Bài giảng - phương pháp thí nghiệm đồng ruộng - chương 1

Chia sẻ: northernlight

BÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM CÂY TRỒNG NGƯỜI BIÊN SOẠN: TS. Nguyễn Minh Hiếu Huế, 2008 1 MỞ ĐẦU Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức chân lý khoa học. Là hoạt động nhận thức của con người nhằm khám phá bản chất của sự vật và hiện tượng và tìm kiếm giải pháp cải tạo thế giới. Đó những hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, thử nghiệm. Dựa trên các số liệu, tài liệu, kiến thức đã đạt được từ các thí nghiệm khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất của sự vật, về...

Nội dung Text: Bài giảng - phương pháp thí nghiệm đồng ruộng - chương 1

 

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – H À LAN B ÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ĐỒNG RUỘNG Người biê n soạn: PGS.TS Nguyễn Minh Hi ếu Huế, 08/2009
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ DỰ ÁN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM - HÀ LAN *************** B ÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM CÂY TRỒNG NGƯỜI BIÊN SOẠN: TS. Nguyễn Minh Hiếu Huế, 2008 1
  3. MỞ ĐẦU Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức chân lý khoa học. Là ho ạt động nhận thức của con ng ười nhằm khám phá bản chất của sự vật và hiện tượng và tìm kiếm giải pháp cải tạo thế giới. Đó những ho ạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, thử nghiệm. Dựa trên các số liệu, tài liệu, kiến thức đ ã đạt được từ các thí nghiệm khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất của sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội để sáng tạo ra ph ương pháp, phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nh ằm phục vụ ngày càng tốt hơn lợi ích của con ng ười. Để có kết quả nghiên cứu đúng, khách quan cần có phương pháp nghiên cứu đúng. Phương pháp nghiên cứu chính là cách thức, con đ ường, phương tiện để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nhằm đạt được mục đích đặt ra. P hương pháp nhiên c ứu khoa học là điều kiện đầu tiên, cơ b ản nhất của nghiên cứu khoa học. Tất cả tính nghiêm túc c ủa nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào phương pháp nghiên c ứu. Phương pháp đúng, phù hợp là nhân tố đảm bảo sự thành công của ng ười nghiên cứu và là điều kiện cơ b ản quyết định thắng lợi của công trình nghiên cứu. Tuỳ thuộc vào đ ối tượng nghiên cứu khác nhau m à ngư ời nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Thí nghiệm là một trong các phương pháp nghiên cứu khoa học thông dụng được áp dụng nhiều trong lĩnh vực sinh học nh ư: Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản. Tuy nhiên nội dung có khác nhau tùy thuộc vào ngành cụ thể. Tài liệu phương pháp thí nghiệm nhằm cung cấp cho sinh viên một số kiến thức cơ bản về phương pháp thiết kế và bố trí thí nghiệm cũng nh ư các thu ật toán thống kê mô tả các tham số, các tiêu chu ẩn kiểm định thống kê trong xử lý kết quả nghiên cứu và cách trình bày một báo cáo khoa học. Để nắm đ ược kiến thức của môn học sinh viên phải đ ược học và n ắm vững kiến thức xác suất thống kê, tin học, phương pháp lu ận nghiên cứu khoa học và một số môn khoa học liên quan đến chuyên ngành. Tài liệu này được soạn thảo để phục vụ sinh viên và các nhà nghiên c ứu thuộc lĩnh vực nông học của Khoa Nông học, việc in ấn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi mong nhận đ ược sự góp ý kiến của đông đảo bạn đọc để tài liệu được ho àn chỉnh dần phục vụ tốt hơn cho công tác nghiên c ứu khoa học và học tập của cán bộ và sinh viên thuộc khối sinh họ c nói chung và khoa Nông học nói riêng của Trường đại học Nông Lâm Huế. Chúng tôi xin chân thành cám ơn. Chương I 2
  4. Đ ẠI CƯƠNG VỀ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Chương này trình bày các giai đoạn của quá trình tiến hành nghiên cứu, các loại thí nghiệm phổ biến trong nông nghiệp. 1. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Như chúng ta đ ã biết:“Thí nghiệm l à một phần của sự nghiệp sản xuất trong xã hội lo ài người, nhằm khám phá ra các quy luật khách quan của thế giới vật chất với mục đích nắm vững và b ắt các bí mật của thiên nhiên ph ục vụ cho cuộc sống con người”. Nghiên cứu khoa học là quá trình nghiên c ứu và gi ải thích các hiện t ượng khoa học xuất phát từ lý luận và thực tiễn. Từ đó sẽ ứng dụng các kết quả nghiên cứu được vào sản xuất phục vụ cho cuộc sống con ng ười. Nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học nông nghiệp nói riêng ph ụ thuộc rất mật thiết với điều kiện tự nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, vì vậy nhiệm vụ các nhà khoa học nông nghiệp là ph ải nghiên cứu và đề xuất đ ược những biện pháp kỹ thuật cụ thể, thích hợp cho từng vùng sinh thái nhằm khai thác bền vững và hiệu quả các điều kiện ấy. Kết quả nghiên khoa học trong nông nghiệp cũng liên quan nhiều đến kiến thức tổng hợp của nhiều lĩnh vực khác như: toán học, hóa học, thổ nh ưỡng, khí tượng, sinh học, kinh tế học, liên quan đến ph ương pháp nghiên c ứu, đến tính sáng tạo của người nghiên cứu. N ước ta là một nước đang phát triển việc kế thừa các phương pháp và kết quả nghiên cứu để rút ng ắn thời gi an nghiên cứu trong các lĩnh vực cụ thể l à hết sức cần thiết. 2. CÁC G IAI ĐO ẠN TRONG QUÁ TR ÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Để có thể xây dựng đ ược một đề tài nghiên cứu khoa học nông nghiệp nói chung và c ụ thể hơn là xây dựng đ ược một thí nghiệm về một biện pháp kỹ thuật nào đó như: Giống, phân bón, tưới nước, thời vụ, bảo vệ thực vật..cho một vùng đòi hỏi người làm công tác nghiên cứu cần phải thực hiện theo các giai đoạn sau đây. 2.1. Thu th ập thông tin Mục đích của thu thập thông tin là giúp cho nhà khoa học hiểu rõ vấn đề sẽ được nghiên cứu. Vấn đề đó đ ã được nghiên cứu chưa, nghiên c ứu đến đâu, vấn đề nào còn tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hay sẽ được nghiên cứu sang hướng khác. Các thông tin cần thu thập gồm:  Các tài liệu có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới vấn đề dự định nghiên cứu.  Kinh nghiệm sản xuất của người dân. Các thông tin được thu thập từ các nguồn: - Giáo trình, sách chuyên kh ảo, sách h ướng dẫn phổ biến khoa học kỹ thuật, 3
  5. các tạp chí khoa học, các kết quả nghiên cứu khoa học. Các nguồn số liệu này bao gồm cả trong nước và trên thế giới. - Các tài liệu của hội nghị, hội thảo và các ho ạt động khoa học khác. - Tìm hiểu kinh nghiệm sản xuất, các biện pháp thực hiện của nông dân liên quan đến vấn đề sẽ đ ược nghiên cứu. - Thu thập thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng khác như: vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, các tài liệu liên quan trên mạng... 2.2. Xây d ựng giả thuyết khoa học Giả thuyết khoa học là những giả định có nhiều khả năng đúng nhất về một sự vật hay hiện tư ợng n ào đó. Nó giúp cho ta có thể phát hiện và gi ải thích những vấn đề mà những giả thuyết khác trước đây ch ưa gi ải thích được. Vì vậy, giả thuyết khoa học không đ ược phép chung chung m à phải cụ thể, phải thực sự xuất phát từ các nguồn thông tin thu thập đ ư ợc. Giả thuyết cũng chính là xuất phát điểm để xây dựng kế hoạch nghiên cứu thực nghiệm. Tìm cái mới bao giờ cũng đ òi hỏi lòng dũng cảm, trí thông minh, phải đầu tư công sức, trí tuệ, thậm chí cái mới sẽ không được hiện tại thừa nhận. 2.3. Chứng minh giả thuyết khoa học Chứng minh giả thiết khoa học là quá trình quan sát, quá trình làm thí nghiệm. Trên cơ sở các số liệu (các chỉ tiêu nghiên cứu thể hiện qua kết quả theo dõi và quan sát) có được và suy lu ận nhằm gạt bỏ cái không đúng, s àng lọc lấy cái đúng có tính quy luật và những cái có thể coi là chân lý. Chứng minh giả thuyết khoa học có hai cách: Quan sát hay điều tra và làm thí nghiệm thực nghiệm.  Quan sát hay điều tra: là việc tìm hiểu, theo dõi thực tế, đây là một quá trình bắt nguồn từ việc thu th ập những cái đ ơn giản, những cái đ ã có trong th ực tế sản xuất và trong tự nhiên, giúp ta phân biệt đ ược cái đặc trưng của sự vật, so sánh giữa các sự vật và tiến đến suy luận xây dựng căn cứ khoa học cho sự vật đó. Hay nói một cách khác: quan sát l à tìm hiểu, mô tả diện mạo bên ngoài c ủa sự vật hay hiện tượng từ đó suy ra bản chất của chúng dựa trên nh ận thức của người nghiên c ứu. Do đó, yêu cầu của quan sát là “kiên trì”, chỉ có kiên trì mới có thể hy vọng thu đ ược những thông tin, những tài liệu đầy đủ, k hách quan và mang tính chính xác. Quan sát (điều tra) phải đ ược thực hiện sao cho đại diện, khách quan để đảm bảo độ tin cậy của những thông tin thu được về đối tượng nghiên cứu.  Làm thí nghiệm: Thí nghiệm là những công việc m à con người tự xây dựng để tạo ra các điều kiện khác nhau làm thay đ ổi một cách nhân tạo bản chất của sự việc nhằm phát hiện đ ược đầy đủ bản chất và nguyên nhân c ủa hiện tượng hay sự vật. Như vậy, thí nghiệm l à xuất phát từ những nhận thức của con ngư ời thông qua 4
  6. những giả thuyết khoa học, sau đó xác định bằng h ành động của mình (thực hiện thí nghiệm, đo đếm, quan sát các chỉ tiêu trên đ ối tượng thí nghiệm, trong nh à lư ới, nhà kính, các chậu, vại, hay trên đồng ruộng) để đ ưa tới nhận thức chặt chẽ hơn. Như vậy, con ngư ời không phải chỉ chờ đợi vào những cái đ ã có sẵn m à ngược lại, có thể tự mình tạo ra ý tư ởng cụ thể, thực hiện ý tưởng đó để bắt đối tượng nghiên cứu phải bộc lộ và phát sinh tính quy lu ật của mình. Paplôp đ ã nói “Quan sát là thu thập những gì mà thiên nhiên cho ta, còn thí nghiệm là lấy từ thiên nhiên những gì mà ta muốn”. 2.4. Biện luận để rút ra kết luận và xây dựng lý thuyết khoa học Thông qua các kết quả của quan sát, điều tra cũng nh ư thí nghiệm, người l àm nghiên cứu thực hiện việc kiểm chứng giả thuyết khoa học để rút ra những kết luận và đánh giá vấn đề mà mình quan tâm. Đề xuất ra đ ược những kết luận và biện luận cho các kết luận đó đ òi hỏi nhà khoa học phải có trình độ kiến thức và hiểu sâu sắc đối tượng mình nghiên cứu. Có như vậy, các kết luận và biện luận mới khách quan có cơ sở khoa học ph ù hợp với môi trường và hệ sinh thái cụ thể của đối tượng đó. Nếu như các nhà khoa học chỉ dừng lại ở việc rút ra những kết luận trực tiếp từ thí nghiệm thì những kết luận đó chỉ mang tính chất kinh nghiệm cụ thể của một lần thí nghiệm nên chưa thể ứng dụng rộng r ãi trong th ực tế sản xuất đ ược. Do đó, nhiệm vụ tiếp của các nh à khoa học là từ những kết quả của thí nghiệm đ ược l àm tại nhiều lần hợp thành các kết luận và biện luận nhằm tìm ra chân lý, tìm ra tính quy luật để nâng lên thành lý luận khoa học. 3. CÁC NHÓM THÍ NGHIỆM TRONG NÔNG NGHIỆP Hiện nay trong thực tiễn nghiên cứu của ng ành nông học ng ười ta đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên c ứu sau: 3.1. Nhóm các thí nghi ệm trong phòng Đây là lo ại nghiên cứu mà những thí nghiệm đ ược thực hiện trong các phòng thí nghiệm. Điều kiện để thực hiện đ ư ợc các thí nghiệm đó gồm các loại dụng cụ như: hóa ch ất, các máy móc phân tích, các bình, hộp, khay...mang tính chất riêng biệt (chuyên sâu). Nhóm các thí nghiệm n ày hầu như độc lập với điều kiện tự nhiên của môi trường bên ngoài. Do điều kiện thực hiện trong phòng cho nên các kết quả từ các thí nghiệm n ày được kiểm tra, điều khiển bằng các dụng cụ có độ chính xác cao. Tuy nhiên, những số liệu này chưa áp dụng vào thực tế. Bởi vì đ ây không phải là điều kiện thực của sản xuất. Thí dụ: Thí nghiệm trồng cây trong bình, thí nghiệm nuôi cấy mô, thí nghiệm xác định độ nẩy mầm của hạt trên đĩa petri... Nhóm nghiên c ứu trong phòng có nhược điểm là số lượng cá thể ít (không mang tính đ ại diện) và điều kiện nghiên cứu nhân tạo không phải là điều kiện thực tại m à đối tượng nghiên cứu sẽ được gieo trồng. 5
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản