến động của thị trường và đáp ứng xu h ướng s ản xu ất
hàng hoá, người sản xuất phải có khả năng sử dụng nguồn lợi tự nhiên theo h ướng
chủ động hơn, đa dạng hơn, bền vững hơn.
+ Cơ chế tổ chức ngân hàng và hệ thống tín dụng cần ph ải được c ải thi ện. Đ ể
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, thực sự làm sản xuất
kinh doanh chuyển sang phát triển theo chiều sâu thì ph ải tăng kh ả năng thi ếp c ận c ủa
nông dân, nhất là người nghèo với thị trường tín dụng.
+ Sự chậm trễ của cải cách thể chế còn tạo nên mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp
bách về nâng cao chất lượng, hiệu quả của sản xuất kinh doanh và cách th ức t ổ ch ức
chỉ đạo thiên về khuyến khích tăng sản lượng.
+ Nông dân chưa có đời sống văn hoá xã hội với chất lượng tốt so với nh ững
đóng góp to lớn cho nền kinh tế.
+ Tình trạng thiếu việc làm có thu nhập xứng đáng dẫn đến tình trạng kéo dài
trong một bộ phận đáng kế dân cư nông thôn. Để con người phát triển, nhu cầu có
việc làm và có thu nhập ngày càng tăng thông qua lao động là nhu cầu tối quan trọng
và chính đáng. Làm thế nào để thực thi được những quy ền đó trong hoàn c ảnh tài
nguyên hạn hẹp, khả năng cạnh tranh của nông sản kém, thiếu thị trường là câu h ỏi
mà quá trình đổi mới cần tiếp tục giải quyết.
Công nghiệp hoá nông thôn

33
Hai vấn đề quan trọng cần đặt ra. Đầu tiên là tìm cách tiến hành công nghi ệp
hoá ngay tại nông thôn, bao gồm 2 việc chính đó là tích lu ỹ t ư b ản đ ể tài tr ợ thúc đ ẩy
công nghiệp và tìm thị trường cho đầu ra. Sau đó là phát triển mối liên h ệ m ật thi ết
giữa công nghiệp và nông nghiệp. Theo mô hình trên, nông nghiệp sẽ là khu v ực
truyền thống cung cấp lương thực và lao động vơi năng suất và đồng lương thấp, ít có
khả năng tích luỹ, nhưng lại là thị trường quan trọng cho hàng công nghi ệp. Đ ồng
thời, phát triển khu vực công nghiệp sẽ thu hút lao đ ộng d ư th ừa t ừ khu v ực nông
nghiệp, cung cấp các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng hay đ ầu t ư (máy móc, v ốn)
cũng như các sản phẩm đầu vào (phân bón hoá học, thuốc trừ sâu…)Sự phát tri ển khu
vực công nghiệp ở nông thôn sẽ đòi hỏi các yếu tố đặc trưng sau đây:
- Cần khởi động nguồn vốn ban đầu lấy từ thặng dư trong nông nghi ệp và sau
này sẽ là tích luỹ ngay từ các xí nghiệp ở nông thôn;
- Các xí nghiệp trên cần hướng vào các ngành sử dụng nhiều lao độngvà tài
nguyên là lợi thế so sánh của nông thôn;
- Lúc ban đầu có thể khuyến khích phát triển các doanh nghi ệp nông thôn bao
gồm cả sở hữu tập thể lẫn tư nhân, nhưng để mau đạt hiệu quả kinh tế cần
hướng ngay từ sớm đếm các sở hữu tư nhân;
- Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các xí nghiệp công nghiệp nông thôn và thành
thị về công nghệ, máy móc và nhân lực, cũng như khuyến khích cạnh tranh
giữa các xí nghiệp này để làm giảm giá thành và tăng chất lượng; và
- Các xí nghiệp công nghiệp nông thôn không nh ất thiết ph ải đ ược phân b ổ
đồng đều trong cả nước, trái lại sẽ thay đổi tuỳ theo các đi ều ki ện ban đ ầu
của từng địa phương, vị trí địa lý và lợi thế so sánh. Tuy nhiên và trên hết, các
đầu tư chính phủ hay tài trợ quốc tế ODA vào cơ sở h ạ tầng nông thôn là
yếu tố cốt lõi sự sự phát triển và phân bổ nói trên.
Cải câch các doanh nghiệp nhà nước ở khu vực nông thôn
Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp rất quan trọng trong phát tri ển nông thôn.
Tuy nhiên, nông dân Việt Nam không nên sản xuất các loại cây trồng không có l ợi th ế

34
cạnh tranh. Mía đường là một ví dụ. Năm 1994, Chính phủ Việt Nam mục tiêu đ ến
năm 2000 tự túc về mía đường đã đầu tư phát triển ngành đường. Nhà nước khuyến
khích nông dân trồng mía đường để cung cấp nguyên liệu thpp cho nhi ều nhà máy tinh
luyện. Mặc dù tổng diện tích trồng mía đường giai đoạn 2000 – 2001 là 320.000ha
nhưng chưa đủ khả năng cung cấp cho nhu cầu của các nhà máy. Thiếu mía đã đẩy giá
lên cao và kết quả là nông dân chuyển sang trồng mía ở những vùng đất không thích
hợp. Hậu quả là năng suất rất thấp, chỉ khoảng 50 tấn/ha. Theo báo cáo c ủa Qu ỹ Ti ền
tệ quốc tế (IMF) năm 1999, giá đường nội địa hiện cao hơn 25% so với giá đ ường
nhập khẩu.
Kiếm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam với đường lối phát triển kinh tế nhi ều thành ph ần
được bắt đầu trưước hết trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đã tạo điều kiện
cho thị trường hàng hoá, dịch vụ được hình thành và vận đ ộng theo c ơ ch ế th ị tr ường.
Kết quả quan trọng này làm tiền đề cho các yếu tố cạnh tranh xuất hiện là làm thay
đổi cấu trúc thị trường theo hướng phi tập trung, theo đó các lo ại hình th ị tr ường c ạnh
tranh ra đời và phát triển.
Tuy nhiên vẫn chưa có một cơ chế cho sư vận hành đầy đủ c ủa c ạnh tranh lành
mạnh. Độc quyền và những tác động tiêu cực của nó vẫn đ ược kh ắc ph ục. Nhà n ước
vẫn chưa ban hành luật khuyến khích cạnh tranh và Kiếm soát độc quy ền. Vì v ậy tình
trạng cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền đã trở thành đặc quy ền gây không ít
trở ngại cho quá trình phát triển.
Trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, cạnh tranh không lành mạnh và độc lập
thể hiện ở việc phân biệt đối xử về chính sách bảo hộ, vay vốn tín dụng, ti ếp c ận
các nguồn lực và dịch vụ điện, thuỷ lợi, đất đai, thông tin, đ ộc quy ền mua nguyên li ệu
nông sản, độc quyền xuất khẩu, giành giật thị trường, ép cấp, ép giá, ấn đ ịnh m ức giá
độc quyền cao,…đang là những vấn đề cần được tháo gỡ. Trên cơ sở đó sẽ cần tìm
một số giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh khônglànhm ạnh trong quá



35
trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, nhằm tạo dựng một môi trường c ạnh tranh lành
mạnh, thuận lợi cho sự phát triển bền vững của nông thôn Việt Nam.
Tín dụng nông thôn
Những bài học đúc kết từ một số nghiên cứu và khảo sát gần đầy về tín dụng
nông thôn trên thế giới và ở Việt Nam là: mang ngân hàng đ ến v ới ng ười dân, k ết nói
nguồn cung cấp tín dụng với việc huy động tiết kiệm, cho vay không nên là ho ạt đ ộng
biệt lập với những chương trình phát triển nông thôn, giảm thiểu chi phí giao d ịch đ ối
với người cho vay lần người đi vay, cho vay theo nhóm chịu trách nhiệm chung cho
thấy có nhiều mặt tích cực, chú trọng đến khả năng sinh l ợi đ ể đảm b ảo tính ổn đ ịnh
về dài hạn.
Hiện trạng tín dụng nông thôn ở Việt Nam được phân tích chi tiết về 3 mảng
chính: khu vực chính thức (gồm những định chế như Ngân hàng nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Ngân hàng phục vụ người nghèo, các quĩ tín dụng nhân dân, các ngân
hàng cổ phần nông thôn); Khu vực bán chính thức (Bao gồm các tổ chức quần chúng
và các tổ chức phi chính phủ; và Khu vực phi chính th ức (vay v ốn t ừ gia đình, bà con,
bạn bè và láng giềng, người cho vay lại, họ/hụi)
Cải tiến y tế, xã hội và giáo dục
Lĩnh vực y tế nông thôn được đầu tư thích đáng trong nhi ều năm. H ệ th ống
trạm xá y tế chỉ nhận phần nhỏ ngân sách trong khi hệ thống này ph ải lo cho 73% dân
chúng sống ở nông thôn. Đóng góp của dân trong y tế gấp 8 lần đóng góp c ủa nhà
nước và chỉ dưới 12% dân được bảo hiểm y tế – an sinh xã hội. Lĩnh vực y tế chưa
được hữu hiệu vì các chính sách phát triển vùng và chính sách chi tiêu nhà n ước ch ưa
thoả đáng, và ít có cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ xã h ội. Việt Nam không
có một mạng lưới y tế an sinh xã hội đúng mức. Các dịch vụ xã hội – y t ế t ại nông
thôn bị đe doạ vì các gia đình không có tiền trả lệ phí.
Việt Nam cần tái xét chính sách y tế, chú trọng vào việc xây dựng m ột m ạng
lưới y tế bao trung nông thôn. Việt Nam cần xây dựng và đa dạng hoá các nguồn tài
trợ của các quỹ y tế . Cải tổ cơ cấu hành chính y tế sẽ giúp tăng các d ịch v ụ y t ế

36
nông thôn. Những ưu tiên gồm: (1)củng cố mạng lưới y tế xã phục vụ cho đa s ố
nhằm phòng hơn chữa; (2) cải cách chính sách y tế; hợp tác giữa khu vực công và t ư
nhằm có cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ xã h ội; (4) khuy ến khích h ợp tác
quốc tế và trợ giúp nhân đạo về nông thôn.
Với một nửa dân số trong lứa tuổi dưới 25, và trên 1 triệu người gia nh ập th ị
trường công nhân hàng năm, cho thấy tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trọng
việc huấn luyện người nông dân nông thôn, để họ có th ể có đ ầy đ ủ kh ả năng và ki ến
thức chuyên môn để thu hút được các dự án đầu tư về những vùng họ sinh sống.
Chính vì nhu cầu đào tạo cấp thiết đó cho nên những yểm trợ giáo dục từ bên ngoài,
nếu muốn có tác dụng tối đa và nhanh chóng, cần ph ải h ướng vào ch ương trình hu ấn
luyện và đào tạo Đại học, đặc biệt là những chương trình đào tạo 2 năm theo mô hình
đào tạo cộng đồng. Vì nhu cầu cấp thiết cho nên những chu kỳ đào toạ rút ngắn 2 năm
sẽ giúp huấn luyện kịp thời đội ngũ chuyên viên làm nền móng cho việc đẩy mạnh các
chương trình phát triển tại nông thôn. Vì là chế độ Đại học, sinh viên các cơ s ở đ ại
học cộng đồng không những được hấp thụ kiến thức chuyên môn, mà còn đựơc đào
tạo để tự phát triển khả năng phân tích và hành động độc l ập, đ ồng th ời v ới vi ệc trau
dồi phương pháp suy luận và quyết định độc lậo, để phát huy kh ả năng dáng t ạo cho
sinh viên. Ngoài ra, một cơ sở đại học cộng đồng còn trở thành một trung tâm cung
cấp thông tin và số liệu chuyên môn cập nhật và một cơ quan t ư v ấn chi nh ững công
trình nghiên cứu và phát triển trong tầm hoạt động của địa phương.
2.5. Vai trò của chính phủ và các tổ chức khác trong phát triển cộng đồng
“Chương trình phát triển cộng đồng” cho rằng vai trò của Chính phủ trong phát
triển cộng đồng là tổ chức, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động”. đồng thời công nhận:
- Vai trò chủ chốt của bản thân người dân. Sự cần thiết giao trách nhiệm, ở
nơi thích hợp, cho các chính quyền tỉnh và cơ sở.
- Vai trò của các tổ chức quần chúng, các nhóm tự giúp đỡ nhau và các h ợp tác
xã kiểu mới; và
- Hoạt động đang phát triển của khu vực tư nhân.

37
2.5.1. Vai trò của chính phủ
Vai trò của Chính phủ trong phát triển cộng đồng là vai trò lãnh đạo, nh ưng
không phải chỉ là vai trò diễn xuất. Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và ph ối hợp hành động
của hàng loạt các cơ quan, tổ chức và các lợi ích, nh ững ng ười đóng góp cho quá trình
phát triển cộng đồng to lớn này. Trong bối cảnh này, các hoạt động c ủa Chính ph ủ
trong phát triển cộng đồng tập trung vào:
- Đề ta chiến lược và các chính sách phát triển cộng đồng
- Xây dựng khung luật pháp, tài chính, thuế khoá và các luật lệ…để khuyến
khích các hình thức phát triển mong muốn;
- Làm dễ dàng quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
- Đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng công nghiệp mới
- Phát triển năng lực của nhân dân và các tổ chức thông qua vi ệc m ở r ộng các
dịch vụ, thông tin, đào tạo và các hoạt động liên quan khác.
- Sử dụng một cách khôn ngoan quyền lực của mình với tư cách là ng ười mua,
người cung cấp và người chủ.
- Đầu tư ngân sách nhà nước vào cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội, tái định cư
và một số lĩnh vực khác.
- Đàm phán với các cơ quan tài trợ và viện trợ nước ngoài
- Hỗ trợ những người và những vùng bị thiệt thòi; và
- Giám sát nỗ lực tổng quan của phát triển cộng đồng
Đề ra chiến lược và chính sách phát triển cộng đồng
Vai trò trưước tiên của Đảng và Chính phủ là xây dựng chi ến lược qu ốc gia v ề
phát triển cộng đồng, và làm rõ chiến lược này về:
- Chính sách của Chính phủ áp dụng đối với các ngành khác nhau, và đối với
hành động ở cấp quốc gia, tỉnh, huyện và cơ sở.
- Nêu rõ những ưu tiên và mục tiêu để đảm bảo rằng các nguồn lực hiện có sẽ
được sử dụng với hiệu quả tốt nhất.

38
Chiến lược và nưhngx chính sách này cần phải dựa vào sự phân tích sâu s ắc và
thường xuyên được cập nhật tình trạng xã hội, kinh t ế và môi tr ường ở các vùng c ần
phát triển. Sự phân tích này bao gồm việc giám sát thường xuyên, thu nhập một cách
có hệ thống các dữ liệu, cấc thông tin ph ản h ồi về kinh nghi ệm và đ ề ngh ị t ừ c ấp c ơ
sở, cấp huyện, tỉnh cho Chính phủ trung ương.
Quá trình chuẩn bị, thực hiện và giám sát các chính sách cso th ể được cai là m ột
“Thác ý tưởng” chuén động từ dưới lên trên và từ trên xuống d ưới gi ữa các c ấp Trung
ương, tỉnh, huyện và cơ sở. Quá trình đạt tới đỉnh cảo với mõi kế hoạch 5 năm. ở năm
hiện tại, nó được tập trung vaof Chiến lược nông nghiệp và phát tri ển nông thôn trong
giai đoạn đến năm 2010, đã được đại hội 9 thông qua vào năm 2001. Trong các cẩm
nang này, nó được gọi là “Chiến lược đến năm 2010”




39
“Thác ý tưởng” này có thể coi là hệ thống dọc đi từ cấp trung ương đến cơ sở.
Nó được xây dựng phù hợp với nhu cầu về hệ thống ngang giữa các ngành khác nhau
của Chính phủ. Tài liệu của ngân hàng Thế giới “Việt Nam năm 2010: Bưước vào th ế
kỷ 21”lưu ý rằng:”Nhiều yếu tố hướng dẫncác đầu tư ra nằm ở ngoài phạm vi tổ
chức của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và đòi hỏi của các B ộ khác ph ải có
nưhngx quyết định đúng đắn: Ví dụ: “Chiến lược phát triển ngành thuỷ sản do Bộ
Thuỷ sản xây dựng…”
Chiến lược đến năm 2010 nêu sự “đồng bộ” của các chính sách áp d ụng đối v ới
nông nghiệp và nông thôn; và sự chỉ đạo cải tiến từ Chính phủ tới các tổ ch ức s ẽ th ực
hiện các chính sách này.
Chỉ đạo việc sang nền kinh tế thị trường
Vấn đề cần giải quyết là:
- Những người sản xuất có thể không đưa được hàng hoá và dịch vụ của họ
vào các thị trường có thể trả cho họ giá cả hợp lý hơn;
- Các hàng hoá và dịch vụ của họ có thể bị giảm giá do ccs hàng hoá và dịch vụ
nhập khẩu từ các nước khác; hoặc
- Họ có thể thấy rằng nhu cầu đối với hàng hoá của họ biến động thất thường
năm này sang năm khác, trong khi họ lại thiếu các nguồn tài chính đ ể t ồn t ại
ở cấc thời kỳ giá thấp hoặc thiên tai.
Vì vậy, hiện nay Việt Nam không thể chỉ dựa vào nền kinh tế thị trường đ ể duy
trì thu nhập có thể tồn tại và công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người dân. Trong khi
đó, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường lại gây ra đau đớn cho hàng triệu h ộ và
doanh nghiệp. Không thể đảo ngược những chuyển động hướng tới nền kinh tế th ị
trường. Những cái thu được trong tương lai, thông qua việc tạo ra một n ền kinh t ế
vững mạnh và tham gia vào mậu dịch tự do của thế gi ới là r ất l ớn đ ể không ph ải v ứt
bỏ chúng để rồi rút về sự cô lập hoặc nền kinh tế chỉ huy.




40
Tất nhiên, trong thời gian ngắn, một số hình thức bảo vệ (như kiểm soát nhập
khẩu, thuế quan, hoặc hạn ngạch) có thể được chứng minh là đúng. Nhưng câu trả lời
chính nằm ở ssự kết hợp:
- Các biện pháp đẩy mạnh nền kinh tế thị trường, bao gồm:
+ Đẩy mạnh hơn nữa các hệ thống thông tin mà n ền kinh t ế th ị tr ường có hi ệu
quả dựa vào nó để phát triển;
+ Nâng cao kỹ thuật và các tiềm năng của các doanh nghiệp hiện có; và
+ Khuyến kích sự phát triển và đa dạng hoá nền kinh tế trên khắp đất nước.
- Khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế thị trường bằng cách:
+ Sử dụng quyền lực Chính phủ với tư cách là người mua, người cung cấp và
người chủ.
+ Tạo hệ thống hỗ trợ đối vưío nưhngx người và vùng bị thiệt thòi.
Nghiên cứu khoa học và công nghệ
Nghiên cứu khoa học và công nghệ có thể đóng góp quan trọng vào quá trình
hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Chiến lược đ ến năm 2010 nh ấn m ạnh
chủ yếu đến nỗ lực sâu rộng của nghiên cứu và triển khai do Chính ph ủ th ực hi ện và
theo đuổi với sự cộng tác với tất cả các khu vực có liên quan. Chiến lược thừa nh ận
rằng, tới nay:
- Đầu tư nghiên cứu khoa học và công nghệ và công nghệ chuyển giao còn ít.
- Tổ chức của hệ thóng nghiên cứu khoa học còn phân tán. Hầu hết các thiết bị
nghiên cứu đã lạc hậu. Các nhóm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật không
đủ mạnh. Một số lĩnh vực nghiên cứu thiếu các chuyên gia đầu ngành.
- Công tác thông tin khoa học còn yếu kém.
Đầu tư ngân sách nhà nước cho nghiên cứu nông nghiệp còn quá ít so với các
nước khác. Trong những năm 1998 và 1999 lĩnh vực này ch ỉ nhận được 80 t ỉ đồng,
bằng 1,7% tổng chi phí cho nông nghiệp và 0,08% tổng sản phẩm quốc nội từ nông
nghiệp. Cùng với thời gian trên, Trung Quốc đầu tư 6% t ổng chi cho nông nghi ệp,
Malaysia và Thái Lan 10% và các nước châu á khác tối thiểu là 3%.

41
Trong tương lai, chiến lược đã nêu rõ: Hiện đại hoá nông thôn là một quá trình
phát triển và đầu tư nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ mới…Nưhngx khoa
học và công nghệ mới ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và các
chương trình nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản, phát triển tiểu htị công
nghiệp và dịch vụ. Việc hiện đại hoá sẽ tập trung vào bốn lĩnh vực chính sau:
- Nhanh chóng phát triển và áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất.
- Từng bưước áp dụng công nghệ tự động hoá
- Áp dụng công nghệ thông tin
- Áp dụng công nghệ vật liệu mới
Áp dụng công nghệ
Công nghệ sinh học: Đưa nhanh các tiên bộ mới trong công nghệ sinh h ọc vào
sản xuất nhằm tạo ra sự đột phá mới về năng suất và chất l ượng cây tr ồng, v ật nuôi.
Chuyển giao công nghệ, xây dựng ngành công nghệ sinh học hiện đại trong nông
nghiệp có khả năng giải quyết những vấn đề mà thực tế đặt ra.
Công nghệ tự động hoá: áp dụng những thành tựu trong nước và nước ngoài
trong tự động hoá vào các lĩnh vực sau:
- Chế biến nông sản, trong đó ưu tiên cho sản phẩm xuất khẩu.
- Chăn nuôi gia súc, bao gồm sản phẩm thức ăn gia súc, thịt và ch ế biến thịt,
sữa.
- Thủy lợi: hệ thống điều khiển, an toàn cho các thiết bị tưới tiêu, các trạm
bơm, ngăn ngừa lũ lụt…
Công nghệ thông tin: Ngành nông nghiệp đã được trang bị hàng nghìn máy vi
tính và các máy chủ cỡ lớn…và một mạng toàn quốc kết nối Bộ v ới g ần 200 đ ơn v ị
trong ngành và được nối mạng Internet. Hàng nghìn người đã được đào t ạo có kh ả
năng sử dụng và khai thác mạng lưới máy tính này…NHưng hệ thống này còn nhiêu
nhược điểm. Cơ sở dữ liệu còn hạn chế, số lượng các nhân viên chuyên về công nghệ
thông tin còn ít, việc sử dụng và trao đổi thông tin giữa các các c ơ quan còn r ất h ạn
chế. Trong tương lai, cần tập trung vào việc hoàn thiện m ạng lưới thông tin, hi ện đ ại

42
hoá các cơ quan thông tin trong ngành nông nghiệp, phát tri ển ph ần m ềm và các c ơ s ở
dữ liệu liên quan đến thiết kế máy móc, thiết bị nông nghiệp và các công trình thu ỷ
lợi…
Công nghệ vật liệu mới: áp dụng những thành tựu trong nước và nước ngoài
trong công nghệ vật liệu mới vào sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao
gồm:
- Các máy móc, thiết bị phục vụ cơ khí hoá nông nghiệp, thuỷ lợi, chăn nuôi
gia súc, bảo quản và chế biến nông sản, sản xuất và ch ế bi ến mu ối, các
ngành nghề khác ở nông thôn.
- Đóng gói các sản phẩm nông nghiệp
- Thuỷ lợi, Ví dụ: Sử dụng kỹ thuật địa chất tổng hợp trong các bộ phận cốt
lõi của các đập, hoặc dùng vật liệu mới trong chế tạo các ống.
Phát triển nguồn nhân lực
Quá trình hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn ph ụ thuộc vào vi ệc
phát triển nguồn nhân lực: nông dân, công nhân, những người quản lý và các nhà doanh
nghiệp để họ có thể sử dụng được công nghệ và đáp ứng các yêu cầu c ủa kinh t ế th ị
trường. Do đó, chiến lược đến năm 2010 nhấn mạnh đến việc xây dựng năng lực ở
các lĩnh vực như dịch vụ khuyến nông, thông tin và đào tạo. Chiến lược nêu nên sự
cần thiết phải tăng cường và mở rộng hệ thống các dịch vụ cho nông dân và cố vấn,
hỗ trợ các doanh nghiệp nông thôn ở các khu vực khác. Nhằm m ục đích này, chi ến
lược phát thảo các đề xuất:
- Xây dựng các trung tâm chuyển giao công nghệ chuyên ngành hoặc công
nghệ chung ở các vùng các các huyện.
- xây dựng các tổ chức mới của nhà nước hặoc các tổ chức của những người
tình nguyện tham gia về nông nghiệp và công tác khuyến nông. Nh ững tổ
chức này sẽ liên kết các cơ quan nghiên cứu và dạy ngh ề v ới các đ ơn v ị s ản
xuất (hộ dân, các trang trại và hợp tác xã);



43
- Giúp đỡ chuyển giao công nghệ mới, thông qua các trung tâm, trường d ạy
nghề, trong đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật ở nông thôn;
- Giúp các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế lựa chọn những lĩnh vực và
phương án kinh doanh;
- Mở các trung tâm tư vấn để cố vấn chgo các trang trại gia đình và các c ơ s ở
sản xuất và giúp họ phát triển sản xuất kinh doanh.
- Hình thành các trung tâm thông tin huỵện và xã gắn với công tác khuyến nông
(gồm cả nông,lâm nghiệp, nghề cá và tiểu thủ công nghiệp); và các tổ chức
cung cấp thông tin và hướng dẫn kỹ thuật về các giống mới, và về nhu cầu
của thị trường cho các hộ và các cơ sở kinh doanh ở nông thôn.
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang xây dựng một trang Web và lắp
đặt mạng máy tính kết nối Bộ với các Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn ở 64
tỉnh, thành phố, rồi sau đó tới các huyện, để giúp các tổ ch ức này ti ếp c ận v ới các
thông tin về thị trường. Bộ có ý định mua các tìn từ các c ơ quan, t ổ ch ức trên th ế gi ới
về giá cả, thị trường, quy cách và tiêu chuẩn của các hàng háo nông nghi ệp trên th ị
trường thế giới để giúp các doanh nghiệp Việt Nam định hướng hoạt động sản xuất
của họ.
Hỗ trợ những người và nưhgnx vùng bị thiệt thòi
Nền kinh tế thị trường không đáp ứng tốt nhu cầu của những người nghèo,
những người thất nhghiệp hoặc nói cách khác những người bị thiệt thòi. Nh ững người
này không thể cạnh tranh được với nưhngx người giàu về hàng hoá dịch vụ. Do thiếu
phương tiện vận chuyển hoặc thông tin nên họ có th ể không ti ếp c ận được các th ị
trường mà tại đó họ có thể bán hàng hoá hoặc mua những th ứ mà h ọ c ần v ới giá ph ải
chăng. Do thiếu tín dụng, họ có thể không mua được máy móc để cải thiện thu nh ập
của bản thân.
Do Chính phủ đã cam kết, vì lợi ích bình đẳng và đoàn k ết dân t ộc, giúp đ ỡ
những người và những vùng bị thiệt thòi. Điều này, bao gồm xoá đói gi ảm nghèo,
quan tâm nhiều hơn đến hạnh phúc của phụ nữ, trẻ em, các dân tộc thi ểu s ố và nh ững

44
người bị thiệt thòi khác. Chính sách này nhận được h ỗ trợ của nhi ều c ơ quan vi ện tr ợ
quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ, những người đang tài trợ nh ững dự án ở các
vùng nông thôn bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi nạ nghèo khó, suy dinh d ưỡng và nh ững
thiệt thòi khác.
Chương trình 135: Cộng cụ của Chính phủ trong lĩnh vực này là ch ương
trình 135 bắt đầu từ năm 1998. Chương trình này nhằm cải thiện đời sống
của những người dân ở các xã miền núi xa xôi ít được ưu tiên, và đ ể t ạo
điều kiện cho họ khắc phục sự nghèo khó và hoà nhập tốt hơn vào xu thế
phát triển chung của người Việt Nam. Chương trình bao gồm 5 hoạt động
chính nhằm vào mục tiêu này:
- Tạo việc làm và cỉa thiện sinh kế ằng cách đẩy mạnh việc sử d ụng
bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ch ế biến sản ph ẩm ở
cùng xa;
- Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, đặc biệt chý ý đến sự ti ếp c ận và
vận chuyển, cung cấp nước, điện khí hoá;
- Cải thiện trung tâm dịch vụ y tế, giáo dục, tiêu thụ sản phẩm và trao
đổi thông tin;
- Đào tạo cán bộ ở cấp xã (thôn, ấp, làng, bản…) để quản lý t ốt h ơn s ự
phát triển kinh tế xã hội của địa phương họ; và
- Di chuyển dân ở các vùng cực kỳ khó khăn đến nưhngx nơi có điều
kiện thuận lợi hơn.
Chính phủ đã có thu hút sự đóng góp to lớn của những nhà tài trợ n ước
ngoài, các cơ quan viện trợ và các tổ chức phi Chính ph ủ để thực hi ện
chương trình 135.


2.5.2. Vai trò của các tổ chức khác trong phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn phụ thuộc vào sự đóng góp tích cực của cấc tổ chức khác
nhau trong cáckhu vực công cộng, tư nhân và tình nguyện. Những tổ chức này có vai

45
trò bổ sung cho vai trò của Chính phủ và của các tổ ch ức vi ện tr ợ n ước ngoài. Trong
bối cảnh của chính sách “đổi mới” vá của việc giao một số ch ức năng c ủa Chính ph ủ
cho địa phương, tính chất của nhiều trong số những tổ chức này, và tầm quan trọng
tương đối vai trò của họ ở Việt Nam đang thay đổi dần. Các loại t ổ ch ức quan tr ọng
nhất là:
- Chính quyền tỉnh, huiyện và cơ sở có thể đóng vai trò ngày càng tăng không
chỉ trong việc cung cấp và bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội
mà còn trong việc quản lý các chương trình phát triển.
- Các tổ chức quần chúng, bao gồm những tổ chức đại diện cho nông dân, ph ụ
nư, thanh niên và cựu chiến binh: họ có thể giúp huy động công sức và tiền
tiết kiệm của các thành viên trong tổ chưc của họ và có th ể cung c ấp các
dịch vụ mở rộng, đào tạo và tín dụng.
- Các hợp tác xã kiểu mới có thể có vai trò ch ủ y ếu trong vi ệc giúp đ ỡ các
thành viên về tiêu thụ sản phẩm của họ và có được các thông tin…
- Các ngân hàng và hiệp hội tín dụng đang đương đầu với thách thức để có th ể
huy động thêm tiền tiết kiệm và cung cấp tín dụng là nưhngx th ứ thiết y ếu
đối với nông dân và các doanh nghiệp nhỏ khác.
- Khu vực tư nhân đang phát triển cả về số lượng lẫn sự đa dạng,. đóng vai trò
then chốt trong vịec đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn; nó bao gồm cả các
liên doanh với các công ty nước ngoài.
- Các doanh nghiệp nhà nước đang thay đổi, chuyển động hướng tới môt thị
trường mở hơn.
- Nguồn viện trợ nước ngoài, kể cả các tổ chức của liên hợp quốc, cả các tổ
chức đa biên hoặc song phương, tổ chức phi Chính phủ và các tổ chức khác.
Chính quyền tỉnh, huyện và cơ sở
Chính quyền đang tăng cương giao trách nhiệm cho cấc Uỷ ban nhân dân và
chính quyền cấp tỉnh và các cấp cơ sở về:



46
- Việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội của địa phương của họ, kể
cả việc cung cấp cơ sở hạ tầng;
- Quy hoạch việc sử dụng đất cho mục đích nông nghiệp và các m ục đích
khác theo đúng với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tổng thể của tỉnh;
- Phân bổ ngân sách, tín dụng và nguồn lao động
- Hỗ trợ đầu tư nâng cấp, mở rộng và xâu dựng các cơ sở chế biến ở các vùng
sản xuất tập trung, chuyên anh, ở những nơi thích hợp; và
- Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và tiếp cận các thị trường
Để các cấp chính quyền tỉnh và cơ sở có th ể đảm đương vai trò ngày càng cao
này, Chính phủ đề ra các biện pháp phát triển kỹ năng cho cán b ộ chính quy ền c ủa các
cấp đó và cán bộ lãnh đạo của Đảng.

Hợp tác xã

Quá trình được bắt đầu từ chính sách “Đổi mới”, đã mang lại s ự thay đ ổi ch ủ
yếu về tính chất và vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp và các hợp tác xã khác ở
Việt Nam. Luật Hợp tác xã (1997) quy định việc thành lập các hợp tác xã ki ểu m ới.
Những hợp tác xã kiểu mới này dựa trên cơ sở tự nguyện gia nhập của nông dân và
những người và các tổ chức khác. Các hợp tác xã không quản lý các hoạt động canh
tác chính. Thay vì đó, họ cung cấp các dịch vụ cho nông dân, như cung cấp giống và
phân bón, cấp vốn để mua các máy móc đắt tiền, quản lý các h ệ th ống thu ỷ l ợi ho ặc
cung cấp điện và tín dụng. Các hợp tác xã cũng hành động để khắc phục những mặt
tiêu cực của nền kinh tế thị trờng, thí dụ bằng cách mua và tích trữ các sản phẩm nông
nghiệp trong những thời kỳ giá hạ.

Một số hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tham gia vào những hình thức hoạt động
đa dạng hơn. Ví dụ, HTX Duy Sơn 2 ở tỉnh Qu ảng Nam đã xây d ựng và qu ản lý đi ều
hành các nhà máy thuỷ điện, nhà máy sản xuất th ức ăn gia súc, các xí nghi ệp s ản xu ất
giầy, hàng dệt và các hàng hoá khác.



47
Vài nghìn hợp tác xã kiểu mới đã đi vào hoạt động, nhiều vùng nông thôn có th ể
hưởng lợi từ các hợp tác xã như vậy. Nhưng ở nhiều địa phương, các hợp tác xã kiểu
mới chưa được hình thành, các vấn đề tồn đọng của hợp tác xã kiểu cũ ch ưa đ ược
giải quyết triệt để.

Ngân hàng và các hiệp hội tín dụng

Những người muốn thành lập hoặc mở rộng các doanh nghiệp hoặc dịch vụ trong
nông nghiệp và kinh tế nông thôn thường rất cần tín dụng. Do đó, việc cung cấp tín
dụng, với các điều kiện mà cá nhân và các tổ chức có th ể qu ản lý đ ược, có t ầm quan
trọng sống còn đối với chương trình phát triển nông thôn của đất nước. Các nguồn tín
dụng chính phục vụ mục đích này là:

* Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (BARD)

* Ngân hàng chính sách xã hội.

* Các Hiệp hội hoặc các Quỹ tín dụng, bao gồm cả nh ững quỹ do các t ổ ch ức
quần chúng điều hành (phục vụ các hội viên của họ).

* Một số tổ chức xã hội khác, kể cả tổ chức phi Chính ph ủ, trong đó m ột s ố c ấp
những vốn vay rất nhỏ mà các ngân hàng khó điều hành được: một thí d ụ v ề tín d ụng
nhỏ này được nêu ở trang sau.

Các số liệu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho th ấy tháng 8
năm 2000 chỉ có trên 4,5 triệu người vay của ngân hàng này. Tất cả, trừ 50.000 trong
số những người vay này, là các hộ gia đình hoặc cá nhân tham gia sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp, hoặc hàng thủ công. Những người vay khác gồm
27.000 trang trại, 24.000 tổ hợp tác và 2.300 h ợp tác xã, trong đó ch ỉ có 280 h ợp tác xã
nông nghiệp.

Xét đến tín dụng mà bản thân ngân hàng và những tổ chức cho vay khác cung cấp,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ước tính: kho ảng 40% s ố h ộ nông
thôn đã vay được vốn; 36% số hộ không có nhu cầu cần vay; nh ưng ch ỉ có trên 20% (3

48
triệu hộ) cần vay vốn nhưng không vay được, chủ yếu do lãi suất quá cao ho ặc do h ọ
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn cũng ước tính rằng một tỷ lệ lớn các hợp tác xã nông nghiệp muốn vay vốn,
nhưng không vay được do lãi xuất quá cao hoặc (đối với đại đa số) do không có gi ấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và họ không biết rõ là tài sản nào c ủa h ọ có th ể dùng
để thế chấp vốn vay.

Để vượt qua những khó khăn này. Chiến lược đến năm 2010 đ ề ra ph ải hoàn
thành sớm việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông h ộ, các h ợp tác
xã có thể dùng tài sản của mình để thế chấp vốn vay; và nếu có th ể cần điều ch ỉnh lãi
suất vay.

Khu vực tư nhân

Chính phủ mong muốn khu vực t nhân ngày càng tham gia vào kinh tế nông
nghiệp và nông thôn nh là một phần của chuyển động hướng tới kinh tế thị tr ờng. Con
số nổi bật trong khu vực tư nhân là hàng triệu hộ và các doanh nghiệp hoạt động ở
quy mô nhỏ trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủ công, dịch vụ v..v và
khoảng 120.000 trang trại lớn hơn. Chính phủ muốn khuyến khích phát triển hoạt
động, kinh tế của các hộ và doanh nghiệp này, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàng
hoá và chế biến, tiểu công nghiệp và thủ công và trong vi ệc s ử d ụng hi ệu qu ả đ ất b ỏ
hoang và đất khai hoang.

Chính phủ cũng sẽ khuyến khích phát triển của hoạt động th ương mại trên quy
mô lớn hơn, đặc biệt ở các ngành chế biến, chăn nuôi gia súc quy mô l ớn và các ngành
khác không sử dụng nhiều đất nông nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2000 đã kích thích
đáng kể việc thành lập các doanh nghiệp mới. Luật này cũng thúc đẩy cả vi ệc tăng
đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Vào cuối năm 1999, có 286 dự án đ ầu t ư trực
tiếp của nước ngoài vào với tổng số vốn cam kết là 1,3 triệu USD (đô la) cho ngành
nông nghiệp và lâm nghiệp. Nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài,
Chính phủ sẽ xem xét lại các điều kiện đang làm hạn chế hoạt động này.

49
Quá trình cổ phần hoá hoặc đa dạng hoá ch ủ sở h ữu các doanh nghi ệp nhà n ước
sẽ cung cấp thêm cơ hội cho khu vực tư nhân đầu tư vào kinh tế nông thôn.

Chính phủ cũng sẽ huy động tiền tiết kiệm của các cá nhân, các h ộ và doanh
nghiệp để đầu tư vào nông thôn. Dự kiến là khoảng 30.000 tỷ đồng hiện đang đ ược l-
ưu giữ ở dạng tiền gửi, tiền mặt, vàng, đô la Mỹ, thóc gạo…Huy đ ộng m ột t ỷ l ệ các
khoản tiết kiệm này có thể đáp ứng phần lơn nhu cầu về vốn ở các vùng nông thôn.

Các doanh nghiệp nhà nước

Các công ty nhà nước sở hữu, được gọi là các doanh nghiệp nhà n ước - n ắm
phần sản lượng công nghiệp chủ yếu trong thời kỳ kinh tế chỉ huy. Thực hiện chính
sách “đổi mới”, vai trò của các doanh nghiệp nhà nước đang chuy ển đổi dần trong các
cải cách bắt đầu từ 1989. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã trở thành công ty c ổ ph ần,
hoặc được bán, hoặc sát nhập hoặc đóng cửa. Trong thời kỳ 1990 và 2000 số doanh
nghiệp nhà nước giảm từ khoảng 12.000 xuống còn khoảng 5.300; tỷ trọng về sản l -
ượng công nghiệp của những doanh nghiệp này đã giảm từ 62% xuống 42%; và lực
lượng lao động giảm từ 2.5 triệu người xuống còn 1.6 triệu người.

Từ năm 1998,Chính phủ đã đánh giá lại tất cả các nghiệp nhà n ước và đ ã ra một
chương trình cải cách chi tiết. Chủ tr ương này nhằm cải thiện năng suất của các
doanh nghiệp nhà nước; giảm thiểu tình trạng lỗ nặng và nợ nần mà nhi ều doanh
nghiệp nhà nước mắc phải và xem xét lại vai trò của chúng với t ư cách là m ột b ộ
phận của động lực quốc gia để hiện đại hoá Việt Nam. Đ ể th ực hi ện nh ững m ục tiêu
này, Chính phủ dự định:

* Đa dạng hoá chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc cổ ph ần
hoá tức là bán các cổ phần của nhà nước) hoặc bán hoàn toàn hoặc chuyển nhượng tự
do cho khu vực tư nhân;

* Giải thể các doanh nghiệp nhà nước không có hiệu quả.

* Cơ cấu lại những doanh nghiệp nhà nước vẫn thuộc Chính Phủ quản lý;

50
* Xây dựng một hệ thống an toàn xã hội cho những công nhân m ất vi ệc làm do
thực hiện những chính sách này.

Trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, dự kiến là các doanh nghi ệp nhà
nước vẫn là lực lượng lãnh đạo trong những lĩnh vực quan trọng, đặc biệt là vi ệc tiêu
thụ sản phẩm và chế biến gạo, đường muối, cao su, cà phê, chè và các sản ph ẩm chủ
yếu khác. Những doanh nghiệp nhà nước này sẽ phải hoạt động có hiệu quả h ơn.
Nhiều doanh nghiệp trong số này sẽ được củng cố thành một số ít các công ty ch ủ
chốt. Các doanh nghiệp chế biến sẽ được cổ phần hoá và từng b ước sẽ bán cổ phần
cho các nông dân sản xuất nguyên liệu. Nh ư vậy sẽ gắn k ết quy ền l ợi c ủa các doanh
nghiệp chế biến với nông dân sản xuất nông sản nguyên liệu.

Lĩnh vực lâm nghiệp cũng đã có cải cách tương tự. Tr ước năm 1999, có 412
doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước, nắm các hạn ngạch đốn gỗ trên diện tích 3.5 triệu
ha đất rừng và thu hoạch khoảng 3.5 triệu m3 gỗ mỗi năm. Do nhu cầu bảo tồn các
nguồn lợi gỗ của quốc gia và xây dựng lại rừng quốc gia, các doanh nghiệp, lâm
nghiệp nhà nước đã được cải tổ theo quyết định của Th ủ tướng Chính Phủ năm 1999
- 130 doanh nghiệp, lâm nghiệp nhà nước tiếp tục quản lý các r ừng t ự nhiên đ ể ph ục
vụ các mục đích sản xuất, với sản lượng giảm đi rất nhiều. Còn 120 doanh nghi ệp
lâm nghiệp quốc doanh khác được giao trách nhiệm bảo vệ rừng cho tới khi các khu
rừng phát triển tới mức độ có thể thu hoạch được. Các doanh nghi ệp còn l ại đ ược
chuyển thành các Ban Quản Lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng với vai trò chính là b ảo
vệ rừng quốc gia.

2.6. Những bài học phát triển nông thôn từ nông nghiệp

Trải qua hàng vạn năm hình thành và phát triển, qua các bước thăng trầm của lịch
sử, nông nghiệp nước ta với những người nông dân áo vải cần cù, chịu th ương, chịu
khó, thông minh, sáng tạo từ đời này sang đời khác đã có những đóng góp vô cùng to
lớn, đồng thời để lại những kinh nghiệm làm nông nghiệp quý báu mà cho đ ến nay



51
vẫn có ý nghĩa thiết thực. Kinh nghiệm, bài học phát triển nông nghiệp nước ta gồm
nhiều mặt: tổ chức, kỹ thuật canh tác, đấu tranh chống thiên nhiên, thể chế…

Phát triển nông nghiệp, bắt đầu từ nông nghiệp là một trong nh ững vấn đề mang
tính quy luật đối với những nước mang tính lạc hậu, kém phát tri ển đi lên. Nghiên c ứu
lịch sử phát triển của một số nước công nghiệp phát triển, hay c ủa một s ố n ước công
nghiệp mới ở Châu á hay sự chuyển tiếp thành công của một s ố n ước xã h ộp ch ủ
nghĩa cũ từ kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang kinh tế thị trường đều thấy rõ một
kinh nghiệm chung là bắt đầu từ nông nghiệp.

Cách đây hơn 200 năm, ở nước anh rồi đến Tây Âu đã diễn ra cuộc cách mạng
công nghiệp đầu tiên của loài người, mở đường cho sự hình thành nền công nghiệp t ư
bản chủ nghĩa. Nhưng trước đó đã có sự chuyển động cơ bản của nông nghiệp Tây
Âu, mà nhiều nhà kinh tế học gọi là cuộc cách mạng th ức ăn gia súc, đã t ạo đi ều ki ện
để cho cách mạng công nghiệp ra đời và phát triển.

Mỹ cũng đã khởi đầu xây dựng nông nghiệp tiến thẳng lên nông nghi ệp t ư bản
chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phong kiến với tô và tức. Nông nghi ệp bắt đ ầu v ới nh ững
trang trại lớn và nhỏ, những cơ sở khai thác rừng hay chế biến nông sản. Một đi ểm
đáng chú ý là, Mỹ đã biết mua công nghệ của Anh và Đức, g ửi người đi các n ước này
đào tạo những cán bộ chuyên ngành và công nhân chủ chốt.Mỹ cũng bắt đầu mua ở
Tây Âu một số thiết bị để làm nông nghiệp và khai thác rừng.

Nhật Bản có nông nghiệp truyền thống lâu đời. Để cách tân đất nước, Nhật Bản
cũng đã hướng về Tây Âu và học tập kinh tế t bản chủ nghĩa. Nhật Bản đã bắt đầu
canh tân nông nghiệp với việc phát triển và nâng cao những kinh nghiệm truyền thống,
thúc đấy chế biến và sử dụng các loại phân bón địa ph ơng, sau này sử dụng nhiều
phân hoá học để thâm canh nông nghiệp; và với ph ơng pháp khoa học thực nghiệm đã
hình thành được một nền nông nghiệp và khoa học nông nghiệp vào loại cao ở châu á.
Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã có một số nhà khoa h ọc Nông nghi ệp
giỏi về lúa.

52
Đài loan chủ trơng phát triển nông nghiệp để có cơ sở phát triển công nghiệp,
sau đó dựa vào công nghiệp để phát triển thêm nông nghiệp được đề ra. Sau đó trong
đờng lối được bổ sung thêm: phát triển cả nông nghiệp và công nghi ệp xu ất kh ẩu.
Cải cách ruộng đất đã tiến hành một cách ôn hoà theo 3 b ước: giảm tô từ 1949, tô tối
đa không qua 37,5%(trước đây là 50%) và thời hạn lĩnh canh không d ới 6 năm. Bước
hai bán ruộng cho nông dân ( năm 1951 ); và b ước ba thực hiện người cày có ruộng.
Chủ đất chỉ được giữ lại 3ha ở đất thấp và 6ha ở đất cao; ngoài ra phải bán cho nhà
nước và được trả bằng 7% khế ước hàng hoá và 3/10 bắng cố phiếu các xí nghiệp
quốc doanh. Chính phủ bán lại cho nông dân đất với giá rẻ: bằng 2/5 s ản lượng cây
trồng chính vụ trong 1 năm và được trả dần trong 10 năm.

Hàn Quốc cách đây35 năm, thu nhập quốc dân/ đầu người ở Hàn Qu ốc là 80
USD. Năm 1994 số thu nhập quốc dân đầu ng àn Quốc đã tăng hơn 100 lần là 8.600
USD/ đầu người. Hàn Quốc cũng đã có một nền nông nghi ệp phát tri ển, năng su ất lúa
của Hàn Quốc nhiều năm đã vượt 62 tạ/ha, đứng hàng đầu châu á.

Malaysia cũng rất tích cực chăm lo đến phát triển nông nghi ệp, nh ất là c ọ d ầu và
cao su là hai mặt hàng mà Malasia có u thế trên thị trờng thế giới. Đã tích cực thâm
canh cây lơng thực, đã đạt năng suất lúa gần 30 tạ/ ha, vào loại khá ở Đông Nam á
đang tích cực sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, có thể cạnh tranh trên thị tr ờng
thế giới.

Trung Quốc thi hành chính sách cải cách và mở của cũng đã b ắt đ ầu t ừ nông
nghiệp. Từ 1978 với cải cách mở cửa, Trung Quốc bắt đầu giải tán các công xã nhân
dân. Ruộng đất được giao cho xã viên sử dụng 15 năm, cùng với nhi ều chính sách h ỗ
trợ nông nghiệp khác. Năm 1993, Trung Quốc đã sản xuất được 450 tri ệu t ấn l ơng
thực cho gần 2 tỷ dân. đã mở nhiều xí nghiệp ở nông thôn. Các xí nghiệp h ơng trấn
được thành lập với phơng châm: “Rời ruộng, không rời làng”; và “Vào x ởng chử
không vào thành” để mong giử lại dân ở nông thôn, tránh hiện t ợng dân dồn về thành



53
thị. Xí nghiệp hơng trấn phát triển nhanh, kể cả công nghệ chính xác và sản xuất hàng
xuất khẩu, đã chiếm gần 50% tổng giá trị xuất khẩu cả nước.

Kinh nghiệm xây dựng thể chế phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta là
yếu tố mở đờng đảm bảo cho nông thôn phát triển. Trước cách mạng tháng tám đã
hình thành và tồn tại một thể chế nông nghiệp và nông thôn với nền kinh t ế phông
kiến tiểu nông cổ truyền bao gồm các hình thức tổ chức quản lý hành chính t ừ trung -
ơng đến làng xã, các tổ chức kinh tế xã hội dân sự, cũng nh cac phong tục, tập quán,
với những quy định thành văn và không thành văn. Hệ thống thể chế cổ truyền được
xay dựng trên cơ sở quyền tự chủ của các hộ tiểu nông và mối quan h ệ giữa chính
quyền phong kiến trung ơng và cộng đồng làng xã.

Thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp theo mô hình tập thể hoá, một th ể ch ế nông
nghiệp và nông thôn mới ra đời dựa trên nề kinh tế nông nghiệp tập thể hoá, kế hoạch
hoá tập chung, quyền tự chủ sản xuất của hộ nông dân gần nh bị xoá bỏ.

Trong trời kỳ đổi mới, thể chế nông nghiệp và nông thôn được hình thành thông
qua các nghị quyết của Đảng, luật pháp cơ bản nh Hiến pháp(1992) Luật ruộng
đất(1993) Luật hợp tác xã (1996) và các quy định về Nhà nước. th ể ch ế m ới, v ề m ặt
tổ chúc, đang hình thành, tiến tới hoàn thiện qua các h ệ th ống tổ chức quản lý hành
chính của nhà nước, hệ thống tổ chức dân sự và hệ thống kinh t ế th ị tr ờng. Hệ thống
tổ chức dân sự đang được xây dựng bao gồm 2 loại hình:1) tổ ch ức dân s ự v ề kinh t ế
nh các hình thức tổ chức hợp tác, t ơng trợ trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề
nông thôn; 2)tổ chức dân sự về xã hội nh các tổ chức quần chúng, các tổ chức xã hội,
nhân đạo …Hệ thống kinh tế thị tr ờng bao gồm các chợ nông thôn, các tụ điểm th ơng
mại, các tổ chức dịch vụ kinh tế kỹ thuật thuộc các thành phần kinh tế.

Kinh tế hộ nông dânvà kinh tế hợp tác xã là lực lượng chủ y ếu quy ết định sự
phát triển chủ yếu nông nghiệp và nông thôn. Kinh tế hộ nông dân là hình th ức t ổ
chức sản xuất thích ứng với đặc thù của sản xuất nông nghiệp, thích ứng với những
biến động của nền kinh tế thị tr ờng, cạnh tranh gay gắt. Ngay ở các nước t bản công

54
nghiệp phát triển, kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại, không hề bị tiêu vong, Khi c ạnh
tranh với các doanh nghiệp t bản quy mô lơn, nó vẫn tồn tại trong các trang trại gia
đình quy mô khác nhau: nhỏ, vừa và lớn.

ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, hộ nông dân trở thành hộ kinh t ế tự ch ủ và kinh
tế hộ nông dân được hình thành. Với các quy ền tự ch ủ về s ản xu ất, c ụ th ể là t ự ch ủ
về đất đai, lao động, vốn, t liệu sản xuất, kế hoạch hoá sản xuất và phân phối sản
phẩm, kinh tế hộ nông dân đã trở thành một chủ thể phát triển nông nghiệp và công
nghệ, thiết bị, các hộ nông dân đã huy động được mọi tiềm năng, nguồn l ực có th ể đ ể
phát triển sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng,ngh ề cá và các ngành lu ỹ, và đi ều
quan trọng là chuyển từ sản xuất tự túc dần sang sản xuất nông sản hàng hoá.

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn sẽ có những biến động: đa dạng hoá, chuyên môn hoá, hợp tác háo sản xuất.
Do đó nảy sinh nhu cầu phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn. Tác
dụng của các hợp tác xã là hỗ trợ, tăng thêm sức mạnh cho nông dân, để giúp nông dân
tạo ra u thế cạnh tranh trên thị tr ờng, bảo vệ quyền lợi củ nông dân, hạn chế sự lũng
đoạn của t bản t nhân. Kinh tế hợp tác xã có lớn mạnh thì mới h ỗ trợđắc l ực cho kinh
tế hộ nông dân phát triển trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Đa khoa học công nghệ vào nông nghiệp và nông thôn là yêu cầu cấp thiết. Đối
với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên thực hiện công nghiệp hoá. Vi ệc đ a
khoa học công nghệ để phát triển kinh tế là tất yếu. Mục tiêu của việc đ a khoa học
công nghệ vào nông nghiệp là nhằm thúc đẩy sản xuất tăng tr ởng, phát triển nhanh,
cải biến nền nông nghiệp lạc hậu, thành nền nông nghiệp tiên tiến, tăng năng suất cây
trồng, vật nuôi, tăng sản lượng và giá trị thu nh ập trên đ ơn v ị đ ất đai, m ặt n ước, tăng
năng suất, sản lượng và giá trị thu nhập trên lao động nông nghi ệp và nông thôn và
cuối cùng là nâng cao mức sống và thu nh ập của nông dân. Ph ơng hướng đa khoa học
công nghệ vào nông nghiệp nước ta là lựa chọn và ứng dụng kỹ thuật thích h ợp với
đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của nước ta, kết h ợp cổ truy ền và hi ện đ ại, v ừa

55
tuần tự, vừa nhảy vọt, vừa đuổi theo, vừa đón đầu, l ấy hi ệu qu ả t ổng h ợp làm th ước
đo. Nội dung khoa học công nghệ trong từng thời kỳ ph ải toàn di ện. Ph ải coi tr ọng c ả
công nghệ sinh học và công nghệ cơ điện, hoá học đồng thời hết sức coi trọng bảo
vệ môi trờng sinh thái.




56
CHƠNG 3. MỘT SỐ NỘI DUNG QUAN TRỌNG TRONG PHÁT TRỂN
CỘNG ĐỒNG

3.1 Xây dựng phát triển tổ chức cộng đồng.

3.1.1 Khái niệm

Xây dựng tổ chức cộng đồng là một quá trình theo đó c ộng đồng tăng s ức m ạnh
bằng cách lamg việc để xác định nhu cầu của mình và xác đ ịnh các v ấn đ ề c ủa c ộn g
đồng theo phương pháp tập thể trong một tổ chức hiện có hoạec hình thành một tổ
chức mới trong cộng đồng. Quá trình kiện toàn tổ chức có hoặc hình thành tổ ch ức
mới trong cộng đồng xây dựng niềm tin và năng lực của các thành viên bằng cách:

* Tạo điều kiện cho cộng đồng nhận thức rõ hơn về thực trạng và môi tr ờng của
họ, ý thức được trách nhiệm và khả năng chung để tự phát triển.

* Tạo cơ hội cho cả nam giới và nữ giới tham gia vào các quyết định và nh ững
hành động sẽ ảnh hởng đến cuộc sống của họ, chính vì lẽ đó mà phát triển được ý
thức làm chủ và trách nhiệm tập thể đối với những quyết định và hành động đó.

* Củng cố năng lực của cộng đồng để tiếp cận nguồn lực bên trong cũng nh bên
ngoài nhằm hỗ trợ cho các dự án kinh tế xã hộ bền vững và quan trọng.

* Tạo điều kiện cho cộng đồng liên kết và hình thành các nhóm cụ thể để chia
sẻ công cụ và ủng hộ lẫn nhau.

* Xây dựng và duy trì cơ cấu tổ chức lâu dài cho phát triển cộng đồng.

Cán bộ tổ chức cộng đồng là người đóng vai trò quy ết định trong vi ệc thúc đ ấy
toàn bộ quảtình xây dựng tổ chức cộng đồng. Người tổ chức cộng đồng có khả năng:

* Hiểu biết các khái niệm về phát triển và quảtình xây dựng tổ chức cộng đồng.

* Có kỹ năng liên kết vận động cộng đồng để thúc đẩy s ự thống nh ất xã h ội
trong cộng đồng.


57
* Khả năng làm việc với những nhóm cộng đồng khác nhau.

*Có kiến thức và kỹ nănggiúp cộng đồng tiếp cận sự trợ giúp kỹ thuật

*Nhạy cảm với văn hoá địa phơng và vấn đề giới .

Xây dựng và phát triển tổ chức cộng đồng là cả một quá trình, th ời gian, m ục
đích và kết quả do mọi người và cán bộ tổ chức cộng đồng đề ra. Th ời gian này có
thể koé dài đến vài năm và có các bước sau:

* Đào tạo và định hướng việc xây dựng tổ chức cộng đồng cho mục tiêu cụ thể.

* Tiếp xúc xã giao với lãnh đạo hiện tại và xác định những lãnh đạo tiềm năng.

* Thu thập số liệu thông qua những hoạt động sinh kế và xã hội của cộng đồng.

* Thành lập nhóm trung tâmcó thể khởi x ớng những hoạt động. Đào tạo khả
năng lãnh đạo của nhóm trung tâm.

* Thành lập ban lãnh đạo và xây dựng đội ngũ.

* Phát triển hình thức tổ chức phù hợp cho quản lý và hành chính để h ỗ trợ
những dự án tạo sinh kế và kinh tế cụ thể.

* Tăng cờng và chính thức hoá tổ chức bằng việc đăng ký tổ chức này với một
cơ quan thíh hợp, thông qua quá trình công nhận của chính quy ền đ ịa ph ơng nếu thấy
thích hợp.

* Củng cố tổ chức đóng vai trò quyết định trong việc hoạt động của tổ chức.
Việc này đòi hỏi phải xây dựng năng lực cho lãnh đạo và các thành viên để đảm
nhiệm được vai trò của tổ chức trong cộng đồng.

3.1.2 Thành lập một tổ chức tại cộng đồng.

Tổ chức là một thể thống nhất gồm những người hoặc những tổ chức có chung
mục đích, nội quy, quy định…Có nhiều loại hình tổ chức khác nhau, t ừ các t ổ ch ức
chính xác chính thức ( nh chính phủ, ngân hàng) đến những tổ chức không chính thức (


58
mạng lới, gia đình). Một số tổ chức phân cấp bậc (nh nhóm bạn bè, mạng lới). Có
những tổ chức văn bản nội quy, quy định, nh một số nhóm nông dân, cũng có những tổ
chức không có (hầu hết các gia đình không có vì mọi người đều biết vị trí c ủa mình và
những quy tắc chung). Một số tổ chức có kế hoạch hoạt động lau dài, một s ố khác ch ỉ
tập chung vào các hoạt động hằng ngày.

Phát triển thể chế: Là sự phát triểnmối quan hệ giữa các tổ chức ( thành lạp
mạng lới) để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả và bề vững. Ví d ụ là s ự c ải
thiện mối quan hệ giữa một tổ chức nông dân với các tổ chức khuy ến nông, hay s ự
phát triển mối quan hệ giữa các dơn vị tín dụng, tiết kiệm với nông dân (nhóm nông
dân) được vay vốn. Mạng lới cũng có thể hiểu nh một thể chế.

Thành lập một tổ chức gồm các bước nh sau:

Bước 1: Định hướng chiến lược

* Đánh giá cơ hội, vấn đề khó khăn, và nhu cầu của đối t ợng hởng lợi của tổ
chức.

* Xác định xứ mệnh của các tổ chức: lý do thành lập, những giá trị đem lại khi
hình thành tổ chức.

* Xác định chiến lược: tổ chức sẽ hoạt động cùng với đối t ợng nào? Những
thành viên của tổ chức sẽ đóng góp và hởng lợi ích gì?

* Xác định mục tiêu chính: tổ chức đạt được gì trong một vài năm tới? Nh ững
mục tiêu cần mang tích tổng thể cho phép sự sửa đổi linh hoạt.

* Xác định nhiệm vụ chính của tổ chức.

Bước 2: Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức được thể hiện trong sơ đồ tổ chức, thể hiện vị trí của bạn qu ản
lý, các chức năng khác hoặc các nhóm thành viên. Để đảm bảo tính dân ch ủ, cơ quan
cao nhất của một tổ chức phải là hội đồng các thành viên, hoặc đ ại h ội đ ồng, cho


59
phép mọi thành viên tham gia ban hành những quyết định chính, nh định hướng chiến
lược hay những vấn đề liên quan đến quản lý.

Một tổ chức có thể bổ nhiệm một ban quản lý. Ban quản lý bao gồm ít nh ất tr -
ởng ban, một th ký ( ghi chép sổ sách, chuẩn bị họp) và một kế toán ( hay th ký tài
chính). Những vị trí khác cũng có thể được bổ nhiệm, nh một cố vấn chẳng hạn.

Bước 3: Hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin chỉ ra cách thức tiến hành đăng ký thành l ập tuỳ thuộc vào
loại hình tổ chức và có thể có các hướng dẫn cụ thể tại cơ quan quản lý ở đ ịa ph ơng.
Ví dụ khi thành lập hợp tác xã, cấn đáp ứng một số yêu cầu pháp lý nh:

* Trong số các thành viên phải có ít nhất một “ Cán bộ chuyên môn”

* Cần có kế hoạch hoạt động dựa trên mục tiêu kinh tế chính, nh kế hoạch năm ,
bao gồm kinh phí dự trù cho các hoạt động.

* Có tài khoản ngân hàng và một khoản tiền gửi gấp 1.5 lần so với kinh phí dự
trù trong kế hoạch hoạt động.

* Cần có trụ sở làm việc, có thể là một địa điểm làm việc của chính quyền xã.

* Đơn xin đăng ký thành lập gửi lên UBND huyện, và lệ phí đăng ký kho ảng t ừ
700.000 đến 1.000.000 đồng ( bao gồm các chi phí hành chính)

3.1.3 Đánh giá nhanh một tổ chức

* Đánh giá về thể chế

Là xem xét mối quan hệ quan trọng, phân tích, phân loại các mối quan h ệ theo
đầu vào và đầu ra của tổ chức.

* Những mối quan hệ nhằm cải thiện đầu vào là những mối quan hệ có thể đem
lại ngững trợ giúp về kỹ thuật, tổ chức hoặc tài chính.




60
* Nhưng mối quan hệ liên quan đến đầu ra với các thành viên của t ổ ch ức, hay
những người hởng lợi ích luôn là mối quan hệ quan trọng nhất. vì nó chứng minh sự
tồn tại và lý do tồn tại của tổ chức.

* Bên cạnh mối quan hệ với các tổ chức cung cấp đầu vào và liên quan đ ến đ ầu
ra. Có những tổ chức mối quan hệ chưa hình thành nh ưng có tri ển v ọng h ợp tác ho ặc
là thách thức đối với tổ chức.

Những kía cạnh quan trọng đánh giá đầu ra của một tổ chức

- Danh tiếng hay vị trí của tổ chức đối với các thành viên (khách hàng, nh ững
người hởng lợi ích, nhóm chủ chốt): hoạt động trong tổ chức có nâng cao vị trí của
học không ?

- Chất lượng các dịch vụ, dựa trên ý kiến các thành viên.

- Khả năng đáp ứng nhu cầu của thành viên, các u tiên (nếu có)

- Hiệu quả của các dịch vụ (phạm vi, số lượng thành viên được cung cấp)

- Cơ hội mở rộng các dịch vụ (cung cấp thêm các dịch vụ khác)

- Cơ hội mở rộng tổ chức (sang địa bàn mới, tăng số hội viên)

Những kía cạnh liên quan đến đầu vào của một tổ chức

- Cơ hội thức đẩy các thành viên, tăng khả năng và ảnh hởng của tổ chức.

- Cơ hội tăng nguồn tài chính nhờ đóng góp của thành viên.

- Tham gia mạng lới để có thể điều chỉnh được giá cả sản phẩm và đầu vào.

- Mối quan hệ với các cơ quan có thể đảm bảo cho việc cung cấp tài liệu hay trả
thù lao cho nông dân tiếp sức.

- Mối quan hệ với các nhóm ở các địa ph ơng khác có thể đem lại cơ hộ trao đổi
kinh nghiệm.




61
- Mối quan hệ với các nhóm tín dụng hay các nhà tài trợ dự án có th ể đem l ại c ơ
hội vay vốn.

* Đánh giá về tổ chức:

Có năm khía cạnh có thể là chủ đề đánh giá

* Về chiến lược: Ví dụ các thành viên có thống nhất với ph ơng pháp để đạt
mục tiêu không ?

* Nguồn nhân lực: Ví dụ sử dụng kinh nghiệm của các thành viên có hiệu quả
không ?.

* Cơ cấu tổ chức: Các thành viên có hiểu rõ được ban quản lý được giám sát
nh thế nào ? Ban lãnh đạo nên được bầu hay chỉ định ?

* Hệ thống quản lý: Ví dụ cuộc họp có được chuẩn bị đủ thời gian cho phép
thảo luận kết qủa và kế hoạch tơng lai không ?

* Dân chủ và tham gia: Các thành viên có hài lòng với Ban lãnh đạo về cách t ổ
chức họp, đa ra các quyết định không ? Các thành viên có muốn được biết, tham gia
hơn nữa trong các quyết định ?

3.2. Sự tham gia của cộng đồng vào phát triển

Một nội dung quan trọng trong PTCĐ và PTTN là “sự tham gia của người dân”,
là một thành tố chính của phát triển trong thời gian gần đây vì nhiều lý do. Mộtu là, s ự
tham gia của quần chúng là phơng tiện hữu hiệu nhất để huy động tài nguyên địa ph -
ơng, tổ chức và tận dụng năng lực sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào
các hoạt động phát triển. Hai là, nó giúp xác định nhu c ầu ti ền kh ởi c ủa c ộng đ ồng và
giúp tiến hành những hoạt động phát triển đê đáp ứng nh ững nhu c ầu này. Quan tr ọng
hơn cả là sự tham gia của quần chúng giúp cho dự án hay ho ạt đ ộng đ ược công nh ận,
khuyến khích người dân tham gia thc hiện, và đảm bảo khả năng bền vững. Kinh
nghiệm gần đây trong những hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ


62
quan trọng giữa mức độ và cờng độ tham gia của người dân với sự thành công của
những hoạt động phát triển.

Sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện một hoạt động nào đó. Hàng ngày con
người “tham gia” vào sự phát triển địa phơng thông qua cuộc sống gia đình, các hoạt
động sinh kế và trách nhiệm đối với cộng đồng. Không có m ột ví d ụ đ ơn l ẻ đúng đ ắn
nào về sự tham gia. Tuy nhiên, việc kiểm soát hoạt động và mức độ của sự tham gia
luôn là sự lựa chọn của các cá nhân. Theo nghĩa chung nh ất, s ự tham gia là s ự g ắn k ết
một cách lâu dài, chủ động có vai trò ngày càng cao vào quá trình phát tri ển ộng đ ồng
từ việc xác định vấn đề đến việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát đánh giá các ho ạt
động nâng cao đời sống cộng đồng và bảo đảm sự phân chia công b ằng l ơị ích c ủa s ự
phát triển.

Tại sao phải tham gia: Sự tham gia là đầu vào cần thiết nhằm tạo c ơ h ội thành
công cho những sáng kiến về phát triển. Không những thế, sự tham gia và ti ến trình
tham gia bản thân nó đã là một mục tiêu và không đơn giản chỉ là m ột ph ơng tiện để
đạt được các mục tiêu phát triển. áp dụng ph ơng pháp tham gia sẽ tạo ra nhiều lợi ích
có ý nghĩa đối với PTCĐ, những lợi ích đó là:

+ Nâng cao ý nghĩa về sở hữu trong các sáng kiến về PTCĐ ở địa phơng

+ Nâng cao hiệu suất và năng suất (lợi ích lớn hơn trên một đơn vị nguồn lực).

+ Tăng cờng việc xem xét các tác động

+ Nâng cao tính công bằng và tính tự quyết định.

+ Tăng cờng khả năng tiếp tục, duy trì sau khi dự án hỗ trợ kết thúc.

+ Tăng cờng chia sẻ chi phí và tính hiệu quả của sáng kiến phát triển.

+ Nhấn mạnh các hình thức phi bạo lực của những hoạt động và thay đổi xã hội.

+ Coi trọng nhu cầu và quyền lợi của con người.

Tuy nhiên sự tham gia bản thân nó cũng gặp phải các vấn đề và những yêu cầu:

63
+ Cơ quan trung ơng hay địa phơng có thể chưa tin vào nhận thức và năng lực
cộng đồng dẫn đến trở ngại cho việc phân cấp và trao quyền.

+ Đòi hỏi nhiều thơi gian để các bên liên quan có th ể tham gia và xây d ựng năng
lực cho nhóm người này nhằm có được lợi thế trong phơng pháp tham gia.

+ Tăng cờng thêm chi phí lập kế hoạch, điều phối thực hiện hoạt động.

+ Làm tăng phức lợi của các giải pháp là kết quả của quá trình thích ứng.

Đánh giá mức độ tham gia dựa vào các chỉ tiêu được chấp nhận hoặc tiêu chí
phản ánh của sự tham gia. Một số chỉ tiêu được sử dụng phổ biến bao gồm:

+ Thời gian tham gia (khi nào sự tham gia bắt đầu) Có th ể th ực hi ện s ự tham gia
tại bất kỳ giai đoạn nào của chu trình dự án, song sự tham gia cao nhất ph ải có trong
tất cả các thời kỳ của dự án.

+ Ai là người tham gia. Đó có phải là các quan chức địa ph ơng, chỉ là nam giới,
những người có học vấn, những người sống gần vung trung tâm của làng nhất, ai là
những người tham gia ? Những câu hỏi này gợi ra một điểm vô cùng quan trọng v ề
tính công bằng của sự tham gia.

+ Quy mô của sự tham gia. Số người tham gia trong các hoạt đ ộng, và c ả ch ỉ tiêu
định lượng về thời gian, về sự đóng góp …

+ Mức độ kiểm soát việc ra quyết định liênquan đến hoạt động cộng đồng/ hộ
gia đình hoặc cá nhân. Ai là người kh ởi x ớng dự án ? Nhu cầu của ai đang được thoả
mãn, bản thiết kế dự án của người nào sẽ được sử dụng ? Ai sẽ là người giám sát
nguồn lực ? Ai sẽ là người xem xét xu hướng phát triển của dự án ? Nh ững câu h ỏi
này xác định mức độ mà các thành viên (ai, số lượng) trong c ộng đ ồng có quy ền ki ểm
soát hoặc được tăng quyền lực. Với những chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá tổng quan
về mức độ tham gia được tiến hành trong dự án hoặc một hoạt động.

Phân loại sự tham gia trong quá trình phát triển


64
Phân loại Mô tả thành phần và hình thức tham gia
1. Tham gia bị Mọi người tham gia được cho biết cái gì sẽ xảy ra, hoặc đã
động xảy ra. Chỉ là sự thông tin một cách đơn ph ơng của các cơ
quan hành chính hay cơ quan quản lý.
2. Tham gia Mọi người tham gia bằng cách trả lời các mẫu câu h ỏi do các
bằng cách cấp nhà nghiên cứu đa ra, sử dụng các phiếu điều tra hoặc những
thông tin cách tiếp cận tơng tự.
3. Tham gia Mọi người tham gia bằng cách tham vấn. Những người bên
bằng cách ngoài lắng nghe các quan điểm và xác định vấn đề và gi ải
tham vấn pháp đồng thời sửa đổi chúng theo phản ứng của mọi người.
4. Tham gia do Mọi người tham gia bằng cách cung cấp nguồn lực, ví dụ, lao
vật chất động để được cấp lơng thực hoặc khuyến khíc vật chất.
5. Tham gia Mọi người tham gia bằng cách xây dựng các nhóm nhằm thoả
mang tính chất mãn mục tiêu dự án liên quan đến sự phát triển hoặc thúc đẩy
chức năng những tổ chức xã hội được khởi xớng từ bên ngoài. Những tổ
chức này có khuynh hướng phụ thuộc vào những người khởi
xớng và hướng dẫn từ bên ngoài, song có thể trở thành tự
lập.
6. Sự tham gia Mọi người tham gia vào phân tích để xây dựng kế hoạch
có tác động hành động và thiết lập nên các tổ chức mới ở địa ph ơng hoặc
qua lại củng cố các tổ chức đã có từ trước. Các nhóm này kiểm soát
những quyết định của địa phơng do đó mọi người sẽ có
những đóng góp của riêng mình vào việc duy trì cơ cấu hoặc
thực hành.
7. Tự vận Mọi người tham gia bằng cách tự khởi xớng độc lập với các
động tổ chức ở bên ngoài để thay đổi các hệ thống. Họ hình thành
hợp đồng với các tổ chức bên ngoài để có được nguồn lực và

65
cố vấn kỹ thuật mà họ cần, nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát
cách sử dụng các tài nguyên
Các loại hình nông dân tham gia nghiên cứu*



Phân loại Mô tả thành phần và hình thức tham gia
Bằng hợp Các nhà khoa học hợp đồng với nông dân để họ cung c ấp đ ất
đồng đai và dịch vụ.
Bằng t vấn Các nhà khoa học t vấn cho nông dân về các vấn đề của họ
và sau đó đa ra giải pháp
Bằng cộng tác Các nhà khoa học và nông dân hợp tác với nhau nh là các đối
tác trong tiến trình nghiên cứu
Bằng cách Các nhà khoa học làm việc nhằm nâng cao những nghiên c ứu
phối hợp không chuyên của nông dân và hình thành hàng loại các h ệ
thống phát triển ở nông thôn.




66
Những trở ngại trong khi tham gia: Có rất nhiều nhân tố có thể thúc đẩu sự
tham gia hoặc là cản trở nó. Những nhân tố có th ể là nhân t ố bên ngoài c ộng đ ồng nh
loại nhân tố thuộc hệ thống chính trị, hoặc cũng có th ể là nhân t ố bên trong nh các
phong tục văn hoá địa phơng. Oakley (1991) xác định 3 loại trở ngại chính đối với sự
tham gia.
* Trở ngại chính trị có thể xuất hiện ở những quốc gia kế hoạch tập trung hoặc
trên thực tế ở các chế độ độc đoán. Sự tham gia tăng quyền lực những nhóm người địa
phơng theo hướng đi của chính mình tạo nên sự nhạy cảm.
* Trở ngại chính trị, những hệ thống hành chính mang tính tập trung cao và phụ
thuộc vào cách tiếp cận lập kế hoạch trên xuống và kế hoạch rập khuôn h ỗ trợ cho
tiếp cận tham gia.
* Trở ngại về văn hoá, xã hội và lịch sử có thể trở thành những thách đố to l ớn
đặc biệt là đối với câu hỏi “ai tham gia”. Để có được sự tham gia công bằng của các
nhóm bị thiệt thòi (nh phụ nữ, dân tộc thiểu số, những người thất học .v.v..) thì càng
phi nỗ lực xác định các phong tục văn hoá hạn chế tham gia của các nhóm này.
3.3. Giáo dục cộng đồng
GDCĐ là giúp cho một cộng đồng được trang bị tốt hơn kiến thức, ý thức, thái đ ộ
và năng lực để hành động chung, hành động cộng đồng để giải quyết những vấn đề
của mình. Nó không chỉ đơn thuần là giáo dục công dân hay nâng cao ý thức cho những
cá nhân riêng lẻ. Hai khái niệm chủ yếu trong GDCĐ là xây dựng năng lực (capacity
builidng) và tạo sức mạnh (empowerment) cho người dân. Không ch ỉ hi ểu bi ết có kh ả
năng, kỹ năng tác động vào hoàn cảnh sống, người dân phải liên kết với nhau để tạo
thành sức mạnh. GDCĐ là để biến đổi xã hội trong cộng đồng.
* Đối tợng học là thành viên tham gia vào ch ơng trình phát triển, nhưng học viên
cần được chọn lọc và triệu tập đúng với yêu cầu của chơng trình. Có những lớp cho
thành niên, cho các bà mẹ, phụ lão, các lãnh tụ cộng đồng…




67
* Học bằng cách thực hành. Hình thức học cao nhất là chính trong hành động có
rút kinh nghiệm, có đánh giá, phân tích, phê phán việc đã làm. Học là một chuỗi dài t
duy – hành động .. trên hoàn cảnh, tình huống cụ thẻ.
Con người, tự bản tự bản thể luôn có thiên hướng h ọc t ập qua vi ệc phát tri ển và
giải qiuyết vấn đề, quan sát các cá thể khác, nhờ sự giúp đĩ của bạn bè và đồng
nghiệp, và tiếp cận những kinh nghiệm được l u lại của nhân loại nh sách vở, những
câu chuyện, TV hay truyền thanh.
Trong khi nhiều người liên hệ khái niêm học tập với đào tạo tr ờng lớp, thực ra
hầu hết quá trình học tập lại diễn ra bên ngoài tr ờng lớp, vì mỗi cá nhân đều phải trải
qua thử thách hàng ngày họ phải đổi diện trong cuộc sống và công việc.
Người lớn, so với trẻ em, học tập nhiều hơn qua kinh nghiệm. Người lớn luôn
hướng đến việc học thêm những điều họ cho là có ích cho vi ệc th ực thi nh ững nhi ệm
vụ của mình, hoặc để giải quyết những vấn đề mà h ọ phải đ ối m ặt trong cu ộc s ống.
(theo Malcolm Knowles, một trong những nhà sán lập các lý thuy ết căn b ản v ề đào t ạo
cho người lớn). Đâu cũng là nguyên tắc chung đối với từ người dân thôn bản, nông dân
cho đến cán bộ nhà nước và cán bộ hành chính, đến đ ại di ện c ủa các t ổ ch ức l ớn hay
các chính trị gia .v…
Điều này mang một ý nghĩa đáng kể trong việc xác định cách thức làm việc với
học viên của một giảng viên hay một giáo viên. Thay vì gi ảng bài và truy ền đ ạt thông
tin theo những cách thức truyền thống, người giáo viên phải công nh ận nh ững kinh
nghiệm của học viên và biết tin cạy, dựa vào kiến thức cũng nh quyền được u tiên của
họ. Trong số các nguyên tắc chung, hai nguyên tắc quan trọng nhất là: tạo điều kiện
cho các học viên trao đổi kinh nghiệm và tạo cơ hội đ ể h ọc viên thu nh ận nh ững kinh
nghiệm mới thông qua các bài tập thực hành trên lớp và đào tạo lại ch ỗ (nh ngày trên
đồng ruộng hay rừng của người nông dân).
Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng việc tiếp thu một kiến thức ph ụ thuộc
vào hình thức học.



68
***** Hình (52)


Do đó, các nguyên tắc đào tạo hiệu quả là:
→ Hỗ trợ việc trao đổi kinh nghiệm giữa các học viên (ví d ụ nh những nhóm làm
việc, hay thảo luận theo nhóm).
→ Tạo cơ hội nắm bắt được những kinh nghiệm mới (các bài tập th ực hành, các
chuyến thăm thực địa).
→ Suy ngẫm về những kinh nghiệm đã đạt được và nh ững gì chúng ta có th ể h ọc
hỏi được từ chính những kinh nghiệm đó (phần bài giảng về suy ng ẫm và đóng góp ý
kiến phản hồi).
3.4. Vấn đề giới trong phát triển cộng đồng
3.4.1. Khái niệm
Phụ nữ chiếm 1/2 dân số thế giới, nhưng phải làm 2/3 công vi ệc, h ưởng 1/10 thu
nhập và sở hữu dới 1/100 tài sản thế giới. (LHQ 1985). Phần lớn công việc của nữ
giới không xuất hiện trên các tài liệu thống kê dù chúng mang một giá t rị to về vật
chất nh xã hội. Vì đó là những công việc không tên nh lao động nông nghiệp, buôn bán
nhỏ trong khuôn khổ gia đình nên khó đo lường. Trong lúc đó có thể nói họ đóng góp
53% lương thực cho gia đình. Nếu tính thành ti ền, lao đ ộng n ội tr ợ đóng góp 1/3 t ổng
thu nhập gia đình. Vì vậy, phụ nữ và phát triên hay gi ới và phát trien ẻ là n ội dung, ph -
ơng pháp hành động của những năm gần đây nhấn mạnh răng vấn đề của phụ nữ là
trung tâm của phát triển. Không thể đặt vấn đề phát triển mà không đồng th ời đặt vấn
đề phụ nữ.
Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan h ệ và t ơng quan về địa vị xã hội của
phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ th ể. Nói cách khách, nói đ ến gi ới là
nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội.
3.4.2. Những đặc trng về giới




69
Do dạy và học mà có
Khác với giới tính, những đặc tr ng về Giới là do dạy và học mà có. Đứa trẻ ph ải
học để làm con trai hoặc con gái. Bắt đầu t khi đứa trẻ sinh ra nó đã được đối xử và
dạy dỗ tuỳ theo việc nó là trẻ trai hay gái. Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu
sắc, cánh nói năng, thái độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của chưa mẹ, anh chị.
Đứa trẻ cũng được dạy dỗ để trở thành phụ nữ hay nam giới theo quan ni ệm,
khuôn mẫu của xã hội. Ví dụ, con trai không được khóc, phải tỏ ra mạnh mẽ, dũng
cảm, không chơi búp bê; con gái không được cáu kỉnh, nói to, ph ải d ịu dàng, ph ải giúp
mẹ cơm nước, nội trợ .v.v..
Các quan niệm vốn có này và các dự định, mong đợi của chưa m ẹ, anh ch ị em, h ọ
hàng, bạn bè và xã hội đối với đứa trẻ trai và gái đã trở thành khuôn m ẫu c ụ th ể đ ối
với mỗi giới, khiến nó luôn luôn phải điều chỉnh hành vi sao cho phù h ợp. B ởi v ậy, s ở
dĩ phụ nữ làm việc nội trợ hay đi cày cấy thì không ph ải vì h ọ là ph ụ n ữ mà vì h ọ đã
được dạy để làm những việc đó từ khi còn là đứa trẻ.
Tiếp đó nhà trờng và quan niệm về tập quán xã hội tiếp tục củng cố các khuôn
mẫu cụ thể về giới tính. Ví dụ: nam sinh học thêm các môn kỹ thuật, xây d ựng; n ữ
sinh học môn nữ công. Các thể chế nh chính sách, pháp luật .v.v.. cũng có ý nghĩa làm
tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới. Ví dụ: u tiên nhận phụ nữ vào các nghề th
ký, đánh máy, lễ tân…
Đa dạng và luôn biến đỗi
Giới thể hiện các đặc trng của những quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới cho
nên rất đa dạng. Địa vị của phụ nữ Việt Nam trong xã hội Việt Nam khác xa với địa vị
của phụ nữ ở các nước hồi giáo. Ngay ở Việt Nam, địa vị xã h ội của ph ụ nữ nông
thôn cũng không hoàn toàn giống phụ nữ thành thị.
Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với xã h ội và các y ếu tố xã h ội nh chính trị,
kinh tế, văn hoá, các phong tục tập quán .v.v.. Ví dụ quan ni ệm c ủa đ ạo Kh ổng nghĩa;
gia đình truyền thống thờng thích con trai hơn con gái nhưng điều đó đang có những
thay đổi ở những gia đình trẻ.

70
Có thể thay đổi được
Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có th ể thay đ ổi đ ược.
Quan niệm các công việc “bếp núc” là “thiên chức” của phụ nữ đang được xem xét lại
khi rất nhiều đầu bếp giỏi, các thợ giặt tinh xảo là nam gi ới. Trong nhi ều gia đình h ạt
nhân, khi cả vợ và chồng cùng phải t ham gia một cách tích cực vào quá trình sản xuất
nhằm tăng thu nhập thì nam giới đang tham gia một cách tích c ực vào các công vi ệc
nội trợ nh nấu ăn, chăm sóc con cái .v.v..
Thậm chí trong một số gia đình, khi người vợ tham gia vào các công vi ệc qu ản lý,
điều hành xã hội, tham gia công việc sản xuất nhiều hơn người chồng, người ch ồng
đã thay vai trò của người vợ đảm đ ơng các công việc gia đình, người vợ có điều kiện
tham gia những công việc sản xuất làm các công tác lãnh đạo, các công việc quản lý
xã hội nhiều hơn.
Các phơng pháp tiếp cận phụ nữ và phát triển ngày càng được hình thành một
cách đa dạng trong những năm gần đây. ‘”Giới” đã được sử dụng nh một thứ thuốc
bách bệnh của những người làm việc trong lĩnh vực phụ nữ và phát triển. Tuy nhiên
“giới” được áp dụng nh một công cụ hoạch định chính sách và lập kế hoạch còn ít
được phân tích.
Việc nhấn mạnh vấn đề nâng cao quyền lực cho phụ nữ trong các nghiên c ứu
được coi là sự phát triển tự nhiên hướng về phân tích các quan hệ xã hội. Hay nói cách
khác, nội dung phân tích các quan hệ xã h ội phải kể đến vi ệc nâng cao quy ền l ực cho
phụ nữ.
3.4.3. Nâng cao địa vị phụ nữ
Tăng cờng quyền lực
Phát triển là sự tiếp cận ngày càng tăng với các nguồn lực và phúc lợi ngày càng
được cải thiện. Quá trình phát triển l à việc lôi cuốn các thành viên trong nhóm đối t -
ợng trở thành những người thamgia vào quá trình này, chứ không chỉ là những người
thụ động hởng lợi. Để có một định nghĩa hữu ích về vấn đề phát triển phụ nữ cần kết



71
hợp các khái niệm về bình đẳng giới và khái niệm nâng cao quy ền l ực cho ph ụ n ữ đ ể
họ tham gia vào quá trình phát triển.
Tăng phúc lợi
Đây là cấp độ phúc lợi vật chất của phụ nữ trong t ơng quan với nam giới trong
các lĩnh vực nh tình trạng dinh dỡng, nguồn cung cấp lơng thực và thu nhập khoảng
cách về giới có thể được nhận biết thông qua sự chênh lệch về ch ỉ s ố nam gi ới và n ữ
giới trong tình trạng dinh dỡng, tỷ lệ tử vong .v.v.. Việc tăng quyền lực cho phụ nữ
không thể diễn ra thuần tuý ở cấp độ về phúc lợi – hành động để nâng cao phúc lợi
chỉ đa việc tăng thêm sự tiếp cận với nguồn lực.
Tăng khả năng tiếp cận tài nguyên
Khoảng cách về giới trong cấp độ phúc lợi xuất phát từ bất bình đẳng v ề kh ả
năng tiếp cận với các nguồn lực. Khả năng sản xuất của ph ụ nữ th ấp h ơn do s ự ti ếp
cận hạn chế của họ đối với các nguồn lực dành cho phát triển và s ản xuất trong xã
hội nh đất đai, tín dụng, lao động và dichhj vị. So với nam giới ph ụ nữ ít có c ơ h ội
tiếp cận hơn tới giáo dục và công việc được trả l ơng, các dịch vụ và đào tạo kỹ năng
– những yếu tố làm cho lao động đạt hiệu quả hơn. “Khoảng cách về giới” đề cập
đến khả năng sử dụng thấp hơn các cơ hội và nguồn lực, kể c ả sự ti ếp c ận lao đ ộng
của chính họ.
Tăng quyền lực cho phụ nữ có nghĩa là giúp cho phụ nữ nh ận th ức đ ược các hoàn
cảnh khác nhau và hăng hái hành động để được phân chia công b ằng và h ợp lý các
nguồn lực có trong gia đình cũng nh trong hệ thống cung cấp của nhà nước “bình đẳng
về khả năng tiếp cận với các nguồn lực” là b ước tiến bộ của phụ nữ. Thực trạng
hiện nay phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn lực là h ậu qu ả c ủa ch ế đ ộ phân
biệt đối xử về giới.
Nâng cao nhận thức
Sự cách biệt giới trong nhận thức không phải xuất phát từ kinh nghiệm thực t ế
mà do sự cách biệt trong quan niệm rằng phụ nữ ở địa vị kinh t ế –xã h ội th ấp h ơn và



72
sự phân công lao động truyền thống về giới là một ph ần c ủa tr ật t ự t ự nhiên ho ặc đó
là do “trời sắp đặt”.
Quan niệm này về sự cách biệt giới th ờng được phản ánh và truyền đi hàng ngày
trên các phơng tiện thông tin đại chứng và trong sách giáo khoa. Tăng quy ền lực cho
phụ nữ nghĩa là cho phụ nữ nhạy cảm hơn và bác bỏ những quan niệm này. Điều đó
có nghĩa không công nhận sự lệ thuộc của phụ nữ là một phần của trật tự tự nhiên,
mà nó được áp đặt bởi một chế độ và nh vậy nó có thể thay đổi tốt hơn.
ở cấp độ bình đẳng này, người phụ nữ sẽ nhận thức rằng các vấn đ ề c ủa h ọ
không bắt nguồn chủ yếu từ những vấn đề không thích hợp của riêng họ, mà th ực ra
họ đè nén bởi một hệ thống phân biệt đối xử mang tính ch ất cơ ch ế của xã h ội đối
với mọi phụ nữ. Vấn đề này đòi hỏi khả năng phân tích có phê phán đ ối v ới xã h ội và
thừa nhận những gì trước đây vốn được coi là ‘chuyện bình thờng” hoặc là “một phần
của thế giới vĩnh cửu nào đó” có thể thay đổi được ví dụ nh những hành động phân
biệt đối xử. Nó cũng đòi hỏi phải phân biệt được các vai trò giới tính với vai trò gi ới –
vai trò giới mang tính văn hoá - xã hội và có thể thay đổi được.
Vì vậy, bình đẳng trong phân chia lao động theo giới có thể phù hợp cả hai phía và
không đa đến sự thống trị về kinh tế hay chính trị của một giới đối với giới khác. Bình
đẳng giới là mục đích của sự phát triển trên cơ s ở coi nh ận th ức v ề gi ới là y ếu t ố t t-
ởng cơ bản trong quá trinh nâng cao quyền lực cho phụ nữ.
Tăng khả năng tham gia
Sự khác biệt về giới trong sự tham gia của phụ nữ là một hiện tợng rõ ràng và dễ
nhận thấy nhất. ở hầu hết các nước đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan nhà
nước và khu vực t nhất rất nhỏ. Sự khác biệt này rất dễ dàng để xác định về định
lượng. Sự tham gia theo nghĩa ở đây là người phụ nữ tham gia tích cực vào quá trình
phát triển một cách bình đẳng với nam giới.
Bình đẳng giới ở đây là sự tham gia ngang bằng của phụ nữ vào quá trình ra quyết
định. Trong một dự án phát triển, điều đó có nghĩa là ph ụ nữ có đại di ện c ủa mình
trong đánh giá các nhu cầu và xử lý vấn đề trong quá trình l ập k ế ho ạch, qu ản lý, th ực

73
hiện và đánh giá dự án. “Bình đẳng về tham gia” nghĩa là lôi cu ốn ph ụ nữ trong c ộng
đồng dân c chịu tác động của dự án và đ a họ tham gia vào qúa trình ra quyết định với
tỷ lệ tơng đơng với tỷ lệ của họ trong cộng đồng ở phạm vi rộng. Việc huy động phụ
nữ ngày càng nhiều vào quá trình ra quyết định vừa là kết quả của quá trình nâng cao
quyền lực cho phụ nữ, vừa là sự đóng góp tiềm tàng thúc đẩy quá trình này.
Tăng khả năng kiểm soát
ở cấp độ kiểm soát, sự khác biệt về giới được nêu ra nh mối quan hệ không bình
đẳng về quyền lực giữa nam và nữ. Phụ nữ được tham gia nhiều h ơn ở c ấp đ ộ ra
quyết định sẽ thúc đẩy quá trình phát triển và tăng quy ền l ực c ủa ph ụ n ữ khi s ự tham
gia này đạt tới quyền kiểm soát cao hơn đối với các yếu tố sản xuất. Điều này đảm
bảo sự tiếp cận bình đẳng tới các nguồn lực và phân phối bình đẳng các lợi ích.
Bình đẳng trong kiểm soát nghĩa là có sự cân bằng v ề quy ền l ực gi ữa nam và n ữ
và nh vậy không ai chiếm vị trí thống trị. Điều này có nghĩa là c ả ph ụ n ữ và nam gi ới
đều cùng có quyền về số phận của họ cũng nh vận mệnh của xã hội mà họ đang
sống. Chính quyền bình đẳng trong kiểm soát cho phép phụ nữ đạt được sự tiếp cận
cao hơn đối với các nguồn lực và do vậy cho phép cải thi ện phúc l ợi cho b ản thân và
con cái họ.
3.5. Các bộ phát triển cộng đồng
Cán bộ phát triển cộng đồng là cán bộ làm công tác phát tri ển c ộng đ ồng. Ph ải là
nhà tổ chức am hiểu về con người, xã hội của cộng đồng, nắm vững các k ỹ năng tác
động vào xã hội để đẩy mạnh tiến trình phát triển cộng đồng. Vai trò cán bộ phát triển
cộng đồng là người đa cộng đồng đến tự lực trong thời gian ngắn nhất và chuyển giao
vai trò của mình cho cộng đồng. Tuy nhiên vai trò của cán bộ PRCĐ ít đi đ ể tăng tính
chủ động cho cộng đồng nhưng không bao giờ chấm dứt vì cộng đồng phát triển s ẽ
nảy sinh nhu cầu mới.



Vai trò của cán bộ


74
Phát triển

Vai trò của

cộng đồng



- Người thúc đẩy:Là tạo điều kiện để cộng đồng th ực hiện tốt hoạt đ ộng. Vai trò
này rất khó vì người ta có khuynh hướng làm giúp, làm thay cho dân thay vì làm cùng,
làm với dân.

- Nhà nghiên cứu: phải biết tìm hiểu các khía c ạnh khác nhau c ủa c ộng đ ồng,
phải có kỹ năng thu thập, phân tích các dự kiện v ề c ộng đồng. Điêu quan trong là t ạo
điều kiện cho người dân tham gia ngay từ đầu.

- Người huấn luyện: Phải có kỹ năng tổ chức các lớp tập huấn, sử d ụng các ph -
ơng pháp thông tin, huấn luyện khác nhau bằng lời nói, chữ viết, hình ảnh, sắm vai
.v.v..

- Lập kế hoạch: Là giúp người dân vạch ra kế hoạch. Kế hoạch ph ải t ừ c ơ s ở đ a
lên, xuất phát từ nhu cầu và những vấn đề của cộng đồng.

* Phẩm chất:

- Có năng lực: PTCĐ là một khoa học và nghệ thuật.

- Phong cách hoà đồng: cùng ăn cùng ở cùng làm với dân

- Trung thực: tự khám phá mình và không e ngại người khác góp ý

- Kiên trì, nhẫn nại.

- Khiêm tốn, biết học hỏi ở người dân

- Khách quan, vô t

- Có lối sống đạo đức phù hợp được mọi người chấp nhận.



75
CHƠNG 4: NGHÈO ĐÓI VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO



4.1. Các khái niệm về nghèo khổ

Thế nào là nghèo khổ thì hiện nay lại đang có rất nhi ều cá ch tiếp cận khác nhau.
Tựu trung, có hai cách tiếp cận chính là ph ơng pháp tuyệt đối và ph ơng pháp tơng đối
(mang nghĩa so sánh). Theo cách tiếp cận t ơng đối, nghèo khó là một phạm trù chỉ mức
sống của một cộng đồng hay một nhóm dân c khác so với cộng đồng hay nhóm dân cơ
khác. Cách tiếp cận này có phần phiếm diện, ch ưa bao quát đ ược tính ch ất tuy ệt đ ối
của nghèo đói, nghĩa là chỉ đánh giá nghèo đói, mà trên th ực t ế thì lúc nào cũng t ồn t ại
trong xã hội hiện đại, cho dù ở nước giàu nhất. Nếu đứng trên ph ơng diện so sánh
mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân c (chẳng hạn mỗi nhóm là 20% dân số và
xếp theo mức thu nhập), thì lúc nào cũng có một nhóm th ấp nh ất, nhóm cao nh ất và
các nhóm trung bình.

Theo phơng pháp tiếp cận tuyệt đối, thì nghèo khổ là tình trạng cuộc sống mà con
người không đáp ứng các nhu cầu tối thiểu. Ví dụ đó là một cuộc sống cùng cực, chạy
ăn từng bữa .. mà con số thống kê bình quân không th ể ph ản ánh đ ầy đ ủ. Nghèo tuy ệt
đối được đánh giá thông qua một hệ thống hay các chuẩn nghèo được xây dựng dựa
trên việc đánh giá nhu cầu tối thiểu của con người trong hoàn cảnh kinh tế xã hội và
lịch sử cụ thể. Trong thực tế việc đánh giá thuực trạng nghèo kh ổ th ờng kết hợp các
phơng phá tơng đối và phơng pháp tuyệt đối.

4.2 Tình trạng nghèo trên thế giới.

Nếu can cứ vào năm mức giàu nghèo khác nhau, nghĩa là theo thu nhậ và phân chia
toàn bộ dân số thế giới ra năm nhóm bằng nhau, mỗi nhóm chiếm 20% dân số, m ỗi
nhóm tơng ứng với một mức độ tơng ứng với một mức độ chiếm hữu của cải vật
chất và sản phẩm phát triển, thì tình trạng bất bình đ ẳng th ể hi ện r ất rõ. Các ch ỉ tiêu
được chọn để mô tả là GNP; th ơng mại thế giới; tích luỹ và đầu t . Nếu coi toàn bộ

76
thế giới theo từng chỉ tiêu là 100% thì bức tranh ấy sẽ là: 20% dân số giàu nh ất th ế
giới chiếm dụng 87.5% GNP; 84,2% thơng mại thế giới; 85,0% tích luỹ; 85,0% đầu t,
20% dân số nghèo nhất chiếm các chỉ tiêu tơng ứng là 1,4%; 0,9%; 0,7% và 0,9%. Rõ
ràng là mộtnhóm người thì có tất cả còn nhóm kia coi nh không có gì.

Tình trạng cùng cực đang đè nặng lên đầu của 2/3 dân s ố th ế gi ới. Trong m ột vài
năm gần đây thu nhập thực tế của 1,6 tỉ người (chiếm 1/4 dân s ố th ế gi ới) đã b ị gi ảm
đi. Trong vòng 30 năm lại đây khoảng cách giàu nghèo tăng thêm 2 l ần. Vào nh ững
năm cuối thế kỷ XX tình trạng phân hoá giữa người nghèo và người giàu càng tồi t ệ
hơn. Rõ ràng đang diễn ra quá trình của cái gọi là bần cùng hoá k ể c ả t ơng đối và
tuyệt đối.

Theo số liệu thống kê của UNDP, tính đến h ết năm 2000, toàn th ế gi ới có 48
nước bị xếp vào hàng ngũ những nước kém phát triển nhất, nghèo nhất. Theo số li ệu
thống kê của Liên Hợp Quốc tại thời điểm 1998, tình trạng nghèo đói của các n ước và
các khu vực khác nhau trên thế giới thể hiện nh sau: Khu vực Nam Phi và cận Xa – ha
– ra, còn 215 triệu người thuộc diện nghèo đói. Trong số các nước nghèo ở Châu Phi,
thì Ru – an – da hiện đang là nước nghèo nhất và cũng là nghèo nh ất th ế giới hi ện nay,
thu nhập GDP bình quân đầu người hàng năm chỉ đạt 80 USD, b ằng 1/5 m ức 1
USD/người/ngày, chuẩn nghèo cỷa WB và IMF. Tại các nước A – rập, hiện có khoảng
73 triệu người nghèo và trên 60 triệu người mù chữ. Tại Mỹ Latinh và Caribee có
khoảng 150 triệu người nghèo, trên dới 50% tài sản quốc dân. Khu vực Đông á cũng
còn khoảng 170 triệu người còn phải sống trong cảnh nghèo đói. Khu v ực Nam á, 560
triệu người không được sống trong những điều kiện vệ sinh cơ bản, 1/3 số trẻ sơ sinh
chưa đủ trọng lượng tối thiểu, 48 triệu trẻ em không được tới trờng.

Nghèo đói còn phân biệt giữa các giới, tỉ lệ người nghèo trong giới phụ nữ vẫn
trầm trọng hơn nam giới. Chẳng hạn: Phụ nữ chiếm 60% l ực lượng lao đ ộng trên th ế
giới nhưng họ chỉ được hởng 10% thu nhập và sử dụng chưa đầy 1% ruộng đất của
thế giới. 1/6 trong tổng số 6 tỷ người của thế giới hiện đang thiếu dinh d ỡng. Có từ

77
20 – 40% phụ nữ ở các nước đang phát triển không thể có chế độ ăn phù h ợp, 350
triệu phụ nữ không được hởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cần thiết, riêng khu vực
Nam á được đánh giá là nơi có sự phân hoá giàu nghèo chậm hơn cả, thì v ẫn còn tới
80% số phụ nữ mang thai thị thiếu máu. Số người thiếu dinh dỡng lêntới 841 triệu.

4.3. Phơng pháp đánh giá tình trạng nghèo khổ

Cách tiếp cận tơng đối thống nhất về đánh giá mức độ nghèo kh ổ là định ra m ột
tiêu chí hay một điều kiện chung nào đó, gọi là chuẩn nghèo. Trên cơ sở đó mà xác
định và phân biệt người nghèo hay không nghèo. Thế nhưng khi đi sâu vào tính toán
chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định rất khác nhau theo cả th ời gian l ẫn không gian.
Chẳng hạn ở Mỹ năm 1983 lấy chuẩn nghèo là 5024 USD/người/năm, trong khi đó
WB lại cho rằng bất kỳ ai thuộc thế giới thứ ba có thu nh ập d ới 370 USD/năm thì
được liệt vào diện nghèo đói.

4.3.1. Xây dựng chuẩn nghèo

* Phơng pháp xây dựng ngỡng nghèo của Ngân hàng thế giới

a) Ngân hàng thế giới (WB) chọn thước đo phúc lợi là mức chi tiêu bình quân đầu
người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở, giá trị hàng
hoá lâu bền.

b) Tính toán người nghèo hay chuẩn nghèo.

- Ngờng nghèo LTTP: là số tiền cần thiết để đáp ứng nhu c ầu l ơng thực. Xây
dựng ngỡng nghèo LTTP là xác định lượng thức ăn cần thiết cho nhu c ầu dinh d ỡng t-
ơng đơng 2100 calo/người/ngày. Tính số tiền để mua một rổ l ơng thực đủ cung cấp
2100 Kcalo.

- Người nghèo chung là bao gồm cả chi tiêu cho l ơng thực và sản phẩm phi lơng
thực. Dùng ngỡng nghèo LTTP vừa xác định ở trên để tính ngỡng nghèo chung.




78
Ngỡng nghèo chung = Ngờng nhèo LTTP + chi tiêu phi lơng thực


c) Phơng pháp tính giá trị phần phi lơng thực: Tính toán giá trị phần chi này ở Việt
Nam năm 1998, WB lấy mức chi tiêu cho sản phẩm phi l ơng thực năm 1993 nhân với
hệ số 1,225 tức là mức lạm phát lấy từ nguồn số liệu thống kê. Ng ỡng nghèo phi lơng
thực năm 1998 là 503.038 đồng (410.640 x 1,255). Ng ỡng nghèo chung năm 1998 là
1.789.871 đồng (503.308 + 1.286.833)/người/năm.

* Phơng pháp xây dựng ngỡng nghèo của Tổng cục Thống kê Việt Nam

Bước 1: Xác định rổ LTTP thiết yếu để duy trì năng lượng 2100 calo/người/ngày.
Dựa vào điều tra mức sống dân c băn 1993, lấy nhóm thu nhập thứ ba có mức tiêu
dùng với lượngKcalo khoảng 2100 calo. Rổ LTTP này gồm 12 nhóm hàng khác nhau
cho thành thị và nông thôn.

Bước 2: Tính giá trị rổ LTTP của 12 nhóm hàng. Kết quả tính toán.

- Thành thị: 64,45 ngàn đồng/người/tháng

- Nông thôn: 47,0 ngàn đồng/ người/tháng

Bước 3: Tính tỷ trọng chi phí của 12 nhóm hàng LTTP so với tổng mức chi tiêu
cho đời sống thấy rằng chi cho LTTP chiếm 92% t ổng mức chi tiêu. Chu ẩn nghèo
chung là chuẩn nghèo được đuều chỉnh bằng cách nhân trị giá rổ hàng LTTP v ới h ệ s ố
100/92 (1,086).

* Phơng pháp xây dựng ngỡng nghèo của Bộ lao động – Thơng binh và xã
hội

Bộ LĐTBXH xác định chuẩn mực nghèo đói là từ năm 1993 d ựa vào m ức thu
nhập:

+ Căn cứ nhu cầu năng lượng tốoi thiểu 2100 calo/ngày/người quy ra lượng gạo
và tính thành tiền để có thể mua được lượng gạo nói trên.

79
+ Từ cac cuộc điều tra năm 1990, 1991, 1992, 1993, Bộ LĐTBXH đ a ra tỷ lệ chi
cho ăn ở nông thôn là 80% và ở thành thị là 75% so với tổng chi tiêu. B ộ LĐTBXH xác
định chuẩn nghèo được hình thành bằng nhu cầu tối thiểu dành cho ăn nhân (x) v ới h ệ
số tổng chi/nhu cầu ăn (100/80 x 100/75).

Chuẩn nhèo dựa vào thu nhập của hô gia đình, áp dụng trước năm 2001 nh sau:

- Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ng ười trong m ột tháng quy ra g ạo
dới 13 kg tơng đơng 45.000 VNĐ (giá năm 1997 tính cho mọi vùng)

- Hộ nghèo: là hộ có mức thu nhập tuỳ theo từng vùng:

+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo dới 15 kg (tơng đơng 55.000 VNĐ)

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du dới 20 kg (tơng đơng 70.000 VNĐ)

+ Vùng thành thị dới 25 kg (tơng đơng 90.000 VNĐ/người/tháng)

Chuẩn nghèo dựa vào thu nhu nhập của hộ gia đình, áp dụng từ năm 2001 nh sau:

Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo từng vùng:

+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo dới 80.000 VNĐ

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du dới 100.000 VNĐ

+ Vùng thành thị dới 150.000 VNĐ

4.3.2. Tiến trình xac định hộ nghèo

Bộ Lao động Thơng binh và xã hội quy định thực hiện nh sau:

Bước 1: Phổ biến hướng dẫn chuẩn nghèo theo ph ơng pháp kết hợp hộ tự kê khai
và rà soát của ban xoá đói giảm nghèo (XĐGN). Tiến hành t ập hu ấn, h ướng d ẫn bi ểu
mẫu cho cán bộ địa phơng và cho các hộ.

Bước 2: Thôn, bản tổ chức điều tra, khảo sát lên danh sách các hộ nghèo đói, tổ
chức rà soát lại việc kê khai của hộ, đa ra hội nghị thảo luận, lập sổ hộ nghèo đói.



80
Bước 3: Ban XĐGN xã, phờng kiểm tra xác định lại lần cuối để báo cáo lên
UBND huyện. Huyện tổng hợp báo cáo lên Sở LĐTBXH. Bộ LĐTBXH tổng hợp các
báo cáo của các sở để trình Chính phủ.

Các địa phơng có thể xác định ngỡng nhgèo riêng cho tỉnh mình với 3 điều kiện:

- Thu nhập bình quân đầu người của địa phơng đó cao hơn cả nước.

- Có tỷ lệ hộ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quân cả nước.

- Có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp XĐGN ở địa phơng.

4.3.3. Phân loại hộ đa vào cộng đồng

Phơng pháp này được áp dụng rất rộng rãi trong các chơng trình và dự án nghiên
cứu về nông thôn. Phơng pháp này đòi hỏi sự tham gia của người dân và áp dụng ph -
ơng pháp so sánh để phân loại hộ. Vì rất có hiệu quả cho xác đ ịnh nhóm m ục tiêu
trong các chơng trình hay dự án có u tiên xoá đói giảm nhèo.

- Người tham gia thờng là 2 cán bộ và 8 – 15 cốt cán là người am hiểu trong c ộng
đồng.

- Công cụ chuẩn bị gồm bảng và các bìa cắt nhỏ để ghi tên hộ trong cộng đồng.

Các bước thực hiện nh sau

1. Thảo luận về mục tiêu, chỉ tiêu phân loại và hộ và thốn g nhất qui trình phân
loại.

2. Ghi tên hộ lên bìa đỏ, mỗi tên hộ trên một miếng bìa.

3. Phân loại sơ lược các miếng bìa có tên theo nhóm khác nhau.

4. Nhóm cùng thảo luận và di chuyển, thay đỏi vị trí các miếng bìa đến khi nào h ọ
thoả mãn và thống nhất về số nhóm cũng nh tên các hộ trong từng nhóm.

5. Thảo luận để tìm hiểu sự khác biệt quan trọng nhất giữa các nhóm và gi ữa các
nhóm là gì.


81
6. Các thảo luận về nguyên nhân nghèo, giải pháp cho từng nhóm hoặc các hoạt
động dự án cho các nhóm cụ thể.

4.4. Đặc điểm của người nghèo và nghiên cứu xoá đói giảm nghèo.

4.4.1. Đặc điểm nhân khẩu học.

Người nghèo phổ biến thuộn những hộ có quy mô gia đình lớn, nh ưng ch ỉ 1-2 th ế
hệ trong gia đình, mỗi hộ có rất nhiều con và tuổi còn nh ỏ. Tình tr ạng các c ặp v ợ
chồng trẻ hoặc đang tuổi sinh đẻ ở các hộ nghèo lại không th ực hiện đ ược k ế ho ạch
giá gia đình, trong lúc sản xuất của gia đình rất kém phát triển.

Nhân khẩu bình quân 1 hộ theo nhóm chi tiêu. Đơn vị tính: người/hộ.



Nhóm hộ (theo mc chi tiêu)
Chung
1-nghèo 2 3 4 5 -giàu
Cả nước 4,7 5,6 5,1 4,6 4,3 4,1
Khu vực: - Thành thị 4,4 5,7 5,4 4,8 4,6 4,1
- Nông thôn 4,8 5,6 5,1 4,6 4,3 4,0
- Miền núi phía bắc 4,9 5,8 5,2 4,6 4,1 3,7
- Đồng bằng sông Hồng 4,0 4,5 4,4 4,0 3,9 3,7
- Bắc Trung bộ 4,7 5,6 4,9 4,5 4,0 3,8
- Duyên hải miền Trung 4,9 5,6 5,5 4,9 4,6 4,3
- Tây Nguyên 5,7 6,4 5,6 5,4 5,3 4,5
- Đông Nam bộ 4,8 6,1 5,2 5,3 5,4 4,5
- Sông Cửu Long 5,0 6,2 5,9 5,1 4,4 3,8
Nguồn: TCTK: VLSS 1998

Hộ nghèo số nhân khẩu bình quân thờng cao hơn hộ giàu từ 1,5 người trở lên,
nhân khẩu bình quân/hộ vùng nông thôn thờng cao hơn thành thị, cao nhất là đông bằng
sông Cửu Long: hộ nghèo nhiều hơn hộ giàu tới 2,4 người. Vùng núi phía bắc là 2,1



82
người. Tây nguyên là 1,9 người, Băc Trung bộ là 1,8 người. Tình trạng phổ biến của
cả nước là các hộ đã thuộc diện nghèo đói lại thờng có nhiều trẻ em, thiếu lao động.

Số liệu của các cuộc điều tra mức sống dân c của Tổng cục thống kê cho thấy
rằng tỷ lệ trẻ em trên mỗi trờng lao động ở nhóm hộ nghèo cao nhất và tỷ lệ này giảm
dần khi nhóm mức chi tiêu bình quân đầu người tăng dần. Tóm lại, nhi ều con và sinh
con quá dày là bạn động hành của tình trạng nghèo đói.

Số trẻ em dới 15 tuổi theo hộ gia đình . Đơn vị tính: trẻ em/1 lao động.

Nhóm hộ
1 (nghèo nhất) 2 3 4 5 (giàu nhất)
Chung 2,8 2,2 1,7 1,4 1,2
Nông thôn 2,8 2,2 1,8 1,4 1,3
Thành thị 2,7 2,9 1,6 1,3 1,1
Nguồn: Việt Nam – Tấn công nghèo đói. WB ước tính trên số liệu của VLSS 98

4.4.2. Đặc điểm về trình độ văn hoá

Trong nhóm hộ nghèo (nhóm 1), số người chưa bao giờ đến trờng học chiếm tỷ
lệ cao nhấ, trong số chưa tốt nghiệp cấp 1 một số người do cuộc sống khó khăn nên
phải bỏ dở không tốt nghiệp được cấp 1, đáng chú ý là trình đ ộ t ừ c ấp III tr ở lên
chiếm tỷ lệ rất ít. Người nghèo th ờng không được đào tạo nghề nghiệp. Đây là điều
đáng lo ngại nhất đối với người nghèo và là mối quan tâm của toàn xã hội.

Trình độ học vấn của các hộ Đơn vị: (%).



Nhóm hộ (theo mc chi tiêu)
Chung
1-nghèo 2 3 4 5 -giàu
Chung 100 19,98 20,00 20,01 20,01 20,00
- Chưa bao giờ đến trờng 100 39,86 19,99 16,19 15,01 8,94
- Chưa tốt nghiệp cấp I 100 23,33 23,03 21,14 19,38 13,13


83
- Tốt nghiệp cấp I 100 21,37 21,24 19,75 16,63 18,11
- Tốt nghiệp cấp II 100 17,63 20,96 23,57 20,87 16,97
- Tốt nghiệp cấp II 100 10,54 13,03 20,33 19,55 36,55
- Nghề cơ sở 100 10,13 15,86 19,32 25,23 29,54
- Trung học chuyên nghiệp 100 6,98 14,31 15,41 23,60 39,69
- Đại học và cao đẳng 100 1,45 4,57 3,59 20,24 70,15
Nguồn: TCTK: VLSS, 1998

Nh vậy, tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ học vấn tăng lên và g ần 90% ng ười
nghèo có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn. Tỷ lệ chưa hoàn thành ch ơng trình
giáo dục tiểu học ở nhóm hộ nghèo cao nhất (57%), ng ợc lạo tỷ lệ tốt nghiệp đại học
thuộc diện hộ nghèo đói chỉ chiếm 4%. Theo kết quả điều tra này, nhóm h ộ nghèo có
tới 24,3% chưa biết chữ, trên 53% chỉ có trình độ học vấn cấp I. Trong lúc đó, nhóm
hộ giàu phần lớn đạt trình độ học vấn cấp II, cấp III. Các h ộ nghèo không có đi ều
kiện học tập văn hoá, các con em họ không có nhiều cơ h ội đ ến tr ờng, nhất là con em
vùng dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

4.4.3. Đặc điểm về tài sản, nhà ở, đời sống tinh thần

Mức độ chênh lệch giữa hộ nghèo với hộ giàu, không những chỉ biểu hiện ở thu
nhập hay chi tiêu, mà còn thấy ở sự gia tăng khá nhanh khoảng cách về mức độ mua
sắm tài sản, phơng tiện phục vụ sản xuất và đời sống tinh thần, đa số các hộ nghèo và
người nghèo vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Kết quả điều tra năm 1993 của B ộ Nông
nghiệp và CNTP về tình trạng giàu nghèo trong nông thôn cho th ấy: Nhà ở c ủa h ộ
nghèo còn đơn sơ: mới chỉ có 15,7% số hộ có nhà ngói, 72% còn ở nhà tranh vách đ ất,
11,7% số hộ ở lều tạm. Đồ dùng sinh hoạt trong gia đình còn quá thiết th ốn, bình quân
mỗi hộ có 1 chiếc giờng gỗ hoặc tre, 0,3 chiếc xe đạp. Tại thời điểm này, các h ộ
nghèo trong số các hộ điều tra không có tivi, xe máy. V ề t liệu sản xuất, bình quân 10
hộ mới có 1 con trâu hoặc bò, ngay cả cày, bừa bằng gỗ cũng còn thiếu thốn.



84
Trong lúc đó, các hộ giàu đã có tích luỹ khá, đã mua sắm đ ược nhi ều lo ại máy
móc phục vụ sản xuất kinh doanh, ph ơng tiện sinh hoạt. Đã có 16,1% số hộ giàu có
nhà mái bằng hoặc từ 2 tầng trở lênl 77% số h ộ có nhà ngói, ch ỉ còn 6,9% ở nhà tranh.
Số hộ có tivi các loại là 47%, trong đó 16,8% số hộ có tivi màu, 79% số hộ có radio các
loại, 87,8% số hộ có xe đạp. Kết quả điều tra năm 1998 cũng cho th ấy nhóm nghèo đã
có cải thiện về mặt nhà ở rất đáng kể so với năm 1993, nhưng tỷ lệ hộ nghèo chủ yếu
ở nhà bán kiên cố, nhà tạm vẫn còn cao (33,51% nhà t ạm và 17,75% nhà bán kiên c ố).
Tuyệt đạu các hộ ở nông thôn hiện còn ở nhà bán kiên cố, nhà tạm.

4.4.4. Người nghèo thờng rất dễ bị tổn thơng

Nguy cơ dễ bị tổn thơng của người nghèo thể hiện ở chỗ, những khó khăn, đột
biến, rủi ro ập đến với gia đình, những cuộc khủng hoảng xảy ra với cộng đồng… th -
ờng gây thiệt hại lớn nhất trong số những người nghèo đói, đó là nét đặc tr ng rất cơ
bản của các xã hội khác nhau. Những hộ gia đình nghèo ch ỉ có kh ả năng trang tr ải
được với mức hạn chế, tối thiểu các chi phí l ơng thực và phi lơng thực thiết yếu khác,
họ rất dễ bị tổn thơng trước mọi biến cố xảy ra, họ thờng phải bỏ thêm chi phí không
đáng có hoặc bị giảm thu nhập vì khó tiếp cận các c ơ h ội c ủa tăng tr ờng kinh tế. Đối
với hộ nghèo, nếu có một thành viên trong gia đình b ị ôm đau, thì đó là m ột s ự c ố
nghiêm trọng có thể làm đảo lộn cuộc sống và sinh hoạt của gia đình và phải đến hàng
năm sau mới có thể phục hồi. Và nếu trong cùng một th ời gian có vài s ự vi ệc nghiêm
trọng xảy ra liên tiếp thì sự suy sụp đến cùng kiệt là đều khó tránh kh ỏi đ ối với ng ười
nghèo

Cơ cấu tiêu dùng chia theo nhóm hộ Đơn vị tính: (%)



Nhóm hộ
Chung
1-nghèo 2 3 4 5 -giàu
Chi đời sống 100 100 100 100 100 100
- Chi ăn uống 52,95 70,69 65,64 61,67 56,11 43,54

85
+ Lơng thực 15,30 35,37 26,84 21,72 16,05 7,57
+ Thực phẩm 24,93 26,28 28,97 29,45 27,96 21,19
+ Chất đốt 3,77 4,11 4,08 4,02 3,89 3,52
+ Ăn uống ngoài gia đình 5,19 0,70 1,86 2,74 4,48 7,65
+ Uống và hút 3,76 4,23 3,89 3,84 3,74 3,64
- Chi không phải ăn uống 47,05 29,31 34,36 38,33 43,91 56,45
+ May mặc 4,34 5,79 5,71 5,38 4,76 3,34
+ở 7,51 4,00 4,62 5,29 6,44 9,81
+ Đồ dùng lâu bền 12,10 4,08 6,26 8,79 10,84 16,47
+ Y tế 5,22 4,64 5,21 5,45 5,71 5,01
+ Giao thông bu điện 1,26 0,48 0,65 0,77 0,94 1,79
+ Giáo dục 6,37 3,22 3,95 4,52 5,53 8,29
+ Văn hoá thể thao 0,65 0,08 0,10 0,17 0,37 1,12
+ Khác 9,54 7,03 7,87 8,77 9,32 10,61
Nguồn: TCTK: VLSS, 1998

Những số liệu điều tra về mức sống cho thấy, ngoài chi cho ăn uống (70%) các
hộ nghèo cũng phải dành một số khoản khá lớn (về tỷ trọng trong ngân qu ỹ gia đình)
cho việc chưa bệnh và giáo dục (đóng tiền học phí, xây dựng tr ờng học cho con cái
…). Các khoản chi tiêu cho việc đi lại, văn hoá, th ể thao chi ếm t ỷ l ệ ít nh ất trong các
khoản chi tiêu của gia đình và trong các hộ phân theo thu nhập. Một ngh ịch lý là s ố
người nghèo tự chữa bệnh chiếm tỷ lệ khá lớn do không đủ ti ền ch ạy ch ữa, ho ặc
thiên về các liệu pháp rẻ tiền. Theo báo cáo của ngân hàng th ế gi ới (tháng 1/1995),
người nghèo điều trị ở các cơ sở y tế công cộng chiếm tỷ lệ ít nhatá 11,5% so v ới con
số đó của người giàu là 19,5%. Tỷ lệ bác sĩ chăm sóc đối v ới ng ười b ệnh thu ộc nhóm
nghèo chỉ có 3,7%, trong khi đó tỷ lệ này của người giàu là 18,2%.

Một nét đặc trng khác nữa là mặc dù thu nhập th ấp, nhưng người nghèo cũng
phải trang trải các khoản chi cần thiết cho đời sống. Sinh hoạt tuy khiêm t ốn nh ưng
mục nào, khoản nào cũng phải có. Ngoài ra người nghèo cung phải chi phí các khoản

86
đóng góp khác, nh: an ninh địa phơng, khắc phục bão lụt, quốc phòng, xây dựng tr ờng
học .v.v.. Qua đây, chúng ta thấy rằng, đời sống của người nông thôn ở nước ta chủ
yếu còn dựa vào sản xuất nông nghiệp, do đó h ọ ph ụ thuộc rất nhi ều vào thiên nhiên.
Thiên tai, đặc biệt là hạn hán kéo dài, lũ lụt … sẽ ảnh h ởng trực tiếp đến đời sống
của đông đảo nông dân, giảm tốc độ phát triển kinh tế của đất nước. Giá c ả hàng hoá
và các dịch vụ khác, theo đó, cũng tăng lên cao càng gây thêm nhiều khó khăn cho đời
sống của mọi người, đặc biệt là người nghèo.

Thu nhập thấp => ăn uống không đầy đủ => sức khoẻ kém => năng su ất lao đ ộng
thấp => làm không đủ ăn => thiếu đói => vay mi ựn n ợ n ần nhi ều nên thu nh ập l ại
thấp … đó là cái vòng luẩn quẩn của người nghèo

Có một nghịch lý là: vốn ngân hàng cho người nghèo vay còn nhiều, nhu cầu vay
vốn của các hộ nghèo đói lại lớn, mà các hộ nghèo vẫn phải đi vay m ợn t nhân, chịu
cảnh vay nặng lãi. Thực tế nhu cầu vay vốn th ờng có tính chất đột xuất trong số các
hộ nghèo và nhu cầu phi sản xuất th ờng không phù hợp với cơ chế vay của ngân hàng
hiện nay, đây là một bất cập về cơ chế vay vốn và là một thực t ế nghi ệt ngã trong
cuộc sống của người ngheò đói. Không ít hộ đã phải bán lúa non để lo lót các khoản
chi tiêu không thể chối từ trong gia đình.. đang dồn họ vào thế bị: đã nghèo lại nghèo
thêm. Số liệu dới đây phản ánh phần nào nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo và mức
độ đáp ứng trên thực tế.

4.4.5. Nghèo đói là kết quả của nhiều yếu tố

Đã có nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu xác định yếu tố nghèo đói, trong đó có cuộc
điều tra của Bộ Nông nghiệp (Bộ NN – PTNN) năm 1993, tại 17 t ỉnh thuộc 7 vùng
trong cả nước đã xác định có 9 yếu tố dẫn đến nghèo đói, đó là: Đông con, Thiếu lao
động; Thiếu ruộng đất sản xuất; Thiếu vốn; Rủi ro tai nạn; Không có kinh nghi ệm
làm ăn; Chi tiêu không có kế hoạch; Bệnh tật ốm đau; Không có nghề gì khác ngoài
nông nghiệp và yếu tố khác. Trong đó, số hộ rơi vào cảnh nghèo đói do từ 3 – 5 yếu tố
chiếm tỷ lệ cao nhất.

87
Trên thực tế cũng khó xác định được đâu là yếu tố đầu tiên gây ra tình trạng
nghèo đói. Nguyên nhân và hậu quả của nghèo đói thề hiện rất đa dạng, muôn hình
muôn vẻ trong cuộc sống hiện tại. Tuy nhiên, cách tiếp cận hợp lý hơn cả để có th ể
nhìn nhận nghèo đói là do nhiều yếu tố gây ra, bắt nguồn từ kinh tế cả ở tầm vĩ mô và
vi mô. Kinh tế kém phát triển, tăng tr ởng chậm, sẽ không có cơ hội việc làm cho
người nghèo để tăng thu nhập. Tăng trởng không cao, năng suất lao động thấp, ngân
sách hạn chế, thì việc đảm bảo cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã h ội, đ ặc bi ệt là giáo
dục tiểu học, y tế cơ sở cho người nghèo cũng sẽ rất khó khăn …

Theo tác giả Robert Chưamber, những bất lợi của người nghèo gồm 5 yếu tố
chính, đó là: nghèo nàn, yếu kém về thể chất, dễ bị t ổn th ơng, bị cô lập và vô quyền.
Quả vậy, có thể coi những vấn đề này là bức tranh khá tổng hợp về hộ gia đình
nghèo. Các yếu tố dẫn đến đói nghèo có liên quan chặt ch ẽ với nhau. B ản thân “nghèo
nàn” lại là nhân tố dẫn dến các nhân tố khác. Nghèo nàn góp ph ần vào s ự y ếu kém v ề
thể chất do ăn uống thiếu thốn, dáng người nhỏ bé, suy dinh d ỡng dẫn tới ít có khả
năng miễn dịch với các bệnh lây lan và không có khả năng ti ếp c ận ho ặc tr ả ti ền cho
các dịch vụ y tế, nó góp phần làm cho tình trạng người nghèo bị cô lập với các dịch vụ
xã hội cơ bản vì không có khả năng nộp tiền học phí, viện phí, thiếu thông tin, thi ếu
phơng tiện đi lại để tìm kiếm việc làm hoặc để sống gần trung tâm thôn xã ho ặc g ần
đờng cái, nó làm cho tình trạng dễ bị tổn th ơng càng trầm trọng hơn do không đủ khả
năng chi trả những khoản tốn kém những rủi ro bất th ờng và làm cho tình trạng vô
quyền càng tồi tệ hơn vì của cải ít ỏi cùng với địa vị th ấp, người nghèo không có
tiếng nói.

4.5. Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

Thực hiện đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp, hộ nông dân đ ược xác đ ịnh
là đơn vị kinh tế tự chủ, cùng với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô cởi mở, thông thoáng,
nh: chính sách đầu t phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp kinh tế
nông thôn, chính sách cho vay trực tiếp tới hộ nông dân với nhiều kênh chuy ển vốn;

88
chính sách thị trờng, giá cả, tỷ giá xuất nhập khẩu và bảo hộ sản xuất; chính sách
khuyến nông, chuyển giao công nghệ … đã tạo động l ực m ạnh m ẽ thúc đ ẩy nên kinh
tế phát triển. Kinh tế tăng trởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)
bình quân hàng năm trong suốt miơì năm 1991 – 2000 là 7,2%. Thành tựu nổi bật là sản
lượng lơng thực tăng liên tục và ổn định, trung bình 4,8% năm, từ 21,5 triệu tấn năm
1989 tăng lên 35,6 triệu tấn năm 2000. Hơn thế nữa, nước ta từ chỗ hàng năm ph ải
nhập khẩu trên dới 1 triệu tấn lơng thực để cứu đói, nay đã đứng hàng thứ hai trên thế
giới về xuất khẩu gạo.

Để thực hiện xoá đói giảm nghèo, Chính phủ đã đ a ra nhiều chơng trình mục tiêu,
chính sách lớn để hỗ trợ phát triển kinh tế, trợ giúp người nghèo, nh chơng trình mục
tiêu quốc gia về việc làm (Quyết định 126/1998/QĐ-TTg, 1998).

Chơng trình 327 về phủ xanh đất trống, đòi núi trọc (Quyết định số 327/CT của
Chủ tịch Hội đồng Bộ trờng, ngày 15/9/1992), sau này phát triển lên và được thay th ế
bằng Dự án trồng 5 triệu héc ta rừng và niều chính sách quan tr ọng khác. Đ ặc bi ệt
tháng 7 năm 1998 Chính phủ đã phê duyệt Ch ơng trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm
nghèo giai đoạn 1998 – 2000 (Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg, ngày 23/7/1998) với 9
nội dung: (1) Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; (2) Hỗ trợ đồng bào dân tộc
đặc biệt khó khăn ; (3) Định canh, định c , di dân kinh tế mới; (4) Hướng dẫn người
nghèo cách làm ăn; (5) Hỗ trợ tín dụng; (6) Y tế cho người nghèo; (7) Giáo d ục cho
người nghèo; (8) Hỗ trợ phát triển sản xuất, ngành nghề; và (9) Đào tạo cán bộ làm
xoá đói giảm nghèo, cán bộ chính quyền các xã nghèo.

Tiếp đó, Chính phủ đã phê duyệt ch ơng trình phát triển kinh tế – xã hội các xã
đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa (Quyết định số 135/1998/QĐ- TTg, ngày
31/07/1998), theo đó, Chính phủ sẽ tập trung đầu t cho 1715 xã đặc biệt khó khăn
(gồm 1658 xã miền núi, 147 xã vùng đồng bằng sông C ửu Long, thu ộc 267 huy ện c ủa
46/61 tỉnh, thành phố trong cả nước. Có 2 mục tiêu là (a) Đầu t xây dựng cơ bản và (b)
Đầu t phát triển sản xuất.

89
Ngày 26/03/2001 Thủ tớng Chính phủ lại có Quyết định số 42/2001/QĐ-TTg về
việc bổ sung các xã đặc biệt khó khăn của Chơng trình 135. Theo quyết định này, cả
nước bổ sung thêm 447 xã thuộc 192 huyện của 33 tỉnh thành phố trực thuộc Trung -
ơng vào diện xã đặc biệt khó khăn và được h ởng các chính sách dành cho Chơng trình
từ kế hoạch năm 2001. Đa tổng số xã đặc biệt khó khăn của các nước lên 2162 xã.

Phân bố nghèo theo các vùng ở Việt Nam các năm 1993 – 1998

Nghèo ở các vùng so Tỷ lệ dân c Dân số triệu
với cả nước (%) (%) người
1993 1998 1998 1998
- Miền núi phía Bắc 21 28 18 13,5
- Đồng bẳng sông Hồng 23 15 20 14,9
- Bắc Trung bộ 16 18 14 10,5
- Duyên hải miền Trung 10 10 11 8,1
- Tây Nguyên 4 5 4 2,8
- Đông Nam bộ 7 3 13 9,7
- Đồng bằng sông Cửu 18 21 21 16,3
Long
Cả nước 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Việt Nam – Tấn công nghèo đói, Báo cáo phát triển của Vi ệt Na m,
12/1999.

Thách thức trong xoá đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay

1. Trong tiến trình hội nhập, nền kinh tế Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trên
thị trờng quốc tế, trong khi chất lượng sản phẩm còn thấp.

2. Đất sản xuất nông nghiệp bị hạn chế, trong khi ti ến trình đô th ị hoá đang ngày
càng tăng. Lao động thiếu việc làm ngày càng tăng, thời gian nông nhàn còn lớn, chiếm
30 – 40% quỹ thời gian lao động nông thôn, trong khi đó tỷ lệ lao động qua đào tạo còn
thấp.


90
3. Xu hướng gia tăng chênh lệch về mức sống giữa thành th ị, nông thôn, gi ữa các
vùng vẫn còn lớn, đòi hỏi phải kết hợp hài hoà phát tri ển gi ữa các vùng đ ể có t ốc đ ộ
phát triển cao, vừa hỗ trợ đầu t nhiều hơn cho các vùng còn nhiều khó khăn.

4. Nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, lại vừa phải đầu t lớn cho phát triển knh
tế, vừa đầu t cho xoá đói giảm nghèo, trong khí đó việc khai thác các ngu ồn l ực ch ưa
được nhiều và chưa có hiệu quả

5. Người nghèo còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và h ởng thị các dịch
vụ xã hội cơ bản và lợi ích của tăng trởng kinh tế đem lại.

6. Nhận thức về trách nhiệm đối với công tác xoá đói giảm nghèo ở một số bộ,
ngành, địa phơng cơ sở thiếu nhất quán nên điều tra, phối – kết hợp còn lúng túng,
chậm chạp.

7. Công tác điều tra, khảo sát để nắm chắc số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã
nghèo, xây dựng kế hoạch còn nhiều bất cập, chưa được đầu t nguồn lực đúng mức
để thực hiện.

8. Vai trò quản lý của cán bộ xã, vai trò hỗ trợ, t vấn của các tổ chức đoàn thể xã
hội trong việc thông hiểu các thủ tục giải ngân từ các nguồn vốn c ủa Ngân hàng ph ục
vụ người nghèo rất mờ nhạt.




91
CHƠNG 5: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


Để tạo được các chuyển biến xã hội nông thôn giúp đem lại cải thiện đời sống
vật chất tinh thần và thực hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo, PTCĐ nông thôn áp
dụng các phơng pháp PTNT nói chung và lấy con người làm trung tâm. Các ph ơng
pháp sau đã được áp dụng rộng rãi xuất phát từ các đặc đi ểm v ề sinh k ế và kinh t ế xã
hội của cộng đồng. Trên thực tế các ph ơng pháp này thờng kết hợp với nhau trong các
chơng trình PTNT.

5.1. Phát triển nông thôn

Do nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của các động đồng nông thôn nên phát
triển nông nghiệp là phơng thức có hiệu quả và tạo điều kiện cho nhiều người h ởng
lợi nhất vì phần lớn dân c nông thôn đều tham gia sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra đây
còn là phơng thức để phát huy và khai thác nguồn lực con người trong nông thôn. Phát
triển nông nghiệp chính là tạo cơ hội để người nông dân sử dụng và phát triển kiến
thức và kỹ năng tại chỗ của họ. Phát triển nông nghiệp là ph ơngthức trực tiếp cung
cấp việc làm và tạo thu nhập cho cộng đồng nông thôn làm cơ s ở ổn đ ịnh đ ời s ống xã
hội và các ngành sản xuất khác.

Phát triển nông nghiệp trong các chợng trình PTNT không phải là u tiên giải
quyết các vấn đề về công nghệ nh trồng trọt, chăn nuôi .. Ph ơng pháp này phải hỗ trợ
và thúc đẩy các chuyển biến xã hội trong cộng đồng nh ằm thực hiện đ ọc các mục tiêu
phát triển cộng đồng nông thôn và u tiên xoá đói giảm nghèo. Các vấn đề chính cho
phát triển nông nghiệp trong các chơng trình phát triển nông thôn là: (1) tạo lập sự tự
chủ thông qua huy động nội lực và cải thiện hợp tác, hoạt động t ập th ể trong c ộng
đồng; (2) tăng khả năng phát triển bền vững nhờ xem xét tổng hợp các y ếu tố năng
suất; hiệu quả, xã hội và môi tr ờng; và (3) tăng bình đẳng về cung cấp cơ h ội sinh kế




92
và các dịch vụ xã hội nhờ việc lựa chọn các loaị hình công nghệ phù hợp và sử dụng
được kiến thức bản địa.

Đánh giá phát triển nông nghiệp trong các ch ơng trình PTNT không chỉ xem xét
năng lực sản xuất và hiệu quả của một giải pháp công nghệ cụ thể hoặc trên một đơn
vị tài nguyên hay vật đầu vào (ví dụ: năng suất lúa/ha hay tăngg 30% năng su ất do bón
phân) mà còn đánh giá năng lực sản xuất và hiệu quả của các nhóm cộng đồng khác
nhau (ví dụ: sản lượng hay thu nhập từ lúa/khẩu hoặc của một hộ nghèo). Tác động
nhiều mặt của quá trình sản xuất nông nghiệp cũng được xem xét nh tác động xã hội
(ai hởng lợi, ai bị hại); tác động môi tr ờng (thâm cnh dần đến tác hại gì ?); vấn đề
làm, công bằng, mâu thuẫn và cơ hội sinh kế đã được giải quy ết th ế nào trong quá
trình sản xuất nông nghiệp đó.

5.2. Tạo việc làm

Thiếu việc làm đang xảy ra thờng xuyên ở các vùng nông thôn. Hiện tợng lao
động nông thôn di chuyển đến các thành phố lớn để kiếm việc làm gây nên nhi ều v ấn
đề xã hội. Thiếu việc làm cũng dẫn đến thực trạng thu nh ập th ấp, không có kh ả năng
chi trả cho học hành, khám chữa bệnh và các nhu cầu thiết yếu khác. Vi ệc làm cho
người nghèo trong các cộng đồng nông thôn xem xét các đặc thù chính sau đây:

- Lực lượng lao động dồi dào nhưng trình độ văn hoá cũng nh tay nghề rất thấp.
Vì vậy các giải pháp tạo việc làm cần có đầu t đào tạo nghề phù hợp, đồng thời loại
hình công nghệ áp dụng cũng cần phù hợp với lao động kỹ năng th ấp. Qui mô t ổ ch ức
nhỏ và đa dạng.

- Lao động có thời vụ là đặc điểm lao động gắn với đặc thù s ản xuất nông
nghiệp trong các cộng đồng nông thôn. Trong khi chưa tạo được việ làm ổn định thì
tạo việc làm ở nông thôn cần xem xét các khả năng làm giảm căng thẳng về thời vụ
trong các hoạt động tạo việc làm cũng nh trong các hoạt động sản xuất và sinh kế
khác.


93
Đa dạng hoá các hoạt động tạo việc làm trong các ngành s ản xu ất khác nhau (k ể
cả phát triển kinh tế hộ) và đa dạng hoá hình thứcvà qui mô tổ chức tạo việc làm là
hướng đi quan trọng. Việc phục hồi các làng nghề truyền thống, hỗ trợ tiếp thị và hợp
tác giữa các thành viên cộng động ngày càng được chú ý trong t ạo vi ệc làm cho ng ười
nghèo ở nông thôn. Vai trò t nhân và các hình thức tổ chức kinh doanh, cung ứng dịch
vụ linh hoạt theo kiểu gia công cũng cần được đánh giá và khai thác.

5.3. Đáp ứng các nhu cầu cơ bản

Phơng pháp này là xác định và xây dựng các hình thức tổ ch ức đáp ứng m ột cách
nhanh nhất các nhu cầu cơ bản của người dân trong cộng đồng với một chi phí th ấp,
ví dụ nh cung cấp dịnh dỡng hợp lý, nhu cầu nước sạch, vệ sinh môi tr ờng, chăm sóc
sức khoẻ tại chỗ, giáo dục người lớn … Việc đáp ứng các nhu cầu này ở nông thôn th -
ờng bị trở ngại do nhiều yếu tố khác nhau. Ngoài vấn đề thu nh ập m ức s ống th ấp, thì
hình thức tổ chức cung ứng, chi phí giá thành, duy tu sửa chữa các công trình dịch vụ
và tói quen tập quán của cộng đồng cũng cần được xem xét. Trong th ực t ế các ch ơng
trình phát triển nông thôn đã có chú trọng đầu t xây dựng và cải thiện kết cấu hạ tầng
cơ sở. Các hoạt động này cung cấp cơ hội và điều kiện t ốt đ ể giải quy ết các nhu c ầu
cơ bản ở cộng đồng. Tuy nhiên chỉ cải thiện các điều ki ện v ề c ơ s ở thì hi ệu qu ả đáp
ứng các nhu cầu cơ bản sẽ rất thấp vì mối quan hệ trong các tr ờng hợp này là người
kinh doanh và người sử dụng. Cộng đồng không có vai trò cần thi ết trong các hoạt
động này.

Chính vì vậy các hoạt động xây dựng và phát triển cộng đồng trong các ch ơng
trình phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn đang được chú trọng. Đó là các ho ạt đ ộng
giáo dục cộng đồng tăng cờng trình độ dân trí và ý thức trong quản lý và s ử dụng các
công trình phúc lợi công cộng. Các hình thức tổ ch ức cộng đồng trong tham gia l ựa
chọn, xây dựng, sử dụng, quản lý và đóng góp duy t sửa chữa các công trình phúc lợi
công cộng đã tỏ ra có nhiều kết quả tốt. Cùng với giáo dục cộng đ ồng và t ổ ch ức
cộng đồng, việc xây dựng và thực hiện các quy định quy chế về quản lý và sử dụng

94
các công trình công cộng đã tạo ra chuyển biến xã h ội rõ nét trong c ộng đồng. Các
chuyển biến này giúp cải thiện và duy trì hiệu quả sử dụng các công trình công c ộng
và làm tăng chất lượng cuộc sống.

Ngoài các hoạt động và xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, ph ơng pháp này còn hỗ
trợ cộng đồng xác định và nhận thức các nhu cầu cơ bản khác và xây d ựng gi ải pháp
giải quyết tại chỗ, ví dụ giải quyết suy dinh d ỡng trẻ em, xoá mù chữ hoặc giáo dục
sinh sản … Khả năng nhận thức nhu cầu cơ bản và phù h ợp c ủa c ộng đ ồng cũng c ần
được cải thiện.

5.4. Phát triển nông thôn tổng hợp

Đó là chơng trình phát triển có nhiều hoạt động lồng ghép để bổ sung và hỗ trợ
nhau dựa trên việc giải quyết các vấn đề nhiều mặt ở nông thôn. các khía cạnh khác
nhau cần phải được xem xét khi thiết kế xây dựng các ch ơng trình và hoạt động. Phát
triển tổng hợp là để đảm bảo phát triển hài hoà cân đối các mặt kinh tế, xã hội, b ảo
vệ tài nguyên và môi trờng. Thông thờng khi mở rộng một hoạt động sản xuất, cùng
với tăng năng lực sản xuất và thu nhập thì tác động có h ại đ ến môi tr ờng cũng có thể
xảy ra.Một số vấn đề xã hội mới cũng có thể nảy sinh, ví dụ nh tăng cạnh tranh và
mâu thuẫn giữa các nhóm trong cộng đồng và tăng khoảng cách m ức sống giữa các
nhóm.

Phát triển tổng hợp không đơn thuần là thực hiện đồng th ời nhi ều ho ạt đ ộng.
Điểm quan trọng là làm sao để các hoạt động đó có thể phối hợp và h ỗ trợ nhau làm
tăng hiệu quả hoạt động và đecasm lại kết quả cao nhất cho c ộng đ ồng. Đó có th ể là
các hoạt động liền nhau, nối kết nhau, lồng ghép hoặc được th ực hiện song song với
nhau. Các dự án tín dụng phát triển tổng hợp có thể coi là một ví d ụ v ề hoạt đ ộng
tổng hợp. Việc đào tạo về kỹ thuật, tổ chức nhóm hoạt động tín dụng cùng với hỗ trợ
về tài chính và kiện toàn các qui chế hoạt động sản xuất mới có tác động đồng th ời
đến các khía cạnh sinh kế khác nhau trong cộng đồng, đó là: vốn tài chính, v ốn xã h ội,
vốn con người. Các cải tiến ở ba loại vốn sinh kế trên góp cải thiện đời sống giúp tích

95
luỹ tăng vốn cơ sở vật chất. Những thay đổi đó đòi h ỏi ph ải duy trì đ ược v ốn tài
nguyên thiên nhiên, ví dụ tăng mức đầu t bảo vệ môi trờng hoặc duy trì cơ hội sử
dụng tài nguyên cho các thành viên cộng đồng.

5.5. Phát triển nông thôn có sự tham gia

Ngày nay phơng pháp tham gia đang được áp dụng rộng rãi và trở thành yêu cầu
quan trọng của các chơng trình phát triển nông thôn. Phơng pháp này coi mức độ tham
gia của cộng đồng vừa là mục tiêu vừa là ph ơng tiện của sự phát triển. Phát triển có
sự tham gia là áp dụng các tiến trình và công cụ phù h ợp đ ể tăng c ờng vai trò của
người dân và cộng động vào hoạt động phát triển nông thôn. Đó là sự tham gia ch ủ
động với vai trò ngày càng cao của cộng đồng vào việc xác định vấn đề, lựa ch ọn gi ải
pháp, đa ra các quyết định, lập kế hoạch, tổ chức th ực hiện, phân ph ối l ợi ích và dánh
giá quá trình phát triển.

Gia tăng sự tham gia của cộng đồng là để đảm bảo cho hoạt động phát triển thực
tế hơn và không áp đặt từ bên ngoài nên huy động được nguồn liực và trách nhiệm của
cộng đồng. Tuy nhiên đây là phơng pháp mới đòi hòi cán bộ phát triển phải có kiến
thức, kỹ năng và thái độ đúng đắn mới có thể thực hiện được. Phát triển có s ự tham
gia là xây dựng hoạt động lấy người dân làm trung tâm, dựa vào dân và bắt đ ầu với
người dân. Hoạt động đầu tiên là kế hoạch hoá hay lập kế hoạch hoạt động phát triển
đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn so với ph ơng pháp truyền thống. Cùng với việc tham
gia của người dân vào xây dựng kế hoạch thì việc sử dụng kiến thức b ản đ ịa cũng
cần coi trọng, đặc biệt là lựa chọn và đ a ra các giải pháp. Tổ chức thực hiện, giám sát
và đánh giá các hoạt động đòi hỏi phát huy tính t ự ch ủ c ủa cộng đ ồng v ới vai trò ngày
càng cao.




96
Giải quyết vấn đề quản lý theo Phơng pháp dựa vào cộng đồng

áp dụng phơng pháp cộng đồng hay nâng cao sự tham gia của người dân
vào hành động quản lý ở hệ dầm phá Tam Giang – Cầu Hai ngày càng được
chú ý vì hiệu quả của nó trong việc tổ chức lại khai thác đầm phá và chia sẻ
gắng nặng quản lý của chính quyền các cấp. Mô hình này ở m ột s ố đ ịa ph ơng
đã tạo điều kiện cho người dân phát huy dân chủ cơ sở để tự quản lý nguồn
lợi, môi trờng thuỷ sinh cũng chính là bảo đảm kế sinh nhai lâu dài của cộng
đồng. Kết quả ban đầu cho thấy việc giải quyết vấn đề dựa vào cộng đồng có
khả năng thực thi. Tuy nhiên, việc áp dụng ph ơng pháp này không chỉ có ý chí,
quyết tâm mà còn cần xây dựng được nhận thức của cộng đồng về quyền l ợi
sử dụng chung.

Vấn đề quản lý hiện nay ở hệ dầm phá Thừa Thiên Huế: Thay đổi chính
và những vấn đề nảy sinh trong quản lý hệ dầm phá Tam Giang – C ầu Hai
xuất phát chủ yếu là phát triển nuôi trồng thuỷ sản và gia tăng c ờng độ khai
thác quá mức. Một phần diện tích thuỷ vực đầm phá và đất nông nghiệp vẹn
phá đã chuyển thành ao hồ và được quản lý nh “đất nông nghiệp”. Việc chiếm
dụng mặt nước để sử dụng trái phép tràn lan, ví dụ dùng l ới khoanh một vùng
thuỷ vực đầm phá để độc quyền khai thác dới hình thức nuôi đăng chắn, làm
giảm mặt nước chung, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa những nhóm sử dụng tài
nguyên. Không những diện tích mặt nước bị lấn chiếm mà còn tác dụng xấu
đến môi trờng do làm giảm dòng chảy, ô nhiêm m ước và lây lan bệnh thuỷ
sinh. Vấn đề trọng tâm cho quản lý hiện nay là đã bỏ lấn chiếm trái phép và
qui hoạch khai thác hợp lý. Đã có nhièu nỗ lực thực hiện những k ết qu ả r ất
hạn chế vì chính quyền địa phơng gặp nhiều khó khăn về tài chính và phơng
pháp, đặc biệt chưa huy động sự tham gia của người dân và thi ếu ph ơng cách
duy trì sinh kế cho cộng đồng trong qui hoạch.

Nội dung: Dựa vào cộng đồng để giải quyết vấn đề là tạo ra chuyển biến
xã hội làm cho mọi thành viên trong cộng đồng cùng quan tâm, chia sẻ, và cùng
97
Chơng 6: Kinh tế hợp tác trong PTNT


6.1. Tính tất yếu khách quan của

Lý do đầu tiên để đi đến kết luận là con người ch ỉ dựa vào nhau, h ợp tác v ới
nhau mới chinh phục được sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Điều này có thể được
chứng minh bằng thực tế lao động sản xuất của người nguyên thu ỷ. Trong th ời kỳ s ơ
khai của loài người, con người hoang dã muốn chống chọi với thiên nhiên và thú dữ để
kiếm kế sinh nhau, đã phải hợp tác với nhau, sống thành b ầy đàn. S ản xu ất càng phát
triển, con người càng cần đến sự hợp tác lao động và nh ờ đó nh ững kim t ự tháp,
những công trình đồ sộ của thế giới hiện nay đã được xây dựng trên sự hợp tác lao
động của những người nô lệ.

Mặt khác, đặc tính của lao động là việc sử dụng và chế tạo công cụ lao động.
Chính điều đó làm cho con người liên hệ hợp tác với nhau ngày càng ch ặt ch ẽ. Ng ười
ta không thể tiến hành lao động mà không có sự hợp tác với người khác để có đ ược
những công cụ sản xuất cần thiết cho mình. Thật ra người ra cũng có th ể dùng công
cụ lao động do mình sản xuất ra để lao động. Song không ai có th ể ch ế t ạo ra đ ầy đ ủ
các loại công cụ để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Vì vậy, họ có nhu cầu sử dụng công
cụ lao động của người khác. Nhu cầu đó làm cho con ng ười ph ải h ợp tác trao đ ổi s ản
phẩm cho nhau.

Theo đà phát triển ngày càng cao của phân công lao động xã hội và chuyên môn
hoá sản xuất, nhu cầu hợp tác lao động của con người ngày càng tăng lên. Xã h ội ngày
càng phát triển, phân công lao động càng sâu sắc, càng chi ti ết thì m ối quan h ệ h ợp tác
lao động ngày càng chặt chẽ và rộng rãi. Ngày nay trong xã hội hiện đại, sự hợp tác
lao dộng của con người không chủ dừng lại ở từng gia đình, từng xí nghi ệp, t ừng đ ịa
phơng, từng ngành, trong một nước, và trên thế giới.



98
Hợp tác trong lao động sản xuất của con người rất đa d ạng. Song nhìn chung có
2 loại hợp tác: hợp tác với nhau để cùng sản xuất ra một lo ại s ản ph ẩm và h ợp tác
trao đổi sản xuất cho nhau. Hai loại hợp tác lao động này xuất phát t ừ hai lo ại hình
phân công lao động là phân công lao động trong nội b ộ doanh nghi ệp và phân công lao
động xã hội.

Phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp là phân công giữa nh ững người
sản xuất ra cùng một loại sản phẩm trong phạm vi một chủ thể sản xuất hàng hoá.
Do sự phân công này, mỗi người chỉ sản xuất một chi tiết sản ph ẩm nào đó và ph ối
hợp tất cả những chi tiết đó sẽ được mộr sản ph ẩm toàn vẹn. Do mỗi ng ười ch ỉ đ ảm
nhận thực hiện một phần công việc, nên trong quá trình tạo ra sản ph ẩm, những
người lao động bộ phận phải có sự tác hợp với nhau.

Phân công lao động xã hội phân chia người sản xuất vào các ngành ngh ề khác
nhau của xã hội. Do sự phân công này, mỗi người sản xuất ra một sản phẩm toàn vẹn.
Song nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú, nên họ phải trao đổi sản phẩm
cho nhau để thoả mãn mọi nhu cầu. Chẳng hạn, do phân công lao đ ộng xã h ội, ng ười
nông dân chuyên việc trồng lúa, người thợ thủ công chuyên dệt vải. Người nông dân
trồng lúa cũng có nhu cầu cần vải để mặc. Ng ợc lại, người thợ thủ công có vải song
nhu cầu của họ không chỉ cần vải để mặc mà phải có l ơng thực để sống. Điều đó đòi
hỏi những người sản xuất độc lập do phân công lao động xã hội phải thực hi ện trao
đổi sản phẩm với nhau, hợp tác với nhau để thoả mãn nhu cầu sản xuất

Nh vậy, dù phân công lao động xã hội hay phân công lao động trong nội bộ doanh
nghiệp, người lao động đều phải có mối quan hệ hợp tác với nhau trong sản xuất và
tiêu dùng: Hợp tác trong phạm vi một doanh nghiệp để cùng trao đổi cho nhau nhằm
đáp ứng nhu cầu của mỗ người sản xuất độc lập. Vì thế, h ợp tác th ể hiện đ ặc tính xã
hội của con người.

Trên phạm vi toàn xã hội, hợp tác lao động giữa các chủ thể độc lập đáp ứng nhu
cầu đa dạng về sản phẩm cho sản xuất và tiêu dùng của con người. Từ đó, nó có tác

99
động mạnh mẽ trở lại thúc đẩy sự phát triển của phân công lao đ ộng xã h ội, làm xu ất
hiện những ngành nghề mới, mở rộng mối quan hệ giao lu kinh tế. Đồng thời, nó cũng
tạo ra sự cạnh tranh về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả nhất

6.2. Những đặc thù của hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất gắn với sự tồn tại và phát tri ển c ủa loài
người. Có nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện thì ngành s ản xu ất đ ầu tiên mang
lại sự sống cho họ là nông nghiệp. Chính vì vậy hợp tác lao động trong nông nghi ệp là
hình thức hợp tác lao động đầu tiên của loài người. Sản xu ất càng phát tri ển, phân
công lao động càng sâu sắc đã xuất hiện các hình thức h ợp tác lao đ ộng trong các
ngành nghề khác.

Mặc dù hợp tác lao động là thuộc tính nói chung của lao đ ộng s ản xu ất, song
trong từng lĩnh vực có đặc thù riêng biệt. Đặc thù này do đặc đi ểm t ừng ngành s ản
xuất qui định. Trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác lao động có nh ững đ ặc thù sau
đây:

Một là, sản xuất nông nghiệp gắn liền với cơ thể sống mà sự tồn taij và phát
triển của nó tuân theo các qui luật sinh học. Nh đã biết, quá trình sản xuất trong nông
nghiệp được phân chia thành nhiều khâu, trong đó có những khâu c ần thi ết ph ải có s ự
hợp tác lao động. Song cũng có khâu từng người làm riêng biệt sẽ hiệu quả hơn.
Chăngt hạn trong ngành trồng trọt, quá trình sản xuất trực ti ếp có th ể đ ược chia thành
ba giai đoạn: (1) Giai đoạn cày cấy, gieo trồng; (2) Giai đoạn chăm sóc; và (3) Giai
đoạn thu hoạch.

Trong giai đoạn đầu , do tính chất thời vụ, người lao động cần có sự hợp sức với
nhau, làm việc theo phơng thức đổi công cho nhau để đảm bảo cấy cày, gieo trồng k ịp
thời vụ. Trong thời kỳ chăm bón, có những công việc ch ỉ cần từng ng ười làm vi ệc nh
bón phân, làm cỏ. Song cũng có việc cần phải có lao động hợp tác nh tới tiêu, chống




100
ứng, chống hạn … ở giai đoạn thu hoạch, rõ ràng cần s sự hợp tác lao động giữa
những người sản xuất để khắc phục những thiệt hại do thu hoạch chậm.

Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trờng, sản xuất nông nghiệp của nông dân
phải gắn liền với thị trờng. Do vậy, ngoài ba khâu trực tiếp trên đây, còn có các khâu
cung ứng t liệu sản xuất nh vốn, phân bón, thuốc trừ sâu và tiêu th ụ sản ph ẩm trên th ị
trờng. Những khâu này nếu được tổ chức lao động h ợp tác thì hi ệu qu ả c ủa s ản xu ất
nông nghiệp sẽ cao hon. Chính vì vậy, hợp tác lao động trong nông nghiệp là hợp tác
từng khâu, từng công việc cụ thể.

Hai là, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, lúc thời vụ khẩn tr ơng phảui
hợp lực với nhau để sản xuất. Ngày nông nhàn thì phát huy tính c ần cù c ủa lao đ ộng t
nhân.

Ba là, do sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hởng của điều kiện tự nhiên nên hợp
tác lao động cũng tuỳ thuộc vào tình hình thời ti ết. Ch ẳng h ạn, trong đi ều ki ện bão l ụt
cần thu hoạch nhanh hơn, hợp tác lao động trở nên khẩn trơng hơn.

Thêm vào đó, sản xuất nông nghiệp lại diễn ra ngoài trời, không gian rộng lớn,
lao động và t liệu sản xuất luôn di động và thay đổi theo thời gian và không gian. Vì
vậy hợp tác lao động trong nông nghiệp cần tổ chức cho thích hợp với sự di chuy ển
của các yếu tố sản xuất.



6.3. Quan điểm mới về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn

Trước đây, nói đến hợp tác lao động trong nông nghiệp người ta th ờng đồng nhất
hợp tác lao động trong nông nghiệp và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp với hợp tác
xã hội trong nông nghiệp. Vì thế trong tổ chức chỉ đạo thực tiễn, để phát huy u thế lao
động hợp tác trong nông nghiệp, người ta thờng coi trọng việc củng cố phát triển HTX
nông nghiệp về qui mô và trình độ. Về qui mô, đã chuyển t ừ qui mô HTX t ừ m ột xóm



101
lên một thôn rồi qui mô về xã. Về trình độ, đẩy nhanh từ đ ổi công lên HTX b ậc th ấp
và HTX bậc cao.

Thực tiễn phát triển kinh tế hợp tác xã ở nước ra trong những năm tr ước đổi mới
đã khẳng định việc đồng nhất kinh tế hợp tác với HTX, hơn nữa lại thúc đẩy nhanh
mở rộng qui mô và nâng cao trình độ tổ chức hợp tác trong điều kiện lực lượng sản
xuất chưa có sự tiến bộ rõ đã làm cho u thế của kinh tế hợp tác không được phát huy,
dẫn đến có sự nhận thức sai lệch về vai trò của hợp tác lao đ ộng. Chính vì v ậy, trong
thời kỳ đổi mới, có lúc, có nơi đã bỏ qua vai trò kinh tế hợp tác lao đ ộng trong nông
nghiệp và nông thôn.

Thực tiễn phát triển của các nước chỉ ra rằng, hợp tác lao động trong nông
nghiệp, nông thôn nói riêng, cũng nh trong nền kinh tế nói chung có ý nghĩa to lớn. Vấn
đề là ở chỗ phải hiểu kinh tế hợp tác nh thế nào. Trong những năm đổi mới kinh tế
hợp tác và HTX vừa qua ở nước ra có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế h ợp tác
và HTX . Có thể nêu lên một số quan điêm nh sau:

• Kinh tế hợp tác là kinh tế của người sản xuất tự nguy ện h ợp tác v ới nhau
để tổ chức hoạt động kinh tế.

• Kinh tế hợp tác là sự tự nguyện của những người sản xuất độc l ập trong
hoạt động kinh tế.

• Kinh tế hợp tác là phơng thức hoạt động kinh tế trong lao động sản xuất
của con người.

Vì vậy, kinh tế hợp tác là quan hệ kinh tế giữa các đối tac, các chủ th ể h ợp tác
tự nguyện. Mặc dù cách diễn đạt có khác nhau, song nhìn chung các quan đi ểm v ề
kinh tế hợp tác đều chú ý tới các vấn đề sau đây:

• Kinh tế hợp tác là sự liên kết tự nguy ện của những ch ủ th ể đ ộc l ập trong
sản xuất, lu thông hoặc tiêu dùng.



102
• Trong hoạt động kinh tế chung, kinh tế hợp tác đòi hòi ph ải t ồn t ại ít nh ất
hai chủ thể độc lập, có t cách pháp nhân.

• Các chủ thể này hợp tác với nhau thông qua nhiều mức độ khác nhau, song
nhìn chung có thể có 3 mức độ sau:

- Hợp tác từng công việc trong quá trình sản xuất và nh vậy không tạo
nên chủ thể độc lập, không có t cách pháp nhân. Mỗi chủ thể hợp tác
độc lập hoàn toàn với nhau, nhưng phối hợp, hợp tác với nhau khi
cần thiết nh trong thời vụ khẩn trơng (cầy, cấy, thu hoạch).

- Độc lập trong sản xuất nhưng hợp tác trong một số khâu nh dịch vụ
tới tiêu, cung ứng giống cây trồng vật nuôi, cung ứng vốn, tổ chức
tiêu thụ sản phẩm. Trong trờng hợp này, những người sản xuất chịu
trách nhiệm hoàn toàn trong lĩnh vực sản xuất. Song các khâu đó có
thể lập ra các tổ chức HTX có tính chất pháp nhân độc l ập. Theo
hình thức này có các HTX dịch vụ đầu vào hoặc đầu ra.

Liên kết nhau lại thành tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân độc lập chịu
trách nhiệm cả về sản xuất và tiêu thụ sản ph ẩm. Thuộc hình th ức này
có các HTX nông nghiệp, HTX chế biến nông sản.

Nh vậy, kinh tế hợp tác là sự liên kết tự nguyện, đa dạng, đa m ức đ ộ c ủa ng ười
sản xuất độc lập, những người lao động trong lĩnh vực l u thông, những người tiêu
dùng để phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, kết hợp sức mạnh của từng thành viên
với u thế và sức mạnh của tập thể nhằm giải quyết tốt hơn nh ững vấn đề của sản
xuất, kinh doanh và đời sống, đảm bảo hiệu quả của sản xuất kinh doanh và lợi ích
của mỗi thành viên.

Kinh tế hợp tác rộng hơn so với kinh tế HTX. Kinh t ế h ợp tác xã bao g ồm c ả
HTX và hợp tác lao động ở từng khâu công việc. Sự hợp tác này rất cần thi ết trong
điều kiện sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính chất thủ công, lạc hâu. Kinh tế hợp tác


103
xã chỉ là một hình thức của kinh tế hợp tác, trong đó, HTX là t ổ ch ức kinh t ế có t cách
pháp nhân độc lập, còn mỗi người lao động là thành viên của tổ chức đó.

Chừng nào nền kinh tế còn là sản xuất nhỏ thì vẫn cần phải khuy ến khích s ản
xuất của những người nông dân cá thể hay còn gọi là kinh t ế hộ. Chính nh ững ng ười
sản xuất này là chủ thể của sản xuất, là lực lượng chủ yếu để cung cấp sản ph ẩm
cho xã hội trong nền kinh tế thủ công, lạc hậu.

Song nh đã nêu, sản xuất của những người nông dân cá thể không thể biệt lập mà
phải có sự hợp tác lao động. Họ chỉ có thể sản xuất được khi có s ự h ỗ tr ợ c ủa nh ững
người sản xuất khác. Vì vậy, việc tổ chức hợp tác lao động ở t ừng khâu công vi ệc đ ể
hỗ trợ kinh tế của mỗi hộ phát triển là ans đề cần thiết. Thông qua đó, h ọ m ới có
được những phơng tiện sản xuất cần thiết, giải quyết được những công việc th ời vụ,
chống thiên tai.

Theo đà phát triển của sản xuất hàng hoá, cần t ổ ch ức các HTX đ ể cung ứng các
yếu tố sản xuất đầu vào và giải quyết đầu ra cho nông dân. Nh vậy, trong điều kiện
sản xuất nhỏ, một mặt cần tập trung đẩy mạnh kinh tế hợp tác d ới nhiều hình thức
khác nhau nh HTX, dịch vụ cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. HTX ch ế biến
nông sản giúp cho kinh tế hộ phát triển

6.4. Các hình thức kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn

Kinh tế tập thể (dới hình thức các HTX) là một hình thức biểu hiện của kinh tế
hợp tác, là kết quả tất yếu của quá trình hợp tác. Nó qui đọnh bản ch ất c ủa ch ế đ ộ
kinh tế. Trong tất cả các hình thức hợp tác, chỉ những sự hợp tác đạt tới yêu cầu khách
quan làm nảy sinh sự liên kết các chủ th ể kinh tế m ới đòi h ỏi s ự liên k ết các ch ủ th ể
kinh tế mới đòi hỏi sự kiến lập kinh tế tập thể (kinh tế h ợp tác xã). Trong tr ờng hợp
này, để hình thành chủ thể kinh tế mới hình thức các HTX, hợp tác hoá đã không th ủ
tiêu các chủ thể kinh tế độc lập, mà trên các chủ th ể đó đã hình thành các ch ủ th ể kinh
tế mới với tối u mới.


104
Kinh tế gia đình (dới hình thức tiểu nông hay trạng trại – nông trại gia đình), nó là
hình thức tồn tại lâu dài trong lịch sử. Vì vậy, hợp tac hoá không phải là xoá bỏ kinh tế
gia đình, mà phải xuất phát từ kinh tế gia đình và phục vụ cho nền kinh t ế gia đình.
Kinh tế gia đình ở giai đoạn kinh tế tiểu nông sản xuất được khép kín cho t ừng gia
đình và phục vụ cho nhu cầu của gia đình. Trong tr ờng hợp này, sự hợp tác được thể
hiện dới hình thức hợp tác lao động trong nội bộ gia đình và h ợp tác d ới hình thức đổi
mới công giữa các gia đình nông dân

Khi kinh tế gia đình vượt khỏi giới hạn của kinh tế tự nhiên, sự hợp tác được nảy
sinh ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực của tín dụng và kỹ thuật. Tuy nhiên, các quá trình
thuần tuý sinh học trong trồng trọt và chăn nuôi đòi hỏi sự chăm sóc rất chu đáo c ủa
từng cá nhân. Vì vậy, hộ nông dân vẫn là chủ thể thích h ợp nh ất đ ối v ới các quá trình
ấy. Người nông dân sẽ liên kết các quá trình và các ngành tách rời nhau, ngoài quá trình
sinh học. Họ cùng nhau mua sắm t liệu sản xuất, thành lập các nhóm sử dụng máy
móc và tiêu thụ sản phẩm, các HTX cải tạo đất, cung cấp v ật t , tín dụng … Toàn hệ
thống ấy dần biến thành hệ thống kinh tế hợp tác ở nông thôn.

Về lịch sử phát triển nông nghiệp ở một số nước có nền kinh tế phát tri ển nh
Mỹ, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, khi nông nghiệp nảy sinh nh ững yêu c ầu
tất yếu của hợp tác thông qua hình thức hợp tác hoá, các nông tr ại đã liên k ết v ới nhau
ở các HTX buôn bán hoặc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thực hiện công vi ệc thu
hoạch, bảo quản, đóng gói, vận chuyển các sản phẩm. Ngoài ra, có các HTX sản xuất,
bán hoặc cung cấp máy móc thiết bị cho các chủ trại và cấp vốn cho các ho ạt động
trên (các HTX này giống nh các HTX tiểu thủ công nghiệp và tín dụng ở nước ta).
Những HTX kiểu này tồn tại và duy trì cho đến tận ngày nay.

Về mục đích, có các HTX chế biến, tiêu thụ nông sản bảo vệ quy ền lợi c ủa các
chủ trại trước các tổ chức buôn bán hay các nhà công kỹ nghệ; các HTX cung ứng dịch
vụ và các vật t kỹ thuật nhằm cung ứng kịp thời bảo đảm chất lượng cho các yêu
cầu sản xuất nông nghiệp của các chủ trại. Nh vậy trên thực tế mục đích của các

105
HTX không phải là lợi nhuận, mà nhằm hợp lực hoạt động để thực hiện các mục tiêu
kinh tế của các nông trại. Ngoài ra, việc thành lập các HTX còn xu ất phát t ừ yêu c ầu
tồn tại của các nông trại trong điều kiện về ruộng đất, về các lĩnh vực cung ứng t liệu
sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp, những chủ trại liên kết với nhau thành
cac HTX. Các HTX loại này được gọi là các nông trại liên doanh (t ất nhiên, s ự liên
doanh của các nông trại thực hiện cả ở khâu sản xuất nông nghi ệp, ch ế bi ến, tiêu th ụ
sản phẩm, cung ứng t liệu sản xuất … nhưng thờng theo một loại sản phẩm nông
nghiệp và đây không phải là các HTX nông nghiệp thuần tuý).

6.5. Tổ chức quản lý HTX trong nông nghiệp, nông thôn

Các HTX nông nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kịnh tế của mọi n ước, b ởi vì
sự hình thành của và phát triển của các hình thức kinh tế hợp tác là tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, để kinh tế HTX phát huy được tính u việt của nó, cần phải lựa chọn các
mô hình HTX phù hợp với đặc điểm và trình độ phát tri ển kinh t ế xã h ội c ủa nông
nghiệp, nông thôn. Cần xác định hình thức tổ chức và quản lý có hiệu quả theo từng
mô hình HTX lựa chọn. Về lựa chọn mô hình các HTX: Từ việc nghiên cứu các đặc
điểm của nông nghiệp, nông thôn, chúng ta đã xác định một hệ th ống các HTX v ới các
mô hình sau:

HTX nông nghiệp làm dịch vụ: Về mặt hình thức, đây là tổ chức kinh tế trong
nông nghiệp được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, bao gồm: D ịch v ụ
các yếu tố đầu vào (các HTX cung ứng vật t ) , dịch vụ các quá trình tiếp theo của sản
xuất nông nghiệp (của HTX làm đất, t ới nước, bảo vệ thực vật…) dịch vụ quá trình
tiếp theo của sản xuất nông nghiệp (các HTX chế biến và tiêu th ụ sản ph ẩm). V ề
thực chất các HTX loại này được tổ chức với mục đích phục vụ cho khâu sản xuất
nông nghiệp cuả các hộ nông dân. Vì vậy, sự ra đời của các HTX dịch vụ hoàn toàn
xuất phát từ yêu cầu khách quan của sản xuất nông nghiệp. Trong đó đặc điểm s ản
xuất của ngành, trình độ sản xuất của các hộ nông dân chi phối một cách trực ti ếp
nhất. Tuy nhiên, phải tuỳ theo tính chất của từng ngành, từng m ức độ, yêu c ầu c ủa

106
hợp tác và phân công lao động để lựa chọn các hình thức HTX cho thích h ợp. B ởi vì,
ngay mô hình HTX dịch vụ cũng được phân thành nhiều hình th ức: HTX d ịch v ụ
chuyên khâu và HTX dịch vụ tổng hợp. HTX dịch vụ chuyên khâu là các HTX ch ỉ th ực
hiện chức năng dịch vụ một khâu cho sản xuất nông nghiệp. Bao gồm:

- HTX dịch vụ thuỷ nông

- HTX dịch vị điện nông thôn

- HTX cung ứng vật t

- HTX tín dụng nông nghiệp

- HTX tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp…

HTX dịch vụ tổng hợp là các HTX thực hiện chức năng dịch vụ nhiều khâu cho
sản xuất nông nghiệp, đôi khi cả cho đời sống nông dân.

HTX sản xuất kết hợp với dịch vụ: Các HTX loại này thờng dới dạng các HTX
chuyên môn hoá theo sản phẩm. Đó là các HTX dịch vụ chuyên ngành gắn sản xu ất
với chế biến và tiêu thụ. Trong đó, trực tiếp sản xu ất là h ộ nông dân, HTX h ợp đ ồng
bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Ví dụ: các HTX sản xuất rau, HTX s ản xu ất
sữa … ở Việt Nam, các HTX nông nghiệp trong quá trình chuy ển đ ổi t ồn t ại d ới hình
thức này là chủ yếu, bởi vì tính chủ động, độc lập của người nông dân ch ưa đ ược xác
lập một cách đầy đủ. Đa số các HTX, hộ vẫn phải đóng quỹ theo mức tiêu th ụ trên
đầu diện tích được giao để tạo nguồn trả thù lao cho Ban quản lý HTX. N ếu thi ếu
nguồn này, các HTX không được cơ sở kinh tế để tồn tại.

HTX sản xuất nông nghiệp thuần tuý: HTX loại này giống nh sau HTX nông
nghiệp ở nước ta trước khi đổi mới. Tức là, những người sản xuất liên kết với nhau ở
khâu sinh học của sản xuất nông nghiệp với mục đích tạo ra qui mô s ản xu ất thích
hợp nhằm chống lại sự chèn ép của t thơng, tạo ra những u thế mới ở những ngành
khó tách riêng nh chăn nuôi cá ở các hồ đầm lớn…



107
Với những hình thức HTX trên, cần lựa chọn mô hình phù h ợp v ới đ ặc đi ểm c ủa
ngành, trình độ sản xuất của các hộ nông dân và đặc thù ở từng địa ph ơng. Mô hình đó
hoạt động sẽ có hiệu quả. Một mô hình có hiệu quả được biểu hiện trên các mặt sau:

Về tổ chức: Phải có xã viên rõ ràng. Sự rõ ràng về xã viên thông qua sự tự
nguyện, cho phép HTX xác định rõ đối t ợng phục vụ. Bởi vì, mục tiêu của tổ chức
HTX là phục vụ cho sản xuất của các hộ nông dân. Các thành viên tham gia tr ực ti ếp
các hoạt động của HTX, đồng thời lại phục vụ chính những hoạt động sản xuất của
gia đình mình. Vì vậy nếu không xác định rõ đối tợng phục vụ sẽ rất dễ có những
thiên vị trong phục vụ. Thực tế hoạt động của các xã viên ở các khâu HTX đảm
nhiệm trong thời kỳ khoán sản phẩm chứng minh điều này rất rõ. Ph ải có một t ổ ch ức
rõ ràng, hợp lý. Sự rõ ràng của tổ chức bao gồm: V ề m ặt pháp lý, v ề c ơ c ấu t ổ ch ức,
về chức năng hoạt động … điều này cho phép HTX hoạt động v ừa thông su ốt, v ừa có
hiệu quả cao. Phải có bộ máy gọn nhẹ, có hiệu l ực, đ ược phân đ ịnh rõ ràng theo t ừng
chức năng công tác. Đặc biệt, phải có một đội ngũ cán bộ vừa có năng lực, trình đ ộ
vừa nhiệt tình với công việc chung.

Về quản lý: HTX phải xây dựng được kế hoạch hoạt động và thực s ự hoạt đ ộng
theo kế hoạch đã xây dựng. Phải quản lý vốn và tài sản chặt chẽ. Th ực hiện chế độ
kế toán mới, xử lý lãi, lỗ rõ ràng công khai.

Đánh giá hiệu quả hoạt động :

Hiệu quả về mặt kinh tế: Đối với HTX, phải bảo toàn được vốn, tăng qui mô
quỹ, đảm bảo cổ tức. Không những vậy HTX phải đảm bảo cho nh ững thành viên
tham gia trực tiếp các hoạt động của HTX có mức thu nh ập h ợp lý, các thành viên
đóng góp cổ tức phải có mức lãi tức ít nhất bằng mức lãi ti ền g ửi ngân hàng. Đ ối v ới
xã viên, hoạt động của HTX phải có sự hoạt động tích c ực: sản xu ất và thu nh ập c ủa
hộ nông dân xã viên phải tăng so với điều kiện không tham gia HTX.




108
- Hiệu quả về mặt xã hội: Mục địch thành lập các HTX NN là đ ể trợ giúp cho
hoạt động của hội nông dân. Vì vậy, vấn đề ch ủ y ếu là xem xét s ự tác động c ủa HTX
đến hộ nông dân. Nhưng cũng không thể coi nhẹ hiệu quả về mặt xã hội của nó. Hiệu
quả xã hội trong hoạt động của qui mô HTX NN được xem xét ở sự tác động của nó
đến các mặt nh: xây dựng các cơ sở hạ tầng, thực hiện xoá đói giảm nghèo thông qua
sự tác động của nó đến phát triển kinh tế, quá trình chuy ển d ịch cơ c ấu kinh t ế … đ ối
với nhà nước, thể hiện ở việc đảm bảo lợi ích đối với nhà nước thông qua các kho ản
đóng góp theo qui định và luật định.

6.6. Tình hình phát triển HTX từ sau đổi mới

Sự thay đổi của nông nghiệp nông thôn Việt Nam được kể đến nh là một thành
tựu từ sau khi có nghị quyết 10 BCT (13/4/1988) của Bộ chính trị về đổi mới cơ ch ế
quản lý kinh tế trong nông nghiệp. Theo tinh thần đó, h ộ nông dân đ ược coi là m ột
đơn vị kinh tế tự chủ, được tự quyết định lấy mọi hoạt động kinh tế của mình. T ừ
đây mọi hoạt động của hộ trở nên thiết thực hơn và mọi nhu cầu h ợp tác hoá c ủa
nông dân cũng bắt nguồn từ yêu cầu sản xuất của h ọ theo tinh thân Ngh ị quy ết 10
BCT, hoạt động của các HTX NN đã có sự thay đổi căn ban:

+ Hộ xã viên được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh với diện tích đất
được giao tạm thời (5 năm), được quyền lựa chọn các yếu tố đầu vào, tự quyết định
việc bán sản phẩm .. quan hệ giữa HTX và xã viên không phải là quan hệ chỉ huy và bị
chỉ huy nh trước mà xã viên được chủ động lựa chọn dịch vụ từ HTX hoặc từ các
thành phần kinh tế khác;

+ HTX không quản lý tập trung các t liệu sản xuất nh trước, không điều hành
từng khâu, từng việc, từng thời gian nh trước mà chức năng chỉ huy đã được thay bằng
chức năng dịch vụ cho kinh tế hộ;




109
+ Bộ máy quản lý của HTX gọn nhẹ hơn (ph ổ biến giảm 40 – 50% cán b ộ qu ản
lý), tử đó chi phí quản lý giảm, tệ tham ô lãng phí gi ảm, hi ệu qu ả s ản xu ất kinh doanh
của xã viên tăng lên.

+ Quy mô HTX được điều chỉnh (chia tác các HTX quá lớn hay xác nh ập một số
HTX nhỏ).

Trong những năm đầu thực hiện nghị quyết 10 BCT kinh t ế h ộ phát tri ển khá
nhanh chóng nhưng vẫn không còn ít HTX khá lúng túng trước cơ chế quản lý mới.

Năm 1993 cả nước có khoảng 64% nông hộ HTX NN. Các HTX sản xuất nông
nghiệp được phân hoá thành 3 loại:

+ Những HTX đã nhanh chóng chuyển sang kinh doanh dịch vụ, phát huy vai trò
của kinh tế hộ đã thu được kết quả tốt (2.870 HTX, chiếm 17,5%).

+ Những HTX mới tổ chức được một vai khâu dịch vụ nhưng hi ệu qu ả th ấp, khó
khăn về vốn quỹ, ban quản lý kém năng động (8.621 HTX, chiếm 41,7%).

+ Những HTX chỉ tồn tại trên hình thức chờ giải thể (6.650 HTX, chiếm 40,8%).

Sau khi ban hành luật đất đai (năm 1993) và sau Nghị định 64 CP của Chính ph ủ
về việc Giao đất cho nông dân sử dụng lâu dài, tính tự chủ trong hoạt đônggj kinh t ế
hộ được phát huy một cách cao độ.

Năm 1997 Luật hợp tác xã được ban hành, các hợp tac xã trên mọi vùng của đất
nước đều được sự hướng dẫn chuyển đổi theo Luật. Sự chỉ đ ạo v ề vi ệc chuyển đổi
hợp tác xã theo Luật được quán triệt tới mọi vùng nông thôn. Cán bộ các cấp được
phổ biến tinh thần chuyển đổi, được tập huấn cách làm trong chuy ển đổi và các b ước
chuyển đổi hợp tác xã đều được tổ chức thực hiện theo qui trình thống nhất.

Cho đến nay Luật Hợp tác xã có hiệu lực cả nước 13.782 hợp tác xã nông nghiệp,
trong đó vùng miền núi và trung du phía Bắc cpó 6.075 h ợp tác xã, vùng đồng b ằng
sông Hồng có 2.588 hợp tác xã, vùng Khu 4 cũ có 3.479 hợp tác xã, vùng Tây Nguyên


110
có 295 hợp tác xã, vùng Duyên hải miền Trung có 917 h ợp tác xã, vùng đ ồng b ằng
miền Đông Nam Bộ có 398 hợp tác xã, vùng đồng b ằng sông C ửu Long có 60 h ợp tác
xã. Số hợp tác xã làm thủ tục giải thể hoặc yếu kém không tồn tại trên thực tế (nhưng
vẫn có thống kê trong danh sách) là 6.355 , số hợp tác xã thu ộc di ện chuy ển đ ổi là
7.349.




111
Bảng: Kết quả thực hiện Luật Hợp tác xã đến tháng năm 1999
Số HTX
đã
Số HTX chuyển Số HTX Tổng số
Tỷ lệ
Vùng đến cuối đổi và thành lập HTX năm
(%)
năm 1996 được mớ i 1999
cấp
ĐKKD
Cả nước 13.782 3.525 39,4 1.037 10.044
Miền Bắc 12.113 2.632 34,9 681 411
Miền Nam 1.670 893 69,9 356 1.633
Miền núi và Trung du 6.075 812 21,7 92 3.836
Đồng bằng sông 2.558 1.226 55,1 406 2.632
Hồng
Khu 4 cũ 3.479. 594 33,0 13 1.943
Duyên hải miền 917 648 6,5 5 754
Trung
Tây Nguyên 295 72 41,9 6 178
Đông Nam Bộ 398 137 45,4 33 335
ĐBSCL 60 36 66,7 312 366
Nguồn: Vụ Chính sách (nay là Cục HTX và PRNT) Bộ Nông nghiệp và PTNT

+ Vùng đồng bằng sông Hồng: Nhiều hợp tác xã đã hình thành và ho ạt đ ộng d ịch
vụ trong nhiều năm nay, cơ sở vật chất kỹ thuật (tr ước hết là thuỷ lợi và điện) t ơng
đối khá, nhiều hợp tác xã còn vỗn quĩ, cán bộ ít nhiều đã qua đào tạo.

+ Vùng miền núi và Trung du phía Bắc: Nhiều nơi sản xuất còn mang nặng tính
tự sản tự tiêu, phân tán nên chủ yếu là xây dựng các tổ h ợp tác nh ằm qu ản lý s ử d ụng
tốt các công trình xây dựng cơ bản, đồng thời tiếp nh ận sự hỗ trợ v ề v ốn và v ật t cho
nông dân.

+ Vùng khu 4 cũ và Duyên hải miền Trung: Là vùng có điều ki ện sản xu ất khó
khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện sản xuất của nông h ộ còn thấp kém nên

112
một số nơi có điều kiện sẽ phát triển hợp tác xã dịch vụ đa dạng, còn l ại ch ủ y ếu xây
dựng các tổ hợp tác;

+ Vùng đồng bằng miền Đông Nam Bộ và Tây nguyên: Là vùng phát triển mạnh
cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi hàng hoá .. nên nông dân được khuy ến khích
xây dựng các tổ hợp tác giúp nhau vay vốn, ch ế biến tiêu th ụ s ản ph ẩm, ti ếp nh ận s ự
hỗ trợ của Nhà nước, nơi có đủ điều kiện thị hướng nông dân xây dựng hợp tác xã.

+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Tiếp tục phát triển các tổ hợp tác đa dạng làm
cơ sở để xây dựng các hợp tác xã mới nhằm thực hiện các dịch vụ sau thu hoạch và
tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

- Về cách thức tổ chức, xét theo chức năng nhiệm vụ có thể phân loại các hình
thức hợp tác xã theo các mô hình sau:

+ Hợp tác xã chuyên làm dịch vụ.

+ Hợp tác xã dịch vụ sản xuất – kinh doanh tổng hợp.

Các hình thức kinh tế hợp tác giản đơn (Tổ liên kết vay vốn ngân hàng; Tổ h ợp
tác đờng nước; Tổ hợp tác từng khâu công việc; Tổ hợp tác cung ứng dịch vụ đầu vào;
Tổ chăn nuôi; Tổ hợp tác trồng và bảo vệ rừng; Tổ hợp tác góp v ốn, góp s ức cùng
nhau xây dựng cơ sở hạ tầng mới ..)

Đại bộ phận và hợp tác xã có qui mô trên 100 xã viên, đ ặc bi ệt là ở mi ền Trung,
Tây Nguyên và miền Bắc. ở miền Nam nhóm hợp tác xã có qui mô t ừ 51 – 100 xã viên
và nhóm trên 100 xã viên là chủ yếu và tơng đơng nhau.

Qui mô HTX chuyển đổi xét theo số lượng xã viên
Miền Trung &
Tính chung Miền Bắc Miền Nam
Tây Nguyên
S.lg Tỷ lệ S.lg Tỷ lệ S.lg Tỷ lệ S.lg Tỷ lệ
(HTX) (%) (HTX) (%) (HTX) (%) (HTX) (%)



113
Số HTX báo 2.127 100 1.795 100 313 100 19 100
cáo
Số HTX có từ 215 10,1 212 11,8 1 0,3 2 10,5
50-70 xã viên
Số HTX có từ 131 6,1 122 6,8 1 0,3 8 42,1
51-100 xã viên
Số HTX có 1.781 83,8 1.461 81,4 311 99,4 9 47,3
trên 100 xã
viên
Nguồn: Tài liệu khảo sát của Bộ NN & PTNT

Kết quả, sản xuất kinh doanh của các HTX chuyển đổi (%)
Tỷ lệ từng dịch vụ Tỷ Tỷ lệ hợp tác xã có lãi
Cả 10 HTX HTX
lệ
nướ tỉnh chuyể mới 10
hộ
HTX HTX
c điều n đổi lập tỉnh HTX
Các hoạt động đượ
chuyể mới
tra điều khá
c
n đổi lập
dịch tra

vụ
1. Định hướng 100 100 100 100 100 100
sản xuất, áp
dụng tiến bộ
kỹ thuật
2. Thuỷ nông 94,9 92,7 100 100 96,7 72,0 73,9 82,0 100
3. Điện 52,2 47,5 66,7 25,0 82,0 68,1 94,4 87,0 100
4. Giống 41,3 45,2 46,6 50,0 59,6 48,9 75,0 66,6 100
5. Vật t 36,0 39,2 40,0 25,0 63,1 95,8 69,2 66,6 100
6. Làm đất 14,4 25,5 16,7 58,5 75,8 75,0 66,6
7. Bảo vệ thực 61,2 66,4 56,6 50,0 94,4 34,2 60,0 80,0 50,0
vật
8. Thú y 37,7 21,7 22,3 64,6 40,0 33,3
9. Tín dụng 10,3 20,0 25,0 4,4 98,7 100 100 100
10. Chế biến 0,4 2,0 6,6 4,4 91,0 66,6 100

114
11. Tiêu thụ 10,3 12,6 12,2 16,2 66,6 100
SP
12. Ngành 1,0 33,3 2,4 100 100 100
nghề
Nguồn: Tài liệu khảo sát của Bộ NN & PTNT

Rải rác trong 10 tỉnh điều tra các hợp tác xã có 12 loại dịch vụ, trong đó các hợp
tác xã chuyển đổi có 11 loại dịch vụ, các hợp tác xã mới thành lập có 7 lo ại dịch v ị,
các hợp tác xã chuyển đổi, hợp tác xã khá và hợp tác xã mới thành lập đều có lãi. Điều
đáng lu ý là 100% các hợp tác xã đều đã định h ướng s ản xuất, áp d ụng ti ến b ộ k ỹ
thuật có lãi từ các hợp tác xã chuyển đổi, hợp tác xã khá và h ợp tác xã m ới thành l ập
cao hơn tỷ lệ chung.

ĐIều rất nổi bật là 100% các hợp tác xã khá có các dịch vụ tín d ụng, ch ế bi ến,
tiêu thụ sản phẩm và ngành nghề.Đây là những lĩnh vực khó hoạt đ ộng nh ưng r ất
thiếy thực đối với kinh tế hộ. Mặt khác một số loại dịch vụ ở các h ợp tác xã m ới
thành lập tuy không nhiều nhưng 100% các hợp tác xã đều có lãi khi làm d ịch v ụ (tr ừ
dịch vụ bảo vệ thực vật).

Kết quả phát triển hợp tác xã đã đạt được

Đã hình thành nên mô hình hợp tác xã kiểu mới và h ợp tác xã đó đã b ước đầu phát
huy vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, tr ước hết đối
với kinh tế hộ, cung cấp dịch vụ cần thiết cho nông hộ. Trên th ực tế trong quá trình
thực hiện Luật hợp tác xã ở một số địa ph ơng đã xuất hiện một số hợp tác xã kiểu
mới (các hợp tác xã chuyên về dịch vụ điện, nước, ch ế biến nông s ản, các h ợp tác xã
dịch vụ vật t kỹ thuật nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm, xã viên của hợp tác xã không
phải là tất cả mọi người từ 18 tuổi trở lên trong gia đình nh trước mà chỉ cần chủ hộ
là đủ…).

+ Hầu hết các hợp tác xã đã kế thừa, tiếp nhận, quản lý sử dụng các công trình
thủy lợi, điện, đờng giao thông, vỗn quĩ và kinh nghiệm tổ chức hoạt động dịch vụ t ừ

115
những năm trước. Nhiều hợp tác xã đã làm tốt công tác tăng c ờng cơ sở hạ tầng nông
thôn;

+_ Công tác quản lý được hoàn thiện hơn, nh ất là quản lý tài chính nên đã t ừng b -
ước khắc phục tình trạng yếu kém trước đây.

+ Nội dung hoạt động của hợp tác xã được tổ chức lại. sắp xếp theo h ơng nâng
cao hiệu quả trong kinh doanh, phục vụ thiết thực cho kinh tế hộ;

+ Thực hiện các chuyển giao kỹ thuật cho nông dân trên c ơ s ở liên k ết v ới các c ơ
quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật;

+ Các hợp tác xã mới thành lập, nhất là các h ợp tác xã ở vùng đ ồng b ằng sông
Cửu Long, vùng chuyên canh sản xuất nguyên liệu đã gắn các nhà máy ch ế biến nên
hiệu quả sản xuất của nông hộ và hiệu quả kinh doanh của h ợp tác xã đ ược nâng lên
rõ rệt;

+ Góp phần ổn định an ninh chính trị, xã hội và an ninh nông thôn.

Những yếu kém cần giải quyết

+ Phần lớn nông dân còn chưa hiểu rõ bản chất hợp tác xã kiểu mới;

+ Nhiều hợp tác xã còn chuyển đổi chậm, chưa phát huy được tính u việt của kinh
tế tập thể, sức mạnh kinh tế của hợp tác xã còn nhỏ bé, chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế hàng hoá của nông hộ.

+ Một số hợp tác xã chuyển đổi mang tính hình th ức, ch ưa chuy ển biến về n ội
dung hoạt động. Số đông chưa chuyển đổi được v ớng mắc về tài chính, thủ tục và có
cả những hợp tác xã quá kém chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

+ Nội lực yếu, trình độ và hiệu quả sản xuất kinh doanh d ịch v ụ th ấp ( ở vìng
đồng bằng sông Cửu Long, dịch vụ t nhân chiếm trên 80%); Năng lực tài chính yếu, ít
được bổ sung, chủ yếu là giá trị tài sản cũ (trên 70%), các hợp tác xã không có kh ả
năng thế chấp, bình quân 1 hợp tác xã chỉ có 64,7 tri ệu đ ồng tài s ản l u động (69,6


116
nghìn đồng/ xã viên, trong khi đó xã viên đã nợ 42,6 nghìn đ ồng), nhi ều h ợp tác xã bàn
giao tài chính cho chính quyền quản lý; Mới có 28,1% h ợp tác xã có lãi. Hi ện nay h ầu
hết nông dân bị ràng buộc, chịu sự chi phối của hợp tác xã trong cơ ch ế qu ản lý đi ều
phối cung ứng điện và nước (thuỷ lợi), nhưng hợp tác xã đâu có giải quy ết đ ược yêu
cầu của nông dân về kỹ thuật canh tác, vốn và th ị tr ờng tiêu thụ sản phẩm. Điều kiện
sản xuất của đại bộ phận nông dân Việt Nam hiện nay là y ếu kém, nông dân mu ốn
dựa vào hợp tác xã nhưng hầu nh các hợp tác xã chẳng làm gì được cho họ ngoài sự
chi phối về quản lý điện, nước. “Cái khó bó cái khôn”, bản thân hợp tác xã cũng non
yếu về mọi mặt nên khó có thể hỗ trợ cho nông dân.

+ Chất lượng hoạt đông dịch vụ của hợp tác xã còn thấp;

+ Quan hệ quản lý ở nhiều hợp tác xã ít thay đổi, ph ần đông cán b ộ không được
đào tạo những kiến thức quản lý mới, còn chịu ảnh h ởng nặng của cơ chế bao cấp,
51,2% chủ nhiệm hợp tác xã chưa qua đào tạo chuyên môn nghi ệp v ụ, ch ỉ có 20% cán
bộ quản lý có trình độ trung câp, 8% đại học.

+ Quan hệ phân phối đơn giản kiểu hành chính, ch ưa th ực hi ện phân ph ối theo c ổ
phần và mức độ sử dụng, dịch vị của xã viên.

+ Điều cần lu ý là vấn đề chuyển đổi chức năng của hợp tác xã (đã đ ược đ ề c ập
đến từ khi có “khoản 10”) nhưng chuyển biến trong thực tiễn còn rất khó khăn. Đ ịnh
hướng đã chỉ rõ chức năng của hợp tác xã là dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của
nông dân nhưng các hợp tác xã thờng chạy theo lợi nhuận trước mắt nên chưa làm tốt
các chức năng đó;

+ Nhiều hợp tác xã chưa xác định phơng án sản xuất kinh doanh, nhiều nơi xã
viên không làm đơn vào hợp tác xã, không đóng thêm cổ phần mà ch ỉ h ởng phân bổ
theo tài sản cũ.

+ ở không ít hợp tác xã (43%) xã viên không góp thêm vốn cổ ph ần mới mà xác
định vốn góp mang tính hình thức;


117
6.7. Định hướng phát triển Hợp tác xã nông nghiệp

6.7.1. Phát huy vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế nhiều thành phần

Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: “kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình
thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt”. Kinh tế tập th ể là một trong
các thành phần kinh tế, có vai trò đặc biệt quan trọng trong nông thôn vì kinh t ế h ộ s ẽ
được phát triển tốt khi có sự hỗ trợ của nền kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể có thể
giải quyết tốt vấn đề cung ứng vật t kỹ thuật, cung cấp tín dụng và tiêu thụ sản phẩm
cho nông dân. Sức mạnh của kinh tế tập thể được biểu hiện ở chức năng huy động và
cung cấp tài chính, điều kiện tiếp cận với các cơ quan khoa học kỹ thuật, th ị tr ờng
tiêu thụ, khả năng tổ chức quản lý trong việc áp dụng các yếu tố mới cho sản xu ất
của nông hộ.

6.7.2. Phát triển hợp tác xã đa dạng về hình thức, qui mô ở từng địa phơng

Hợp tác hoá là sự vận động đa dạng, sự kết hợp phong phú các ki ểu chung sức,
chung vốn, chung nguồn lực … để thoả mãn yêu cầu nhi ều v ẽ đ ối v ới s ản xu ất kinh
doanh của nông hộ. Vì vậy sự đa dạng về qui mô, hình thức, trình độ là v ấn đ ề t ất
yếu. Điều cơ bản là sự đa dạng đó có nằm trong khuôn khổ của các nguyên tắc xây
dựng hợp tác xã hay không và phù hợp với tình hình thực tế của địa phơng.

6.7.3. Phát triển kinh tế hợp tác xã đáp ứng yêu cầu kịnh tế h ộ, g ắn li ền v ới
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.

Nếu không có nhu cầu của kinh tế hộ sẽ không có nhu c ầu h ợp tác và vì v ậy n ếu
tách khỏi nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu kinh tế hộ thì sự tồn tại của hợp tác xã trở nên
mất hết ý nghĩa đích thực của nó. Mặt khác cũng cần ph ải thấy rằng h ướng phát tri ển
kinh tế tập thể không tách rời yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy kinh tế tập th ể s ẽ phát tri ển theo xu h ướng hi ện đ ại,
hướng dẫn kinh t ế hộ và ngày càng thoả mãn tốt hơn yêu cầu của kinh tế.




118
6.7.4. Phát triển hợp tác xã trên cơ sở nghiên cứu và nhân r ộng mô hình ho ạt
động tốt và tôn trọng tính đặc thù của từng địa phơng

Nông dân là người có đầu óc thực tế. Những mô hình phát triển kinh tế hợp tác
trong nông thôn là những bằng chứng thuyết phục nông dân một cách có hiệu quả. Tuy
nhiên khi nhân rộng mô hình cần chú ý đến các đi ều ki ện th ực hi ện mô hình, g ắn v ới
đặc điểm của từng nơi nhằm bảo đảm tính bền vững của sự phát triển.

6.7.6. Phát huy vai trò Nhà nước trong quản lý, hỗ trợ cho kinh tế tập thể

Nhà nước là một trong bốn “nhà” trong quá trình phát triển kinh t ế nông h ộ. M ời
trờng kinh doanh tạo nên bởi các chính sách của Chính phủ s ẽ giúp cho các thành ph ần
kinh tế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật. Với sức mạnh kinh tế của mình Nhà
nước sẽ hỗ trợ tích cực cho nông dân trong việc kh ắc ph ục thiên tai, áp d ụng k ỹ thu ật
mới, tiêu thụ sản phẩm.

6.8. Một số giải pháp chủ yếu phát triển Hợp tác xã

6.8.1. Hỗ trợ về tài chính cho các hợp tác xã và nông dân

Hiện nay ở Việt Nam sức mạnh kinh tế của Nhà nước còn non yếu, trình độ quản
lý của hợp tác xã còn kém nên khả năng hỗ trợ tài chính của Nhà n ước b ị h ạn ch ế
nhưng không nên tạo ra cơ chế độc quyền chi phối hoạt động buộc nông dân ph ải
chịu sự ràng buộc nào đó. Xét theo nghĩa đó, Nhà nước ph ải gi ảm giá đi ện, tăng c ờng
cho thuỷ lợi, giảm mức thủy lợi phí … và tạo cơ sở hạ tầng cho các hoạt động kinh tế
– xã hội nông thôn, trước hết là các công trình giao thông, thuỷ lợi, điện, nghiên cứu
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, tiêu thụ sản phẩm…

6.8.2. Hỗ trợ, nâng đỡ các hợp tác xã trong các hoạt động phi sản xuất nông
nghiệp (trước hết là chế biến nông lâm sản), hướng dẫn vầ hỗ trợ tiêu chu ẩn
hoá sản phẩm trong đăng ký nhãn hiệu sản xuất kinh doanh đ ể gi ữ b ản quy ền
cho người sản xuất.



119
Để hỗ trợ tích cực cho các hoạt động này cần tạo mô ị tr ờng kinh doanh trong
nông thôn và có biện pháp hữu hiệu trong việc loại bỏ gian lận thơng mại …

6.8.3. Tăng cờng đào tạo cán bộ cho cơ sở, nguồn nhân lực cho s ự nghi ệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

6.8.4. Khuyến khích đầu t của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nông thôn

Giải pháp này vừa khai thác các nguồn nhân lực trong nông thôn hi ệu qu ả h ơn,
góp phần giải quyết vấn đề d thừa lao động, mở mang ngành nghề trong nônhg thôn,
vừa tạp nên các quan hệ kinh tế mới, thúc đẩy quá trình phát tri ển h ợp tác hoá, t ừng b -
ước biến nông thôn thành một bộ phận kinh tế không thể tách rời c ủa n ền kinh t ế
quốc dân.

6.8.5. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các công trình công cộng với sự tham
gia của người dân

Đây là một biện pháp thiết thực nhằm nâng cao ý th ức trách nhi ệm c ủa nông dân
trong cộng đồng và giải quyết tốt hơn các vấn đề phát sinh trong quan h ệ xã h ội trong
nông thôn.

6.8.6. Sử đổi, hoàn thiện và ban hành một hệ thống chính sách đồng bộ

Hệ thống chính sách đồng bộ sẽ làm chỗ dựa để giải quy ết các vấn đ ề phát sinh
trong nông thôn và hướng kinh tế nông thôn phát triển theo con đ ờng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung của đ ất n ước. Một s ố
chính sách chủ yếu cần tập trung hoàn thiện trước mắt là:

+ Chính sách cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực

+ Chính sách đất đai

+ Chính sách tài chính – tín dụng

+ Chính sách khuyến nông và hỗ trợ về khoa hoc, công nghệ

+ Chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trờng

120
+ Chính sách đầu t phát triển cơ sở hạ tầng



Chương 7: Sơ lược về khảo sát và tìm hiểu cộng đồng



Khảo sát tìm hiểu cộng đồng là một tiến trình có h ệ th ống để cung c ấp cơ s ở cho
việc xây dựng và thực hiện các chơng trình dự án phát triển cộng đồng nông thôn.
Những tiến trình này được thực hiện thờng xuyên, cũng nh hiểu biết là một sự khám
phá không ngừng, tìm hiểu cộng đồng là khám phá liên tục. Trong c ộng ồng luôn luôn
có những nhân tố mới, thuận lợi và khó khăn mới cũng nh các mối tơng tác mới.
Người làm công tác PTCĐ cần có một thái độ lắng nghe đ ể sẵn sàng đón nh ận nh ững
thông tin mới, không sợ nghe điều trái tai, bất ngờ hay những sai sót đòi h ỏi mình ph ải
xem xét lại công việc hay ngay cả bản thân mình. Kh ảo sát tìm hi ểu c ộng đ ồng là m ột
quá trình học hỏi mà bản thân cán bộ là một thành tố.

7.1. Nội dung tìm hiểu cộng đồng

Nội dung tìm hiểu cộng đồng có thể bao gồm nhiều lãnh vực hay ph ơng diện
trong đời sống một cộng đồng nh sau:

1. Các đặc điểm kinh tế xã hội và đời sống của các thành viên cộng đồng.

- Dân số: Tổng số dân, theo giới tính, độ tuổi, tốc độ tăng dân số, tháp tu ổi, các
lứa tuổi đáng quan tâm: Trẻ em, người già, thanh niên, tuổi lao động …

- Kinh tế, mức sống: Cơ cấu ngành nghề (Công – nông – th ơng mại – dịch vụ),
khoa học kỹ thuật phục vụ kinh tế, Tiềm năng phát triển …

- Văn hoá xã hội y tế (trình độ dân trí, vấn đề mù chữ, bỏ học, lớp phổ cập, cở sở
trờng học, sức khoẻ, môi trờng, phong tục tập quán, tín ngỡng …).

2. Tổ chức và các mối quan hệ trong cộng đồng



121
Đây là vấn đề then chốt mà các cuộc điều tra chính quy không phát hiện được.
Chính tính chất của các mối quan hệ trong cộng đồng làm cho cộng đồng mạnh hay
yếu. Bởi lẽ sự đoàn kết, tinh thần hợp tác sức mạnh cho hành động chung, còn mâu
thuẫn triền miền sẽ gây tê liệt. Tìm hiểu các mối quan hệ trong cộng đồng s ẽ phát
hiện song song với cơ chế hình thức (nh tổ chức chính quyền, ban ngành, đoàn thể, các
tổ chức hợp pháp hay có t cách pháp nhân hay truyền thống .v…) một cơ chế phi chính
thức có thể tác động mạnh mẽ đến đời sống người dân trong cộng đồng. Ví d ụ các
nhóm bạn, các nhóm sở thích, giải trí, các nhóm nh ậu, nh ững người ch ơi h ụi, đánh đ ề,
các băng trộm cớp, các đội công tác xã hội tình nguyện …

Các mối quan hệ cộng đồng kiểm soát hành động con người cần tìm hiểu, ví dụ:

- Ai có quyền lực cao nhất và chi phối được các quy ết đ ịnh trong cộng đ ồng ? Có
thế lực bằng uy tín, do tài năng và đạo đức, hay bằng sức mạnh c ủa ti ền b ạc, s ự quan
hệ với người có chức, có quyền.

- Ai là những người lãnh đạo không chính thức nghĩa là được sự tín nhi ệm c ủa
dân. Họ hay tới hỏi ý kiến ai về đời sống gia đình hay công ăn vi ệc làm ? Ai là ch ủ n ợ
chủ đề ? Ai kết với ai để tới câu lạc bộ, đi xem hát, ch ơi th ể thao ? Ai mâu thu ẫn v ới
ai về lĩnh vực gì ? Ai bị nói xấu hay được đề cao trong câu chuyện thờng ngày ?

- Mối tơng tác giữa các tổ chức, nhóm chính hay phi chính thức trong cộng đồng là
mối quan hệ thân tình, hợp tác, lạnh nhạt hay đố kỵ ?

3. Nhu cầu và các vấn đề của cộng đồng

Các nhu cầu cơ bản ở đây được giải quyết nh thế nào ? Đó là các nhu cầu về ăn,
mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, việc làm, thu nhập .. Ngoài ra ở cộng đồng còn có
vấn đề nào nổi cộm đáng chú ý nhất: Trẻ em thiếu chăm sóc, bị lạm dụng, gia đình
rạn nứt, thanh niên hoang mang, bất đồng về tín ngỡng, an ninh, tệ nạn xã hội .v…?

4. Tài nguyên, tiềm năng và hạn chế của cộng đồng



122
Nếu phát hiện phải “nội sinh” thì nó phải xuất phát từ bên trong của cộng đồng.
Do đó tìm hiểu và phát huy tiềm năng ấy (từ vật chất đ ến tinh th ần, t ừ tài nguyên
thiên nhiên đến con người…) là cơ bản. Sự vận hành của cộng đồng không ch ỉ bị chi
phối bởi tính chất tốt xấu của cơ chế chính th ức hay phi chính th ức mà còn tuỳ thu ộc
vào sự tơng tác giữa hai cơ chế này.

Trong lãnh vực xã hội, tiềm năng con người của cộng đồng cần đ ược tìm hi ểu và
đánh giá đầy đủ. Đây chính là tiềm năng và nguồn l ực quan tr ọng giúp c ộng đ ồng v ơn
lên giải quyết vấn đề của họ. Đó là cơ sở cho phát triển “nôi l ực” c ủa c ộng đ ồng.
Trong thực tế một cộng đồng luôn luôn có nhiều tiềm năng ấy có các trở ng ại nên
tiềm năng không được phát huy và sử dụng. Trở ngại lớn nhất là chính các mâu thu ẫn
tạo ra sức ì của cộng đồng. Tìm hiểu cộng đồng chính là tìm hi ểu các c ơ ch ế hay
nguyên nhân cản trở việc sử dụng và phát triển tiềm năng cộng đồng. Từ đó có th ể
tìm được giải pháp ngay trong bản thân cộng đồng cho những tiền măng của họ.

7.2. Các phơng pháp khảo sát và tìm hiểu cộng đồng

1) Điều tra xã hội học

Đây là phơng pháp kinh điển. Đối tợng nghiên cứu rộng và được chọn lựa có ph -
ơng pháp có cấu trúc cao đại diện cho toàn cộng đồng. Các công cụ nh bảng câu hỏi,
bảng phỏng vấn được sự dụng. Kết quả điều tra được tổng h ợp và phân tích theo các
phơng pháp thống kê và mang tính chất định tính. Đây là ph ơng pháp nghiên cứu sử
dụng các công cụ khoa học đòi hỏi những người thực hiện phải có tay nghề nhất định.
Bảng câi hỏi phải được thiết kế kỹ, có cấu trúc tỷ mỷ và được trắc nghiệm rồi mới
sử dụng. Điều tra viên phải được tập huấn kỹ càng. Nếu không có những điều kiện
trên thì điều tra xã hội học có thể mang lại những kết qu ả cao ch ất l ượng th ấp không
đáp ứng yêu cầu phát triển.

2) Tìm hiểu cộng đồng qua thông tin t liệu




123
Trước khi tiếp cận một cộng đồng, cán bộ phát triển có thể tìm hiểu cộng đồng
thông qua sách báo, t liệu liên quan. Ví dụ nh các thống kê về dân số, địa lý, sản xuất
kinh tế có ở cơ quan quản lý cấp đó và cấp cao hơn. Các báo cáo hàng quý, hàng năm,
các báo cáo khoa học, các bài báo về cộng đồng đó và các vùng có liên quan. Các thông
tin này có độ tin cậy và cụ thể ở mức độ khác nhau nhưng cung cấp cho ta một toàn
cảnh rất có ích. Các bài báo, tạp chí về địa ph ơng đó hay về các vùng lân cận cũng soi
sáng thêm. Thông tin dữ liệu loại này gọi là thông tin thứ cấp.

3) Phỏng vấn lãnh đạo địa phơng và người am hiểu

Một chơng trình PTCĐ có thể do địa ph ơng hay một cấp cao hơn khởi x ớng hoặc
cũng có thể do một tổ chức xã hội bên ngoài triển khai. Ch ơng trình có thể bắt đầu khi
những người có trách nhiệm ở địa phơng đồng ý. Cán bộ phát triển sau khi sơ khởi
nắm tình hình qua t liệu có thể xin gặp lãnh đạo địa ph ơng để nghe những thông tin bổ
sung, hỏi về các nhu cầu, hay vấn đề nổi bật nhất. Những câu hỏi phải được chuẩn bị
trước theo cách tiếp cận nội dung chính và đi sâu vào các v ấn đ ề quan tr ọng. Các v ấn
đề quan trọng chỉ được xác định trong quá trình tiếp xúc và trao đổi.các nguồn thông
tin khác không thể cung cấp được. Không chỉ những người đại diện chính quy ền, ban
ngành đoàn thể mà có những người am hiểu vấn đề của cộng đ ồng nuh cán bộ hu trí,
giáo viên kỳ cựu, nữ hộ sinh làm việc lâu năm ở cộng đồng. Họ là nh ững ng ười hi ểu
rõ bề sâu của cộng đồng.

4) Trao đổi trò chuyện với người dân

Cán bộ tiếp cận chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống và công việc hàng ngày
của dân. Chỉ cần hoà đồng, lắng nghe, quan sát sẽ hiểu rất nhiều về tâm t của người
dân. Có những nơi mà người dân hay tụ tập trao đổi.Đó là nh ững n ơi lý t ởng để nắm
thông tin về cộng đồng, trò chuyện là để tìm hiểu sâu một số vấn đề nào đó có thay
đổi theo thời gian.

5) Tổ chức thảo luận trong dân.


124
Trong khuôn khổ một chơng trình phát triển, chính quyền địa ph ơng có thể tổ
chức thảo luận theo từng nhóm nhỏ và vai trò của cán b ộ là giúp h ọ t ổng h ợp, h ệ
thống hoá các vấn đề nêu lên. Quan trọng h ơn nữa là h ỗ trợ đ ể phân tích nguyên nhân,
tìm biện pháp giải quyết và hướng tới hành động. Vấn đề cần quan tâm là làm sao cho
các ý kiến mới lạ không bị loại trừ. Đây là hình th ức b ắt đ ầu v ề nghiên c ứu tham gia
phù hợp nhất để khơi dậy ở người dân sự quan tâm, sự hứng thú để hành động đóng
góp cho địa phơng mình.

7.3. áp dụng phơng pháp PRA trong khảo sát và tìm hiểu cộng đồng

Đó là việc áp dụng tiến trình và công cụ của ph ơng pháp “Điều tra nông thôn có
sự tham gia” vào khảo sát tìm hiểu cộng đồng. Ph ơng PRA cung cấp những hình thức
và công cụ. Điểm khác biệt chính của ph ơng pháp này so với các ph ơng pháp truyền
thống là nó giúp cho ngơì dân tham gia tìm hiểu cộng đồng của h ọ ch ứ không ph ải ch ỉ
cán bộ.

Phơng pháp PRA được xem nh là một bộ công cụ. Tuỳ theo mục đích tìm hiểu,
con người với trình độ và hoàn cảnh cụ thể, các công cụ c ụ th ể đ ược l ựa ch ọn và s ử
dụng một cách phù hợp. Có các nhóm công cụ chính nh sau:

1) Nhóm công cụ tìm hiểu và phân tích các yếu tố thời gian, ví dụ lịch thời vụ

2) Nhóm công cụ tìm hiểu và phân tích các yếu tố không gian, ví dụ: bản đồ

3) Nhóm công cụ tìm hiểu phân tích các bên liên quan, ví dụ sơ đồ VEEN

4) Nhóm công cụ phân tích u tiên và lựa chọn

5) Nhóm các công cụ phân tích thành tố và thuộc tính.




125
Chơng 8: Giới thiệu về dự án PTNT quy mô nhỏ



8.1. Khái niệm về Dự án và Quản lý dự án

Xét theo quan điểm PTNT, thực hiện một dự án là nh ằm tạo ra nh ững đi ều ki ện
cải thiện tình trạng kinh tế và xã hội của cộng đ ồng mà chúng ta mu ốn giúp đ ỡ. Th ực
hiện một dự án không phải là luôn lyôn mang tiền bạc, vật ch ất đến cho c ộng đồng
mà trước tiên là nhằm phát huy sự tham gia của người dân trong cộng đồng, giúp h ọ
xác định những nhu cầu đích thực cần phải giải quyết, giúp họ tự lực, gây ý thức, tăng
sức mạnh để họ tự giải quyết những vấn đề của họ. Nh vậy dự án là nhằm giải
quyết một vấn đề hay đáp ứng một nhu cầu của cộng đồng n ằm trong kh ả năng và ý
định của các bên liên quan.




Hình vẽ (trang 94)



Theo sơ đồ trên, dự án là sự can thiệp để tạo một sự thay đổi trong nhận th ức
người dân. Nhờ sự thay đổi nhận thức, người dân quyết tâm th ực hiện nh ững công
việc nhằm mang lại một sự thay đổi môi tr ờng sống, lại giúp người dân đổi mới hơn
nữa nhận thức của họ, nghĩa là họ cảm thấy có nhu cầu muốn c ải thi ện cu ộc s ống
trong cộng đồng và xã hội.

Dự án có thể định nghĩa nh là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt một
hay một số mục tiêu cũng nh hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một
địa bàn trong và trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động s ự tham gia th ực
sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể. Dự án là một tổng thể có kế hoạch nh ững




126
hoạt động (công việc) nhằm đạt một số mục tiêu cụ th ể trong một kho ảng th ời gian
và trong khuôn khổ chi phí nhất định.

Dự án nhánh là những dự án nhỏ nằm trong một số dự án và th ờng được thực
hiện trên một địa bàn hay với một cộng đồng. Ch ơng trình là tổ hợp các dự án có cùng
một mục đích hay chủ đề. Ch ơng trình là một loạt những dự án làm cùng một việc tại
một nơi và trong một khoảng thời gian nhất định. Ch ơng trình cũng có thể chỉ đề ra
một số mục tiêu và tiêu chuẩn chung, còn các dự án đ ược th ực hi ện ở nhi ều n ơi khác
nhau (trong phạm vi một vùng) vào những thời điểm khác nhau. Ch ơng trình có thể
bao gồm nhiều dự án có liên quan với nhau và lồng ghép trong một tổng thể.

Quản lý dự án là việc thực hiện các chức năng quản lý nh ằm đ ảm b ảo ho ạt
động dự án đạt được các mục tiêu đã đề ra. Các chức năng quản lý gồm:

- Lập kế hoạch

- Tổ chức thực hiện

- Giám sát

- Thúc đẩy- chỉ đạo

Mục tiêu Dự án gồm:

- Mục tiêu tổng quát chỉ ra mục đích cuối cùng của dự án, nói cách khác là ch ỉ ra
phơng hướng đi tới cho tất cả những người tham gia thực hiện dự án.

- Mục tiêu cụ thể là cụ thể hoá mục tiêu t ổng quát theo các yêu c ầu sau đây: (1)
Về cái gì? Làm cái gì? (2) Khi nào làm? (3) Có th ể làm đ ược hay không (v ới th ời gian,
tiền bạc và nhân sự sẵn có (4) Có thể đo lờng được.

Sau đây là một ví dụ về Dự án phát triển cộng đồng




127
Cơ sở hạ tầng

Chăm sóc sức Dự án PTCĐ
khoẻ ban đầu
Dinh dỡng




Nớc và vệ sinh Phát triển
môi trờng lãnh đạo


Xoá mù

Tạo viên làm
Tín dụng




128
8.2. Chu trình và Nội dung cơ bản của một dự án quy mô nhỏ


Xác định dự án




Đánh giá dự án Đánh giá khả năng
thực
thi



Thực hiện và giám Chuẩn bị tài liệu
sát dự đề
án xuất




Thẩm định và phê
duyệt
DA


8.2.1. Xác định dự án

Đây là giai đoạn đầu tiên hình thành dự án, trong bước này công việc chủ yếu là
tiến hành khảo sát điều tra (cụ thể đã trình bày ở phần trước), tìm hiểu người dân, thu
thập thông tin dự liệu, xử lý các dữ liệu thu thập được…. Mục đích quan trọng giai
đoạn này là:

* Hiểu rõ thực trạng đang diễn ra ở vùng nông thôn đã lựa chọn

* Tìm ra những khó khăn/và khó khăn nhất đang đối mặt với dân c trong vùng.
trong tất cả các lĩnh vực hay một số lĩnh vực đã xác định.

* Xác định được khía cạnh cụ thể và có khả năng được cải thiện


129
* Xác định được những tiềm năng cần được huy động và phát triển.

* Đánh giá đầy đủ năng lực của người dây hay những gì họ có thể làm được.

* Hình thành ý đồ dự án: Những gì có thể làm được và làm nh thế nào.

Tình trạng tơng đối phổ biến là các cán bộ hay những chuyên gia làm công tác
phát triển nông thôn có cảm giác rằng mình có khả năng chọn đúng những gì người
dân nông thôn muốn và quyết định những gì cần phải làm cho họ mà không quan tâm
nhiều đến nhận thức và đồng tình của họ. Thực tế đã khẳng định tri thức và hiểu biết
của người dân thôn quê không phải không đáng phát huy, họ có kém chăng là kém cách
diễn đạt những nhận thức và mong muốn của họ theo cách mà cán bộ làm công tác
phát triển muốn nghe. Nh vậy việc tham gia của người dân vào tiến trình hoạch định
các hoạt động phát triển rất cần được chú ý. Thảo luận nhóm với người dân địa ph-
ơng (thờng là đại diện cốt cán) là cách áp dụng rộng rãi cho việc hoạch định các dự án
có quy mô nhỏ.

8.2.2. Đánh giá khả năng thực thi của dự án

Để đánh giá khả năng thực thi của dự án, chúng ta cần một số thông tin cần thiết
để xem xét trên hai khía cạnh chính:

* Dự án có thể thực hiện trong điều kiện hiện tại không ; và

* Dự án có đánh giá hay thực sự cần thiết để tiến hành không.

Mỗi một dự án có bản chất hay mục đích khác nhu cho nên loại thông tin yêu cầu
cho đánh giá khả năng thực thi của mỗi dự án cũng không giống nhau, nhưng nhìn
chung có một số công việc quan trọng và được coi là phổ biến nhất tsrong việc đánh
giá khả năng thực thi dự án phát triển nông thôn, tiến trình được trình bày tóm tắt nh
sau:

- Ưước lượng yêu cầu tổng số các lọi vật t, vật liệu cần thiết.




130
- Ưước lượng chi phí cho toàn bộ các hoạt động chính cũng nh các khoản mục
chi phí quan trọng khác nh vật t; đất; ;lao động, cán bộ, máy móc thiết bị….

- Xem xét các khía cạnh kỹ thuật, cần dùng các loại thiết bị gì, chúng có thật sự
cần không, có nhu cầu lao động và có thể huy động được không.

- Xem xét khả năng đáp ứng yêu cầu về thiết bị, tại chỗ hay từ đâu.

- Xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu lao động có kỹ năng và lao động không có
kỹ năng, cán bộ kỹ thuật hay chuyên gia cần thiết.

- Xem xét loại kỹ năng quản lý nào là cần thiết, có thể đáp ứng không.

- Xác định những lợi ích có thể giành được khi thực hiện dự án.

- Xem xét ai là người hởng lợi và phơng thức phân phối lợi ích dự án.

- Xem xét ảnh hởng của dự án đến môi trờng xung quanh.

8.2.3. Chuẩn bị tài liệu đề xuất dự án.

Sau khi phân tích khó khăn, tiềm năng, và các giải pháp có thể, cuối cùng là quyết
định việc gì có thể làm. Bước tiếp theo là nghiên cứu khả năng thực thi bao gồm hai
mặt: Có thể thực hiện và có đáng để thực hiện không. Viết đề xuất dự án là đa những
kết quả của quá trình chuẩn bị trên thành tài liệu có thể đệ trình cho việc xem xét
thẩm định dự án.

- Tên dự án, thể hiện hoạt động hay mục đích chính.

- Mục đích của dự án, cụ thể trước mắt và lâu dài.

- Địa điểm dự án.

- Mô tả những gì được đề xuất thực hiện, hay nội dung dự án.

- Người hởng lợi của dự án. Ai sẽ là người hay nhóm người có lợi ích từ dự án
đó là cả cộng đồng, hoặc những người nghèo, hoặc những người làm thuê, hoặc
những người thất nghiệm, hoặc là phụ nữ…


131
- Mô tả những lợi có thể có từ những hoạt động của dự án; những lợi ích ảnh h-
ởng đến mọi người nh thế nào.

- Tổng số chi phí cần thiết cho dự án; chi phí dự kiến cho các bộ phận chủ yếu;
đề xuất những cơ quan nào tài trợ.

- Mô tả loại chuyên gia và trang thiết bị yêu cầu cho dự án.

- Những cơ quan, tổ chức và những người chịu trách nhiệm thi hành các công
việc của dự án.

- Thời điểm bắt đầu thực thi dự án: Thực thi các công đoạn và hoàn thành.

- Một số chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật cần thiết.

8.2.4. Thẩm định và thông qua dự án.

Sau khi chuẩn bị và hoàn thành tài liệu đề xuất dự án. Đề xuất dự án được xem
xét rà soát lại xem nó có phù hợp để đa vào kế hoạch phát triển chung hoặc có phù
hợp để có thể tài trợ hay không. Thông thờng, việc ra xét lại đề xuất dự án được tiến
hành bởi những người hay cơ quan không liên quan đến công việc hoạch định dự án.
Nếu dự án có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau những chuyên gia có kinh
nghiệm trong những lĩnh vực đó sẽ xem xét những khía cạnh thích hợp. Mục đích của
việc xem xét ra soát lại là đảm bảo các công việc được đề xuất có xứng đáng thực
hiện không; có thể thực hiện được nh dự kiến không và việc thực hiện các hoạt động
dự án có mang lại lợi ích mong muốn không. Các khía cạnh sau đây được coi là quan
trọng và cần ra soát lại khi thẩm định thông qua dự án.

- Khía cạnh tài chính: Các chi phí dự án có sát thực không.

- Khía cạnh kỹ thuật: Các khó khăn về kỹ thuật liên quan đến thực thi dự án đã
được xem xét hết chưa.




132
- Khía cạnh tổ chức và quản lý: Các tổ chức ở cấp địa phơng có thể điều hành
các hoạt động được không; họ có đủ các kinh nghiệm và năng lực quản lý các hoạt
động của dự án không.

- Về thể chế: Cơ quan nào chịu trách nhiệm pháp lý, t cách pháp nhân và có đủ
khả năng chịu trách nhiệm thực hiện dự án.

- Lợi ích toàn cục của dự án: Loại lợi ích và người được hởng lợi.

8.2.5. Thực hiện dự án

- Xác định các hoạt động dự án: Đó là việc tổ chức thực hiện dự án thành các
hoạt động nhỏ trong một tiến trình cụ thể hơn để dễ dàng điều hành và quản lý,
nhưng thực chất đó là một loạt các hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau.

- Xác định tiến độ thời gian: Dựa trên tiến trình đã được sắp xếp và lựa chọn,
chúng ta tiến hành ước lượng khoảng thời gian cần thiết cho từng công đoạn hay hoạt
động cụ thể. Ngoài ra còn tùy thuộc đặc trng công việc mà xác định thời gian bắt đầu
và kết thúc, ví dụ một số hoạt động trồng trọt, chăn nuôi…. có tính thời thời vụ rất
nghiêm ngặt, nên thời gian thực hiện còn phụ thuộc vào thời tiết.

Sơ đồ tiến độ thực hiện dự án được lập để trình bày các hoạt động cụ thể hay
công đoạn, tiến trình thực hiện các hoạt động đó, khoảng thời gian, thời điểm bắt đầu
và hoàn thành các hoạt động. Nó có ý nghĩa lớn trong việc điều hành, theo dõi và quản
lý thực hiện dự án. Đối với các dự án tơng đối lớn, nhiều công đoạn thì đây là công cụ
hết sức quan trọng để có thể hình dung toàn bộ các hoạt động dự án và giúp cho việc
điều hành thực hiện thống nhất.

8.2.6. Giám sát thực hiện dự án.

Trong thực tế không thể và không cần thiết giám sát tất cả các hoạt động dự án
mà thờng, tuỳ dự án, người ta chọn những hoạt động quan trọng nhất cần giám sát.
Các hoạt động liên quan đến các khía cạnh sau đây thờng được chú ý nhiều nhất khi
giám sát thực hiện dự án.

133
- Giám sát tài chính: Đầy đủ kinh phí nh dự tón có tầm quan trọng thiết yếu cho
các hoạt động, bởi vậy người điều hành cần phải biết việc phân bổ kinh phí có đúng
nh dự định về khối lượng và thời gian không. Thông thờng những người kiểm soát tìa
chính quan tâm nhiều hơn đến các quy định quản lý tài chính chứ không phải là cho
việc thực hiện dự án, hơn nữa thủ tục tài chính khá phức tạp nên có nhiều chậm trễ
về tài chính.

- Giám sát tiến độ thực hiện: Giám sát việc thực hiện các hoạt động hay tiến độ
có phù hợp tiến trình đã dự định không. Thông thờng, các hoạt động dự án bị chậm trễ
là do những khó khăn không lờng trước. Giám sát đầy đủ tiến độ công việc giúp cho
người điều hành nhận thức sớm những khó khăn nảy sinh trước khi chúng trở nên
nghiêm trọng.

- Giám sát nhân lực và cán bộ: Giám sát nhân lực phải kiểm tra xem xét trên hai
khía cạnh số lượng nhân viên, số lượng lao động và cả năng lực yêu cầu công việc.
Phát hiện sớm những vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực này giúp người điều hành và
quản lý dự án có giải pháp điều chỉnh sớm.

8.2.7 Đánh giá kết quả dự án.

- Đánh giá kết quả trong khi thực hiện. Đánh giá trong khi thực hiện dự án đặc
biệt quan trọng đối với các dự án dự định đem lại một số thay đổi nhất định trong
cộng đồng. Trọng tâm của việc đánh giá kết quả trong khi thực hiện dự án tuỳ thuộc
loại, quy mô, và thời gian dự án gọi là tự đánh giá rồi báo cáo ( internal evaluation)
hoặc bởi một cơ quan bên ngoài dự án ( external evaluation)

- Đánh giá kết quả sau khi hoàn thành. Đây là công việc xem xét kết quả toàn thể
của dự án đã đạt được, bao gồm cả những ảnh hởng trực tiếp trước mắt và lâu dài.
Trong công việc này những lợi ích trực tiếp cũng nh lợi ích gián tiếp và cả những ảnh
hởng có hại của dự án đều phải được xem xét.




134
- Hai khía cạnh chính trong đánh giá đã được đề cập là ảnh hởng trực tiếp và ảnh
hởng gián tiếp của dự án. ảnh hởng trực tiếp của dự án là những sản phẩm trực tiếp
hay kết quả trực tiếp (đầu ra) của tác động (đầu vào). ảnh hởng gián tiếp là kết quả
tổng thể lâu dài của dự án đối với cộng đồng và môi trờng tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Một số ảnh hởng gián tiếp của dự án có thể không nhìn thấy được tức thời ngay sau
khi hoàn thành thực hiện dự án. Những ảnh hởng nh vậy chúng cũng có thể là ảnh h-
ởng tích cực hoặc không tích cực.

Nếu dự án được thực hiện để thay đổi một số điều kiện kinh tế xã hội nhất
định, việc đánh giá sẽ tiến hành so sánh thực trạng sau khi thực hiện dự án với thực
trạng trước khi thực hiện dự án, được xem nh là đối chứng. Bởi vậy để có thể tiến
hành đánh giá kết quả dự án cần biết được thực trạng trước khi thực hiện dự án. Việc
này được làm bằng các cuộc điều tra cơ bản ban đầu. Trong nhiều trờng hợp, những
thông tin được thu thập cho nghiên cứu khả năng thực thi dự án có thể được dùng
làm đối chứng trong đánh giá kết quả thực hiện dự án.

Nhưng việc hết sức quan trọng là phải xác định được những chỉ tiêu (còn gọi là
chỉ báo) có thể phản ánh hay đo được lợi ích, kết quả trực tiếp và các ảnh hởng của
dự an, hay là những chỉ tiêu phản ánh được thực trạng vùng nông thôn. Những chỉ tiêu
được chọn tuỳ thuộc loại dự án, nhưng không những phải phù hợp mục đích của dự
án mà còn phù hợp thực trạng cộng đồng trước khi thực hiện dự án. Dựa trên những
thay đổi của các chỉ tiêu này trước và sau khi thực hiện dự án chúng ta có thể đánh giá
kết quả dự án. Trong dự án phát triển nông thôn việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu phù
hợp và khả thi có ý nghĩa rất quan trọng, thông thờng là những chỉ tiêu chỉ rõ sự thay
đổi tổng hợp tình hình kinh tế xã hội.

Sơ đồ sau đây mô tả khái quát việc đánh giá kết quả dự án. Mỗi một chỉ tiêu
được chọn để phản ánh sự thay đổi tổng hợp tình hình kinh tế xã hội vùng nông thôn
đều được xem xét theo mô hình sau:



135
Định Lượng

Chỉ tiêu 1
(3) Sau khi hoàn thành và d-
ới ảnh hởng của dự án




(2) Sau khi hoàn thành và
ngoài ảnh hởng của dự án


Chỉ tiêu 1
(1) Trước khi thực hiện dự
án (Baseline Survey)




Khảo sát trơc Khảo sát sau Thời gian

Sơ đồ thiết kế đánh giá dự án: Trước - Sau dự án và có - Không có dự án.

Giải thích: + (1) là dữ liệu, thông tin cho thấy thực trạng trước khi thực hiện dự
án

+ (2) cho thấy thực trạng khu vực ngoài ảnh hởng của dự án

+ (3) cho thấy thực trạng trong khu vực ảnh hởng của dự án

- Nếu so sánh (1) và (2) sẽ thấy tiến trình biến đổi “tự nhiên” dới ảnh hởng của
chính sách phát triển kinh tế - xã hội chung.

- Nếu so sánh (2) và (3) sẽ thấy được sự khác biệt do ảnh hởng việc thực hiện
dự án đem lại.



136
Các bài đọc thêm



Phát triển và chuyển biến xã hội

Nguyễn Thị Oanh , Tạp chí KHPT 6 – 1993



Là hậu quả, lại đồng thời là điều kiện tiên quyết của phát tri ển kinh t ế k ỹ thu ật,
sự thay đổi trong xã hội hay chuyển biến xã hội là mối quan tâm hàng đầu của khoa
học phát triển đứng từ góc độ xã hội.

Lịch sử phát triển để lại nhiều ví dụ về tính đa dạng và bất ng ờ c ủa h ậu qu ả xã
hội của các thành tựu kinh tế kỹ thuật. Tr ờng hợp thờng được nêu nên là vấn đề kế
hoạch hoá sinh đẻ. Sự phát minh ra các phơng pháp ngừa thai đã đạt được mục đích
của nói là kiểm soát dân số và sinh đẻ có kế hoạch là một b ước tiến bộ lớn của loài
người. Nhưng đồng thời xã hội phơng tây đã phải điên đầu với cái gọi là “cách m ạng
tính dục” đã làm xáo trộn sâu sắc nhiều mặt trong đời sống xã hội, từ quan hệ nam nữ,
nếp sống gia đình cho tới những quy chuẩn đạo đ ức đã đ ứng v ững hàng th ế k ỷ tr ước
đó và ngày nay người ta lại càng thấm thía khi vấn đề không còn là v ận đ ộng h ạn ch ế
sinh đẻ mà phải làm ngợc lại để đối phó với một dân số già nua, thiếu tay lao động…
Điều này cũng diễn ra tại một số vùng đô thị hoá ở các nước XHCN. Giờ đây chính
các bà trở thành nạn nhân của chính mình là đứng tr ước một tuổi già cô đơn hu quạnh.
Và còn nhiều cái bất ngờ khác trong chuỗi dài các hậu quả xã hội của phát minh này
cũng nh nhiều thành tựu kinh tế kỹ thuật lớn khác của nhân loại.

Một ví dụ thông thờng khác là quá trình đô thị hoá nhanh chóng và hỗn độn luôn
luôn kèm theo các tệ nạn xã hội nh nhà ổ chuột, thất nghiệm, trộm cớp, xì ke ma tuý,
mại dâm… Dĩ nhiên quy luật lợi nhuận, chủ nghĩa cá nhân ở xã h ội t bản làm cho vấn
đề trầm trọng gấp bội và cuối cùng đi vào bế tắc. ở các nước XHCN trên một cơ s ở
hoàn toàn khác biệt, với con người là mục đích của sự phát triển, với trình độ k ế

137
hoạch hoá cao, vấn đề dân số, đô thị hoá và nhiều vấn đề khác nhau nằm trong t ầm
kiểm soát của xã hội. Nhưng dù sao, nếu giải quyết vấn đ ề một cách c ơ b ản thì cũng
không tránh được một số hậu quả xã hội tiêu cực mà các nhà quản lý xã hội phải quan
tâm.

Trên đây là nói về các nước phát triển với trình độ khoa học kỹ thuật và xã h ội
rất cao. ở các nước đang phát triển thì vấn đề đặt ra một cách trầm trọng và kh ẩn tr -
ơng hơn nhiều vì một đàng phải đẩy mạnh phát triển kinh tế kỹ thuật (với nh ững h ậu
quả xã hội không lờng được) và đàng khác thì khả năng kiểm soát các quá trình xã h ội
rất thấp vì kiến thức xã hội thiết thực và cụ thể còn nghèo nàn và kỹ năng t ổ ch ức
gần nh không có. Chính các nước này lại phải trải qua nhi ều bi ến đ ộng xã h ội l ớn nh
chiến tranh, cách mạng….

Vì những lý do trên, trong lúc các nước phát triển đi t ới vi ệc d ự báo xã h ội đ ể l -
ờng trước các hậu quả xã hội của các ch ơng trình kinh tế kỹ thuật, nhằm tăng tối đa
các hậu quả tích cực và giảm tối đa các hậu quả tiêu cực thì các nước ch ậm phát tri ển
luôn luôn ở trong cái thế bị động, hứng chịu hết hậu quả này đến hậu quả khác.
Những vấn đề xã hội gay gắt đang chồng chất tr ước mắt chúng ta đủ nói lên điều đó.
Nhưng trong tơng lai nếu không làm chủ được tình hình thì một phần đáng kể những
của cải vật chất do phát triển kinh tế tạo ra sẽ bị “nuốt” bởi vi ệc gi ải quy ết các tiêu
cực xã hội. Vì vậy lờng trước hậu quả xã hội của mọi chơng trình kinh tế kỹ thuật là
hết sức cần thiết và ngày nay công việc này là một bộ ph ận không th ể thi ếu v ắng
trong các công trình nghiên cứu khả thi của các dự án phát triển kinh tế xã hội.

Còn một lý do thứ hai khiến cho khoa học phát triển hết sức quan tâm tới chuy ển
biến xã hội. Xã hội luôn luôn thay đổi, những khi thì quá nhanh làm cho con người mất
phơng hướng, lúc thì quá chậm, cản trở những tiến bộ cần thiết. Chính s ự thay đổi
quá chậm hay sức ì này là mối bận tâm lớn nhất của các nhà phát tri ển. Và đó cũng là
đặc điểm nổi bật nhất của hiện t ợng chậm phát triển. Con người vừa cần sự thay đổi
lại vừa có một sức chống đối khá mãnh liệt đối với cái mới lạ,cái khác mình, cái gì

138
không phải của mình, cái gì không có lợi cho mình. Thuật ngữ chuyên môn gọi đó là
“sức đề kháng đối với đổi mới” (Resistance to chưange). Chính đó là ch ướng ng ại v ật
lớn nhất đối với phát triển. Sức đề kháng này có khi ý th ức, ầm ĩ nh ưng th ờng thì nó
vô ý thức, ngấm ngầm và do đó khó phát hiện, khó kh ắc ph ục. Hầu h ết các cuộc
nghiên cứu xã hội mở đờng cho phát triển kinh tế kỹ thuật đều nhằm vào việc phá v ỡ
nó. Nó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: Thiếu kiến thức hay thông tin, thiếu giao l u
văn hoá, thành kiến, thói quen, áp lực của số đông… Nhưng hơn hết người ta chống
lại sự đổi mới khi nó được xem nh một “đe doạ” đối với vị trí xã hội và quyền lợi vật
chất tinh thần kèm theo. Nhưng thờng thì chính những người trong cuộc cũng không ý
thức về động cơ thật và chúng được chuyển hoá thành những lý do cao siêu nh cho
rằng những sự đổi mới đi ngợc với truyền thống, chống lại những giá trị “đạo
đức”… ở xã hội châu Âu xa kia, anh thợ thủ công phản đối chiếc máy chuyên dùng và
sự phân nhỏ lao động thành những thao tác chuyên biệt không ch ỉ vì đi ều này làm m ất
đi niềm vui lao động sáng tạo mà vì vị trí trung tâm của anh trong xã h ội đ ơng thời bị
đe doạ. Nhưng rồi anh thợ thủ công cũng phải biến mất đi, nh ờng chỗ cho nhiều
ngành nghề mới cũng liên tiếp biến dạng với sự cạnh tân không ngừng của khoa h ọc
kỹ thuật. Quy luật của xã hội là nh thế và ở các nước phát triển sự chuyển biến nhanh
chóng của xã hội trở thành chuyện bình th ờng. Một trong các đặc điểm của con người
hiện đại là sự sẵn sàng chấp nhận thay đổi trong xã hội và tự mình hay được xã hội
giúp trang bị để thích ứng với sự đổi mới không ngừng đó. Một trong các hình th ức
trang bị đó là sự tái đào tạo (Recyclage) liên tục và ngày nay ng ười ta còn hay đ ề c ập
tới khái niệm học hỏi, giáo dục suốt cuộc đời (Life education). Ngoài ra xã h ội còn
phải nghiên cứu, cải tổ các quy chế tổ chức để mỗi lần thay đổi nhi ệm v ụ và v ị trí xã
hội không kéo theo những mất mát quá lớn cho cá nhân hay làm việc cho vi ệc v ề h u
không phải là một thử thách quá lớn. Nhưng chủ yếu, chính bản thân t ừng ng ười ph ải
tự trang bị không ngừng để đối phó với hoàn cảnh mới, đảm nh ận nhi ệm v ụ m ới v ới
những đòi hỏi ngày càng cao về kiến thức và kỹ năng chuyên môn.



139
Trong lúc xã hội phát triển, chuyển biến nhanh chóng, thậm trí quá nhanh chóng
thì trở ngại lớn ở các nước chậm phát triển vẫn là sức đề kháng hay sức ì vừa nói trên.
Du nhập công nghiệp vào một địa phơng người ta nghĩ tới cơ sở vật chất cần thiết nh
đờng xá, kho bãi, điện nước… Nhưng người ta có khuynh hướng coi th ờng cơ sở tâm
lý xã hội nh trình độ kỹ thuật và quản lý, phong cách lao động công nghi ệp, tinh th ần
kỷ luật, tinh thần công ích của dân c và lãnh đạo địa phơng đó. Và chính đó là nguyên
nhân dẫn đến lỏng lẻo trong quản lý, tham nhũng và phung phí tài nguyên… Nói cách
khác tiền đề cho phát triển xã hội chưa có. Và đây cũng là v ấn đ ề l ớn nh ất c ủa t ất c ả
các nước chậm phát triển. Tổ chức và quản lý xã hội không đáp ứng k ịp yêu c ầu phát
triển kinh tế kỹ thuật. ở các nước phát triển sự việc diễn ra một cách “tự nhiên” và
tuần tự: Cơ sở vật chất phát triển tr ước và một cách tuần tự kéo theo những thay đổi
trong nhận thức và hành vi con người. ở xã hội chậm phát triển thì không nh ững c ơ s ở
vật chất chưa có đủ mà t tởng, thói quen phong cách làm ăn lạc hậu còn hạn chế trong
phát triển kinh tế kỹ thuật một cách trầm trọng. Tạo các ti ền đ ề xã h ội cho phát tri ển
trong hoàn cảnh cơ sở vật chất còn hạn chế chính là nỗ lực c ủa khoa h ọc xã h ội ứng
dụng vào công tác phát triển. ở đây đặt ra, bằng ngôn ngữ k ỹ thu ật c ủa khoa h ọc phát
triển chúng tôi chỉ minh hoạ nguyên lý “tiến hành đồng thời ba cu ộc cách m ạng” đó
thôi. Và chúng ta đang bàn về cuộc cách mạng văn hoá t tởng. Tuy nhiên khi bàn đến
nó người ta thờng chỉ nghĩ đến những hoạt động văn học nghệ thuật hay những hình
thức giáo dục tuyên truyền cổ điển. Nhưng ngày nay khái niệm “kế hoạch hoá sự thay
đổi” (The planning of chưange) đã trở thành thông dụng. Người ta tìm cách tác động có
hệ thống vào xã hội với mục đích đạt được những hiệu quả nhất đ ịnh nào đó và trên
một bình diện rộng lớn. Chơng trình xoá nạn mù chữ ở các nước mới dành độc lập là
một ví dụ tiêu biểu. Việc thứ hai là một chính sách quốc gia cụ th ể về truy ền thông
đại chúng và tăng cờng giao lu văn hoá (trong nước giữa nông thôn và thành thị hay
với nước ngoài). Việc đầu tiên của công tác phát triển là tạo lập tinh th ần s ẵn sàng
chấp nhận sự hay đổi, sự tiến bộ. Các ch ơng trình truyền thông đại chúng không chỉ
nhằm cung ứng kiến thức và thông tin mà còn có một tác dụng khác là t ạo s ự “quen

140
mắt” với cái mới (thuật ngữ chuyên môn gọi là “exposure” - một s ự ph ơi bày, m ột
trình trạng tiếp xúc thờng xuyên). Nếu ta thờng tiếp xúc với cách sống, với những nền
văn hoá khác với cái quen thuộc của ta, lần lần ta bớt giẫy nẩy tr ước cái mới lạ. Ta sẽ
bớt tuyệt đối hoá những thói quen, tập quán của ta và cho rằng ch ỉ cái đang có m ới t ốt
nhất, đúng nhất từ đó ta sẽ dễ dàng chấp nhận sự đổi mới trong nếp sống văn minh,
trong khoa học kỹ thuật, phong cách lao động, quản lý… Th ờng thì những chính sách
này được nghiên cứu rất kỹ trên cơ sở khoa học, được điều ti ết đúng li ều l ượng vì ít
qúa thì không có tác dụng, nhiều quá sẽ làm gia tăng nhu cầu và kỳ v ọng, n ếu không
đáp ứng được thì lại gây bất mãn. Thiết nghĩ không quốc gia nào muốn hi ện đại hoá
mà không nghĩ tới việc tăng cờng giao lu văn hoá và truyền thông đại chúng, nhưng hai
chữ kế hoạch hoá nhấn mạnh đây là một việc làm cho nghiên cứu kỹ và có s ự đầu t
đúng mức.

Trong các chơng trình phát triển nông thôn những hình thức “exposure” khác th -
ờng được sử dụng là những chơng trình điểm, những chuyến tham quan du lịch tổ
chức rộng rãi cho nông dân vì “trăm nghe không bằng một th ấy”. Nông dân Nh ật B ản
không những tham quan trong nước mà trong mùa nghỉ người ta còn thấy những tập
thể nông dân Nhật đi khắp các nước á châu. Trong các ch ơng trình việc trợ kỹ thuật,
một ngân sách khá lớn được dành cho các ch ơng trình tham quan. Các cơ quan viện trợ
biết rõ là tác dụng thu thập kiến thức có khi chẳng là bao nh ưng tác dụng “m ở não” vô
cùng quý giá cho tiến trình hiện đại hoá.

Tuy nhiên tăng cờng thông tin, mở mang kiến thức chỉ mới là b ước đầu, các khoa
học về hành vi con người nhắc nhở rằng từ hiểu biết tới hành động còn một kho ảng
cách khá dài. Và chính sự thay đổi trong hành vi mới là điều mong muốn cho phát triển.
Nếu chỉ cần được giải thích, nhắc nhở mà người khác hành động theo ý ta thì m ọi s ự
dễ dàng quá. Nếu chỉ một phần của các chủ tr ơng chính sách của Nhà nước được đem
ra áp dụng đúng mức thì ngày nay nếu không giàu mạnh, thịnh v ợng thì ta cũng có cơ
sở tối thiểu cho ấm no. Thực tế hiện nay càng cho thấy rằng s ự thông tin m ột chi ều,


141
khơi khơi, chỉ từ trên xuống mà thôi có tác dụng rất h ạn ch ế. Nó c ầ đ ược b ổ xung
bằng nhiều biện pháp khác. nếu sự bảo thủ chỉ bắt nguồn tự sự thiếu kiến thức hay
thông tin thì nó sẽ dễ khắc phục. Nhưng nó còn bắt nguồn từ tập quán lâu đ ời, thói
quen, thành kiến, áp lực của xã hội. Nó càng kiến cố khi xuất phát từ mối lo âu rằng
sự thay đổi có thể làm xáo trộn sự ổn định và an toàn của người trong cuộc. Vì v ậy
các cuộc nghiên cứu xã hội học ở các nước phát triển th ờng tập trung vào những lãnh
vực nói trên để tiến công vào sức đề kháng với sự đổi mới.

Ngày nay lý luận và thực tiễn khẳng định rằng chỉ có thay đổi trong hành vi khi
có sự tiếp xúc, tơng tác giữa người và người và nhất là khi có áp lực của nhóm nh ỏ,
hay vì môi trờng (gia đình, lớp học, tập thể lao động…) Ví dụ ngay nay khoa h ọc đã
khẳng định rằng những chơng trình giáo dục văn bản bằng ph ơng tiện truyền thông
đại chúng chỉ phát huy hết tác dụng của nó khi được bổ sung bằng những nhóm th ảo
luận. Khoa học truyền thông phát hiện vai trò quan trọng của những người gọi là
“hướng dẫn du luận” (opinion leaders) là một thiểu số đặc biệt tích cực trong công
chúng truyền thông, thờng hay chủ động loan tin cho người khác, ảnh hởng đến cách
tiếp thu của họ. Từ nhiều chục năm nay các xí nghiệp ph ơng tây áp dụng phơng pháp
sinh hoạt nhóm để đa vào những canh tân kỹ thuật mà không phải va trạm vào nh ững
sự đề kháng quá lớn. Sau chiến tranh thứ hai khi thực phẩm h ết sức khan hi ếm thì các
bà nội trợ âu châu lại có thành kiến đối với lòng bò để phung phí một nguồn l ơng thực
đáng kể và người ta biết là không có gì khó thay đổi cho bằng thói quen dinh d ỡng. Các
nhà khoa học xã hội đã nỗ lực đóng góp vào vi ệc t ạo s ự thay đ ổi c ần thi ết b ằng cách
tiến hành vào cuộc thí nghiệm. Một trong các cuộc thí nghi ệm này di ễn ra nh sau: Các
bà nội trợ được mời đến nghe báo cáo giải thích về sự bổ ích của lòng bò và khi v ề
mỗi bà về nhà ngay, phân nửa được giữ lại để thảo luận trọng các nhóm nh ỏ d ới sự
hướng dẫn của các nhà tâm lý thành thạo. Các chuyên gia này không thúc ép, áp đặt mà
để cho các bàn hoàn toàn thoải mái. Các bà được dành đầy đủ thời gian đ ể trao đổi,
giúp nhau khắc phục ngần ngại. Khi các bà tỏ ra sẵn sàng về mặt tâm lý thì m ới bàn


142
tới cách chế biến cụ thể (không đốt giai đoạn). Sau một th ời gian, một cuộc ki ểm tra
kết quả cho thấy, trong nhóm các bà ra về ngay sau khi nghe báo cáo ch ỉ có 3 % s ử
dụng lòng bò, và trong số các bà ở lại thảo luận nhóm có 37 %. Trong nhóm th ảo lu ận
mỗi bà có thể bày tỏ những khó khăn này, được người đ ồng cánh khuy ến khích. M ột
khi đã hứa hẹn, cam kết với nhau, về tới nhà họ cảm thấy một sự ràng buộc, m ột s ự
liên đới trách nhiệm nào đó nên đã bắt tay vào hành động.

Trong các cơ quan xí nghiệp, áp đặt sự thay đổi từ trên xuống, chỉ định từng chi
tiết sẽ dễ tạo sự chống đối. Ng ợc lại, chỉ nêu lên yêu cầu và ph ơng hướng lớn rồi để
cho quần chúng thảo luận thì không những sự đổi mới được chấp nhận dễ dàng mà
họ còn đa ra nhiều hiến kế quý giá. Tóm lại là phải có trao đổi, t ơng tác, phải có sự
phản hồi (feed back) từ dới lên, phải có sự khai thông về t tởng thì mới có thay đổi
trong hành vi. Tuy nhiên cũng nên nhớ rằng không phải cứ nhóm họp là có kết quả. Đó
mới là hình thức. Bí quyết là các ph ơng pháp, kỹ năng tác động vào tiến trình nhóm
trên cơ sở những kiến thức tâm lý xã hội, và sự nắm vững tâm lý cá nhân và hành vi cá
nhân trong nhóm và những quy luật chi phối nhóm…Nhóm là một công cụ, nó chỉ có
tác dụng tốt khi được sử dụng bởi một chuyên gia thành thạo. Nếu không, nó không
những vô dụng mà có thể có tác hại. ở đây không ph ải ch ỗ đ ể trình bày chi ti ết v ề lý
thuyết nhóm nhưng có thể nhắc lại rằng nhóm nhu một phơng tiện và một môi trờng
tạo sự thay đổi (the group as a means and a medium of ch ưange) đã kh ẳng định trong
lý luận và trong thực tiễn.

Các nước xã hội chủ nghĩa có một lợi thế rất lớn, vì trong cách tổ ch ức xã h ội
tập thể lao động, tổ đội sản xuất có vai trò quyết định trong việc giáo dục các thành
viên. Càng ngày các kiến thức về tâm lý xã hội được áp dụng để hoàn thiện công tác
quản lý xã hội. Biện pháp tổ chức này ngày càng được đ ề cao trong v ấn đ ề giáo d ục.
Các nhà quản lý ở các nước này cũng rất quan tâm đến các ph ơng pháp học bằng thực
hành, học bằng hành động nh diễn kịch (role playing), những phơng pháp làm việc mới
nh “ động não” ( brain storming) …Hầu khai thác tiềm năng tập thể tác đ ộng đ ến hành


143
vi của cá nhân. Một ví dụ: thay vì giảng dài dòng về phong cách c ần thi ết đ ể làm vi ệc
với dân chúng cho một nhóm cán bộ cơ sở, chỉ cần mời chính h ọ đ ứng ra di ễn l ại m ột
cuộc tiếp dân hay một cuộc họp tổ dân phố và sau đó cùng nhau phân tích s ự vi ệc v ừa
diễn ra thì họ sẽ sáng ra ngay về tâm lý của quần chúng và về phong cách của chính
họ trong công tác. Tính cách vui nhộn của cách học diễn lại những bài học có th ể là
cay đắng nhưng có kết quả tốt hơn và những thay đổi cần thi ết trong hành vi, phong
cách cũng trở nên ít đau hơn.

Trên đây là vài ví dụ còn rời rạc về cố gắng của khoa học xã hộ hi ện đ ại, đ ể
song song với các loạ văn hoá nghệ thuật, và các biện pháp giáo dục tuyên truy ền cổ
điển, tác động vào xã hội ở cấp vĩ mô và vi mô nh ằm t ạo ra nh ững thay đ ổi c ần thi ết
cho sự phát triển. Tạo được một sự thay đổi trong thái độ tác phong, tập quán, tổ ch ức
quan trọng cho đến với nhân viên phát triển th ờng được gọi bằng một cái tên chung là
“tác nhân biến đổi” (chưange aent). Họ có thể đào giếng, chấn bịnh, hay làm công tác
huấn luyện, điều chủ yếu thông qua công tác kỹ thuật họ th ực hiện là t ạo s ự thay đổi.
Thay đổi trong nếp sống vệ sinh của dân làng, thay đổi từ một thái đ ộ th ờ ơ đ ến s ự h -
ởng ứng tích cực đối với những áp dụng kỹ thuật của nông dân, từ một tạp hợp th ụ
động, rời rạc đến một tập thể đoàn kết, chủ động đạt mục đích chung. Và dĩ nhiên tr -
ước khi đi làm cho người khác thay đổi chính họ là nh ững ng ười được đ ổi m ới. Trong
quá trình đào tạo, điểm này được chú trọng đặc biệt vì không th ể làm công tác phát
triển ( công tác biến đổi) mà chính mình lại bảo thủ, thành ki ến, th ờ ơ. H ơn ai h ết
những nhân viên phát triển phải tham gia các sinh hoạt nhóm đ ể ý th ức hành vi, phong
cách của mình và thay đổi nó cho thích hợp với yêu cầu công tác.

Sự thay đổi được kế hoạch hoá đúng nghĩa nhất, lớn nhất, toàn di ện nh ất chính
là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nó tạo ra cơ sở v ật ch ất cho s ự đ ổi m ới tri ệt đ ể
nhất của xã hội và nó cung ứng một mô hình c ụ th ể đ ể theo đó theo đó mà xây d ựng
xã hội mới. Ngng đó là ở cấp vĩ mô, cấp toàn xã h ội. ở cấp vĩ mô, t ừng t ập th ể, t ừng
đơn vị xã hội còn phải làm rất nhiều để thay đổi n ếp nhìn, n ếp nghĩ, phong cách làm


144
ăn, phong cách tổ chức và quản lý cho thích hợp với yêu cầu mới. Thi ết t ởng ở đây
đóng góp của các khoa học xã hội ứng dụng có thể mang một ý nghĩa đ ặc bi ệt đ ể
hoàn thiện cuộc cách mạng trong chi tiết.

Tóm lại, chuyển biến xã hội nh tiền đề và hậu quả của phát triển ki h tế kỹ
thuật là mối quan tâm hàng đầu của khoa học phát triển đứng từ góc đ ộ xã h ội. Và
càng ngày khoa học càng tạo điều kiện để con người tác động một cách tự giác vào
quá trình này. Nhưng nói thì dễ chứ làm thì không dễ vì nó đ ồi h ỏi m ột đ ội ngũ cán b ộ
chuyên môn thành thạo trong lý luận và sành s ỏi trong th ực hành. Ta không th ể đ ặt cái
cày trước con trâu và bắt tay vào việc mà thiếu đội ngũ này vì m ột l ần nữa “ cán b ộ là
gốc” và trong thời đại này phải nói rõ là cán bộ chuyên môn m ới là g ốc. Không có h ọ,
một lần nữa chơng trình nào cũng chỉ là hình thức và nên nhớ rằng bịnh hình thức cũng
là một bịnh trầm kha, tốn kém, luôn luôn đi đôi với hiện t ợng chậm tiến. Ta phải
quyết liệt tiêu diệt nó mới vơn lên nổi. Cho nên không nên nghĩ đến bất cứ một ch ơng
trình nào mà không lo đào tạo đội ngũ chuyên môn trước đã.




145
phát triển nông thôn bẵng
những “ Tác nhân đổi mới”

Nguyễn thị oanh, Tạp chí TTCN 6 – 1991


Vấn đề then chốt của các nước đang phát triển không phải là thi ếu k ỹ thu ật.
Ngợc lại nguồn công nghệ học thích nghi hết sức phong phú ngoài cũng nh trong nước
lại không đéen tận nông dân. Gần đây sự tái xuất hiện của công tác khuyến nông
chứng minh sự cần thiết của một loại cán bộ đ a kiến thức, kỹ năng đến nông thôn gọi
là Extension, khá phổ biến ở Đài Loan và các nước châu á khác. Extension có nghĩa các
trung tâm khoa học kỹ thuật với xa, với rộng tới quần chúng ở cơ sở. Extension không
chỉ quan tâm đến khía cạnh khoa học kỹ thuật của canh tác mà nó là m ột mô hình b ốn
mặt gồm:

- Khoa học kỹ thuật ( không chỉ trong canh tác mà còn trong t ổ ch ức, qu ản lý, k ế
toán, kinh tế nông nghiệp…)

- Đời sống gia đình ( cải thiện nhà ở, môi sinh, giáo dục con cái, h ợp lý hoá t ổ
chức gia đình, làm giảm nhẹ công việc của người phụ nữ…)

- Sức khoẻ ( vệ sinh, dinh dỡng, nguồn nước sinh hoạt trong sạch, hố xí, diệt trừ
nguồn lây lan… cái mà hôm nay người ta gọi là săn sóc sức khẻ ban đầu).

- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ( nhằm tận dụng nguyên liệu ở nông thôn và
thời giờ nhàn rỗi ngoài các vụ mùa để tăng thu nhập).

Chơng trình bốn mặt này xuất phát từ nhận thức sâu sắc về nghèo đói nh một cái
vòng lẩn quẩn, khó phá vỡ nếu không tấn công đồng bộ các mặt y ếu kém của nông
thôn.



Nghèo



Sản xuất 146
Nghèo và cái vòng Trình độ học
lẩn quẩn Sức khoẻ kém vấn, tay nghề
ở nhiều nước, cán bộ khuyến nông ( extension worker) có tên tổng h ợp h ơn là
cán bộ phát triển nông thôn ( rural development worker). Các nước châu phi nói ti ếng
pháp gọi đó là linh hoạt viên nông thôn ( animateur rual) đ ể nh ấn m ạnh khía c ạnh xúc
tác, khía cạnh giáo dục gây “ thức tỉnh” của công việc. Vì không phải được thông tin
tốt là hành động tốt.

Cách nghĩ cách làm ở nông thôn còn bị giàng buộc bởi thói quen, tập quán, định
kiến, tác đọng của đại gia đình, tập thể làng mạc. Sức bật cho phát triển là sự đổi mới
trong nhận thức và hành vi, vai trò chủ yếu của tác viên phát triển chính là ở ch ỗ đó.
Sự xuất hiện của cán bộ khuyến nông ở thành phố và các tỉnh phía Nam khẳng định sự
cần thiết của một mô hình cán bộ mới. Th ờng đó là tác viên phát triển ( development
agent), còn có cái tên khác là tác viên đổi mới ( chưange agent), vì không th ể có phát
triển nếu không đổi mới.

Trong mọi ngành nghề, chính người cán bộ có “ đầu óc phát tri ển” đó là yêu c ầu
bức thiết. ở một số nước, tác viên phát triển được huấn luy ện từ sáu (6) tháng đ ến
bốn (4) năm và cao hơn nữa về kiến thức cơ bản ( kinh t ế, xã h ội h ọc, tâm lý h ọc, các
vấn đề phát triển, chính trị, luật pháp…) rồi được trang bị thêm về bốn mặt công tác
kể trên. Họ không cần thiết phải là chuyên gia; vì khi cần chuyên sâu h ọ có th ể g ọi
đến kỹ s, bác sĩ, nhà tiểu thủ công nghiệp. Nhưng họ vừa là con em, vừa là ch ỗ dựa,
nhà t vấn, chất xúc tác cho cộng đồng nông thôn.



147
Một khuyết điểm được rút kinh nghiệm ở các ch ơng trình phát triển nông thôn có
trước là công tác bị chia năm, xẻ bảy bởi quá nhiều chuyên viên: nào là y tá, nào là k ỹ
thuật viên nông nghiệp…

Chúng ta mới bắt đầu lại, xin đề ngh ị ở cấp cơ sở ch ỉ c ần m ột lo ại cán b ộ phát
triển với kiến thức tổng hợp và khả năng chủ yếu là vận động, tổ ch ức, phối h ợp,
huấn luyện để trang bị cho người dân nhiều kiến th ức, kỹ năng. Ph ơng pháp cốt lõi là
phát triển cộng đồng.

Năm 1970 tôi có thực tập ở Trung tâm phát triển cộng đồng Philippin. ở đó tôi đã
gặp hàng trăm bác sĩ, y tá, kỹ s nông nghiệp tới học về kỹ năng làm việc với con
người. ở đó hàng vạn nhân viênhội đồng xã tới để học cách vận động, t ổ ch ức đ ể làm
nhiệm vụ của chính quyền địa phơng. Vì ngày nay hánh chính suông không đủ, phải có
hành chính phát triển. Dĩ nhiên ở ta muốn có người cán bộ mới đó ph ải có cuộc cách
mạng trong đào tạo.




148
Khoa học xã hội ứng dụng và đa
khoa học kỹ thuật vào đời sống

Nguyễn Thị Oanh, Tạp chí KHPT 2 – 1993



Thảo luận về vùng lúa năng suất cao, nhà nông học nọ thốt ra một câu chí lý:

“ chúng tôi, những người làm khoa học kỹ thuât nói chuy ện với nhau m ột h ồi thì
thấy mình đang làm khoa học xã hội ! Phổ biến khoa học đâu có gì khó, cái k ẹt là ở
quản lý, ở cơ chế”. Và dĩ nhiên phía sau vấn đề quản lý hay cơ ch ế là v ấn đ ề Con
người.

Vô số những chơng trình kinh tế kỹ thuật đã khựng lại hay thậm chí phá sản vì
chạm phải những não trạng chưa sẵn sàng, những cơ chế tổ chức ọp ẹp. Nhưng đây
không phải là một khám phá mới, mà từ vài th ập niên trở l ại, khoa h ọc phát tri ển công
nhận đó là cái vế xã hội của hiện t ợng chậm phát triển và là đối t ợng nghiên cứu hàng
đầu nếu muốn nhanh chóng đem khoa học kỹ thuật vào đời sống. Một th viện thành
lập xong rồi không ai tới đọc sách, một ch ơng trình vệ sinh công cộng im lìm sau khi
nhân viên phát động rút đi, những phụ nữ nông thônch ạy trốn khi nhân viên k ế ho ạch
hoá gia đình xuất hiện, nông dân một làng nọ hoàn toàn th ờ ơ v ới m ột canh tân k ỹ
thuật, một công trình công cộng tốn kém đã tan hoang sau một th ời gian ho ạt đ ộng
ngắn ngủi. Đó là những bài học đã trở thành kinh điển trong khoa học phát tri ển. Vì
sao có những hiện tợng này? Phải chăng vì những phụ nữ ấy thiếu hiểu biết, thích
đông con để có thêm tay lao động, còn mê tín dị đoan hay là h ọ sợ áp lực của d luận
nhất là của chồng họ? Nguyên nhân nào là ch ủ yếu trong từng tr ờng hợp cụ thể? Nếu
không biết rõ thì công cuộc vận động sẽ hết sức vất vả. Th viện kia bị bỏ trống vì
người dân xung quanh đó không biết đọc, không có giờ hay còn những nhu cầu khác
bức bách hơn chưa được đáp ứng? Những nông dân nọ không hởng ứng chơng trình
canh tân kỹ thuật vì thói quen, vì bảo th ủ hay vì họ c ảm th ấy nó s ẽ làm l ợi cho ng ười


149
khác nhiều hơn hoặc dự đoán rằng nó sẽ d a tới nhiều chuyển biến xã hội có thể xáo
trộn địa vị của họ? các nhà phát triển đã nhiều lần đấm ngực t ự ki ểm vì đã hi ểu bi ết
quá ít về đối tợng mình nhằm tới và có một cái nhìn quá giản đơn về một th ực ti ễn vô
cùng sinh động và phức tạp. Và trước khi hành động họ phải tìm cách để trả lời những
câu hỏi nh làm sao nắm được tình hình một cách đầy đủ và khách quan nh ất ( nghe
người dân nói một cách khoa học) và làm sao thuyết phục được về lợi ích c ủa một ch -
ơng trình ( nói có nghệ thuật), làm sao hiểu được hay khơi dậy được yêu cầu nhu c ấu
chính đáng của một cộng đồng, làm sao biết rằng một chơng trình có hiệu quả…

Cũng vì thế mà khi thập niên phát triển thứ hai của Liên H ợp Qu ốc đ ược phát
động, khoa học xã hội đã nổi lên hàng đầu. Nhưng khoa học xã hội nào đây? Không
quên rằng kinh tế và kỹ thuật luôn luôn đi đôi, không phủ nh ận t ầm quan trọng c ủa
các khoa học kinh điển ( Triết, Sử, Văn…) Và trên hết không quênnh ấn m ạnh rằng
duy vật lịch sử là kim chỉ nam hướng dẫn mọi tìm tòi, ph ải công nh ận rằng ta đang
hết sức cần những khoa học soi rọi về động cơ hành động của con người, về cách
ứng xử của con người trong tập thể, trong những tình huống xã hội khác nhau. Đáp
ứng yêu cầu này có tâm lý học, tâm lý học xã h ội, xã h ội h ọc, nhân ch ủng h ọc … Th -
ờng được gọi chung là những khoa hành vi học (behavioral sciences, hay sciences du
comportement humain). Nhưng nói vậy vẫn còn quá chung chung vì mỗi ngành nói trên
còn phân chia ra nhiều cấp hay nhiều ngành. Ví dụ xã h ội h ọc vĩ mô (macrosociologie)
cung ứng cho ta những lý luận khái quát về cơ chế vận hành ở câp toàn xã hội, phát
hiện những quy luật xã hội chung nhất, nhưng muốn tìm hiểu nh ững đ ơn v ị nh ỏ nh xí
nghiệp, trờng học, gia đình hay đơn vị hành chính thì cần đ ược tran b ị v ới nh ững ki ến
thức của xã hội vi mô (microsociologie). Tâm lý h ọc được chia ra nhi ều chuyên ngành:
tâm lý học xã hội, tâm lý học giáo dục, tâm lý h ọc l ứa tu ổi, tâm lý t ội ph ạm, tâm b ệnh
học … để đi sâu tìm hiểu từng loại đối tợng. Nhưng nói chung những khoa học này chỉ
có chức năng phân tích, giải thích.




150
Tại một hội nghị khoa học xã hội về Đồng bằng Sông Cửu Long, vài đại bi ểu
của Đồng bằng có nói: “chúng tôi được biết nhiều, hiểu nhiều nhưng trở lại địa ph -
ơng chúng tôi làm gì đây ?” Các nhà quản lý có nên đòi h ỏi ở khoa h ọc xã h ội nh ững
phơng thức hành động ngoài chức năng soi sáng của nó không ? Đó là m ột đ ỏi h ỏi
hoàn toàn chính đáng. Nh khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có ngành cơ bản và
ngành ứng dụng và cũng mang tính chất kỹ thuật trong việc s ử dụng toán h ọc, hay
những phơng pháp thăm dò, đo lờng, thí nghệm, kiểm tra.. Nh khoa học kỹ thuật, nó
cung ứng những nhà nghiênm cứu, giảng dạy (các nhà xã h ội học, tâm lý h ọc có th ể ví
dụ nh các nhà sinh học, hoá học), và những nhà hành động, những “kỹ s xã hội” (các
nhà tâm lý ứng dụng), các nhà giáo dục học, các nhà quản lý học không khác nào
những kỹ s, bác sĩ trong lĩnh vực xã hội), mà quá trình đào tạo nếu có giống nhau ở
nền tàng cơ bản chung thì rất khác nhau ở những kỹ năng dành cho nghiên c ứu hay
giảng dạy, và những thao tác cụ thể để tác động có ph ơng pháp bào các quá trình xã
hội, để tổ chức hay để “điều trị” về mặt tâm lý hay xã h ội. Từ đó xu ất hi ện nhi ều
khoa học xã hội ứng dụng dựa trên nền tảng chung là các khoa hành vi h ọc nh ưng có
hệ thống nội dung riêng biệt và độc lập để đáp ứng những nhu c ầu công tác đ ặc bi ệt
nh giáo dục học, lao động học, tâm lý ứng dụng chuyên ngành, công tác xã h ội v.v.. Đó
là chỉ nêu lên những ngành được biết đến nhiều nhất. Có những khoa không đ a tới một
nghề nghiệp riêng biệt nhưng là những trợ lý cần thiết cho các nhà quản lý, các nhà
giáo dục ở mọi cấp, mọi ngành. Ví dụ khoa năng động nhóm ( groupdynamics -
dynamique de groupe) giúp cho ta kiến thức để tác động hữu hiệu vào tập thể, khoa
truyền thông học (communication) là cơ sở để hiểu quá trình thông đạt giữa người nói
và người nghe, công chúng và người vận động, để nắm sự phản hồi cần thi ết ( fêd
back) mà điều chỉnh chơng trình hoạt động. Xã hội học về tổ chức hay tổ chức học
(organization science) là một bộ phận của khoa học quản lý và ngày nat những toán
chuyên gia liên ngành (xã hội và tâm lý học, hành chánh học) được mời đến “chẩn bịnh
và điều trị” những căn bệnh của các tổ chức xã hội: đơn vị hành cánh, xí nghiệp, nhà



151
thơng, tổ chức khoa học .v.v.. Từ 10 - 15 năm nay kế hoạch xã hội ( social planning)
được dạy ở cấp sau đại học trong chơng trình chính quy.

Những khoa học về hành vi con người và các ngành ứng dụng kể trên tác chiến
song song với khoa học kỹ thuật nh hình với bóng. Không những chúng dọn đờng cho
khoa học kỹ thuật trong các cuộc điều tra tìm hiểu cơ cấu, nhu c ầu, phong t ục t ập
quán của một cộng đồng dân c trước khi phát động một chơng trình, hay có mặt trong
lúc kết thúc trong động tác lượng giá ( evaluation) nhưng nhiều chơng trình phát triển
lớn gồm luôn một bộ phận nghiên cứu xã hội để quan sát, theo dõi, ghi chép su ốt ti ến
trình phát triển. Những hình thức nghiên cứu gắn ch ặt với hành đ ộng này đ ược g ọi là
nghien cứu thao tác (operational research) hay nghiên cứu hành động (action reseach).
Nhưng chính trong hành động khoa học xã hội và kỹ thuật m ới l ại qu ấn quýt v ới nhau
một cách hữu cơ hơn nữa. Để thực hiện những chơng trình phát triển kinh tế xã hội
tổng hợp, những toán liên ngành (kỹ thuật, kinh tế, y tế, xã hội .v..) làm việc d ới sự
điều động của một tác viên phát triển ( development worke) mà kỹ năng chủ yếu là
điều tra, vận động tổ chức phối hợp. Người này mang nhiều tên khác nhau nh tác viên
phát triển cộng đồng (commutity development worke) ở Phi Luật Tân, ấn Độ, các nước
Phi Châu) chịu ảnh hởng (Anglo - Saxon), tác viên phát triển nông thôn (rural
development worrke ở Phi, ấn và một số nước á Châu khác), linh hoạt viêng nông thôn
(animateur rural ở các nước Phi Châu nói tiếng Pháp). Hoặc thay vì nhiều nhân viên
khác nhau thì có nhân viên “khuyến nông” (extension worker thịnh hành ở Đài Loan và
có mặt ở nhiều nước khác) mà chức năng tổng hợp là giúp đỡ dân làng nân cao mức
sống từ mặt canh tác trồng trọt, tổ chức gia đình, bổ túc văn hoá, t ới v ệ sinh th ờng
thức và y tế công cộng. Thay vì đi sâu vào một ngành, tác viên này phát tri ển m ỗi th ứ
một ít cộng với nền tảng thành vi học, và các khoa ứng dụng kể trên. Mô hình đ ơn
giản hơn hết là các kỹ s, bác sĩ, y tá hoạt động trong các chơng trình phát triển được
trang bị thêm về kiến thức và kỹ năng khoa học xã hội. Có rất nhiều tranh luận về u
khuyết điểm của từng mô hình, nhưng vấn đề thiết yếu là mỗi nước ph ải ch ọn l ấy


152
mô hình thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ th ể của mình. Đ ối v ới ta v ấn đ ề không ph ải
chọn mô hình nào vì tổ chức xã hội của ta toàn hoàn khác biệt và chúng ta có nhi ều
loại cán bộ hoạt động với quần chúng có thể chỉ cần bồi d ỡng thêm về một số kỹ
năng nào đó thôi. Vấn đề đáng ghi nhớ ở đây là các ch ơng trình kinh tế xã hội đòi hỏi
sự đóng góp đồng bộ của cả hai ngành khoa học kỹ thuật và xã hội. Các ch ơng trình
khoa học kỹ thuật đòi hỏi đồng thời phải cải tiến tổ chức, tăng cờng năng lực quản lý.
Nói đến hợp tác hoá, hay thậm chí một lãnh vực nh ỏ nh khoán nhóm ta không thể coi
nhẹ cái vế xã hội là “nhóm”. Hiểu biết về mối t ơng tác giữa nhóm viên, quy luật phát
triển nhóm, cách giải quyết mâu thuẫn trong nhóm, phát huy sự tham gia tích c ực c ủa
nhóm viên (nội dung của khoa học về nhóm) dĩ nhiên sẽ giúp không ít vào vi ệc tăng
năng suất hay quản lý các tổ đội sản xuất .v.v.. Đi ều đáng ghi chú th ứ hai là ngay
trong lãnh vực khoa học xã hội vẫn còn một khoảng cách giữa hiểu biết (kiến th ức),
và biết làm (kỹ năng: nh kỹ thuật điều tra, tiếp xúc, tổ chức một cách khoa học, vận
động, phối hợp, lượng giá …) Là kết quả của quá trình đào tạo có hệ thốgn thay vì ch ỉ
đúc kết từ kinh nghiệm.

Trong giai đoạn đất nước thống nhất và tiến lên công nghiệp hoá và s ản xu ất
lớn xã hội chủ nghĩa, viễn cảnh phát triển khoa học th ật là phong phú và h ứa h ẹn.
Người làm khoa học vô cùng phấn khởi mà cũng âu lo v ề trách nhi ệm l ớn lao c ủa
mình trước lịch sử vì chậm một chút trong nhận định khoa học có thể làm trì trệ sự
tiến tới ấm no của dân tộc nhiều chục năm. Đặt vấn đề cơ bản hay ứng dụng, cái nào
làm trước cái nào làm sau là đặt một vấn đề giả tạo vì thực tế xã hội đang thôi thúc ta
làm cả hai. Vấn đề là phân công hợp lý. ở các nước tiên tiến có các viện nghiên cứu
mà chức năng chủ yếu là nghiên cứu cơ bản. Nhưng ngày nay nhiều tổ chức Đảng,
đoàn, xí nghiệp có bộ phận nghiên cứu xã hội và tân lý riêng c ủa mình vì các vi ện
không thể gánh hết các nhiệm vụ khoa học và đáp ứng nh ững nhu c ầu hành đ ộng b ức
bách. Thông thờng các khoa học xã hội kinh điển đi trước, các khoa học hành vi kế đó,
và các khoa học ứng dụng phát triển sau cùng. Chúng ta không nh ất thi ết ph ải theo


153
trình tự này miễn là không bao giờ quên rằng cái ứng dụng chỉ có thể dựa trên cái cơ
bản và mặc dù khoa học xã hội ứng dụng mang tính kỹ thuật nhiều nó không “trung
lập” nh người ta thờng tởng mà chỉ trở thành công cụ tốt khi bám rễ thật sâu từ các
khoa học xã hội mác - xít.

Muốn hay không, đó đây những cơ quan hoạt động văn hoá xã h ội ngoài các vi ện
nghiên cứu cũng đã bắt đầu sử dụng phơng pháp xã hội học để điều tra thăm dò, tìm
hiểu đối tợng phục vụ của mình, các ngành y tế mỗi ngày một th ấy rõ nhu cầu lôi
cuốn các đồng nghiệp xã hội của mình vào hành động chung. Mu ốn hay không th ực t ế
sẽ thúc đẩy sự phát triển của khoa học xã h ội ứng dụng. Vấn đ ề là k ịp th ời quan tâm,
hướng dẫn nó để cùng với khoa học kỹ thuật nhanh chóng đ a đời sống của nhân dân
lên tới âm no, chưan hoà, hạnh phúc.




154
Những khía cạnh xã hội của
phát triển kinh tế

Nguyễn Thị Oanh, Phát triển kinh tế – 1993



“Có thực mới vực được đạo”, nhiều người vẫn còn nghĩa nh vậy, có nghĩa là hãy
lo làm giàu đã. Có tiền rồi mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội.

Quan điểm này đã bị đánh giá là sai lầm từ hơn hai thập kỷ qua và ngày nay cái giá
mà phát triển kinh tế thiếu quan điểm xã hội ph ải trả đã rõ. Ch ỉ c ần nêu lên hai tr ờng
hợp mang tính thời sự nhất.

Đợc nhắc đến thờng là chính sách phát triển du lịch và tác hại kịnh t ế – xã h ội mà
nạn Sida đem lại cho Thái Lan. Tr ờng hợp thứ hai là hiện tợng nghèo đói tột cùng ở
một số nước Châu Phi và Châu Mỹ La tinh mà các nhà nghiên c ứu v ề phát tri ển g ọi là
sự ô nhục của nhân loại vào thế kỷ 20. Để thắt l ưng buộc bụng trả nợ cho nước
ngoài, các nước này đã giảm đáng kể ngân sách dành cho y tế, giáo dục, phúc lợi xã
hội. Hậu quả là thất học, suy dinh dỡng, bệnh tật đã gây những tổn phí rất lớn và đa
các nước này vào tình trạng nghèo đói tột cùng. Khuyến cáo mới nhất của Liên Hiệp
Quốc (LHQ) để giải quyết vấn đề phát triển của các nước này là tăng mạnh ngân sách
xã hội. Một hiện tợng xã hội nổi bật “làm nghèo đất nước” là sự bùng nổ dân s ố. Đây
chẳng phải là một vấn đề xã hội sao ? Nhiều quốc gia rất quy ết tâm ki ểm soát dân s ố
song vẫn bất lực cho tới khi các nhà khoa h ọc về hành vi con người đóng vai trò then
chốt trong công tác vận động quần chúng.

Khía cạnh văn hoá của kinh tế được các nhà kinh điển nhắc đến t ừ lâu nh đạo
đức học Cơ đốc giáo với sự phồn vinh của ph ơng Tây. Gần đây trờng hợp Nhận Bản
cho thấy tinh thần tập thể và tính kỷ luật c ủa dân t ộc Nh ật là nhân t ố khá quy ết đ ịnh
trong phát triển kinh tế Nhật.




155
Còn Việt Nam ta ? Phong cách cò con, chụp giựt, chủ nghĩa cá nhân, sự bất tuân
luật lệ, sự thiếu ý thức về lợi ích chung, thiếu Know – how xã h ội (k ỹ năng t ổ ch ức,
lãnh đạo, hợp tác…) Không phải là những nhân tố xã hội đang cản trở kinh tế đó sao?

Do đó từ hai, ba thập kỷ trở lại đây, yếu tố xã hội không ch ỉ là h ậu qu ả mà còn là
tiền đề cho phát triển kinh tế. Hai mặt kinh tế- xã hội h ải đ ược coi tr ọng nh nhau và
không còn quốc gia nào không gọi kế hoạch phát triển quốc gia của họ là k ế ho ạch
phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, tại tất cả các nước ch ậm phát tri ển, đây m ới là
khẩu hiệu. Vì đa hoạch định xã hội (social planning) vào kế hoạch phát triển nh một
cơ chế gắn liền (buit – in mechưanism) là một điều rất khó. Lý do thứ nhất là những
nhà kinh tế học cũ không hiểu biết gì về khía cạnh xã h ội và th ậm chí còn coi th ờng.
Lý do thứ hai cho quan điểm của mình. Rất ít quốc gia có s ự hi ện di ện c ủa chuyên gia
xã hội trong uỷ ban kế hoạch nhà nước, một điều đã được khuyến cáo trên thế giới.

Vài ví dụ về hoạch định phát triển có dành trọng tâm cho yếu tố xã hội:

- Ngân sách tối u và chính sách đúng dàng cho y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội.

- Ngân sách đầu t đúng mức và chính sách u tiên cho kế hoạch hoá gia đình và
kiểm soát dân số.

- Các chơng trình phát triển kinh tế có cơ chế ngăn chặn hay giảm bớt hậu quả
tiêu cực về xã hội. Chẳng hạn chính sách phát tri ển du l ịch, ngo ại th ơng có quan điển
nhân bản và đạo đức. Các nhà chủ trơng “có thực mới vực được đạo” của Thái Lan
ngày nay mới thấy Sex tous, sân golf đã tàn phá môi tr ờng, nền văn minh và con người
của nước họ nh thế nào.

- Một chính sách phát triển có quan tâm đến tầng lớp nghèo nhất không phải bằng
từ thiện mà bằng cơ chế.

- Chính sách phát triển nhanh chóng các khoa học xã h ội ứng d ụng đ ể tác đ ộng có
hiệu quả vào cơ chế xã hội và hành vi con người.



156
Một sự thật đã được khẳng định. Các nước đu tr ước đã vơn lên về măt kinh tế chỉ
từ khi trong khoa học quản lý có sự đóng góp của các khoa h ọc rất quan tr ọng v ề hành
vi con người nh xã hội học, tâm lý học và nhân chủng học. Các khoa c ơ bản nay đã có
cả trăm năm tuổi. Còn các môn có tính chất ứng dụng h ơn nh quản lý học, truyền,
truyền thông học, tâm lý xã hội, xã hội học ứng dụng, phát triển cộng đồng, công tác
xã hội .v… đã có trên 30 – 50 năm tuổi.

Để theo kịp đà phát triển của xã hội, các khoa học mới được hình thành nh khoa
Phát triển tài nguyên con người (Human Resources Development) đã có ở hầu hết các
đại học trên thế giới, khoa Phát triển tổ chức ( Oganizational Development) hết sức
cần thiết cho lãnh đạo các cơ quan, khoa Ph ụ nữ và phát tri ển ( Woman and
Development) vì phụ nữ và trẻ em là những nạn nhân chịu nhiều thiệt thòi nhất trong
quá trình phát triển vừa qua, trong lúc nếu được hỗ trợ họ sẽ trở thành tác nhân quan
trọng của phát triển. Trong lãnh vực sức khoẻ. Nhân chủng học xã h ội. Xã h ội h ọc
sức khoẻ góp phần tích cực để giải quyết vấn đề sức khoẻ của nhân loại. Các loại
hình nhân viên sức khoẻ khác nhau đang xuất hiện. Điều muốn nói ở đây là khoa h ọc
xã hội cũng nh koa học tự nhiên và kỹ thuật chuyển biến đổi không ngừng và ngày
càng đi vào kiến thức, kỹ thuật cụ thể để tác động vào xã h ội chu ẩn b ị môi tr ờng
thuận lợi cho phát triển kinh tế, giúp chuẩn bị con người có tác phong công nghi ệp,
biết làm việc tập thể, biết tổ chức, lãnh đạo .v.v..

Xã hội ra ngày nay đang hụt hẫng trước những vấn đề xã hội rất lớn gây cản trở
cho tiến trình phát triển. Còn nhiều thí dụ nhấn mạnh nhu cầu nhanh chóng đổi mới
một nền khoa học xã hội còn trong dạng “thuyết pháp” thành một nền khoa học xã hội
năn động, đa dạng và lấy yếu tố con người làm chủ thể và mục tiêu của phát triển.

Các bước lập kế hoạch tiến độ hoạt động cho dự án phát triển cộng đồng

Lên kế hoạch tiến độ cho các dự án là yếu tố trung tâm trong ti ến trình tri ển khai
dự án. Khâu này gồm các bước chính yếu nh sau:



157
1. Xác định các hoạt động

2. Lập trình tự cho các hoạt động

3. Lên khung thời gian cho các hoạt động

4. Phân công trách nhiệm thực hiện các hoạt động

5. Xác định những phơng tiện, thiết bị và dịch vụ cần phải có

6. Chuẩn bị kinh phí

Xác định các hoạt động

Xác định các hoạt động của dự án là b ước quan trọng nhất trong giai đoạn lên kế
hoạch cho dự án. Thời gian và nỗ lực đầu t cho bước này giúp dự án có nhiều khả
năng thành công hơn. Việc xác định các hoạt động phải th ực hi ện trong d ự án c ần
phải có sự tham gia của tất cả các bên có liên quan. Khi xác định các hoạt động phải
dựa trên cơ sở các mục tiêu cụ thể của dự án, kể cả nguồn tài nguyên và nh ững trở
ngại. Chỉ có thể thực hiện dự án một cách có hệ th ống khi các hoạt đ ộng đ ược v ạch
ra một cách chi tiết và kỹ lỡng ở giai đoạn đầu của khâu chuẩn bị dự án. Trong một số
dự án. Khi bắt tay thực hiện một dự án, đôi khi có thể nh ững ng ười có liên quan đ ến
việc lên kế hoạch ban đầu không còn làm việc nữa. Trong tr ờng hợp đó, chỉ có thể
thực hiện dự án một cách có hệ thống nếu những người lên kế hoạch cho dự án đã
vạch ra các hoạt động một cách chi tiết. Do đó, điều h ết s ức quan tr ọng là xác đ ịnh và
liệt kê những hoạt động chính và những đề mục phụ trong từng hoạt động.

Khả năng quyết định một loại những hoạt động ăn khớp với nhau và nh ững đ ề
mục phụ trong từng hoạt động (vì xét cho cùng qua các hoạt động này sẽ đạt được các
mục tiêu cụ thể) là một kỹ năng quan trọng mà các nhà v ạch k ế ho ạch cho d ự án c ần
phải có.

Lập trình tự cho các hoạt động




158
Một khi đã xác định được các hoạt động thì điều thiết y ếu là lên được m ột trình
tự đúng đắn cho các hoạt động ngay trong giai đoạn lên k ế hoạch. Bi ết lên đ ược m ột
trình tự đúng đắn sẽ giúp tránh được lãng phí thời gian và tài nguyên. M ột s ố ho ạt
động phải hoàn tất được khi tiến hành những hoạt động khác. Cũg vật, một số hoạt
động phải được tiến hành song song với các hoạt động khác. Do đó, nhất thiết ph ải
lên một trìh tự cho các hoạt động. Thông thờng việc thực hiện một dự án, thì cần phải
giám sát và phối hợp những hoạt động được tiến hành theo một trình tự hợp lý nh ất.
Để làm việc này một cách hệ thống nhất, thì cần phải sẵp xếp các hoạt động theo
một trình tự ngay trong giai đoạn đầu của công tác chuẩn bị dự án.

Khung thời gian tiến độ

Sau khi xác định và sắp xếp các hoạt động của một dự án theo một trình tự thì
công việc tiếp theo là xác định khi nào thì tiến hành các ho ạt đ ộng này. Do đó, các nhà
vạch kế hoạch cho dự án cần triển khai một khung th ời gian cho các ho ạt đ ộng chính
và phụ. ĐIều này giúp tiên liệu tr ước mỗi hoạt động sẽ khởi sự và hoàn tất trong
khuôn khổ nguồn tài nguyên sẵn có và những trở ngại đã dự ki ến tr ước. Điều này
cũng giúp giám sát các hoạt động của dự án trong quá trình th ực hi ện và ki ểm tra xem
công việc có tiến triển. Biểu đồ GANTT và kỹ thuật lượng giá và duy ệt lại ch ơng
trình (PERT) là hai công cụ chính giúp triển khai một khung thời gian cho một dự án.

Phân công trách nhiệm

Lên kế hoạch các hoạt động của dự án sẽ không hoàn chỉnh nếu không phân công
trách nhiệm cho từng cá nhân thực hiện những hoạt động khác nhau. Vi ệc này cũng
phải làm một cách có phơng pháp đê đảm bảo cộng đồng cùng tham gia. Một trong
những yếu tố quan trọng nhất để dự án thành công chính là động c ơ c ủa nh ững ng ười
thực hiện các hoạt động. Các cá nhân sẽ có động lực nếu đ ược phân công trách nhi ệm
về những công việc mà họ muốn đảm nhận và hoàn thành. Do đó, đi ều quan tr ọng là
tìm hiểu về những kỹ năng và sở thích của các thành viên trong cộng đồng là nh ững



159
người sẽ tích cực tham gia vào dự án, và biết giao những công việc hợp với kỹ năng
và sở thích của từng cá nhân.

Xác định những phơng tiện, thiết bị và dịch vụ cần phải có

Việc tiến hành các hoạt động của dự án đòi hỏi nhiều loại phư ơng tiện, thiết bị
nguyên vật liệu và dịch vụ khác nhau. Các thành viên trong c ộng đ ồng ph ải cùng nhau
xác định những thứ này (phơng tiện, thiết bị, nguyên vật liệu và dịch vụ cần phải có)
cho từng hoạt động của dự án. Ví dụ, hầu h ết các d ự án s ẽ c ần nh ững ph ơng tiện để
tổ chức các buổi họp và xe cộ để chuyên chở những nguyên vật liệu cần thiết. Nếu
dự án gồm cả công việc xây cất thì phải thu xếp để mua, m ợn hoặc thuê mớn thiết bị.
Phải làm những công việc này trước khi thực hiện dự án. Đối với các dịch vụ cũng
vậy. Một dự án có thể cần tới dịch vụ của nhân viên y t ế hay công vi ệc c ủa th ợ m ộc
phải có kế hoạch thu xếp những dịch vụ nh vậy.

Chuẩn bị kinh phí

Việc chuẩn bị ngân sách rất quan trọng trong việc lập kế hoạch d ự án. Ngân sách
nói chung là xác định các khoản thu và cá khoản chi. Trong những năm dự án phát triển
cộng đồng, có thể lập ngân sách dới nhiều hình thức khác nhau. Trong một số dự án,
người ta u tiên ước tính chi phí cho các hoạt động của dự án bởi vì tiền s ẽ do một tổ
chức tài trợ hay một tổ chức phát triển cung cấp. Nếu m ột d ự án không có s ẵn ngu ồn
tài trợ, thì nên ước tính ố tiền cần thiết và làm thế nào để vận động tr ước khi bắt đầu
dự án. Kinh phí cần cho những dự án phát triển cộng đ ồng có th ể v ận đ ộng b ằng
nhiều cách. Có thể huy động kinh phí từ những thành viên trong cộng đồng, các nhà
hảo tâm, các tổ chức tài trợ, chính phủ trung ơng, chính quyền tỉnh thành hay địa ph-
ơng. Một ngân sách được chuẩn bị tốt sẽ tạo thuận lợi cho việc phối hợp các ho ạt
động và làm tăng động lực nơi những người tham gia thực hiện dự án.




160
Tài liệu tham khảo

Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến và Lê Xuân Bình , 2001.
Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội.

Phạm Đỗ Chí, Đặng Kim Sơn, Trần Nam Bình và Nguyễn Ti ến Tri ển. 2003.
Làm gì cho nông thôn Việt Nam. Nhà xuất bản thành ph ố Hồ Chí Minh. Trung tâm
kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng, và Thời báo kinh tế Sài Gòn.

Bùi Huy Đáp Nguyễn Điền. 1996. Nông nghiệp Việt Nam: Từ cội nguồn đến
đổi mới. Nhà xuất bản chính trị quốc gia.Hà Nội.

Elise Pinners và Nguyễn Thị Mai. 2003. Thành lập một tổ chức nh thế nào. Tổ
chức VECO Việt Nam.

Tô Duy Hợp và Lơng Hồng Quang .2000. Phát triển Cọng đồng: Lý thuyết và
vận dụng. Nhà xuất bản văn hoá thông tin.

International Institute of rural reconstruction (IIRR). 1998. Partiocipatory
menthods in community-based coastal resource managenmet. Volume 1, pp. 12 – 49.
International Institute of rural reconstruction, Silang, Cavite, Philoppines.

Lydia Braakman và Keren Edwards. 2002. Sổ tay tập huấn Nghệ thuật Xây
dựng năng lực thúc đẩy. RECOFTC – Trung tâm đào tạo lâm nghiệp cộng đồng vùng
Châu á và Thái Bình Dơng.

Michưael Dower. 2003. Phát triển nông thôn toàn diện. Bộ cẩm nang đào tạp và
Thôngtin. Nhà xuất bản nông nghiệp.

Nguyễn Thị Oanh. 1995. Phát triển Cộng đồng, Khoa Phụ nữ học. Đại học Mở
Bán công Thành phố Hồ Chí Minh

Trần Thị Quế. 1999. Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt
Nam. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.



161
Lơng Xuân Quỳ và Nguyễn Thế Nhã. 1999. Đổi mới tổ chức và quản lý các
hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn. Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội.

Stanley Gajanayake và Jaya Gajanayke. 1997. Nâng cao năng lực cộng đồng
Phạm Đình Thái dịch. Nhà xuất bản trẻ 1997.

Tomas D. Andres. 1998. Community Development: A Manual. Newday Publisher,
Quezon City, The Philippines.

Tổ chức hợp tác Kỷ luật Đức (GTZ). 2004. Sách TOT, Hướng dẫn chung các
kỹ năng hỗ trợ và đào tạo. Bộ tài liệu đào tạo về CDP/CDP.

Trung tâm nghiên cứu - Đào tạo qu ản trị NN – PTNT, Trờng đại học nông
nghiệp I. 2004. Quản trị Hợp Tác xã Nông nghiệp. Nhà xuât bản Nông nghiệp.

Trơng Văn Tuyến. 1995. Bài giảng Phát triển nông thôn Tr ờng đại học Nông
lâm Huế.




162
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
1.1. Nhu cầu phát triển cộng đồng ở thế giới và VIệt Nam
1.2. Quá trình hình thành các chương trình phát triển cộng đồng ở Việt Nam
CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
2.1. Khái niệm về phát triển cộng đồng
2.2. Sự tham của người dân trong phát triển cộng đồng
2.3. Khái niệm về sự tự lực (tự quản) trong phát triển cộng đồng
2.4. Xây dựng thể chế, luật lệ trong phát triển cộng đồng
2.5. Các nguyên lý trong phát triển cộng đồng
2.6. Nhu cầu và sở thích trong phát triển cộng đồng
2.7. Sử dụng nguồn lực phát triển cộng đồng
2.8. Cấu trúc và tổ chức trong phát triển cộng đồng
2.9. Giới hạn và các mối quan hệ
2.10. Sự phối hợp giữa các bưước trong phát triển cộng đồng
2.11. Cách nhìn nhận trong sự phát triển cộng đồng
2.12. Phạm vi phát triển cộng đồng
2.13. Phân biệt sự phát triển cộng đồng với các chương trình phát triển khác
2.14. Nhiệm vụ của phát triển cộng đồng
2.15. Đặc điểm cơ bản của phát triển cộng đồng
2.16. Mục đích của phát triển cộng đồng
2.17. Ý nghĩa của phát triển cộng đồng
CHƯƠNG 3. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
3.1. Phương pháp phát triển cộng đồng
3.2. Một số hưỡng dẫn cho những người tham gia thực hiện
chương trình phát triển cộng đồng.
3.3. Những chỉ tiêu đánh giá tính khả thi của chương trình phát triển cộng đồng
CHƯƠNG 4. NHỮNG VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TRONG PHÁT TRIỂN
CỘNG
ĐỒNG
4.1. Phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng
4.2. Phát triển cộng đồng và phát triển quốc gia
4.3. Phát triển cộng đồng và phát triển chính trị
4.4. Phát triển cộng đồng và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá
4.5. Phát triển cộng đồng với phụ nữ và thanh niên
4.6. Phát triển cộng đồng với vấn đề quy hoạch
4.8. Phát triển cộng đồng với chính quyền địa phương
4.9. Phát triển cộng đồng và hợp tác xã
4.10. Xu hướng nảy sinh trong phát triển cộng đồng
CHƯƠNG 5. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM
5.1. Chương trình 135.

163
5.2. Chương trình định canh, định cư và vùng kinh tế mới
5.3. Chương trình phổ cấp giáo dục
5.4. Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường
5.5. Chương trình đào tạo nguồn nhân lực
5.6. Chương trình phát triển ngành nghề




164
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản