Bài giảng Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ

Chia sẻ: nguyenminhnghia8386

tạo từ trường của máy điện đồng bộ. Hệ thống kích từ được điều khiển và bảo vệ nhằm đáp ứng công suất kháng cho hệ thống thông qua sự điều khiền điện áp bằng cách điều khiển dòng điện kích từ. Chức năng điều khiển bao gồm việc điều chỉnh đỉnh điện áp, phân bố công suất và nâng cao tính ổn định của hệ thống. Chức năng bảo vệ là đảm bảo được khả năng của máy điện đồng bộ, hệ thống kích từ và các thiết bị khác không được vượt quá giới hạn....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài giảng Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ

Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




Vận hành máy phát điện và hệ
thống kích từ




Trang 1
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ



II. HỆ THỐNG KÍCH TỪ:
II.1. Tổng quan về hệ thống kích từ kích từ:
Chức năng cơ bản của hệ thống kích từ là cung cấp dòng một chiều cho
cuộn dây tạo từ trường của máy điện đồng bộ. Hệ thống kích từ được điều khiển
và bảo vệ nhằm đáp ứng công suất kháng cho hệ thống thông qua sự điều khiền
điện áp bằng cách điều khiển dòng điện kích từ.
Chức năng điều khiển bao gồm việc điều chỉnh đỉnh điện áp, phân bố công
suất và nâng cao tính ổn định của hệ thống. Chức năng bảo vệ là đảm bảo đ ược
khả năng của máy điện đồng bộ, hệ thống kích từ và các thiết bị khác không được
vượt quá giới hạn.
Các yêu cầu cơ bản là hệ thống kích từ cung cấp và tự động điều chỉnh dòng
điện kích từ của máy phát đồng bộ để duy trì điện áp ở đầu ra cũng như giữ cho
điện áp ở đầu ra biến thiên trong phạm vi cho phép liên tục của máy phát, các yêu
cầu này có thể hình dung từ đường cong điện áp V. Của máy phát đ ược trình bày
ở hình 16.
Độ dự trữ cho tốc độ biến thiên của nhiệt độ, hư hỏng thiết bị, quá tải định
mức khẩn cấp … cần được quản lý công suất định mức trong trạng thái xác lập.
Thông thường định mức bộ kích từ biến thiên từ 2 ÷ 3,5 kW/MVA của đ ịnh mức
máy phát.




Hình 16: Đường cong điện áp V và đường cong kết hợp cho máy phát tại điện áp
phần ứng định mức
Ngoài ra hệ thống kích từ phải có khả năng đáp ứng quá độ bất ổn định với
từ trường cưỡng bức phù hợp với máy phát một cách tức thời và ngắn hạn. Khả
năng của máy phát ở đây xem như được giới hạn bởi các yếu tố;
+ Hư cách điện rotor ở điện áp kích từ cao.
+ Nóng rotor ở dòng điện kích từ lớn.
+ Nóng stator do dòng tải ở phần ứng lớn.
+ Lõi bị nóng trong suốt thời gian vận hành ở trạng thái thiếu kích từ và
sinh nhiệt do mật độ từ trường cao (V/Hz).
+ Giới hạn nhiệt có đặc tính độc lập với thời gian.
+ Khả năng quá tải ngắn hạn của máy phát có thể mở rộng từ 15÷ 60 giây.
Trang 2
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Để đảm bảo sự sử dụng tốt nhất của hệ thống kích từ, cần biết đầy đủ khả
năng đáp ứng của máy phát ngắn hạn miễn không vượt quá giới hạn cho phép.
Hệ thống kích từ sẽ giúp cho việc điều khiển điện áp có hiệu quả và nâng
cao tính ổn định của hệ thống. Nó sẽ có khả năng cho đáp ứng của độ bất ổn định
một cách nhanh chóng để nâng cao quá độ ổn định và điều chỉnh từ tr ường c ủa
máy phát để nâng cao độ ổn định tĩnh .
Về phương diện lịch sử, vai trò của hệ thống kích từ trong việc nâng cao
hiệu quả hệ thống điện được phát triển liên tục.Hệ thống kích từ đầu tiên đ ược
điều khiển bằng tay để duy trì điện áp và công suất phản kháng của tải ở đ ầu ra
của máy phát như mong muốn. Khi điện áp được điều khiển tự động lần đầu
tiên, nó cho đáp ứng rất chậm. Đầu năm 1920 người ta đã sử dụng các b ộ đi ều
chỉnh điện áp để nâng cao ổn định tĩnh và động hoạt động liên tục và có đáp ứng
nhanh.
Đáng chú ý việc thiết kế hệ thống kích từ ngày nay càng phát triển, các bộ
kích thích và điều chỉnh điện áp với đáp ứng nhanh đã sớm được đ ưa vào trong
công nghiệp. Hệ thống kích từ từ đó đã phát triển liên tục.
Sự tiến bộ trong hệ thống điều khiển kích từ từ hơn 20 năm qua đã nhờ
việc phát triển điện tử bán dẫn .Việc phát triển các mạch tích phân tín hiệu phân
tự đã giúp cho các công nghệ điều khiển phức tạp có thể thực hịên một cách dễ
dàng .
Sự phát triển sau cùng là kỹ thuật số đã được được đưa vào trong hệ thống
kích từ.Thyristo tiếp tục được sử dụng cho mạch công suất Chức năng điều
khiển, bảo vệ, luận lý thực hiện bằng các tín hiệu số, mà các chức năng trước đó
được thực hiện bởi mạch tín hiệu tương tự. điều khiển bằng tín hiệu số được sử
dung rộng rãi ngày nay vì chúng rẻ hơn và độ tin cậy cao hơn các mạch tín hi ệu
tương tự khác. Chúng tiến bộ hơn nhờ tính liên động cao, cho phép thực hiện dễ
dàng các công nghệ điều khiển phức tạp và giao tiếp với các chức năng điều
khiển, bảo vệ của máy phát khác. Những hệ thống kích từ hiện đại thực tế có khả
năng cung cấp các đáp ứng tức thời ở điện áp rất cao.
II.2. Các loại hệ thống kích từ:
Qua nhiều năm phát triển hệ thống kích từ có nhiều dạng, chúng có thể
được chia thành ba loại cơ bản dựa trên nguồn năng lượng mà bộ kích từ sử dụng
- Hệ thống kích từ một chiều
- Hệ thống kích từ xoay chiều
- Hệ thống kích từ tĩnh
II.2.1. Hệ thống kích từ một chiều:
Hệ thống kích từ loại này sử dụng máy phát một chiều như nguồn năng
lượng kích từ và cung cấp dòng điện cho rotor của máy điện đồng bộ thông qua
các vòng trượt. Máy kích từ một chiều có thể được kéo nhờ một động cơ hoặc
gắn vào trục của máy phát. Nó có thể tự kích hoặc là kích từ độc lập. Khi kích từ
độc lập, từ trường của bộ kích từ được cấp bởi bộ kích từ nhỏ như là máy phát
nam châm vĩnh cửu.
Hệ thống kích từ một chiều là hệ thống ra đời sớm nhất, khoảng từ năm
1920÷1960.Vào giữa những năm 1960 chúng không còn được lưu tâm nữa mà
được thay thế bằng các máy kích từ xoay chiều.
Hệ thống kích từ một chiều dần dần biến mất, một số hệ thống cũ hơn
được thay thế bằng một hệ thống kích từ xoay chiều hoặc hệ thống kích từ tĩnh.
Trang 3
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Trong vài trường hợp các bộ điều chỉnh điện áp độc lập được thay thế bằng các
bộ điều chỉnh điện tử bán dẫn hiện đại vài hệ thống kích từ một chiều vẫn còn
hoạt động do chúng vẫn còn yêu cầu làm mô hình trong nghiên cứu tính ổn định.
Hình 18 biểu diễn sơ đồ đơn giản của hệ thống kích từ một chiều với bộ
khuyếch đại quay. Nó bao gồm một máy điện một chiều (DC) để cung cấp dòng
một chiều cho cuộn kích từ máy phát chính thông qua các vòng trượt. Từ trường
máy kích từ DC được điều khiển bằng bộ khuyếch đại điện cơ. Bộ khuyếch đại
điện cơ là một loại đặc biệt của bộ khuyếch đại quay. Nó là một máy điện một
chiều chế tạo đặc biệt có 02 bộ chổi than đặt lệch nhau góc 90 o về điện, một bộ
trên trục d, một bộ trên trục q.
Việc điều khiển từ trường cuộn dây được định vị trên trục d. Một cuôn bù
mắc nối tiếp với phụ tải trên trục d sinh ra từ trường bằng và ngược chiều với
dòng điện phần ứng trên trục d do đó loại bỏ được phản hồi âm do s ự phản ứng
lại của dòng điện phần ứng. Bộ chổi than trên trục q bị ngắn mạch, công suất
điều khiển từ trường rất nhỏ được yêu cầu để tạo ra dòng điện lớn ở phần ứng
trên trục q.
Dòng điện trên trục q tạo ra theo nguyên tắc từ trường, năng lượng đ ược
yêu cầu để duy trì dòng điện trên trục q được cung cấp từ đ ộng cơ kéo bộ
khuyếch đại điện cơ. Kết quả là tạo một thiết bị khuyếch đại công suất từ
10.000÷100.000 lần và hằng số thời gian nằm trong khoảng (0,02÷0,25) giây.




Trang 4
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




Hình 18: Hệ thống kích từ một chiều với bộ khuyếch đại quay




Bo
dieu
AP




Trang 5
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




II.2.2. Hệ thống kích từ xoay chiều:
Hệ thống kích từ này sử dụng máy phát xoay chiều như là nguồn năng
lượng kích từ của máy phát chính.
Thường máy kích từ có cùng trục vối trục Turbine, máy phát. Điện áp xoay
chiều ở ngõ ra của bộ kích từ được chỉnh lưu có điều khiển (SCR) hoặc không có
điều khiển (diode) để tạo ra dòng một chiều cần cho từ trường của máy phát. Bộ
chỉnh lưu có thể là tĩnh hoặc là quay
a. Hệ thống chỉnh lưu tĩnh:
Với hệ thống chỉnh lưu tĩnh, ngõ ra một chiều cấp cho từ trường cuôn dây
của máy phát chính thông qua các vòng trượt. Khi chỉnh lưu không có điều khiển
được sử dụng, bộ điều chỉnh sẽ điều khiển từ trường của bộ kích từ xoay chiều,
như thế nó sẽ điều khiển tiếp điện áp ngõ ra của bộ kích từ.
Sơ đồ đơn tuyến đơn giản của hệ thống kích từ chỉnh lưu máy phát xoay
chiều có điều khiển từ trường được trình bày như hình 19. Bộ kích từ máy phát
xoay chiều được kéo nhờ rotor của máy phát chính.
Bộ kích từ này là tự kích với năng lượng từ trường được cung cấp từ bộ
chỉnh lưu Thyristor. Năng lượng của bộ điều chỉnh điện áp được cấp từ điện áp
ngõ ra của bộ kích từ.




Hình 19: Hệ thống kích từ chỉnh lưu máy phát xoay chiều
Khi bộ chỉnh lưu điều khiển Thyristor được sử dụng, bộ điều chỉnh điều
khiển trực tiếp điện áp một chiều ở ngõ ra của bộ kích từ
Hình 20 biểu diễn sơ đồ hệ thống chỉnh lưu có điều khiển. Bộ chỉnh lưu
điện áp điều khiển việc dẫn của thyristo. Bộ kích từ của máy phát xoay chiều là
tự kích và sử dụng điều chỉnh điện áp tĩnh độc lập để duy trì điện áp ở ngõ ra. Vì
thyristor điều khiển trực tiếp ngõ xuất của bộ kích từ nên hệ thống này cho đáp
ứng nhanh ngay từ đầu (thời gian đáp ứng nhỏ).
Ở hình 19 và hình 20 có hai kiểu điều chỉnh độc lập:

Trang 6
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


1. Bộ điều chỉnh xoay chiều tự động duy trì điện áp đầu cực máy phát
chính bằng với điện áp ra mong muốn
2. Bộ điều chỉnh một chiều duy trì điện áp kích từ máy phát là hằng số, xác
định bằng điện áp chuẩn DC.
Bộ điều chỉnh một chiều hay bộ điều khiển bằng tay được sử dụng khi bộ
điều khiển xoay chiều bị hư hoặc cần ngưng làm việc. Tín hiệu đưa vào bộ điều
khiển xoay chiều có ngõ bị nhập phụ nhằm cung cấp thêm chức năng điều khiển
và bảo vệ




Hình 20: Hệ thống kích từ chỉnh lưu
có điều khiển được cung cấp bởi máy phát xoay chiều
b. Hệ thống chỉnh lưu quay: (Hệ thống chỉnh lưu không chổi than)
Với bộ chỉnh lưu quay, các vòng trượt và chổi than được bỏ, điện áp một
chiều ở ngõ ra trực tiếp cấp cho từ trường máy phát chính như ở hình 21
Phần ứng của bộ kích từ xoay chiều và chỉnh lưu diode quay kích từ máy
phát chính.
Một bộ kích từ xoay chiều phụ, có một rotor nam châm vĩnh cửu quay với
phần ứng của bộ kích từ và Diode chỉnh lưu. Ngõ ra chỉnh lưu của Stator bộ kích
từ nhỏ cung cấp năng lượng từ trường tĩnh của bộ kích từ xoay chiều. Bộ điều
chỉnh điện áp điều khiển từ trường của bộ kích từ xoay chiều, điều khiển trở lại
của máy phát chính.
Một hệ thống như vậy được gọi là một hệ thống kích từ không có chổi
than.
Nó được phát triển để tránh việc sử dụng các chổi than khi các dòng dòng
điện kích từ lớn cho các máy phát rất lớn.
(VD: Công suất từ trường cấp cho máy phát 600MW là trên 1MW ).
Tuy nhiên với chổi than và các vòng trượt hiện đại, bảo hành tốt, vấn đề
cung cấp dòng kích từ lớn không là quan trọng. Hệ thống kích từ xoay chiều có và
không có chổi than đều hoạt động tốt như nhau.
Hiệu suất đáp ứng ban đầu của các kích thích dùng chổi than không cho
phép trực tiếp đo lường dòng và áp từ trường của máy phát.
Điều khiển bằng tay điện áp của máy phát chính được thực hiện bằng cách
thay đổi trị số đặt nhập một chiều cho mạch cổng của Thyristor.


Trang 7
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




Hình 21: Hệ thống kích từ không chổi than
II.2.3. Hệ thống kích từ tĩnh.
Tất cả các phần tử trong hệ thống này đều đứng yên. Các bộ chỉnh l ưu
tĩnh, được điều khiển hoặc không điều khiển, cung cấp dòng kích từ trực tiếp cho
từ trường máy phát chính nhờ các vòng trượt. Năng lượng cấp cho bộ chỉnh l ưu
được lấy từ máy phát chính ( hoặc ở các trạm phụ ) qua máy biến áp giảm áp
xuống cấp thích hợp, đôi khi lấy từ cuộn phụ trong máy phát. Hệ thống kích t ừ
tĩnh thường có ba kiểu sử dụng rộng rãi:
a. Hệ thống chỉnh lưu có điều khiển nguồn áp:
Trong hệ thống này năng lượng kích từ được cung cấp nhờ một máy biến
áp lấy điện từ đầu cực máy phát hoặc các trạm phụ, nó được điều chỉnh bởi bộ
chỉnh lưu có điều khiển (xem hình 22)
Hệ thống này vốn có hằng số thời gian rất nhỏ. Điện áp ra cực đại của bộ
kích từ phụ thuộc vào điện áp xoay chiều ở ngõ vào.Vì vậy khi hệ thống bị sự sẽ
làm cho điện áp đầu cực máy phát giảm xuống và dẫn đến điện áp cực đại ở đầu
ra bộ kích từ có thể bị giảm theo hạn chế này của hệ thống kích từ, được bù
bằng đáp ứng gần như tức thời và khả năng thay đổi từ trường cưỡng bức cao.
Ngoài ra nó có thể bảo trì dễ dàng và rẻ tiền. Đối với máy phát nối với hệ thống
công suất lớn thì hệ thống kích từ làm việc tốt.




Hình 22: Hệ thống kích từ chỉnh lưu có điều khiển nguồn áp
b. Hệ thống chỉnh lưu nguồn kết hợp:


Trang 8
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Năng lượng của hệ thống kích từ trong trường hợp này được tạo ra nhờ sử
dụng dòng điện cũng điện áp của máy phát chính.điều này có thể thực hiện đ ược
nhờ máy biến áp công suất và máy biến dòng bảo hòa như hình 23. Hoặc là nguồn
áp và nguồn dòng được kết hợp nhờ sử dụng một máy biến áp kích từ đơn, như là
máy biến dòng bảo hòa.
Bộ điều chỉnh điều khiển ngõ ra của bộ kích từ thông qua việc điều khiển
sự bảo hòa của máy biến áp kích từ. Khi máy phát không cung cấp cho tải thì dòng
ứng bằng không còn nguồn áp cung cấp toàn bộ cho năng lượng kích từ.Ở chế độ
có tải một phần năng lượng kích từ được lấy từ dòng điện của máy phát. Khi hệ
thống bị sự cố với sự cố nặng sẽ làm giảm điện áp đầu cực máy phát,lúc đó dòng
điện sự cố sẽ cung cấp năng lượng từ trường cưỡng bức cao.




Hình 23: Hệ thống kích từ chỉnh lưu nguồn kết hợp
c. Hệ thống từ chỉnh lưu điều khiển kết hợp:
Hệ thống này sử dụng chỉnh lưu điều khiển trong mạch suất của bộ kích từ
và sự kết hợp của nguồn áp, nguồn dòng ở bên trong stator máy phát để cung cấp
năng lượng cho bộ kích từ. Kết quả là hệ thống kích từ tĩnh cho đáp ứng ban đầu
cao với nhiều khả năng cưỡng bức.
Hình 24 biểu diễn sơ đồ đơn tuyến cơ bản của hệ thống. Nguồn áp được
tạo ra bởi một sợi dây quấn ba pha đặt trong ba rãnh bên trong stator máy phát và
nối tiếp với cuộn kháng tuyến tính. Nguồn dòng được tạo ra từ biến dòng đặt ở
trung tính cuối cuộn dây stator nối đất. Những nguồn này được kết hợp thông qua
sự hoạt động của máy biến điện và kết quả là điện áp xoay chiều ở ngõ ra đ ược
chỉnh lưu bởi các linh kiện bán dẫn công suất tĩnh. Việc điều khiển đ ược cung
cấp bởi sự kết hợp giữa diode và thyristor mắc song song. Bộ điều chỉnh điện áp
xoay chiều điều khiển mạch kích của thristor và qua đó điều chỉnh bộ kích từ để
kích từ máy phát.
Máy biến áp kích từ bao gồm ba bộ phận đơn pha với ba cuộn dây: cuộn
dòng (C) cuộn áp sơ cấp (P) và cuộn ngõ ra thứ cấp (E). Dưới tình trạng sự cố sẽ
chạy qua cuộn dây (C) máy biến áp kích từ, cung cấp cung cấp từ trường cưỡng
bức khi điện áp máy phát bị giảm thấp.
Cuộn kháng có hai chức năng:

Trang 9
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


+ Góp phần làm thỏa đặc tuyến tổng hợp của hệ thống kích từ
+ Làm giảm dòng sự cố khi hệ thống kích từ hay máy phát bị sự cố.
Máy biến áp kích từ và cuộn kháng được đặt trong một hộp hình vòng
được bắt dính trên khung máy phát.
Bởi vì nguồn năng lượng của hệ thống kích từ tĩnh là từ máy phát chính,
nó là hệ thống tự kích. Máy phát không thể tự phát ra điện áp khi chưa có dòng
kích từ. Do đó cần có nguồn năng lượng khác trong vài dây để cung cấp dòng kích
từ và năng lượng kích thích ban đầu cho máy phát. Phương pháp này tạo nên dòng
kích từ cho máy phát được gọi là “kích từ trường”. Nguồn kích thường dùng là
nguồn acquy tĩnh.




Hình 24: Hệ thống kích từ tổng hợp có điều khiển
II.3. Nguyên lý làm việc của mạch bảo vệ máy kích từ:
Chức năng cơ bản của hệ thống kích từ là cung cấp dòng một chiều cho
cuộn dây tạo từ trường của máy điện đồng bộ. Hệ thống kích từ được điều khiển
và bảo vệ nhằm đáp ứng công suất kháng cho hệ thống thông qua sự điều khiền
điện áp bằng cách điều khiển dòng điện kích từ.
Chức năng điều khiển bao gồm việc điều chỉnh đỉnh điện áp, phân bố công
suất và nâng cao tính ổn định của hệ thống. Chức năng bảo vệ là đảm bảo đ ược
khả năng của máy điện đồng bộ, hệ thống kích từ và các thiết bị khác không được
vượt quá giới hạn.
Các yêu cầu cơ bản là hệ thống kích từ cung cấp và tự động điều chỉnh dòng
điện kích từ của máy phát đồng bộ để duy trì điện áp ở đầu ra cũng như giữ cho
điện áp ở đầu ra biến thiên trong phạm vi cho phép liên tục của máy phát, các yêu
cầu này có thể hình dung từ đường cong điện áp V. Của máy phát đ ược trình bày
ở hình 16.
Độ dự trữ cho tốc độ biến thiên của nhiệt độ, hư hỏng thiết bị, quá tải định
mức khẩn cấp … cần được quản lý công suất định mức trong trạng thái xác lập.
Thông thường định mức bộ kích từ biến thiên từ 2 ÷ 3,5 kW/MVA của đ ịnh mức
máy phát.

Trang 10
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


II.4. Cấu tạo, nguyên lý làm việc các thiết bị điều khiển, đo lường,
kiểm soát và bảo vệ kích từ:
1. Bảo vệ chống mất kích từ:
Trong quá trình vận hành máy phát điện có thể xảy ra mất kích từ do hư
hỏng trong mạch kích thích (do ngắn mạch hoặc hở mạch), hư hỏng trong hệ
thống tự động điều chỉnh điện áp, thao tác sai của nhân viên vận hành... Khi máy
phát bị mất kích từ thường dẫn đến mất đồng bộ ở stator và rotor. Nếu hở mạch
kích thích có thể gây quá điện áp trên cuộn rotor nguy hiểm cho cách điện cuộn
dây.
Ở chế độ vận hành bình thường, máy phát điện đồng bộ làm việc với sức
điện động E cao hơn điện áp đầu cực máy phát UF (chế độ quá kích thích, đ ưa
công suất phản kháng Q vào hệ thống, Q > 0). Khi máy phát làm việc ở chế độ
thiếu kích thích hoặc mất kích thích, sức điện động E thấp hơn điện áp UF, máy
phát nhận công suất phản kháng từ hệ thống (Q < 0) (hình 1.33a,c). Như vậy khi
mất kích từ, tổng trở đo được đầu cực máy phát sẽ thay đổi từ Zpt (tổng tr ở ph ụ
tải nhìn từ phía máy phát) nằm ở góc phần tư thứ nhất trên mặt phẳng tổng trở
phức sang ZF (tổng trở của máy phát nhìn từ đầu cực của nó trong chế độ Q < 0)
nằm ở góc phần tư thứ tư trên mặt phẳng tổng trở phức (hình 1.33b).
Khi xảy ra mất kích từ, điện kháng của máy phát sẽ thay đổi từ trị số Xd
(điện kháng đồng bộ) đến trị số X’d (điện kháng quá độ) và có tính chất dung
kháng. Vì vậy để phát hiện mất kích từ ở máy phát điện, chúng ta có thể sử dụng
một rơle điện kháng cực tiểu có X’d
a) tương ứng với các điểm A và B
trên đặc tính điện kháng khởi động ở hình 1.33b.
Khi mất kích từ, dòng điện chạy vào máy phát mang tính chất dung và vượt
trước điện áp pha tương ứng một góc 90 0. Hiệu dòng điện các pha B và C thông
qua biến dòng cảm kháng BIG tạo nên điện áp phía thứ cấp UD vượt trước dòng
điện IBC một góc 900. Như vậy góc lệch pha giữa hai véctơ điện áp UD và UBC là
1800




Trang 11
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Điện áp đưa vào các bộ biến đổi dạng sóng (hình sin sang hình chữ nhật) S 1
(hình 1.34). và S2 tương ứng bằng:
U1 = a. UBC - UD; U2 = b. UBC - UD
Góc lệch pha α giữa U1 và U2 sẽ được kiểm tra.
Ở chế độ bình thường α = 00, rơle không làm việc.
Khi bị mất kích từ α = 1800, rơle sẽ tác động.
Góc khởi động được chọn khoảng 900. Các hệ số a, b được chọn (bằng
cách thay đổi đầu phân áp của BUG) sao cho các điểm A và B trên hình 1.34b thoả
mãn điều kiện: b. UBC> UD > a.UBC (1-67)
Khi mất kích thích, góc pha dòng điện thay đổi, góc lệch pha α đ ược kiểm
tra thông qua độ dài của tín hiệu S3 = - S1.S2. Nếu α > αkđ (hình 1.34c) bảo vệ sẽ tác
động đi cắt máy phát trong khoảng thời gian từ (1 ÷ 2) sec.




HÌNH 1.34: Sơ đồ bảo vệ chống mất kích từ máy phát điện dùng rơle điện
kháng cực tiểu
a) Sơ đồ nguyên lý; b) Đồ thị véctơ; c) Dạng sóng của các đại lượng
2. Bảo vệ chống mất đồng bộ:
Bảo vệ chống mất đồng bộ đôi khi còn có tên gọi là bảo vệ chống tr ượt
cực từ. Khi máy phát điện đồng bộ bị mất kích từ, rotor máy phát có thể bị mất
đồng bộ với từ trường quay. Việc mát đồng bộ cũng có thể xảy ra khi có dao
động công suất trông hệ thống điện do sự cố kéo dài hoặc do cắt một số đường
dây trong hệ thống. Hậu quả của việc mất đồng bộ gây nên sự dao động công
suất trong hệ thống có thể làm mất ổn định kéo theo sự tan rã hệ thống điện,
ngoài ra nó còn tạo ra các ứng suất cơ nguy hiểm trên một số phần tử của máy
phát. Để phát hiện sự cố này có thể sử dụng nguyên lý đo tổng trở đầu cực máy
phát.
Trên hình 1.35 trình bày đặc tính biến thiên của mút véctơ tổng trở đo được
trên đầu cực máy phát trong quá trình sự cố và xảy ra dao động điện trong hệ
thống. Ơ chế độ vận hành bình thường, mút véctơ tổng trở nằm ở vị trí điểm A.
khi xảy ra ngắn mạch mút véctơ dịch chuyển từ A đến B, sau khi bảo vệ cắt ngắn
mạch véctơ tổng trở nhảy từ B sang C và nếu xảy ra dao động, mút véctơ ở chu kì
đầu tiên sẽ dịch chuyển theo quĩ đạo 2...
Trang 12
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Hành vi này của véctơ tổng trở khi có dao động điện có thể được phát hiện
bằng một rơle với đặc tính khởi động như trên hình 1.36.
Đặc tính khởi động có dạng hình elíp hoặc thấu kính 1 và dạng điện kháng
2 kết hợp với nhau theo nguyên lý “và”. Khi có dao động nếu quỹ đạo c ủa mút
véctơ Z đi vào miền khởi đoọng ở điểm M và ra khỏi miền khởi động ở điểm N
dưới đặc tuyến 2 (hình 1.37) có nghĩa là tâm dao động (tâm điện) nằm trong miền
tổng trở của bộ MF-MBA, bảo vệ sẽ tác động cắt máy phát ngay trong chu kì dao
động đầu tiên.




HÌNH 1.35: Hành trình của véctơ tổng trở Z khi xảy ra sự cố và dao động
Nếu tâm dao động nằm ở phía hệ thống quỹ đạo của mút véctơ Z sẽ nằm
cao hơn đặc tuyến 2, khi ấy bảo vệ sẽ tác động cắt sau một số chu kì định trước.
Trên hình 1.37 trình bày sơ đồ nguyên lý của bảo vệ chống trượt cực từ, bảo vệ
gồm bộ phận đo khoảng cách với đặc tuyến thấu kính1 kết hợp với bộ phậnhạn
chế theo điện kháng 2 để giới hạn miền tác động từ phía hệ thống, bộ phận đếm
chu kì dao động 3 để cắt máy phát khi sô chu kì đạt trị số đặt trước.
Ở phía cao áp của MBA tăng có đặt thêm bộ phận định hướng công suất 4
thực hiện chức năng giống như bộ phận 2 và làm nhiệm vụ dự phòng cho bộ phận
này. Thay vì đặc tuyến tổng trở kết hợp 1 và 2 trên hình 1.36 người ta có thể sử
dụng đặc tuyến hình chữ nhật như trên hình 1.38 để phát hiện dao động điện.




HÌNH 1.36: Đặc tính khởi động hình thấu kính để phát hiện dao động điện




Trang 13
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




HÌNH 1.37: Sơ đồ nguyên lý của bảo vệ chống trượt cực từ (dao động
điện)




HÌNH 1.38: Đặc tính khởi động HÌNH 1.39: Quan hệ giữa mức quá
hình chữ nhật để phát hiện dao tải và thời gian quá tải cho phép
động điện của các cuộn dây máy phát
3. Bảo vệ chống luồng công suất ngược:
Công suất sẽ đổi chiều từ hệ thống vào máy phát nếu việc cung cấp năng
lượng cho Turbine (dầu, khí, hơi nước hoặc dòng nước...) bị gián đoạn. Khi đó
máy phát điện sẽ làm việc như một động cơ tiêu thụ công suất từ hệ thống. Nguy
hiểm của chế độ này đối với các máy phát nhiệt điện là Turbine sẽ làm việc ở
chế độ máy nén, nén lượng hơi thừa trong Turbine làm cho cánh Turbine có thể
phát nóng quá mức cho phép. Đối với các máy phát diezen chế độ này có thể làm
nổ máy.
Để bảo vệ chống chế độ công suất ngược, người ta kiểm tra hướng công
suất tác dụng của máy phát. Yêu cầu rơle hướng công suất phải có độ nhạy cao
để phát hiện được luồng công suất ngược với trị số khá bé (thường chỉ bù đắp lại
tổn thất cơ của máy phát trong chế độ này). Với các máy phát điện Turbine hơi,
công suất khởi động ΔPkđ bằng:
ΔPkđ = (0,01 ÷ 0,03)P đm (1-68)
Với các máy phát thuỷ điện và Turbine khí:
ΔPPkđ = (0,03 ÷ 0,05)Pđm (1-69)




Trang 14
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




HÌNH 1.40: Sơ đồ nguyên lý của bảo vệ chống công suất ngược
Để đảm bảo độ nhạy của bảo vệ cho các máy phát công suất lớn, mạch
dòng điện của bảo vệ thường được đấu vào lõi đo lường của máy biến dòng (thay
cho lõi bảo vệ thường dùng cho các thiết bị khác).
Bảo vệ chống công suất ngược thường có hai cấp tác động: cấp 1 với thờ
gian khoảng (2 ÷ 5) sec sau khi van STOP khẩn cấp làm việc và cấp thứ 2 với thời
gian cắt máy khoảng vài chục giây không qua tiếp điểm của van STOP (hình
1.40).
II.5. Cấu tạo, nguyên lý làm việc của bộ AVR:
Chức năng cơ bản của hệ thống kích từ là cung cấp dòng một chiều cho
cuộn dây tạo từ trường của máy điện đồng bộ. Hệ thống kích từ được điều khiển
và bảo vệ nhằm đáp ứng công suất kháng cho hệ thống thông qua sự điều khiền
điện áp bằng cách điều khiển dòng điện kích từ.




Hình 14: Dây quấn kích từ quấn tập trung của máy điện đồng bộ




Hình 15: Dây quấn kích từ quấn rải của máy điện đồng bộ


Trang 15
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




Hình 16: Bối dây quấn kích
(a): Dây cuốn xếp; (b): Dây cuốn sóng


Chức năng điều khiển bao gồm việc điều chỉnh đỉnh điện áp, phân bố công
suất và nâng cao tính ổn định của hệ thống. Chức năng bảo vệ là đảm bảo đ ược
khả năng của máy điện đồng bộ, hệ thống kích từ và các thiết bị khác không được
vượt quá giới hạn.
Các yêu cầu cơ bản là hệ thống kích từ cung cấp và tự động điều chỉnh dòng
điện kích từ của máy phát đồng bộ để duy trì điện áp ở đầu ra cũng như giữ cho
điện áp ở đầu ra biến thiên trong phạm vi cho phép liên tục của máy phát, các yêu
cầu này có thể hình dung từ đường cong điện áp V. Của máy phát đ ược trình bày
ở hình 17.
Độ dự trữ cho tốc độ biến thiên của nhiệt độ, hư hỏng thiết bị, quá tải định
mức khẩn cấp … cần được quản lý công suất định mức trong trạng thái xác lập.
Thông thường định mức bộ kích từ biến thiên từ 2 ÷ 3,5 kW/MVA của đ ịnh mức
máy phát.




Hình 17: Đường cong điện áp V và đường cong kết hợp cho máy phát tại điện áp
phần ứng định mức



Trang 16
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Ngoài ra hệ thống kích từ phải có khả năng đáp ứng quá độ bất ổn định với
từ trường cưỡng bức phù hợp với máy phát một cách tức thời và ngắn hạn. Khả
năng của máy phát ở đây xem như được giới hạn bởi các yếu tố;
+ Hư cách điện rotor ở điện áp kích từ cao.
+ Nóng rotor ở dòng điện kích từ lớn.
+ Nóng stator do dòng tải ở phần ứng lớn.
+ Lõi bị nóng trong suốt thời gian vận hành ở trạng thái thiếu kích từ và
sinh nhiệt do mật độ từ trường cao (V/Hz).
+ Giới hạn nhiệt có đặc tính độc lập với thời gian.
+ Khả năng quá tải ngắn hạn của máy phát có thể mở rộng từ 15÷ 60 giây.
Để đảm bảo sự sử dụng tốt nhất của hệ thống kích từ, cần biết đầy đủ khả
năng đáp ứng của máy phát ngắn hạn miễn không vượt quá giới hạn cho phép.
Hệ thống kích từ sẽ giúp cho việc điều khiển điện áp có hiệu quả và nâng
cao tính ổn định của hệ thống. Nó sẽ có khả năng cho đáp ứng của độ bất ổn định
một cách nhanh chóng để nâng cao quá độ ổn định và điều chỉnh từ tr ường c ủa
máy phát để nâng cao độ ổn định tĩnh .
Về phương diện lịch sử, vai trò của hệ thống kích từ trong việc nâng cao
hiệu quả hệ thống điện được phát triển liên tục.Hệ thống kích từ đầu tiên đ ược
điều khiển bằng tay để duy trì điện áp và công suất phản kháng của tải ở đ ầu ra
của máy phát như mong muốn. Khi điện áp được điều khiển tự động lần đầu
tiên, nó cho đáp ứng rất chậm. Đầu năm 1920 người ta đã sử dụng các b ộ đi ều
chỉnh điện áp để nâng cao ổn định tĩnh và động hoạt động liên tục và có đáp ứng
nhanh.
Đáng chú ý việc thiết kế hệ thống kích từ ngày nay càng phát triển, các bộ
kích thích và điều chỉnh điện áp với đáp ứng nhanh đã sớm được đ ưa vào trong
công nghiệp. Hệ thống kích từ từ đó đã phát triển liên tục.
Sự tiến bộ trong hệ thống điều khiển kích từ từ hơn 20 năm qua đã nhờ
việc phát triển điện tử bán dẫn .Việc phát triển các mạch tích phân tín hiệu phân
tự đã giúp cho các công nghệ điều khiển phức tạp có thể thực hịên một cách dễ
dàng .
Sự phát triển sau cùng là kỹ thuật số đã được được đưa vào trong hệ thống
kích từ.Thyristo tiếp tục được sử dụng cho mạch công suất Chức năng điều
khiển, bảo vệ, luận lý thực hiện bằng các tín hiệu số, mà các chức năng trước đó
được thực hiện bởi mạch tín hiệu tương tự. điều khiển bằng tín hiệu số được sử
dung rộng rãi ngày nay vì chúng rẻ hơn và độ tin cậy cao hơn các mạch tín hi ệu
tương tự khác. Chúng tiến bộ hơn nhờ tính liên động cao, cho phép thực hiện dễ
dàng các công nghệ điều khiển phức tạp và giao tiếp với các chức năng điều
khiển, bảo vệ của máy phát khác. Những hệ thống kích từ hiện đại thực tế có khả
năng cung cấp các đáp ứng tức thời ở điện áp rất cao.
Sơ đồ khối chức năng tiêu biểu của hệ thống điều khiển kích từ cho máy
phát đồng bộ lớn cho ở ( hình 17 ). Hệ thống này có các bộ phận chính như sau:
1. Bộ kích từ:
Cung cấp dòng một chiều cho cuộn dây tạo từ trường của máy điện đ ồng
bộ, tạo nên công suất của hệ thống kích từ.
2. Bộ điều chỉnh điện áp : ( AVR)
Xử lý và khuyếch đại tín hiệu điều khiển đầu vào là điện áp đầu cực máy
phát để tạo ra cách thức thích hợp nhằm điều khiển bộ kích từ.
Trang 17
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Nó bao gồm cả việc điều chỉnh và chức năng ổn định hệ thống kích từ
(Mạng hồi tiếp hoặc bộ bù sớm –Trễ pha ).
3. Bộ biến điện áp ra và bù tải:
Cảm nhận điện áp ra đầu cực máy phát, Chỉnh lưu và lọc nó thành điện một
chiều, so sánh nó với một trị chuẩn (trị số đặt) là điện áp đầu ra máy phát mong
muốn. Ngoài ra bộ phận bù tải có thể được cung cấp (Do sụt áp trên đường dây
hoặc do công suất phản kháng) nếu muốn giữ điện áp không đổi tại các điểm xa
đầu cực máy phát ( VD: qua máy biến áp tăng).
Bộ này còn được gọi là bộ tạo đặc tuyến điều chỉnh.
4. Bộ ổn định hệ thống công suất:
Cung cấp thêm một tín hiệu ngõ vào để hạn chế dao động công suất của hệ
thống. Những tín hiệu ở ngõ vào thường dùng là độ lệch tốc độ rôto, Sự tăng công
suất và độ lệch tần số .
5. Bộ hạn chế và bảo vệ:
Phần này bao gồm một hệ thống điều khiển và bảo vệ rộng nhằm đảm bảo
khả năng của bộ kích từ và máy phát đồng bộ không vượt quá giới hạn.
Thường sử dụng bộ hạn dòng kích từ, bộ hạn chế kích từ cực đại, bộ hạn
áp đầu cực , bộ điều chỉnh và bảo vệ V/Hz và bộ hạn chế thiếu kích từ. Những
mạch này thường riêng biệt, các tín hiệu ở ngõ ra của chúng có thể đ ưa vào hệ
thống kích từ bằng một ngõ nhập tổng hay là một cổng nhập.

BỘ HẠN CHẾ
VÀ BẢO VỆ


BỘ CẢM BIẾN ĐIỆN ÁP
VÀ BỘ BÙ TẢI TẠO
ĐẶC TUYẾN

BỘ ĐIỀU
Tới
CHỈNH BỘ MÁY PHÁT hệ
AVR KÍCH TỪ thốn
g



B Ộ ỔN
ĐỊNH


Hình 17 : Sơ đồ khối hệ thống kích từ máy phát
II.6. Đánh giá đáp ứng động của hệ thống kích từ:
Hiệu quả của hệ thống kích từ trong việc nâng cao ổn đinh hệ thống điện
được xác định bởi một số đặc tuyến cơ bản của nó. Trong phần này ta tìm hiểu,
định nghĩa việc đo lường để xác định từ các đặc tuyến và đáp ứng cơ bản cho
việc ước lượng, cũng như việc định rõ chức năng làm việc của hệ thống điều
khiển kích từ.
Sự làm việc của hệ thống điều khiền kích từ phụ thuộc vào đặc tuyến của
hệ thống kích từ, máy phát và hệ thống điện .

Trang 18
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Vì hệ thống tuyến tính, khảo sát hai dạng tín hiệu, dạng đặc tính tín hiệu
nhỏ và dạng đặc tính tín hiệu lớn đối với đặc tính tín hiệu lớn, không tuyến tính
là đáng kể: Đối với đặc tính tín hiệu nhỏ, đáp ứng chính là tuyến tính
Vr : Điện áp chuẩn
Vr : Điện áp ra bộ điều chỉnh
V f : Điện áp kích từ
∆V : Độ lệch điện áp.
II.7. Chức năng điều khiển và bảo vệ:
1. Quá kích từ:
Quá kích từ là nguyên nhân gây ra quá nhiệt máy phát. Để bảo vệ quá kích từ
máy phát.
Thường dùng bộ giới hạn quá kích từ. Bộ giới hạn kích từ có mục đích là
bảo vệ máy phát không bị quá nhiệt do quá dòng kích từ. Bộ giới hạn này còn
được biết như bộ giới hạn kích từ cực đại.
Cuộn kích từ máy phát được thiết kế hoạt động liên tục tại một giá trị đáp
ứng tải định mức.
Nhiệt độ phát nóng thì cuộn kích từ rotor máy phát quá tải được thiết kế theo
tiêu chuẩn thí dụ như đường cong ( Hinh 26).




Hình 26: Sự kết hợp của giới hạn quá kích từ với khả năng chịu nhiệt của
cuộn dây kích từ
Đường cong đi qua các điểm sau:
Thời gian (s) 10 30 60 120
Điện áp kích từ/dòng kích từ (% định mức) 208 146 125 112




Trang 19
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Hình 27. Mặt cắt phần cuối máy phát.
Hình 27. Là hình vẽ các vòng dây cuốn vùng biên của máy phát. Từ thông các
vòng này tản vào và ra vuông góp với từng lớp thép mỏng của Stator. Đây là
nguyên nhân dòng điện xoáy trong từng lớp thép, kết quả là sự phát nhiệt được
hình thành ở vùng biên. Dòng kích từ lớn ứng với trường hợp quá kích từ giữ vòng
duy trì bão hòa làm cho từ thông tản nhỏ. Tuy nhiên trong vùng thiếu kích từ, dòng
kích từ nhỏ và vòng duy trì không bão hòa, điều này cho phép từ thông t ản ở cuối
phần ứng. Hơn nữa trong điều kiện thiếu kích từ từ thông sinh ra do dòng phần
ứng cộng với từ thông sinh ra dòng kích từ, vì vậy từ thông vùng biên làm tăng t ừ
thông hướng tâmtrong vùng và kết quả là hiệu ứng nhiệt có thể rất mãnh liệt giới
hạn ngõ ra máy phát, đặc biệt trong trường hợp của Rotor dây quấn.
Hiện nay việc bổ sung chức năng giới hạn quá kích từ thay đổi tuỳ thuộc vào
nhà máy sản xuất và khối chức năng tiêu biểu. Chức năng đặc trưng của bộ giới
hạn kích từ là phát hiện ra dòng kích từ cao, qua thời gian trễ, tác động thông qua
bộ điều chỉnh AC nhằm làm giảm tốc độ kích từ đến giá trị kích từ đã đặt trước
(khoảng 100+110% dòng kích từ định mức ).




Hình 28. Đường cong khả năng phát công suất kháng của máy phát
Nếu không đặt, nó sẽ cắt độ điều chỉnh AC, chuyển điều khiển đến bộ điều
chỉnh DC và xác định lại điểm đạt ở một giá trị đáp ứng đạt trị số định mức. Nếu
điều này cũng không làm giảm kích từ đến một giá trị an toàn thì bộ giới hạn sẽ
tác động cắt bộ máy phát kích từ và cắt bộ máy phát.
Có hai loại thời gian trễ được dùng:
a. Thời gian cố định: Là thời gian mà bộ giới hạn hoạt động khi dòng điện
kích từ vượt quá giá trị thời gian cố định đã được đặt bất kể mức độ c ủa s ự quá
kích từ.
b. Thời gian biến đổi: Là thời gian mà bộ giới hạn hoạt động với thời gian
trễ ứng với khả năng từ trường phát nóng, như (Hinh 28).
Bộ kích từ với điện áp rất cao có thể được cung cấp thêm một bộ giới hạn
dòng kích từ có hoặt động tức thời thông qua bộ điều chỉnh AC cùng với các giới
hạn dòng kích từ trong thời gian giới hạn ngắn ( khoảng 160% giá trị định mức ).




Trang 20
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ




2. Thiếu kích từ:
Thiếu kích từ là nguyên nhân gây ra quá nhiệt lõi stator máy phát. Đ ể bảo
vệ thiếu kích từ máy phát. Thường dùng bộ giới hạn thiếu kích từ.
Bộ giới hạn thiếu kích từ dùng để ngăn chặn sự giảm kích từ của máy phát
tới mức mà ở đó giới hạn ổn định nhỏ ( trạng thái xác lập ) hoặc là vùng giới hạn
nhiệt lõi stator bị vượt quá. Bộ giới hạn này được biết qua những tên khác nhau
như bộ giới hạn thiếu kích từ dòng phản kháng và bộ giới hạn kích từ cực tiểu.
Tiến hiệu điều khiển của bộ giới hạn thiều kích từ được lấy từ sự kết hợp
hoặc là điện áp và dòng điện, hoặc là công suất tác dụng và công suất phản kháng
của máy phát. Các giới hạn được xác định bằng tiến hiệu vượt quá giá trị đặt. Có
nhiều cách để bổ sung chức năng thực hiện của bộ giới hạn thiếu kích từ.
Một số bộ giới hạn thiếu kích từ hoặt động theo tiến hiệu sai số điện áp
của bộ AVR; khi bộ giới hạn thiếu kích từ khởi động, một phần tử không tuyến
tính ( ví dụ như diode) bắt đầu dẫn tín hiệu ngõ ra của bộ giới hạn được kết hợp
với các tiến hiệu điều khiển khác của hệ thống kích từ .
Sự cài đặt tính của bộ giới hạn thiếu kích từ sẽ đặt nền tảng cho bảo vệ
như bảo vệ hệ thống bất ổn định hoặc là cuộn dây stator phát nóng.
Ngoài ra đặc tính của bộ giới hạn còn được phối hợp với bộ bảo vệ mất
kích từ máy phát. (Hinh 29) trình bày cách mà đặc tính của bộ giới hạn thiếu kích
từ ( tượng trưng bằng mặt phẳng P-Q thường sử dụng kết hợp với tính toán ổn
định tín hiệu nhỏ và rơle chống mất kích từ.




H.29. Sự phối hợp giữa phần tử thiếu, mất kích từ và giới hạn ổn định.
Nếu bộ giới hạn chống mất kích từ được sử dụng chống lại vùng phát
nóng, sự kết hợp theo cách tương tự, ngoại trừ giới hạn ổn định được thế bằng
giới hạn phát nóng.
Nếu các tín hiệu nhập cho bộ giới hạn thiếu kích trừ là điện áp và dòng
điện stator máy phát thì sẽ xuất hiện các đường cong đặc tính trên mặt phẳng P-Q
như (Hinh 29). Với các tiến hiệu ngõ nhập là công suất phản kháng và công suất
tác dụng thì đặc tính giới hạn là một đường thẳng.
3. Mạch diệt từ:
Trang 21
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


Vì bộ chỉnh lưu không dẫn theo chiều ngược lại nên dòng điện của bộ kích
từ không thể âm như trong trường hợp của bộ kích từ AC và tĩnh. Trong trường
hợp cực hư và hệ thống ngắn mạch, dòng cảm ứng trong cuộn kích từ máy phát
có thể âm. Nếu dòng điện âm này không có đường thoát thì điện áp tăng rất cao có
thể tạo ra ở mạch từ mắc song song. Vì vậy một mạch điện riêng biệt thường
được cung cấp để làm nhánh rẽ cho phép dòng kích từ âm thoát qua. Đây là một
hình thức của nối tắt từ trường, thường được biết qua bộ ” dập từ trường “ hoăc
điện trở biến đổi .
Bộ dập từ trường bao gồm một thyristor và một điện trở diệt từ được nối
song song với cuộn kích từ máy phát như (hình 30) Cổng của thyristor được điều
khiển bằng chế đô quá điện áp được tạo ra dòng cảm ứng ban đầu không lối
thoát. Thyristor cũng dẫn dòng kích từ cảm ứng qua điện trở diệt từ.




Hình 30
Mạch diệt từ dùng bộ dập từ trường




Hình 31
Mạch diệt từ dùng điện trở biến đổi
Điện trở biến đổi là một điện trở không tuyến tính khi được nối song song
với cuộn kích từ máy phát, ( như hình 31) nó nối tắt cuộn kích từ trong chế độ
điện áp cảm ứng cao với điện áp bộ kích từ bình thường điện trở biến đổi mắc
song song có điện trở rất lớn vì vậy dòng qua nó có thể bỏ qua. Khi điện áp hai
đầu điện trở biến đổi tăng đến ngưỡng thì điện trở của nó giảm theo và dòng
điện qua nó tăng lên rất nhanh. Vì thế điện trở biến đổi cung cấp một điện tr ở
nhỏ làm đường dẩn cho dòng kích từ cảm ứng và giới hạn điện áp hai đ ầu cuộn
kích từ và máy kích từ .
Trong vài trường hợp, mạch nối tắt riêng biệt bảo vệ cuộn kích từ không
được cung cấp. Bộ dập tắt dao động kết hợp với khối sắt của rotor tạo đ ường
dẫn cho đường rotor cảm ứng. Điều này có khả năng giới hạn điện áp cảm ứng ở
mức khả năng chịu đựng của cuộn kích từ máy phát và máy kích từ. Vì cuộn kích
từ không bị nối tắt nên nó không tải trực tiếp dòng điện hướng âm.
II.8. Các bộ hạn chế và bảo vệ:
Những phần này được sử dụng để bảo vệ máy phát và máy biến áp tăng đ ể
không bị hư do vượt quá dòng từ hoá kết quả của tần số thấp và quá điện áp.
Dòng từ hoá vượt quá liên tục có thể là nguyên nhân chủ yếu của sự quá
nhiệt. Kết quả có thể làm hư máy biến áp và cuộn dây máy phát.
Tỷ số của điện áp đơn vị tương đối và tần số đơn vị tương đối, được xem
như điện áp chia cho tần số (V/Hz), có thể đo lường được đại lượng tỷ lệ với
Trang 22
Vận hành máy phát điện và hệ thống kích từ


dòng từ hoá. Giới hạn VHz đặc trưng cho máy phát và máy biến áp tăng được cho
trong bảng sau:
V/Hz (đvtđ) 1,25 1,2 1,15 1,1 1,05
Máy phát 0,2 1 6 20 ∞
Thời gian phá hủy
(Phút) Máy biến áp tăng 1 5 20 ∞ ∞
Máy biến áp tăng điện áp định mức thường nhỏ hơn điện áp định mức máy
phát 5% do đó yêu cầu của bộ giới hạn V/Hz và bảo vệ thường được xác định bởi
giới hạn của máy biến áp. Nếu điện áp định mức máy phát và máy biến áp bằng
nhau thì giới hạn của máy phát sẽ giới hạn nhiều hơn.
Bộ giới hạn V/Hz ( hoặc bộ điều chỉnh V/Hz) điều khiển điện áp kích từ
cũng như giới hạn điện áp máy phát khi giá trị V/Hz vượt quá trị số đặt trước.
Bộ V/Hz bảo vệ cắt máy phát, khi giá trị V/Hz vượt quá trị số thời gian đặt
trước. Thông thường bảo vệ hai cấp được cung cấp, một cấp ứng với tr ị đặt
V/Hz cao hơn và với thời gian ngắn hơn, và cấp khác ngược lại với trị đặt V/Hz
thấp hơn và với thời gian đặt dài hơn.
Khi sử dụng kết hợp với bộ giới hạn V/Hz, nó như một đáp ứng dự trữ.




Trang 23
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản