Bài giảng về Phân tích chi phí và lợi nhuận - Phần 3

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
278
lượt xem
103
download

Bài giảng về Phân tích chi phí và lợi nhuận - Phần 3

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'bài giảng về phân tích chi phí và lợi nhuận - phần 3', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng về Phân tích chi phí và lợi nhuận - Phần 3

  1. Bài giảng 3: Tổng Kết Hợp Về Thời Gian Dr. Allen Bellas Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian[1] Chủ đề này là về chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai để phản ánh quan điểm rằng những thứ trong tương lai sẽ có ít giá trị hơn hiện tại. Ví dụ, nếu một cộng đồng sắp có một bệnh viện mới, miễn là những thứ khác cũng giống nhau, người dân sẽ có thể mong muốn thà có bệnh viện hôm này còn hơn một năm sau mới có nó. Giá trị bệnh viện mới hiện nay lớn hơn giá trị bệnh viện mới một năm sau. Vậy bệnh viện hiện nay có giá trị nhiều hơn bao nhiêu? Câu hỏi này được trả lời bằng Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian. Tỷ lệ ưu tiên thời gian là tỷ lệ mà người dân sẵn sàng từ bỏ tiêu dùng hiện nay để đổi chác lấy thêm tiêu dùng một khoảng thời gian (thông thường là một năm kể từ bây giờ). Hoặc, tỷ lệ ưu tiên thời gian là tỷ lệ phần trăm mà theo đó, giá trị của một hạng mục bị giảm bớt đi nếu một người phải chờ thêm một khoảng thời gian nữa mới lấy được nó (thông thường là một năm). Nếu mọi người trong cộng đồng đồng ý sẽ trả $100 triệu để có bệnh viện mới ngay bây giờ nhưng chỉ trả $95 triệu để có nó một năm sau, thì tỷ lệ ưu tiên thời gian ngụ ý của họ là xấp xỉ khoảng 5%. Nghĩa là, mỗi năm họ phải chờ để có được cái gì đó sẽ làm giảm giá trị của cái đó đi khoảng 5%. Sử Dụng Chiết Khấu Trong Thực Tế
  2. Dẹp tất cả những mối quan tâm này sang một bên, hãy giả sử rằng bạn có tỷ lệ lãi suất nào đó để áp dụng trong chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai. Trong nhiều trường hợp thực tế trên thế giới, con số này sẽ đơn giản được ấn định sẵn cho bạn. Phương thức đúng để đánh giá một dự án là nhìn vào giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng. Nếu giá trị hiện tại ròng (NPV) là dương, thì dự án là đáng để thực hiện. Nếu có hai dự án cùng độc quyền lẫn nhau thì nên triển khai dự án có NPV lớn nhất. Công Thức Tính Giá Trị Hiện Tại Ròng Giá trị hiện tại ròng là giá trị hiện tại của lợi nhuận trừ đi giá trị hiện tại của chi phí. Giá trị hiện tại ròng của dự án (cũng được biết đến như là giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng) có thể được biểu diễn như một tổng của các lợi nhuận ròng trong mỗi giai đoạn trong đó chúng ta chấp nhận chung rằng: và n là phạm vi quy hoạch hay đánh giá dự án Nhìn chung, chúng ta cũng tin rằng một tỷ lệ không âm[2] nên được áp dụng để chiết khấu tương lai, để mà
  3. Một điều kiện tiên quyết để xác định giá trị hiện tại ròng là quyết định qua khoảng thời gian nào dự án sẽ được đánh giá. Một số dự án có tuổi thọ nhất định, và dễ dàng xác định được khoảng thời gian nào để đánh giá chi phí và lợi nhuận của chúng. Những dự án khác sẽ có chi phí và lợi nhuận trong một khoảng thời gian không hạn định và buộc phải quyết định khoảng thời gian bao lâu để đánh giá dự án. Nếu dự án sẽ không có chi phí và lợi nhuận sau N năm, thì giá trị hiện tại bằng trong đó : Bt là lợi nhuận trong thời gian t Ct là chi phí trong thời gian t i là tỷ lệ lãi suất chiết khấu Nếu dự án sẽ để lại một số tài sản nhất định sau N năm, giá trị của tài sản đó là giá trị cuối cùng của dự án. Giá trị cuối cùng có thể là giá trị của những thứ vật chất, hoặc nó cũng có thể là giá trị dự tính của giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng trong tương lai của dự án vượt ra ngoài khoảng thời gian đang được xem xét rõ ràng: trong đó :
  4. Bt là lợi nhuận trong thời gian t Ct là chi phí trong thời gian t i là tỷ lệ lãi suất chiết khấu TN là giá trị cuối cùng, giá trị của cái sẽ được để lại sau quãng thời gian N VD: Một dự án không có giá trị cuối cùng Khoảng thời gian 0 1 2 3 Lợi nhuận 0 300 300 300 Chi phí 450 100 100 100 Lợi nhuận ròng -450 200 200 200 Nếu tỷ lệ lãi suất bằng 10% thì giá trị hiện tại của dự án có thể được tính toán là Cho nên, do NPV > 0, đây là một dự án tốt đáng để thực hiện. Tuy nhiên, nếu dự án này được thẩm định lại với tỷ lệ chiết khấu là 20%, chúng ta có
  5. Cho nên, với tỷ lệ chiết khấu cao hơn, đây là một dự án tồi không nên thực hiện. Nói chung, do hầu hết các dự án có chi phí và lợi nhuận ban đầu sau một khoảng thời gian nào đó, khi tỷ lệ chiết khấu tăng lên, số lượng dự án tốt sẽ giảm đi. Dưới đây là biểu đồ mô tả dự án nói trên diễn biến như thế nào tại các mức tỷ lệ lãi suất khác nhau: Tỷ Lệ Thực Tế với Tỷ Lệ Danh Nghĩa Chênh lệch giữa tỷ lệ lãi suất thực tế (TT) và tỷ lệ lãi suất danh nghĩa (DN) chính là tỷ lệ lạm phát (LP). Sử dụng tỷ lệ nào phụ thuộc vào bản chất chi phí và lợi nhuận liên quan đến một dự án. Mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi suất thực tế, tỷ lệ lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát là:
  6. Ví dụ, nếu tỷ lệ lãi suất danh nghĩa là 30% và tỷ lệ lạm phát là 20%, thì tỷ lệ lãi suất thực tế là Tính xấp xỉ, thông thường có thể chấp nhận được để nói rằng thực tế = danh nghĩa - lạm phát Công thức này sẽ càng đúng khi tỷ lệ lạm phát nhỏ. Tất nhiên, có những thời điểm và địa phương nơi tỷ lệ lạm phát không nhỏ. VD: danh nghĩa=450%, lạm phát=440% i=(1+4.50)/(1+4.40) - 1 = 0.0185 hay 1.85%, không phải là 10%. Nếu chi phí hay lợi nhuận được biểu thị bất biến bằng đồng đôla hoặc dưới dạng hàng hoá và dịch vụ (thông thường là trường hợp), thì những giá trị này sẽ đợc điều chỉnh cho lạm phát và chỉ có tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất thực tế mới cần được bao gồm trong tỷ lệ bạn áp dụng. Nếu chi phí hay lợi nhuận được biểu thị bằng các số tiền đôla danh nghĩa, thì lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá trị của chúng và, do vậy, lạm phát nên được bao gồm trong tỷ lệ chiết khấu, có nghĩa là tỷ lệ danh nghĩa nên được sử dụng. Tỷ Lệ Chiết Khấu Xã Hội, hay Nên Sử Dụng Tỷ Lệ Nào?
  7. Chi phí và lợi nhuận liên quan đến một dự án điển hình thường phát sinh tại những thời điểm khác nhau. Quan trọng là việc có thể so sánh các chi phí và lợi nhuận phát sinh tại những thời điểm khác nhau. Thực hiện điều này trong một nền kinh tế đơn giản, có một người và có hai giai đoạn là tương đối dễ. Một người sẽ có vài cơ hội tiêu dùng giữa hai giai đoạn và sẽ tối đa hoá độ thoả dụng tiêu dùng giữa hai giai đoạn. Tỷ Lệ Thay Thế Biên (Marginal Rate of Substituion ~ MRS) sẽ bằng với Tỷ Lệ Chuyển Đổi Biên (Marginal Rate of Transformation ~ MRT) và đây sẽ là tỷ lệ lãi suất phù hợp để áp dụng tính chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai. . Nhìn từ góc độ quan điểm xã hội, tồn tại một đường biên các xác suất tiêu dùng liên quan đến mức tiêu dùng giai đoạn này với mức tiêu dùng giai đoạn tiếp theo. Độ dốc của đường cong này là Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Xã Hội (Social Opportunity Cost Rate ~ SOCR).
  8. Xã hội cũng sẵn sàng từ bỏ tiêu dùng hiện tại để đổi lấy đầu tư dẫn đến tiêu dùng lớn hơn trong tương lai. Sự sẵn lòng này được thể hiện bởi độ dốc của đường cong đẳng dụng xã hội, độ dốc của đường cong này là Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Của Xã Hội (Societal Rate of Time Prefence ~ SRTP). Nếu tất cả các thị trường đều hoàn hảo, chúng ta có sự cân bằng liên thời gian xã hội (societal intertemporal equilibrium): Tại một điểm giống như X, tỷ lệ chi phí cơ hội xã hội SOCR bằng với tỷ lệ ưu tiên thời gian của xã hội SRTP, do đó tỷ lệ mà tại đó xã hội có thể trao đổi cái này lấy cái kia giữa mức tiêu dùng hiện tại và mức tiêu dùng tương lai chính xác bằng với tỷ lệ mà nó muốn để trao đổi giữa hai thứ và đó là tỷ lệ mà tại đó mức tiêu dùng tương lai nên được chiết khấu tương xứng với mức tiêu dùng hiện tại. Nếu xã hội có một khoản tiền tại một điểm giống như Z, thì xã hội nên giảm mức tiêu dùng hiện tại để nhằm tăng mức tiêu dùng tương lai bởi vì chi phí biên của
  9. mức tiêu dùng hiện tại (xét về mức tiêu thụ tương lai dự tính trước) lớn hơn tỷ lệ biên mà tại đó xã hội sẵn lòng để trao đổi giữa hai thứ. Xét từ góc độ cá nhân, có một tỷ lệ ưu tiên thời gian của cá nhân (Private Rate of Time Preference ~ PRTP) biểu hiện cho tỷ lệ mà tại đó mọi người sẵn sàng thực hiện trao đổi thoả hiệp biên giữa mức tiêu dùng hiện tại và mức tiêu dùng tương lai. Những cá nhân này có cơ hội đầu tư vào các thị trường tín dụng trong đó có một tỷ lệ chi phí cơ hội cá nhân (Private Opportunity Cost Rate ~ POCR) mà tại đó những nguồn lực hiện tại có thể được đầu tư để đổi lấy mức tiêu dùng tương lai. Tỷ lệ này chính là độ dốc của đường thẳng ngân sách liên thời gian và cũng là tỷ lệ lãi suất. Một người có một khoản tiền T trong khoảng thời gian 0 sẽ lựa chọn để tiết kiệm một chút trong số đó (∆C0) để nhằm có mức tiêu dùng trong khoảng thời gian 1.
  10. Do đó, một lần nữa, nếu thị trường hoàn hảo thì độ dốc của đường cong đẳng dụng cá nhân (PRTP) sẽ bằng với độ dốc của đường cong đẳng dụng xã hội (SRTP) và chúng sẽ bằng với độ dốc của đường hạn chế ngân sách liên thời gian của cá nhân (POCR) và độ dốc của đường giới hạn khả năng tiêu dùng (SOCR). Tuy nhiên, điều này không phải như thế. Nếu chúng ta có hiệu dụng năng động (dynamic efficiency), thì tỷ lệ thay thế biên liên thời gian của các cá nhân sẽ bằng với tỷ lệ chuyển đổi biên liên thời gian của họ. Điều này tương ứng với việc nói rằng tỷ lệ này sẽ bằng nhau giữa tất cả các cá nhân. Nói cách khác, tỷ lệ mà mọi người mong muốn trao đổi mức tiêu dùng giữa hai khoảng thời gian bằng với tỷ lệ mà tại đó họ có thể trao đổi thoả hiệp. Chúng ta có thể phân biệt giữa tỷ lệ cá nhân và tỷ lệ xã hội ... Trong những thị trường vốn hoàn hảo : Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Cá Nhân (PRTP) = Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Cá Nhân (POCR) Đối với tổng thể xã hội Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Xã Hội (SRTP) = Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Xã Hội (SOCR) Và chừng nào mà SRTP=PRTP và PRTP=POCR và SOCR=POCR,
  11. thì bạn có tính hiệu dụng năng động và tỷ lệ lãi suất thật sự và chính thức bằng với tất cả những tỷ lệ này. Có rất nhiều lý do giải thích tại sao điều này có thể không đúng như vậy ... 1. Những thị trường vốn có hoàn hảo không? Nghĩa là, PRTP=i=POCR hay không? Có thể ở những thành phố lớn có nhiều khoản tiền lớn, nhưng không phải ở những thị trường có số lượng hạn chế những phương tiện tài chính hay ngân hàng. Những người tiêu dùng tiết kiệm được thêm nhiều tiền cho đến khi tỷ lệ ưu tiên thời gian của họ bằng với tỷ lệ lãi suất họ có thể kiếm được từ các khoản tiền tiết kiệm của mình (PRTP=itiền tiết kiệm ) trong khi đó các thể chế tài chính tiến hành cho vay bổ sung cho đến khi chi phí cơ hội của họ bằng với lợi nhuận họ thu lại được từ các khoản cho vay đó (POCR=ikhoản cho vay ). Nếu itiền tiết kiệm= ikhoản cho vay thì tính hiệu dụng năng động có giá trị. Điều này không đúng, nhưng đối với hầu hết người dân ở Mỹ và ở một số nước phát triển khác, điều này có thể gần sát. Đối với những người sống ở các thị trấn hay các nước nhỏ không có các thể chế tài chính vững chắc, đó có thể không phải là một phép xấp xỉ hợp lý. Nghĩa là, tỷ lệ lãi suất áp cho các khoản vay có thể cao hơn nhiều tỷ lệ lãi suất mọi người nhận được từ tiền tiết kiệm của mình. Trên thực tế, đối với các thể chế tài chính đang hoạt động, có thể đúng là POCR=ikhoản cho vay > PRTP=itiền tiết kiệm. (TQ hiệu đính: vì các thể chế tài chánh và ngân hàng kiếm lời,tỷ lệ lợi nhuận cho vay lớn hơn tỷ lệ tiền tiết kiệm họ phải trả cho bà con. Trong những thành phố có nhiều thể chế tài chánh cạnh tranh, thì hai tỷ lệ này sai biệt rất ít, như 6.5% và
  12. 5.7%. Còn ở những thị trấn nhỏ, tỷ lệ mượn nợ thì cao, trong khi tỷ lệ tiền tiết kiệm thì quá thấy, hay không đáng kể). 2. SRTP=PRTP hay không? Có thể không. Nhìn chung, người ta cho rằng SRTP < PRTP Chúng ta không quan tâm đúng mức đến các thế hệ tương lai. Mọi người đều cận thị, thiếu kiên nhẫn một cách vô lý. Nếu các thế hệ tương lai là "một hàng hoá công cộng", thì những thị trường tư nhân sẽ cung cấp hàng hoá đó không đủ. (TQ hiệu đính: thế hệ tương lai không chỉ con ruột của mình, mà là tất cả mọi người đồng lứa tuổi con của mình. Bao nhiêu người trong chúng ta lo cho con nhà hàng xóm). 3. POCR=SOCR hay không? Không nếu có thuế đánh vào lợi nhuận biên thu từ được việc bán các khoản đầu tư hay tài sản. POCR là tỷ lệ sau thuế trong khi SOCR là tỷ lệ trước thuế, hay POCR = (1-t)SOCR Do đó POCR < SOCR Kết quả của tất cả những điều này là chúng ta có thể kết luận rằng: SRTP < PRTP < POCR < SOCR Do vậy, vì SRTP nhỏ hơn SOCR, chúng ta có thể đang đầu tư/tiết kiệm quá ít. Nếu bạn, vì một lý do nào đó, có tất cả những con số này, thì SRTP là tỷ lệ nên được áp dụng để chiết khấu lợi nhuận ròng từ một dự án.
  13. (TQ hiệu đính: PRTP là Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Cá Nhân, và thường thì tỷ lệ này nhỏ hơn Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Xã Hội ~ SOCR) Nói chung, các tỷ lệ lãi suất thị trường (mà có thể bằng với các tỷ lệ chi phí cơ hội cá nhân) sẽ quá cao. Điều này có nghĩa là các tỷ lệ đó sẽ chiết khấu tương lai quá nhiều, hoặc gắn giá trị quá thấp cho các chi phí và lợi nhuận tương lai. Các Thất Bại của Thị Trường Ngăn Cản Tính Hiệu Dụng Năng Động Một loạt các thất bại của thị trường được chỉ rõ để phân biệt giữa hai tỷ lệ lãi suất dễ thấy, POCR và PRTP cũng như giữa hai tỷ lệ khó nhận thấy hơn nhưng lại tồn tại về mặt lý thuyết là SRTP và SOCR. Trong số những thất bại của thị trường này bao gồm: 1. Thuế đánh vào thu nhập doanh nghiệp Thuế đánh vào thu nhập doanh nghiệp làm giảm mức lợi nhuận mà những cá nhân đi vay có thể hoàn trả cho những nhà đầu tư của họ từ (như trình bày trong Hình 10.3) rz xuống i. 2. Thuế đánh vào thu nhập từ tiền lãi hay đầu tư Thuế đánh vào thu nhập từ tiền lãi hay đầu tư làm giảm lợi nhuận sau thuế của các cá nhân thu được từ tiền tiết kiệm của họ từ i (là mức mà người đi vay đã trả sau khi đã đóng thuế cho lợi nhuận của mình) xuống (như trình bày trong Hinh 10.3) pz. 3. Thiếu sự tham gia của các thế hệ tương lai Do các thế hệ tương lai vẫn chưa thực sự bày tỏ bất kỳ quan điểm nào, nên chúng ta không biết chúng muốn chúng ta đánh giá như thế nào mức tiêu dùng của chúng tương ứng với mức tiêu dùng của chúng ta. Nếu chúng muốn mức tiêu dùng của
  14. mình được đánh giá nhiều hơn mức hiện nay chúng ta đang làm, thì tác động sẽ là làm cho đường cong đẳng dụng xã hội thẳng hơn, làm cho điểm tối ưu không phải là X mà là điểm gì đó giống Y hơn. 4. Rủi Ro và Tính Bấp Bênh Các dự án tư nhân phải hoàn trả lại một tỷ lệ phần trăm hơi cao hơn một chút cho các nhà đầu tư của mình do một thực tế là có những rủi ro liên quan đến mỗi dự án. Xét từ góc độ xã hội, có một số lượng đủ lớn những dự án đầu tư tiềm năng đối với rủi ro tránh được hoàn toàn. Để xem xét kỹ hơn các vấn đề tỷ lệ lãi suất, hãy xem xét biểu đồ dưới đây được trình bày lại từ sách của Boardman et al. Cung và cầu ban đầu là D0 và S0, và chúng bị giảm xuống là DI và SS do thuế đánh vào lợi nhuận doanh nghiệp và thu nhập tiền lãi. Tại điểm cân bằng mới, tỷ suất lợi nhuận từ các khoản đầu tư của
  15. doanh nghiệp là rz trong khi tỷ lệ mà các hộ gia đình nhận được từ tiền tiết kiệm là pz. Một dự án của chính phủ cần khoản vay rất lớn sẽ làm tăng nhu cầu về tín dụng tới mức DI' đồng thời kéo theo làm tăng tổng số tiền tín dụng trên thị trường. Cho vay chính phủ được cấu thành bởi mức tăng về tiết kiệm của các hộ gia đình (tương đương với mức giảm về tiết kiệm của các hộ gia đình) và mức giảm về đầu tư tư nhân. Mức tăng của tiết kiệm hộ gia đình được định giá theo đường cong cung, S0, trong khi mức giảm về đầu tư tư nhân được định giá theo tỷ lệ chi phí cơ hội cá nhân, rz. Năm Giải Pháp Đề Xuất Có năm giải pháp đối với các vấn đề nên áp dụng tỷ lệ chiết khấu nào được đề xuất trong phần văn bản: 1. Sử dụng tỷ suất lợi nhuận trước thuế từ các khoản đầu tư cá nhân (rz)
  16. • Nếu chính phủ dự định sắp huy động tiền cho một dự án, thì dự án đó nên làm tốt ít nhất cũng bằng mức mà một dự án đầu tư khu vực tư nhân sẽ làm. • Các tỷ lệ tư nhân bao gồm phí bảo hiểm rủi ro có thể không thích hợp trong bối cảnh khu vực công cộng với số lượng đủ lớn các dự án có thể • Tỷ lệ hiệu dụng ở đây là khoảng 8% 2. Sử dụng tỷ suất lợi nhuận sau thuế từ các khoản đầu tư cá nhân (pz) • Đây là tỷ lệ mà tại đó các cá nhân thoả hiệp đổi cái này lấy cái kia giữa mức tiêu dùng hiện tại và mức tiêu dùng tương lai, do đó có thể đó cũng là một tỷ lệ xã hội thích hợp. • Tỷ lệ này khiến người ta hơi khó hiểu một chút do các cá nhân thực tế phải đối mặt với hàng loạt các tỷ lệ lãi suất sau thuế. • Các cá nhân hiện nay đang sống có thể không chú trọng nhiều lắm về phúc lợi của các thế hệ tương lai • Tỷ lệ hiệu dụng ở đây là khoảng 2%, mặc dù muốn phân tích độ nhạy tốt sẽ cần phải cân nhắc các tỷ lệ từ 0% đến 4%. 3. Sử dụng tổ hợp rz, pz và tỷ lệ vay dài hạn i của chính phủ (khoảng 4%) trong đó mức giảm về đầu tư được chiết khấu với tỷ lệ cao nhất là rz và mức giảm về tiêu dùng được chiết khấu với tỷ lệ thấp hơn là pz. • Tổ hợp này thật thú vị, nhưng có thể quá phức tạp để áp dụng thực sự 4. Sử dụng giá bóng của vốn
  17. • Giá bóng của vốn[3] là giá trị của một đơn vị đầu tư vốn. Việc này mang lại một dòng lợi nhuận rz lợi tức hưởng suốt đời mà giá trị hiện tại của nó, được chiết khấu với tỷ lệ pz chính là giá bóng của vốn, • Đây có vẻ gì đó là một phiên bản đơn giản hoá của giá bóng của vốn, và cuốn sách kết thúc bằng việc gợi ý một giá trị bằng khoảng 2. • Về cơ bản, để sử dụng giá này, hãy nhân các mức thay đổi của đầu tư khu vực tư nhân phát sinh bởi dự án với giá bóng của vốn, cộng với các mức thay đổi của tiêu dùng cá nhân và sau đó tính chiết khấu áp dụng tỷ lệ pz. • Một lần nữa, giá này thực sự quá phức tạp để áp dụng. 5. Sử dụng các tỷ lệ chiết khấu theo thời gian giảm dần • Đây là một gợi ý khá thực tế. Về cơ bản, bạn nên áp dụng tỷ lệ chiết khấu thấp hơn (có thể bằng 0 hoặc thậm chí âm) để tính chiết khấu các năm xa nữa trong tương lai. • Điều này cho phép bạn tránh được những kết quả lúng túng như một giá trị hiện tại tương đối nhỏ gắn với sự huỷ diệt của thế giới sau này, ví dụ là 500 năm (ở mức 2%, hệ số chiết khấu là 1.02-500=0.00005). • Weitzman tìm thấy thang đối chiếu của 4% cho các năm từ 1 đến 5 3% cho các năm từ 6 đến 25 2% cho các năm từ 26 đến 75
  18. 1% cho các năm từ 76 đến 200 0% cho các năm từ 200 trở lên Thực Tế Trong thực tế, nếu bạn tiến hành các nghiên cứu chi phí - lợi nhuận trong một thế giới thực, có thể bạn sẽ được cho một tỷ lệ chiết khấu để áp dụng mà có thể có hoặc không có ý nghĩa gì cả. Dự án bạn đang phân tích có thể quá tốt hoặc quá tồi đến mức mà tỷ lệ áp dụng để tính chiết khấu các chi phí và lợi nhuận tương lai có thể không tạo nên bất kỳ sự khác biệt nào cả. Nếu là như vậy, việc thử hàng loạt các tỷ lệ và báo cáo các kết quả thu được của bạn cho tất cả sẽ giúp bất kỳ ai đọc báo cáo của bạn có ý niệm về các kết quả quả của bạn nhạy cảm như thế nào đối với các thay đổi về tỷ lệ chiết khấu được áp dụng. Đây cũng là một cách tốt để đánh giá tác giả của báo cáo có trách nhiệm đến mức nào. Cuối cùng, cách đây một trăm năm, nhiều người dân ở nước Mỹ phải sống trong những căn nhà với sàn nhà bẩn thỉu và không có hệ thống ống nước trong nhà. Cách đây năm trăm năm, điều kiện sống thậm chí còn tồi tệ hơn thế nhiều. Nếu các bậc tiền bối tổ tiên của chúng ta có cơ hội làm cho cuộc sống dễ chịu hơn một chút nào đó so với chúng ta, và nếu tôi, với tư cách là một người dân thuộc về tương lai đầu thế kỷ 21 có điều gì để nói về điều đó, tôi sẽ khuyến khích họ tiến lên và thực hiện ngay cơ hội này. (TQ hiệu đính, chúng ta là thế hệ tương lai của các vị tiền bối, và đời sống của các vị tiền bối 100 trước rất là khó khăn, chúng ta không có quyền đòi hỏi các vị tiền bối phải nghĩ cho thế hệ tương lai là chúng ta. Vậy thế hệ tương lai của chúng ta là bậc con cháu chúng ta, có quyền đòi hỏi chúng ta hy sinh hay không???) Các Kiểu PCC Khác Nhau
  19. Phương thức đúng đắn để xác định xem nếu một dự án đáng để thực hiện là hãy nhìn vào Giá Trị Ròng Hiện Tại NPV. Nếu bạn phải lựa chọn giữa hai hoặc nhiều hơn các dự án độc quyền lẫn nhau, thì hãy lựa chọn dự án có NPV cao nhất. Tuy nhiên cũng có những chỉ số khác. Đó là tỷ lệ chi phí/ lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận nội hoàn. Tỷ Lệ Chi Phí/ Lợi Nhuận (B/C): Đây là giá trị hiện tại của lợi nhuận chia cho giá trị hiện tại của chi phí. Nếu B/C > 1, thì dự án nên được thực hiện. Tỷ Suất Lợi Nhuận Nội Hoàn (Internal Rate of Return ~ IRR): Đây là tỷ lệ lãi suất mà khiến cho NPV=0. Tỷ suất lợi nhuận nội hoàn được so sánh với tỷ lệ tới hạn i. Nếu IRR > i, thì dự án nên được thực hiện. Trong khi NPV luôn cho những câu trả lời đúng, thì B/C và IRR lại không như vậy. B/C sẽ xác định chính xác các dự án đáng để thực hiện, nhưng IRR sẽ chỉ làm được điều này nếu dòng lợi nhuận ròng là thông thường, nghĩa là nếu lợi nhuận ròng bắt đầu âm và sau đó chuyển sang dương và giữ ở mức dương. Cả B/C và IRR sẽ không cần thiết phải lựa chọn chính xác trong số một vài các dự án độc quyền lẫn nhau. Các Vấn Đề Với B/C 1. Có thể được vận dụng bằng cách thay đổi các phân loại chi phí và lợi nhuận. Hơi ngẫu nhiên khi coi một thứ gì đó là chi phí dương hoặc lợi nhuận âm và ngược lại. Việc thay đổi này sẽ làm thay đổi B/C đã tính toán, nhưng sẽ không ảnh
  20. hưởng tới quyết định về việc liệu dự án có đáng để thực hiện hay không. Điều này sẽ chỉ làm thay đổi các so sánh giữa các dự án. 2. Quy mô tỷ lệ bị bỏ qua khi tính toán B/C, vì vậy bạn không thể nói gì nếu bạn đang tìm kiếm một dự án lớn hay một dự án nhỏ. VD: Đập Nước Nhỏ Đập Nước Lớn Mức Nước Gia Tăng Lợi nhuận (B) 1500 6500 5000 Chi phí (C) 1000 5000 4000 B-C 500 1500* B/C 1.5* 1.3 Đập Nước Nhỏ có tỷ lệ chi phí/lợi nhuận cao hơn, nhưng Đập Nước Lớn lại có giá trị hiện tại ròng lớn hơn. Cách B/C sẽ lựa chọn Đập Nước Nhỏ, mặc dù nó tạo ra tỷ lệ lợi nhuận ròng nhiều hơn và là dự án đáng thực hiện hơn. Tại sao B/C được áp dụng thường xuyên như vậy?

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản