Bài giảng quản trị doanh nghiệp - Nguyễn Phan Minh Hiền

Chia sẻ: Nguyen Van Tien Loi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:73

0
799
lượt xem
478
download

Bài giảng quản trị doanh nghiệp - Nguyễn Phan Minh Hiền

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Theo luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 60/2005/QH11 khoá XI thông qua ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng quản trị doanh nghiệp - Nguyễn Phan Minh Hiền

  1. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền CHƯƠNG I : ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 1.1. Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 60/2005/QH11 khoá XI thông qua ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế, quy tụ các phương tiện về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp hợp lý các mục tiêu xã hội. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh có các đặc điểm cơ bản sau: - Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp. - Kinh doanh phải gắn liền với thị trường. - Kinh doanh phải gắn liền với sự vận động của đồng vốn. Công thức kinh doanh của C.Mác:T-H-SX... -H’ -T’ - Mục đích chủ yếu của kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận (T’-T >0) Một DN có thể đảm nhận tất cả các khâu của quá trình kinh doanh, nhưng cũng có thể chỉ thực hiện một khâu nào đó,chẳng hạn như: sản xuất hay tiêu thụ (DN thương mại). 1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp 1.1.2.1. Phân loại Doanh nghiệp căn cứ vào hình thức sở hữu a. Doanh nghiệp Nhà nước - Khái niệm : Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao - Doanh nghiệp Nhà nước có những đặc điểm  DNNN là một pháp nhân do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập&tổ chức quản lý  DNNN có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các Doanh nghiệp khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do DN quản lý. Trang 1
  2. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền  DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân được giao chức năng kinh doanh và chức năng hoạt động công ích.  DNNN có trụ sở chính đặt trên lãnh thổ Việt Nam - DNNN cũng có nhiều hình thức khác nhau tùy theo quy mô kinh doanh, chức năng, nhiệm vụ, mức độ liên kết kinh doan, mức độ độc lập hoạt động mà có tên gọi khác nhau như: Tổng công ty Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước vừa hoặc nhỏ, không hoặc có tổ chức hội đồng quản trị, DN đoàn thể. b. Doanh nghiệp tư nhân - Khái niệm : Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp - Doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm sau :  DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ. Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân. Bởi vậy mà chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành ( trong trường hợp này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật  DNTN không có tư cách pháp nhân bởi vì tài sản của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ DN. Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp.  DNTN là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. c. Công ty trách nhiệm hữu hạn c1. Công ty TNHH hai thành viên trở lên. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là DN có những đặc điểm chung sau đây: - Hình thức sở hữu của công ty là sở hữu chung của các thành viên công ty. - Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi. - Công ty không được quyền phát hành cổ phần. - Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. c2. Công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH một thành viên là DN có những đặc điểm chung sau đây: - Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại DN, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Trang 2
  3. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền - Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp. - Công ty không được phát hành cổ phần. - Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. d. Công ty cổ phần. Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa. - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán. - Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. e. Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây; - Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài ra còn có thành viên góp vốn. - Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty ( trách nhiệm vô hạn ). - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân. - Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Như vậy, công ty hợp danh có 2 loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh&thành viên góp vốn. f. Nhóm công ty Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: - Công ty mẹ - công ty con; - Tập đoàn kinh tế; - Các hình thức khác. Luật Doanh nghiệp năm 2005 bổ sung quy định về nhóm công ty .Thực chất, quy định về nhóm công ty nhằm mục đích tăng cường sự công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh cũng như hạn chế chế độ trách nhiệm hữu hạn và bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số. Đó là các quy định trách nhiệm đền bù của công ty mẹ đối với công ty con, hay nghĩa vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất của nhóm công ty .Đây là một bước phát triển mới của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong việc tạo ra cơ sở pháp lý để Trang 3
  4. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền hình thành các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. 1.1.2.2. Phân loại Doanh nghiệp căn cứ vào quy mô Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp đước phân làm ba loại: - Doanh nghiệp quy mô lớn. - Doanh nghiệp quy mô vừa. - Doanh nghiệp quy mô nhỏ. Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta dựa vào những tiêu chuẩn như: - Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp. - Số lượng lao động trong doanh nghiệp. - Doanh thu của doanh nghiệp. - Lợi nhuận hàng năm. 1.1.2.3. Phân loại Doanh nghiệp căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh - Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp. - Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. - Doanh nghiệp thương mại. - Doanh nghiệp vận tải. - Doanh nghiệp xây dựng. - Các doanh nghiệp dịch vụ. - Doanh nghiệp hỗn hợp: sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ. 1.1.3. Mục tiêu của Doanh nghiệp a. Những mục tiêu kinh tế Doanh nghiệp cố gắng đạt tới lợi nhuận tối đa, đó là mục tiêu kinh tế quan trọng nhất. Để đạt tới điều đó, doanh nghiệp phải thực hiện các mục tiêu kinh tế khác như: - Về thị trường: chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, bảo vệ và nâng cao thị phần, chiến thắng các đối thủ cạnh tranh. - Về tài chính: bảo toàn vốn, gia tăng tài sản,gia tăng vòng quay vốn, giảm chi phí.. - Về cải tiến công nghệ, mở rộng qui mô và nâng cao hệ số sử dụng công suất... b. Những mục tiêu xã hội - Nâng cao uy tín và danh tiếng. - Đảm bảo công ăn việc làm ổn định và lâu dài cho người lao động. - Nâng cao phúc lợi của các thành viên trong doanh nghiệp. - Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thoả mãn tốt nhất nhu cầu xã hội. - Đảm bảo lợi ích nhà cung cấp, đóng góp vào sự thịnh vượng chung của xã hội: giúp đỡ người nghèo, làm từ thiện, ủng hộ các phong trào khác của xã hội... c. Các mục tiêu khác - Bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trang 4
  5. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền - Mục tiêu chính trị : các Doanh nghiệp cần đảm bảo xây dựng được một đội ngũ nhân viên có phẩm chất, có tư cách đạo đức, có giác ngộ chính trị, có tổ chức, kỷ luật và trình độ khoa học phục vụ chủ trương công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Các mục tiêu của doanh nghiệp có mối liên hệ rất chặt chẽ và tác động qua lại với nhau. Doanh nghiệp phải đề ra được các mục tiêu lâu dài và mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể, nhờ đó nó có thể đưa ra được các chính sách kinh doanh thích hợp. 1.14. Chức năng của Doanh nghiệp * Theo quan điểm H. Fayol doanh nghiệp có các chức năng sau: - Chức năng kĩ thuật - Chức năng thương mại - Chức năng tài chính - Chức năng an toàn - Chức năng kế toán - Chức năng quản lí * Theo quan điểm Evgaoff Evgaoff sắp xếp các hoạt động thiết yếu của DN gồm bốn chức năng cơ bản sau: - Chức năng quản lí - Chức năng phân phối - Chức năng sản xuất - Chức năng hậu cần Những cách phân loại trên cho dù có sự khác nhau, nhưng trong bất kì hệ thống kinh tế nào thì các chức năng: thương mại, sản xuất, cung ứng, tài chính, quản trị và nhân sự đều vẫn là những chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự tồn tại của các doanh nghiệp. * Chức năng của doanh nghiệp phân loại theo các chức năng kinh tế :  Chức năng sản xuất: Có thể tóm tắt quá trình sản xuất theo sơ đồ sau : Các yếu tố đầu vào: Các yếu tố đầu ra: + Nguyên, nhiên, vật liệu + Sản phẩm, hàng hóa + Máy móc, thiết bị, nhà +Dịch vụ xưởng Quá trình +Chất phế thải (nước, + Lao động sản xuất khói bụi, tiếng ồn ...) + Vốn + Đất đai  Chức năng thương mại Kinh doanh gắn với thị trường và các hoạt động mua, bán. Vì vậy, chức năng thương mại rất quan trọng. Chức năng thương mại bao gồm các hoạt động sau: - Hoạt động cung ứng. - Hoạt động tiêu thụ. - Hoạt động phân phối. Trang 5
  6. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền  Chức năng phân phối : Chức năng phân phối của doanh nghiệp có thể mô tả theo sơ đồ sau: NVL, DV đầu Người cung ứng vào cho SX Thu Thuế Nhà nước nhập Giá Lương, bảo hiểm Người lao động của trị doanh Lãi tiền vay Chủ nợ gia nghiệp tăng Cổ tức Chủ sở hữu Lợi nhuận Doanh nghiệp Hình 1.1. Chức năng phân phối của doanh nghiệp 1.2. Quản trị Doanh nghiệp 1.2.1. Lịch sử phát triển của khoa học quản trị doanh nghiệp Từ khi xã hội nguyên thủy của loài người biết phân công và hiệp tác lao động với nhau để săn bắt thú rừng và làm nương rẫy… thì lúc đó đã bắt đầu xuất hiện những hoạt động phôi thai đầu tiên của quản trị. Có thể nói rằng, hoạt động quản trị là một nghệ thuật có từ lâu đời và được áp dụng trong thực tiễn của tất cả những nước có chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Nhưng quản trị doanh nghiệp chỉ xuất hiện và dần dần trở thành môn khoa học độc lập mới khoảng 100 năm nay. Đặc biệt, từ sau năm 1940 đến nay khoa học quản trị doanh nghiệp mới được phát triển mạnh. Một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho khoa học quản trị là FEREDERICK W. TAYLOR vào những năm 1911 với tác phẩm quản trị doanh nghiệp có giá trị đầu tiên được xuất bản ở Mỹ là “Những nguyên tắc và phương pháp quản trị khoa học”. Điều này nói lên tính đa dạng, phong phú và phức tạp của khoa học quản trị. Quản trị doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan. Các hoạt động tập thể (lao động, sản xuất kinh doanh…) đều đòi hỏi một sự phối hợp nhịp nhàng, sự điều khiển, sự hướng dẫn cụ thể đối với từng cá nhân để hoàn thành công việc chung. Hoạt động quản trị ra đời gắn liền với sự xuất hiện của hiệp tác và phân công lao động. Sản xuất xã hội và nhân loại không thể tồn tại và phát triển, nếu không có quản trị. Qui mô sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật của sản xuất càng cao, thì hoạt động quản trị doanh nghiệp càng trở nên phức tạp. Sản xuất hiện đại đòi hỏi một sự điều khiển khéo léo, một sự phối hợp nhip nhàng giữa các phần việc của tất cả các khâu trong quá trình sản xuất. Nhờ đó hoạt động quản trị (tổ chức sản xuất, tổ chức lao động hợp lý, sự phối hợp tuyệt vời của các phân xưởng, các bộ phận sản xuất trong xí nghiệp...) mà chỉ trong vài phút một chiếc ô tô có thể được xuất xưởng, trong khi tổng thời gian để chế tạo một chiếc ô tô là hàng nghìn giờ. Qua đây cũng đã minh chứng rõ ràng là hoạt động quản trị doanh nghiệp cần thiết như thế nào trong tổ chức sản xuất kinh doanh hiện đại. Trang 6
  7. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền Tầm quan trọng của quản trị được thể hiện rất rõ trong sự phát triển kinh tế. Một xí nghiệp quản trị tốt, sản xuất sẽ phát triển , kinh doanh có hiệu quả. Một Quốc gia quản trị giỏi, nền kinh tế sẽ tăng trưởng với tốc độ cao, hàng hóa nhiều, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ luôn luôn được cải thiện và nâng cao. Ngược lại, một xí nghiệp quản trị kém sẽ làm ăn thua lỗ. Một Quốc gia quản trị kém sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, không khai thác được những tiềm năng to lớn của đất nước, để tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân... Nhật Bản là một nước đất hẹp, người đông, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, có những điều kiện về dân số, hoàn cảnh tự nhiên và một số đặc điểm xã hội gần gũi với nước ta. Thế mà, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ trong đổ nát, bằng khả năng quản trị giỏi của mình, đã đưa đất nước tiến lên với những bước phát triển thần kỳ. Tốc độ phát triển kinh tế của Nhật Bản rất cao. Năm 1950 giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Nhật chỉ đạt 20 tỷ đôla, bằng khoảng 60% của CHLB Đức (33,7 tỷ đôla), bằng 1/2 của Pháp (39 tỷ đôla), bằng 1/3 của Anh (54,5 tỷ đô la), và bằng 1/17 của Mỹ. Thế nhưng chỉ 16 năm sau tức là đến năm 1966 Nhật đã vượt Pháp, năm 1967 vượt Anh, 1968 vượt CHLB Đức và đứng thứ 2 sau Mỹ. Nam Triều Tiên từ một nước đặc trưng là nông nghiệp lạc hậu, do biết cách quản lý, do có chiến lược kinh tế đúng đắn đã trở thành một mước công nghiệp hóa trong vòng 24 năm. Tổng sản phẩm quốc dân của Nam Triều Tiên năm 1962 là 2,3 tỷ đô la, năm 1985 tăng lên 83,1 tỷ đôla. Thu nhập tính theo đầu người cũng tăng mạnh, từ 87 đôla/người (năm 1962) tăng lên 2.032 đôla/người (năm 1985 1.2.2. Khái niệm Quản trị Doanh nghiệp Khái niệm quản trị của các tác giả tiêu biểu: - Mary Parker Follet: Quản trị là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác. - Robert Albanese: Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn lực, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức. - Quản trị là lãnh đạo hệ thống trên cơ sở hoạch định, tổ chức, phối hợp, điều kiển và kiểm tra công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. - Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra của tổ chức. - Kreitner: “Quản trị là quá trình làm việc với người khác và thông qua người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi. Trọng tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn.” - Harold Lootz & Cyril O’Donnell: “Quản trị là việc thiết lập và duy trì một môi trường nơi mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được mục tiêu của nhóm …” Trang 7
  8. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền - Quản trị có nghĩa vụ là tổng hợp các hoạt động nhằm phối hợp các cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ, mục tiêu nào đó. “Quản trị doanh nghiệp là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra họat động của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đến sự thành công trong các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp”. Từ khái niệm này giúp chúng ta nhận ra rằng, quản trị là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức. Đó là quá trình nhằm tạo nên sức mạnh gắn liền các vấn đề lại với nhau trong tổ chức và thúc đẩy các vấn đề chuyển động. Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất. Như vậy, trong khái niệm trên chúng ta có thể xác định những vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị doanh nghiệp : + Phương thức quản trị. + Yếu tố con người trrong tổ chức + Doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ 3 yếu tố của một tổ chức : có mục tiêu, nhiều thành viên và là một cơ cấu có tính hệ thống. + Đạt được các mục tiêu của tổ chức đồng thời tương quan giữa kết quả và hiệu quả: nhà quản trị cần đạt được mục tiêu trong tương quan với nguồn lực, đồng thời cần phải cân bằng giữa kết quả và hiệu quả. 1.2.3. Lịch sử phát triển của các lí thuyết quản trị 1.2.3.1. Trường phái cổ điển về quản trị doanh nghiệp Lý thuyết cổ điển về quản trị doanh nghiệp vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong quản trị học hiện đại. Nhiều kỹ thuật tổ chức và quản trị kinh doanh ngày nay vẫn áp dụng các nguyên tắc của lý thuyết quản trị cổ điển. Thậm chí, các lý thuyết mới về quản trị cũng chịu ảnh hưởng một cách có ý thức hoặc không có ý thức của những lý thuyết cổ điển. Lý thuyết cổ điển về quản trị bao gồm hai lý thuyết chính. Một là “lý thuyết quản trị một cách khoa học” ở Hoa Kì của Ferederick Winslow Taylor và các công sự. Hai là, “lý thuyết về quản trị hành chính” xuất hiện vài năm sau lý thuyết quản trị khoa học của Henry Fayol ở Pháp, Max Weber ở Đức, Chester Barnard, Luther Gulick và Lyndal Urwick ở Anh và Hoa Kì.  Lý thuyết quản trị một cách khoa học (Frederick Winslow Taylor(1856- 1915); Henry L.Gantt (1861-1919); ông và bà Lilian Gilreth (1868-1972) Lý thuyết quản trị khoa học có nhiều tác giả, nhưng đại biểu ưu tú nhất chính là Frederich Winslow Taylor. Taylor được gọi là cha đẻ của ngành quản trị và quyển sách nổi tiếng của ông về quản trị là “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” xuất hiện vào năm 1911. * Nội dung của lý thuyết quản trị khoa học có thể tóm tắt như sau : Trang 8
  9. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền - Xác định những phương pháp khoa học cũng như những tiêu chuẩn của công việc thay cho việc dựa trên kinh nghiệm - Xây dựng thời gian biểu cho các thao tác để hoàn thành công việc. - Tính toán, thử nghiệm để giảm thiểu những thao tác thừa, tăng năng suất - Xác định chức năng hoạch định của nhà quản trị, thay thế cho công nhân tự ý chọn phương pháp làm việc riêng của họ. - Lựa chọn, huấn luyện công nhân và phát triển tinh thần hợp tác, thay vì khuyến khích những nỗ lực cá biệt riêng rẽ. * Nhận xét về các lý thuyết quản trị khoa học + Ưu điểm: Tay lor và những người cùng quan điểm với ông quan tâm đến việc tăng năng suất lao động và có hiệu quả. - Làm việc chuyên môn hóa - Tuyển dụng và đào tạo nhân viên một cách chuyên nghiệp - Hạ giá thành - Xem quản trị như một nghề và là đối tượng khoa học. + Nhược điểm: - Quan niệm không đầy đủ về tổ chức, về hiệu quả, về năng suất lao động - Chưa chú trọng nhu cầu xã hội và nhu cầu tinh thần con người - Trọng tâm của quản trị là ở người thừa hành  Lý thuyết quản trị hành chính : (Henry Fayol (1841-1925); Max Weber( 1864- 1920); Chestger Barnard (1881-1961)) Thuyết quản trị hành chính được đưa ra ở Pháp bởi Henry Fayol, có thể gọi ông là một Taylor của Châu Âu, người cha của một trong những lý thuyết quản lý hiện đại quan trọng nhất. Năm 1916, ông xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Quản lý hành chính chung và trong công nghiệp” (Administration Industrielle et Générale) đề cập đến các nguyên tắc quản trị.Trong khi lý thuyết quản trị khoa học tập trung vào việc nâng cao năng suất lao động ở cấp phân xưởng theo khảo hướng vi mô, thì lý thuyết quản trị hành chính được tập trung sự chú ý vào việc nêu lên các nguyên tắc quản trị lớn, áp dụng cho cấp bậc tổ chức cao hơn. * Nội dung của lý thuyết quản trị hành chính - Nhấn mạnh đến yếu tố mệnh lệnh, quyền hành, cấp bậc trong doanh nghiệp. - Điều hành doanh nghiệp thông qua những nguyên tắc đã quy định từ trước. * Nhận xét về các lý thuyết quản trị hành chính + Ưu điểm : Cơ cấu rõ ràng, đảm bảo nguyên tắc + Nhược điểm: - Không đề cập đến tác động của môi trường - Không chú trọng tính hợp lý trong hành động của nhà quản trị - Trọng tâm của quản trị là nhà quản trị 1.2.3.2. Trường phái tâm lý xã hội trong quản trị doanh nghiệp : (Hugo Munsterberg, Mary Parker Follet, Elton Mayo (1880-1849); Maslow (1908-1970) Trang 9
  10. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền Lý thuyết này cho rằng hiệu quả của quản trị cũng do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không phái chỉ do các yếu tố vật chất quyết định, nhưng năng suất lao động không phải chỉ do các yếu tố vật chất quyết định, mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý xã hội của con người. * Nội dung của lý thuyết tâm lý xã hội - Nhấn mạnh đến yếu tố con người, tính nhân văn, nhân bản trong doanh nghiệp - Con người không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu về mặt tinh thần - Sự thỏa mãn tinh thần có mối liên quan chặt chẽ với năng suất và kết quả lao động - DN cần tạo ra nét văn hóa trong giao tiếp, và tạo mối quan hệ tốt với nhân viên 1.2.3.3. Trường phái hệ thống trong quản trị doanh nghiệp * Nội dung của trường phái hệ thống - Phải có quan điểm toàn diện khi xem xét vấn đề - Nhấn mạnh đến các phương pháp khoa học - Sử dụng các mô hình toán học và thống kê - Quan tâm đến các yếu tố kinh tế-xã hội hơn là tâm lý xã hội 1.2.3.4. Trường phái quản trị Nhật bản  Nội dung của Lý thuyết Z của Gouchi - Chủ trương làm việc suốt đời cho doanh nghiệp (DN như một gia đình) - Chú trọng vào việc tập thể hợp tác (cùng bàn bạc và đi đến quyết định)  Nội dung của Lý thuyết Kaizen của Massakiimai - Điểm cốt lõi là thực hiện những cải tiến nhỏ, cải tiến dần dần - Tạo tư tưởng chú trọng đến quá trình tiến hành công việc - Hướng về con người và những nỗ lực của con người - Vai trò của nhà quản lý trong việc ủng hộ và khuyến khích nhân viên 1.2.4. Chức năng của Quản trị Doanh nghiệp 1.2.4.1. Gulick (Mỹ), Urwick (Anh) Vào thập niên 30, hai tác giả đã đưa ra 07 chức năng quản trị viết tắt là POSDCORB (lấy các chữ cái đầu tiên của mỗi từ tiếng Anh) như sau: Planning (dự kiến), Organizing (tổ chức), Staffing (nhân sự), Directing (chỉ huy), Coordinating (phối hợp), Reporting (báo cáo), Budgeting (Ngân sách) 1.2.4.2. Henry Fayol (Pháp) Henry Fayol đưa ra 05 chức năng quản trị sau: Dự kiến, Tổ chức, Phối hợp, Chỉ huy và Kiểm tra 1.2.4.3. Phân lọai theo các nhà khoa học và QT gần đây a. Họach định Trang 10
  11. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền  Khái niệm Hoạch định là một quá trình đưa ra các quyết định của nhà quản trị dựa trên việc dự báo phân tích các sự kiện sẽ diễn ra và tác động của chúng đến các hoạt động của doanh nghiệp.  Tầm quan trọng của hoạch định - Chú trọng vào việc thực hiện các mục tiêu, đồng thời tìm ra các giải pháp tốt nhất. - Là công việc cần thiết để ứng phó với những tình huống, yếu tố bất định và những thay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong của một tổ chức, một doanh nghiệp. - Là công cụ đắc lực trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên giữa các bộ phận với nhau trong doanh nghiệp. - Tạo ra hiệu quả kinh tế cao, nó chú trọng đến mục tiêu chung, giảm được sự chồng chéo và những hoạt động lãng phí. - Hoạch định có vai trò làm cơ sở quan trọng cho công tác kiểm tra và điều chỉnh cho hoạt động của toàn bộ hệ thống nói chung hay từng bộ phận nói riêng.  Các quyết định chính trong quá trình xây dựng kế hoạch: - Xác định mục tiêu và nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu. - Xây dựng các phương án để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra. - Xác định các nguồn lực cần thiết: vật chất, công nghệ, vốn, lao động … - Xác định mốc thời gian bắt đầu và hoàn thành các công việc, nhiệm vụ cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra. - Phân công trách nhiệm cho các tổ chức, tập thể và cá nhân. KẾ HOẠCH Thiết lập các mục tiêu và quyết định cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu KIỂM SOÁT TỔ CHỨC Kiểm tra, đánh giá các hoạt Xác định và phân bổ sắp động nhằm đạt được mục xếp các nguồn lực tiêu LÃNH ĐẠO Gây ảnh hưởng đến người khác cùng làm việc hướng đến mục tiêu của tổ chức Hình 1.2. Các chức năng quản trị b. Tổ chức Trang 11
  12. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền * Khái niệm Công tác tổ chức là quá trình xác định các công việc cần phải làm và những người làm các công việc đó, định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận và cá nhân cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận và cá nhân này trong khi tiến hành công việc. Tổ chức là quá trình gắn kết, phân công và phối hợp các thành viên vào cùng làm việc, nhằm thực hiện mục tiêu chung; trong đó bao gồm tổ chức con người, tổ chức công việc, phân phối các nguồn lực v.v... Cơ cấu tổ chức có thể được xem xét dựa theo các đặc trưng cơ bản như: - Tính tập trung. - Tính phức tạp. - Tính tiêu chuẩn hóa. * Nguyên lí tổ chức Cơ cấu tổ chức của một DN cần phải được xây dựng dựa trên một số nguyên lí sau: - Phạm vi quản lý: là số lượng đơn vị hoặc số người mà một nhà quản trị cai quản trực tiếp. - Các cấp của tổ chức: không nên có nhiều cấp vì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rắc rối trong phối hợp. - Phân chia các đơn vị nhỏ: căn cứ vào chức năng, sản phẩm hoặc vùng địa lý. - Quy định chức trách của các đơn vị. * Các bước thiết kế tổ chức - Liên kết các yếu tố động tác thành hoạt động thao tác có hiệu quả. - Từ những hoạt động thao tác đó, hình thành các chức trách (hoặc công tác) hợp lí. - Từ các chức trách, hình thành cương vị của từng người. - Phân chia các chức trách thành các ngành hoặc bộ phận. - Sắp xếp các bộ phận theo một trật tự dọc và ngang, từ đó hình thành một kết cấu tổ chức hoàn chỉnh. c. Lãnh đạo (chỉ huy, phối hợp và điều hành) Sau khi đã lập kế hoạch, đã xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ thì vấn đề tiếp theo là phải làm thế nào để cho cả doanh nghiệp hoạt động. Đó chính là chức năng lãnh đạo chủa nhà quản trị. * Khái niệm Lãnh đạo là quá trình khởi động và duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp theo kế hoạch đã đề ra bằng cách tác động lên động cơ và hành vi của con người trong doanh nghiệp và phối hợp các hoạt động của họ sao cho họ cố gắng một cách tự giác để hoàn thành các nhiệm vụ của mình và mục tiêu chung của doanh nghiệp. * Thực hành lãnh đạo doanh nghiệp Trang 12
  13. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền Để thúc đẩy nhân viên nhà quản trị cần phải biết cách thực hành lãnh đạo. Quá trình thực hành lãnh đạo có thể được triển khai theo hai phương thức: - Khơi thông các mối quan hệ + Quan hệ trên dưới. + Yêu mến nhân viên. + Doanh nghiệp là gia đình. + Đàm phán nội bộ. - Khích lệ nhân viên * Các phong cách lãnh đạo - Phong cách lãnh đạo chuyên quyền. - Phong cách lãnh đạo dân chủ. - Phong cách lãnh đạo tản quyền. * Vai trò của chức năng lãnh đạo - Nếu không thực hiện hay thực hiện không hết chức năng lãnh đạo thì sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, rối loạn cho dù cá nhân, tập thể có tài giỏi đến đâu. Chức năng lãnh đạo giúp cho mọi hoạt động của từng đơn vị hay toàn bộ tổ chức diễn ra một cách đồng bộ và ăn khớp với nhau. Tránh sự lãng phí thời gian, sức lực và tiền bạc … - Nếu coi các cá nhân và tổ chức là những vectơ thì chức năng lãnh đạo sẽ định hướng cho các vectơ tập trung về một hướng đích để đạt được mục tiêu. d. Kiểm soát * Khái niệm Kiểm soát vừa là một quá trình kiểm tra chi tiết vừa là việc theo dõi các ứng xử của đối tượng. Kiểm soát có mục đích là đảm bảo cho kết quả các hoạt động phù hợp với các mục tiêu của tổ chức. Nhờ có kiểm soát mà nhà quản lí thấy được các kế hoạch lập ra đang được thực hiện như thế nào, gặp phải những khó khăn vướng mắc gì và đưa ra các biện pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời về tổ chức, nhân sự … * Nội dung của quy trình kiểm soát - Xây dựng các tiêu chuẩn hay các chỉ tiêu. - Đo lường các kết quả thực tế đã xảy ra. - So sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn, chỉ tiêu. - Điều chỉnh các hoạt động nếu phát hiện ra những sai lệch. * Các loại kiểm soát - Kiểm soát trước công việc (tiền kiểm) - Kiểm soát trong công việc (hiện kiểm) - Kiểm soát sau công việc (hậu kiểm) 1.2.5. Các lĩnh vực của Quản trị Doanh nghiệp Lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp được hiểu như các hoạt động quản trị khi sắp xếp trong một hoạt động nào đó. Ở các bộ phận này có người chỉ huy và liên quan đến việc ra các quyết định quản trị. Như vậy, lĩnh vực quản trị được xem xét ở góc độ quản lý thực tiễn. Mỗi lĩnh vực quản trị là một hoạt động riêng biệt gắn với các bộ Trang 13
  14. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền phận trong cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp (phòng, ban) và được phân cấp, phân quyền trong việc ra quyết định quản trị. 1.2.5.1. Lĩnh vực vật tư Lĩnh vực vật tư bao gồm các nhiệm vụ sau : Phát hiện nhu cầu vật tư, tính toán vật tư tồn kho, mua sắm vật tư, nhập kho và bảo quản, cấp phát vật tư 1.2.5.2. Lĩnh vực sản xuất Lĩnh vực sản xuất gồm toàn bộ các hoạt động có tính chất công nghiệp trên cơ sở phối hợp các yếu tố lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động đã có để chế biến các sabr phẩm hàng hóa và thực hiện các dịch vụ. Nhiệm vụ gồm : hoạch định chương trình, xây dựng kế hoạch sản xuất, điều khiển quá trình chế biến, kiểm tra chất lượng, giữ gìn bản quyền, bí quyết, kiểu dáng…và phát huy sáng chế phát minh của các nhân viên. 1.2.5.3. Lĩnh vực marketing Lĩnh vực marketing bao gồm các nhiệm vụ sau : Thu thập các thông tin về thị trường, hoạch định các chính sách sản phẩm, hoạch định các chính sách giá cả, hoạch định các chính sách phân phối, hoạch định các chính sách truyền thông cổ động. 1.2.5.4. Lĩnh vực nhân sự Lĩnh vực nhân sự bao gồm các nhiệm vụ sau : Lập kế hoạch nhân sự, tuyển dụng nhân sự, bố trí nhân sự, đánh giá nhân sự, phát triển nhân viên (đao tạo, bồi dưỡng, đề bạt), thù lao, quản lý nhân sự thông qua hồ sơ dữ liệu nhân sự, qua thống kê hoạt động của nhân viên và hỗ trợ đời sống. 1.2.5.5. Lĩnh vực tài chính Lĩnh vực tài chính bao gồm các nhiệm vụ sau : Tạo vốn, sử dụng vốn, quản lý vốn (chủ yếu là quản lý sự lưu thông thanh toán và các quan hệ tín dụng) 1.2.5.6. Lĩnh vực kế toán Lĩnh kế toán bao gồm các nhiệm vụ sau : Kế toán sổ sách, tính toán chi phí-kết quả, xây dựng các bảng cân đối, tính toán lỗ lãi; các nhiệm vụ :thẩm định kế hoạch, thống kê, kiểm tra việc tính toán, bảo hiểm, thuế 1.2.5.7. Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển bao gồm các nhiệm vụ sau : thực hiện các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đưa các tiến bộ khoa học-kĩ thuật vào áp dụng, thẩm định hiệu quả các tiến bộ kĩ thuật được áp dụng 1.2.5.8. Lĩnh vực tổ chức Lĩnh vực tổ chức bao gồm các nhiệm vụ sau : tổ chức các dự án, phát triển và cải tiến bộ máy Tổ chức cho Doanh nghiệp, tổ chức tiến trình hoạt động toàn bộ Doanh nghiệp 1.2.5.9. Lĩnh vực thông tin Lĩnh vực thông tin bao gồm các nhiệm vụ sau :xây dựng kế hoạch về các thông tin liên quan cho Doanh nghiệp, chọn lọc và xử lý các thông tin, kiểm tra thông tin và giám sát thông tin của doanh nghiệp. 1.2.5.10. Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vụ chung Trang 14
  15. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền Lĩnh vực hành chính-pháp luật bao gồm các nhiệm vụ: thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động quần chúng trong Doanh nghiệp, các hoạt động hành chính và phúc lợi Doanh nghiệp 1.2.6. Nhà quản trị 1.2.6.1. Khái niệm nhà quản trị Trong một tổ chức phải có người thừa hành và nhà quản trị, họ có những vị trí và nhiệm vụ riêng, nhưng đều tập trung hướng đến mục tiêu chung của tổ chức. Nhân viên là những người trực tiếp thực hiện công việc nào đó và không có trách nhiệm trông coi công việc của người khác, chẳng hạn như công nhân trong một doanh nghiệp, đầu bếp trong một nhà hàng ….Cấp trên của họ chính là các nhà quản trị trực tiếp. Có nhiều cách hiểu khác nhau về nhà quản trị: - Nhà quản trị là người thực hiện một hoặc nhiều chức năng của quản trị bao gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. - Nhà quản trị là người sử dụng các nguồn lực có hạn của doanh nghiệp một cách có tổ chức và hệ thống nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. - Nhà quản trị là người ra quyết định nhằm mang lại vị thế cạnh tranh cho DN. - Nhà quản trị là người có khả năng dự đoán các rào cản, khó khăn và đưa ra được các giải pháp cho sự phát triển của doanh nghiệp. - Nhà quản trị là một nhà tổ chức, nhà chiến lược điều khiển doanh nghiệp trong môi trường thay đổi nhanh và phức tạp. Như vậy, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nhà quản trị. Chính họ là người vạch ra mục tiêu, chiến lược, chính sách, ra quyết định cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện các quyết định đó. Họ chính là người điều khiển công việc của người khác, ví dụ như giám đốc, kế toán trưởng, tổ trưởng… đối với nhà quản trị cấp cơ sở họ còn làm cả công việc của người thừa hành, chẳng hạn như tổ trưởng tổ giá cước trong một doanh nghiệp viễn thông, họ vừa quản lý nhân viên trong tổ vừa sử dụng nghiệp vụ chuyên môn để nghiên cứu và đề xuất các chính sách giá cước viễn thông. 1.2.6.2. Các cấp quản trị Tuỳ theo tổ chức mà cấp bậc quản trị có thể phân chia khác nhau, nhưng để thuận lợi cho việc nghiên cứu các nhà khoa học phân chia các nhà quản trị trong một tổ chức thành 03 cấp quản trị như sau (hình 1.3): Cấp cao : Vạch chiến lược, mục tiêu dài hạn, giải pháp lớn… Cấp cao Cấp giữa : Cụ thể hóa mục tiêu của cấp cao, đ-khiển cấp dưới… Cấp trung gian Cấp cơ sở Trang 15
  16. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền Cấp cơ sở : Điều khiển, đôn đốc công nhân, nhân viên….. Người thừa hành Hình 1.3 : Các cấp quản trị trong tổ chức a. Các nhà quản trị cấp cơ sở (first line manager) Nhà quản trị cấp cơ sở là những nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của nhà quản trị trong một tổ chức. Nhiệm vụ của họ là thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc, điều khiển người thừa hành và họ cũng tham gia trực tiếp thực hiện các công việc cụ thể như những người dưới quyền họ. Ví dụ trong các doanh nghiệp ta dễ thấy họ là những tổ trưởng, trưởng nhóm, trưởng ca …. b. Các nhà quản trị cấp trung gian (middle manager) Nhà quản trị cấp trung gian là những nhà quản trị ở cấp chỉ huy trung gian, đứng trên các nhà quản trị cấp cơ sở và ở dưới các nhà quản trị cấp cao. Họ cụ thể hoá các mục tiêu của cấp cao, thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức, họ vừa quản trị các quản trị viên cấp cơ sở vừa điều khiển các nhân viên khác. Ví dụ như các trưởng phòng, quản đốc phân xưởng…. c. Các nhà quản trị cấp cao (super manager) Nhà quản trị cấp cao là những nhà quản trị ở cấp bậc tối cao trong tổ chức, họ chịu trách nhiệm về thành quả cuối cùng của tổ chức. Công việc của họ tập trung xây dựng chiến lược hành động và phát triển tổ chức, vạch ra các mục tiêu dài hạn, thiết lập các giải pháp lớn để thực hiện…. Ví dụ như Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc ….Trong hầu hết các tổ chức, nhà quản trị cấp cao là nhóm nhỏ so với các cấp quản trị khác (trừ các tổ chức đoàn thể có tính chính trị). 1.2.6.3. Kĩ năng quản trị Để thực hiện tốt 04 chức năng quản trị, theo Robert Katz thì nhà quản trị cần có 03 loại kỹ năng quản trị như sau: a. Kỹ năng kỹ thuật (technical skills): Kỹ năng kỹ thuật chính là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhà quản trị, hay là những khả năng cần thiết của họ nhằm thực hiện một công việc cụ thể nào đó. Kỹ năng này nhà quản trị có được bằng cách thông qua con đường học tập, bồi dưỡng mà có. Ví dụ như thiết kế máy móc của trưởng phòng kỹ thuật, tổ chức công tác kế toán của kế toán trưởng, lập trình điện toán của trưởng phòng máy tính, xây dựng chương trình nghiên cứu thị trường của trưởng phòng Marketing… Cấp quản trị càng cao, kỹ năng này giảm dần và ngược lại cấp quản trị càng thấp kỹ năng này là cấn thiết, bởi vì ở cấp càng thấp thì nhà quản trị thường tiếp xúc trực tiếp với công việc cụ thể, với tiến trình sản xuất, đây chính là môi trường mà tài năng kỹ thuật đặc biệt sử dụng nhiều hơn. Trang 16
  17. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền b. Kỹ năng nhân sự (human skills) Kỹ năng nhân sự phản ảnh khả năng cùng làm việc, động viên và điều khiển con người và tập thể trong tổ chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy hoàn thành công việc chung. Chẳng hạn như kỹ năng thông đạt hữu hiệu (viết & nói), có thái độ quan tâm đến người khác, xây dựng bầu không khí hợp tác giữa mọi người, động viên nhân viên dưới quyền… Đối với kỹ năng nhân sự thì yêu cầu cần thiết đối với cả 03 cấp quản trị, vì dù thuộc cấp nào, nhà quản trị cũng phải cùng làm việc với tất cả mọi người. c.Kỹ năng tư duy Kỹ năng tư duy yêu cầu nhà quản trị phải hiểu rõ mức độ phức tạp của môi trường và giảm thiểu sự phức tạp đó xuống ở mức mà tổ chức có thể đối phó và thích ứng được. Kỹ năng tư duy là một kỹ năng khó tiếp thu nhất và rất quan trọng đối với nhà quản trị cấp cao. Các chiến lược, kế hoạch, chính sách và quyết định của nhà quản trị cấp cao thường phụ thuộc vào tư duy chiến lược của họ. Hình 1.4 sau diễn tả kỹ năng quản trị của các cấp như sau: Kỹ năng kỹ thuật Kỹ năng nhân sự Kỹ năng tư duy Cấp cơ sở Cấp trung gian Cấp cao Hình 1.4 : Kỹ năng quản trị của các cấp quản trị 1.2.6.4. Vai trò của nhà quản trị Để làm rõ các công việc của các nhà quản trị, cũng như các cách ứng xử khác nhau của họ đối với mọi người và mọi tổ chức khác, Henry Mentzberg đã đưa ra 10 loại vai trò khác nhau như sau mà nhà quản trị phải thực hiện và chia chúng thành 03 nhóm lớn: a. Nhóm vai trò quan hệ với con người (gồm 03 vai trò) Trang 17
  18. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền - Vai trò đại diện, hay tượng trưng, có tính chất nghi lễ trong tổ chức : Có nghĩa là bất cứ một tổ chức nào cũng đều phải có người đại diện cho tổ chức đó nhằm thực hiện các giao dịch, đối thoại với các cá nhân và tổ chức bên ngoài. Ngay cả từng bộ phận trong tổ chức cũng phải có người đứng đầu bộ phận đó để lĩnh hội các ý kiến, chính sách, kế hoạch của cấp trên. - Vai trò lãnh đạo: Vai trò này phản ảnh sự phối hợp và kiểm tra của nhà quản trị đối với cấp dưới của mình. - Vai trò liên lạc: Thể hiện mối quan hệ của nhà quản trị đối với người khác cả bên trong và bên ngoài tổ chức b. Nhóm vai trò thông tin (gồm 03 vai trò) - Vai trò tiếp nhận và thu thập thông tin liên quan đến DN : Nhà quản trị phải thường xuyên xem xét, phân tích môi trường xung quanh DN nhằm xác định môi trường tạo ra những cơ hội gì cho DN, cũng như những mối đe dọa nào đối với DN. Vai trò này được thực hiện thông qua việc đọc sách báo, văn bản hoặc qua trao đổi tiếp xúc với mọi người… - Vai trò phổ biến thông tin : nhà quản trị cần phổ biến đến cho các bộ phận, các thành viên có liên quan trong DN, thậm chí phổ biến những thông tin có liên quan đến những người đồng cấp hay cấp trên của mình nhằm làm cho mọi người cùng được chia sẻ thông tin để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của DN. - Vai trò cung cấp thông tin cho bên ngoài: tức nhà quản trị thay mặt cho tổ chức của mình cung cấp các thông tin cho bên ngoài nhằm để giải thích, bảo vệ hay tranh thủ một sự đồng tình, ủng hộ nào đó. c. Nhóm vai trò quyết định (gồm 04 vai trò) - Vai trò doanh nhân : Đây là vai trò phản ảnh việc nhà quản trị tìm mọi cách cải tiến tổ chức nhằm làm cho hoạt động của tổ chức ngày càng có hiệu quả. Chẳng hạn điều chỉnh kỹ thuật mà tổ chức đang áp dụng hay áp dụng một kỹ thuật mới nào đó… - Vai trò giải quyết xáo trộn: Bất cứ một tổ chức nào cũng có những trường hợp xung đột xảy ra trong nội bộ dẫn tới xáo trộn tổ chức như sự đình công của công nhân sản xuất, sự mâu thuẫn và mất đoàn kết giữa các thành viên, bộ phận ….Nhà quản trị phải kịp thời đối phó, giải quyết những xáo trộn đó để đưa tổ chức sớm trở lại sự ổn định - Vai trò phân phối các nguồn lực: Nếu các nguồn lực dồi dào (tiền bạc, thời gian, quyền hành, máy móc, nguyên vật liệu, con người …) thì nhà quản trị sẽ tiến hành phân phối một cách dễ dàng. Nhưng ngày nay, khi các nguồn lực ngày càng cạn kiệt đòi hỏi nhà quản trị phải phân bổ các nguồn lực đó cho các thành viên, từng bộ phận sao cho hợp lý nhằm đảm bảo cho các thành viên, bộ phận hoạt động một cách ổn định và hiệu quả. Trang 18
  19. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền - Vai trò thương thuyết : Tức phản ảnh việc thương thuyết, đàm phán thay mặt cho tổ chức trong các giao dịch với các cá nhân, tổ chức bên ngoài. Ví dụ đàm phán ký kết hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế… 1.2.6.5. Những tiêu chuẩn cần có của nhà quản trị a. Những năng lực cần có của nhà quản trị - Năng lực kĩ thuật, năng lực nhân sự, năng lực bao quát. Các nhà quản trị cần phải có đủ ba năng lực trên, tuy vậy tầm quan trọng của từng loại năng lực lại phụ thuộc vào cấp bậc của nhà quản trị trong doanh nghiệp. Nói chung năng lực kĩ thuật giảm dần sự quan trọng đối với các vị trí quản trị cao cấp. Ở cấp càng cao, các nhà quản trị cần có nhiều năng lực bao quát và chiến lược hơn. Với các nhà quản trị cấp thấp, năng lực kĩ thuật là cần thiết vì ở cấp này nhà quản trị làm việc trực tiếp gắn bó với quy trình kĩ thuật sản xuất. Năng lực nhân sự trái lại cần thiết đối với mọi cấp quản trị vì nhà quản trị ở cấp nào cũng phải làm việc với con người. b. Những phẩm chất cốt lõi của nhà quản trị - Dám mạo hiểm - Quyết đoán - Tự tin - Chủ động - Lạc quan - Có tinh thần đổi mới… 1.3. Cơ cấu tổ chức của quản trị doanh nghiệp 1.3.1. Khái niệm cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn nhất định và bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp 1.3.2. Nguyên tắc xây dựng cơ cấu tổ chức - Phải phù hợp luật pháp Nhà nước - Phải phù hợp với cơ chế quản trị của doanh nghiệp - Phải phù hợp với ngành nghề kinh doanh & quy mô doanh nghiệp - Có mục tiêu thống nhất - Chế độ trách nhiệm, quyền hạn, quyền lợi rõ ràng - Có tính tập trung thống nhất - Có cơ chế kiểm sóat hữu hiệu - Mang tính hiệu quả 1.3.3. Một số cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp a. Cơ cấu quản trị trực tuyến Cơ cấu quản lý trực tuyến là một kiểu tổ chức bộ máy mà một cấp quản lý chỉ nhận mệnh lệnh từ một cấp trên trực tiếp. Hệ thống trực tuyến hình thành một đường Trang 19
  20. Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền thẳng rõ ràng về quyền ra lệnh, trách nhiệm và lãnh đạo cấp cao đến cấp cuối cùng. Cơ cấu kiểu này đòi hỏi người quản trị ở mỗi cấp phải có những hiểu biết tương đối toàn diện về các lĩnh vực. Tổng giám đốc Giám đốc Giám đốc Công ty I Công ty II Quản đốc Quản đốc Quản đốc phân xưởng A phân xưởng B phân xưởng C Hình 1.5. Cơ cấu quản lý trực tuyến Hệ thống quản trị theo trực tuyến phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ vì một người quản trị cấp trên có thể hiểu rõ được những hoạt động của cấp dưới và ra những mệnh lệnh trực tiếp một cách đúng đắn cho cấp dưới không cần thông qua một cơ quan giúp việc theo chức năng nào. Đối với những doanh nghiệp hoặc tổ chức lớn, người đứng đầu tổ chức trước khi ra mệnh lệnh cần tham khảo ý kiến của các bộ phận chức năng. b. Cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng Tổng giám đốc Marketing Kỹ thuật Sản xuất Tài chính Nhân sự Phân xưởng A Phân xưởng B Phân xưởng C Hình 1.6. Cơ cấu quản lý chức năng Trong cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng, các bộ phận quản lý cấp dưới nhận mệnh lệnh từ nhiều phòng ban chức năng khác nhau. Đôi khi các mệnh lệnh này có thể trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn với nhau, gây khó khăn cho cấp thừa hành. Có thể phân chia các bộ phận theo các chức năng (sơ đồ 2-4) cơ bản như: - Chức năng sản xuất Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản