Bài giảng về trồng rừng phòng hộ

Chia sẻ: kiemcut

Trồng rừng phòng hộ là một giải pháp kỹ thuật lâm sinh, bằng việc thiết lập nên rừng trồng để cải tạo và bảo vệ môi trường. Môn học trồng rừng phòng hộ là một môn khoa học nghiên cứu các quy luật hoạt động của các tác nhân gây hại đến môi trường, …

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài giảng về trồng rừng phòng hộ






Bài giảng
Trồng rừng phòng hộ




1
MỤC LỤC

MỤC LỤC ........................................................................................................ 2
Bài giảng Trồng rừng phòng hộ ........................................................................ 3
Tiếng Anh: Forestation for Environment Protection - Plantation for protection.. 3
Bài mở đâù: GIỚI THIỆU CHUNG ...................................................................... 3
Phần 1: Trồng rừng chống xói mòn đất do nước .............................................. 4
1.1. Khái niệm xói mòn đất: Là toàn bộ quá trình bào mòn, vận chuyển và bồi
tụ lớp đất mặt dưới tác động của nước, gió và trọng lực. Xói mòn còn gọi là bào
mòn hoặc xói lở. .................................................................................................... 4
1.2. Tác hại của xói mòn đất ............................................................................... 4
1.3. Phân loại xói mòn đất : ................................................................................ 4
1.4. Khái niệm về lưới đường nước và các khâu của lưới đường nước ......... 5
1.5. Khái niệm về lưu vực ................................................................................... 5
1.8. Bản chất vật lý của xói mòn đất do nước và quy luật lực học của xói
mòn 6
Các nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn đất............................................................ 8
PHẦN 2: TRỒNG RỪNG CHẮN GIÓ .................................................................. 18
2.1. Cơ sở lý luận của trồng rừng chắn gió ................................................. 18
Phần 2: NỘI DUNG ............................................................................................... 28
2.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................... 28
2.3.. Một số mô hình trồng rừng chống cát bay ở Việt Nam. ............................. 36
2.3.1. Mô hình làng sinh thái Hải Thủy .......................................................... 36
2.3.2. Mô hình làng sinh thái Triệu Trạch ...................................................... 40
2.3.3. Nuôi tôm trên cát quy mô lớn ............................................................... 43
2.3.4. Cộng đồng ngăn ngừa hoang mạc hoá .................................................. 45




2
Bài giảng Trồng rừng phòng hộ
Tên môn học: Tiếng Việt: TRỒNG RỪNG PHÒNG HỘ
Tiếng Anh: Forestation for Environment
Protection - Plantation for protection
Tổng số tiết: 45 Số đơn vị học trình: 3
Trong đó: Lý thuyết: 45


Bài mở đâù: GIỚI THIỆU CHUNG
1.Vị trí môn học: Là môn học thuộc khối kiến thức chuyên môn hoá của
chuyên ngành Kỹ thuật lâm sinh, trong chương trình đào tạo kỹ sư Lâm sinh.
2. Khái niệm chung:
Trồng rừng phòng hộ là một giải pháp kỹ thuật lâm sinh, bằng việc thiết lập nên
rừng trồng để cải tạo và bảo vệ môi trường.
Môn học trồng rừng phòng hộ là một môn khoa học nghiên cứu các quy luật
hoạt động của các tác nhân gây hại đến môi trường, từ đó xác định nguyên lý kỹ
thuật cho việc xây dựng các đai rừng phòng hộ nhằm phát huy cao nhất hiệu quả
của các đai rừng trong việc cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sự yên
bình của cuộc sống sinh hoạt cũng như sản xuất của xã hội loài người.
3. Mục tiêu học tập:
- Nắm vững cơ sở lý thuyết của các quy luật tác động của các tác nhân gây hại
đối với môi trường sinh thái.
- Nắm vững nguyên lý kỹ thuật tạo lập các loại rừng phòng hộ chủ yếu.
3. Nội dung chương trình môn học
Rừng phòng hộ Việt Nam có 5 loại chính: 1) Phòng hộ đầu nguồn; 2) Phòng hộ
chống cát bay và chống sa mạc hoá; 3) Phòng hộ chắn gió bảo vệ đồng ruộng và
cây che bóng; 4) Phòng hộ chắn sóng bảo vệ môi trường ngập nước; 5) Phòng hộ
môi trường cảnh quan đô thị và khu công nghiệp, trong giới hạn chương trình môn
học sẽ giới thiệu 3 phần chính sau:
- Trồng rừng chống xói mòn đất do nước.
- Trồng rừng chắn gió bảo vệ đồng ruộng.
- Trồng rừng chống cát bay.

3
Phần 1: Trồng rừng chống xói mòn đất do nước
1.1. Khái niệm xói mòn đất: Là toàn bộ quá trình bào mòn, vận chuyển
và bồi tụ lớp đất mặt dưới tác động của nước, gió và trọng lực. Xói mòn còn gọi là bào
mòn hoặc xói lở.
Qua định nghĩa cho thấy:
- Đối tượng của xói mòn đất là lớp đất mặt;
- Động lực gây ra xói mòn đất chính là sự lôi cuốn của gió, dòng nước và trọng lực.
1.2. Tác hại của xói mòn đất
1) Xói mòn làm trôi đất, rửa trôi các chất dinh dưỡng, độ phì của đất giảm
do đó làm giảm năng suất cây trồng.
2) Sự phát triển của xói mòn đất, làm cho diện tích đất trơ sỏi đá tăng, diện
tích đất canh tác bị thu hẹp.
3) Xói mòn đất gây ra hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng xấu tới đời sống và sản xuất
của con người. Xói mòn đất làm sụt lở, cuốn trôi đất đá, phá hoại đường xá, cầu
cống, nhà cửa, vùi lấp sông hồ, ao, đập…
1.3. Phân loại xói mòn đất :
Tuỳ theo xuất phát điểm khác nhau mà phân ra các loại xói mòn đất sau:
a) Dựa vào động lực gây ra xói mòn đất:
- Xói mòn do gió
- Xói mòn do nước
- Xói mòn do trọng lực
b) Dựa vào lịch sử phát sinh:
- Xói mòn cổ đại: là loại xói mòn xảy ra trước khi có những hoạt động sản xuất của
con người. Do tác động đơn thuần của tự nhiên, nơi địa hình đất dốc là nguyên
nhân của xói mòn cổ đại.
- Xói mòn hiện đại: là loại xói mòn đất xảy ra sau khi có hoạt động sản xuất của
con người.
c) Dựa vào mức độ bào mòn:
- Xói mòn bình thường: là loại xói mòn đất có tốc độ xói mòn chậm hơn hoặc bằng
với tốc độ hình thành đất.



4
- Xói mòn gia tốc: là loại xói mòn đất có tốc độ xói mòn lớn hơn tốc độ hình thành
đất. Xói mòn gia tốc gây tác hại rất lớn cho sản xuất.
d) Dựa vào hình thức xói mòn:
- Xói mòn bề mặt;
- Xói mòn đất khe;
- Lũ quét;
- Sụt hang (hiện tượng Karst);
- Lở đất;
- Trượt đất: Là hiện tượng trôi trượt cả hệ thống sườn dốc xuống dưới thấp.
1.4. Khái niệm về lưới đường nước và các khâu của lưới đường nước
- Khái niệm: Lưới đường nước là toàn bộ hệ thống các đường dẫn nước trên mặt
đất của xói mòn cổ đại để nước chảy ra sông ra biển gọi là lưới đường nước (còn
gọi là mạng lưới thuỷ văn).
- Các khâu của lưới đường nước: Toàn bộ lưới đường nước từ trên xuống dưới, từ cao
xuống thấp, từ thượng lưu xuống hạ lưu có thể chia thành các bộ phận (các khâu):
+ Đất tròng nông.
+ Đất tròng sâu.
+ Khe khô (suối cạn).
+ Suối.
+ Sông: là khâu cuối cùng của lưới đường nước ở hạ lưu.
+ Đường chia nước (đường phân thuỷ): xác định trên mặt đất, nối liền các điểm cao
nhất của địa hình, chia mặt đất thành hai hướng sườn dốc, từ đó nước mưa rơi xuống sẽ
chảy về hai phía đối nhau của đường phân nước tới hai lưu vực khác nhau.
+ Mặt thu nước (khu thu nước): Là mặt nghiêng giới hạn giữa đường chia nước và
lưới đường nước. Mặt thu nước là diện tích thu nước chủ yếu, đồng thời là địa bàn
hoạt động sản xuất chính của con người, cho nên nó cũng là đối tượng chủ yếu của
công tác phòng chống xói mòn.
1.5. Khái niệm về lưu vực

Lưu vực là phần diện tích bề mặt đất trong tự nhiên mà mọi lượng nước mưa
khi rơi xuống sẽ tập Trong lại và thoát qua một cửa ra duy nhất. Trên thực tế, lưu


5
vực thường được đề cập đến là lưu vực sông, và toàn bộ lượng nước trên sông sẽ
thoát ra cửa sông.

Các lưu vực khác nhau được phân tách bởi đường phân thủy (đường chia nước),
thường là các dãy núi.

Một số lưu vực sông lớn trên thế giới (số liệu thống kê này không kể đầy đủ các
lưu vực lớn):

- Lưu vực sông Amazon (phần lớn ở Brasil) 6.144.727 km²

- Lưu vực sông Congo (Trong Phi) 3.680.000 km²

- Lưu vực sông Mississippi (Hoa Kỳ) 2.980.000 km²

- Lưu vực sông Ob (Nga) 2.972.497 km²

Các lưu vực sông lớn có diện tích nằm trên lãnh thổ Việt Nam:

- Lưu vực sông Hồng

- Lưu vực sông Mekong (Cửu Long): 810.000 km² [1]

Trong lĩnh vực tính toán thủy văn thường đề cập đến lưu vực sông đến một trạm đo
nhất định để chỉ phần diện tích lưu vực đóng góp lượng dòng chảy qua một mặt cắt
tại trạm đo đó.

1.8. Bản chất vật lý của xói mòn đất do nước và quy luật lực học của xói
mòn
Ở bất cứ một điểm nào trên mặt đất, khi bị một lực tác động của nước, đất sẽ
sinh ra một phản lực, khi lực tác động càng lớn hơn sức đề kháng của đất thì xói
mòn xảy ra càng mạnh. Cho nên bản chất vật lý của xói mòn đất là quá trình động
lực của nước bao gồm tác động công phá của giọt nước mưa và tác động cuốn trôi
của dòng chảy, là quá trình biến thế năng thành động năng. Nước chảy là một loại
vận động của thể láng, cho nên nghiên cứu xói mòn đất phải nghiên cứu theo
phương trình động lực học.

6
1. Tác động công phá của giọt nước mưa:
Khi mưa to, các giọt nước mưa
đập mạnh xuống mặt đất, có thể sinh ra
một động năng rất lớn làm tan rã các
hạt đất và bắn tung lên rồi toé ra xung
quanh, nơi đất dốc lượng hạt đất bắn về
phía dưới dốc nhiều và xa hơn so với
phía trên dốc. Do sự khác nhau đó làm
cho đất qua nhiều lần tan vì, bắn lên và
di động xuống phía chân dốc, gây ra Hình 1: Công phá của giọt mưa trên mặt
xói mòn đất phía trên dốc và bồi tụ dốc
đất phía dưới chân dốc. Lượng các hạt đất bị tan ra, bắn lên và di chuyển xuống
dưới chân dốc – E (gr/h) nhiều hay ít phụ thuộc vào đường kính của giọt mưa - d
(mm); tốc độ rơi của giọt mưa – v (m/s); cường độ mưa – I (m3/h) và hệ số của đất
(đặc trưng cho sức đề kháng của từng loại đất đối với sự công phá của hạt mưa và
sự cuốn trôi của dòng chảy) – K. Bằng thí nghiệm, Ailixin đã đưa ra công thức tính
như sau:
E = K.v4,33.d1,07.I0,65
2. Tác động cuốn trôi của dòng chảy:
Khi mưa lớn, lượng nước mưa rơi xuống mặt đất sẽ phân phối thành ba phần
như sau: một phần bốc hơi vào không Trong, một phần thấm sâu xuống đất và một
phần chảy tràn trên mặt đất hình thành dòng chảy từ cao xuống thấp (nếu là nơi đất
dốc). Thường lượng nước bốc hơi là không đáng kể nên nếu lượng nước thấm vào
đất càng giảm thì lượng nước chảy trên mặt đất càng lớn. Nước chảy trên mặt đất
chia làm hai loại: lượng nước chảy tràn trên bề mặt đất và lượng nước chảy tập
Trong thành dòng.
Điểm khác nhau cơ bản giữa sự bào mòn của hạt mưa và sự cuốn trôi của
dòng chảy là ở chỗ:
+ Hậu quả của sự bào mòn dẫn đến xói mòn bề mặt, sự cuốn trôi của dòng chảy
sẽ dẫn đến xói mòn khe là loại xói mòn nghiêm trọng, mang đi lượng đất rất lớn.


7
+ Phân bố năng lượng của sự bào mòn, lực xung kích của giọt nước mưa
phân bố đều trên toàn bộ mặt đất. Sự cuốn trôi của dòng chảy, năng lượng dòng
chảy tăng dần từ đỉnh dốc xuống chân dốc, năng lượng này cuốn theo đất cát và
các loại vật chất khác trên đường vận chuyển tạo nên ma sát lớn giữa dòng chảy và
mặt đất, làm cho mức độ xói mòn tăng.
Toàn bộ lực vận động của dòng chảy có thể diễn tả bằng công thức sau:
1
P  m v2 (1)
2
Trong đó m : Khối lượng dòng chảy;
v : Vận tốc dòng chảy
Nếu tính khối lượng dòng chảy qua một đoạn dài (l) với diện tích mặt cắt
ngang của dòng nước (f), mật độ nước (), thì:
m = .l.f (2)
1
Công thức (1) viết lại là: P   .l . f . v 2
2
1
Nếu gọi Q là lưu lượng dòng chảy: Q = .l.f.v thì P = .Q.v (3)
2

Như vậy, lực vận động của dòng chảy tạo ra xói mòn đất phụ thuộc vào lưu
lượng dòng chảy và vận tốc dòng chảy. Công thức (1) còn cho thấy trong các nhân
tố tham gia tạo ra lực vận động của dòng chảy, nhân tố vận tốc dòng chảy (v) là
nhân tố hoạt động nhất bởi vì khi tăng gấp 2 lần thì P tăng lên 4 lần.
Mặt khác xói mòn mạnh hay yếu còn tuỳ thuộc vào sức đề kháng (S) của đất
đối với xói mòn:
+ Nếu KQv = S thì chưa xảy ra xói mòn.
+ Nếu KQv = S thì đã xảy ra xói mòn.
Trong đó, K là chỉ số biểu thị lực vận động của dòng chảy, chỉ phần được
chi vào tác động gây ra xói mòn. Sức đề kháng (S) của đất đối với xói mòn được
qui định bởi tính chất, cấu tạo, độ nhám của mặt đất. Các hoạt động kinh tế không
phù hợp làm mất kết cấu của đất, làm giảm sức đề kháng (S) của đất, dẫn đến xói
mòn gia tốc, xói mòn hiện đại.
Các nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn đất
1.7.1. Các nhân tố tự nhiên

8
a. Điều kiện khí hậu: Lượng mưa Trong bình năm, phân bố mưa theo mùa,
lượng mưa trong một trận mưa và cường độ mưa là những nhân tố ảnh hưởng trực
tiếp đến xói mòn.
b. Điều kiện địa hình: Độ dốc, chiều dài sườn dốc, hình dạng mặt dốc,
hướng dốc là yếu tố tự nhiên quan trọng làm cho thế năng biến thành động năng.
c. Điều kiện địa chất và đất:
Một số tính chất của đất có liên quan đến xói mòn như: độ thấm nước và sức
chứa nước, kết cấu đất, thành phần cơ giới, độ chặt, độ xốp cũng như độ ẩm, độ
dày tầng đất.
Đất phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét có sức thấm nước kém, thường
xuất hiện hình thức xói mòn khe. Đất phát triển trên đá vụi thường xuất hiện sụt
karst. Đất phát triển trên đá mẹ sa thạch, granit thường xuất hiện xói mòn bề mặt.
Hình thức xếp lớp của đá mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến xói mòn. Đá mẹ xếp
lớp nằm ngang thì sức thấm nước kém, lượng nước chảy trên bề mặt nhiều, xói
mòn sẽ nghiêm trọng.
d. Điều kiện thực bì: lớp thảm thực vật có tác dụng tích cực hạn chế xói
mòn, do nhờ có lớp thảm thực vật mà mặt đất tránh được lực xung kích của giọt
mưa và một phần nước mưa được giữ lại trên cây, một phần thấm xuống đất do đó
mà làm giảm lượng nước chảy tràn trên bề mặt.
Cành khô lá rụng (vật rơi rụng) dưới tán rừng có tác dụng ngản cản dòng
chảy, cung cấp mùn (keo hữu cơ) và hình thành cấu tượng đoàn lạp cho đất.
Sự phát triển của rễ cây tạo mạng lưới giữ đất, tăng cường lượng nước thấm
theo chiều sâu, dó đó mà hạn chế được xói mòn.
Trong các loại thảm thực vật thì thảm thực vật rừng và trảng cỏ, tác dụng
chống xói mòn là tốt hơn cả.
1.7.2. Các nhân tố kinh tế xã hội
- Phương thức canh tác không hợp lý: đốt nương làm rẫy, du canh, du cư, trồng trọt
theo kiểu độc canh.
- Khai thác rừng bừa bãi làm mất rừng, kỹ thuật vận xuất gỗ không hợp lý.
- Kỹ thuật trồng rừng: trồng rừng không theo đường đồng mức; phát chăm sóc, xới
vun gốc không đóng mùa.

9
- Chăn thả trâu bò và gia sóc bừa bãi.
1.8 . Sử dụng hợp lý đất đồi và vấn đề phòng chống xói mòn
1.8.1. Phương hướng và mục đích yêu cầu của công tác phòng chống xói mòn
đất
Công tác phòng chống xói mòn đất muốn đạt kết quả tốt, cần đạt được các
yêu cầu cụ thể sau:
- Ngăn cản lực công phá của giọt mưa tác động trực tiếp lên mặt đất.
- Hạn chế và tiêu diệt dòng chảy bề mặt, tăng cường lượng nước thấm theo
chiều sâu.
- Giảm động năng của nước.
- Cải tạo đất để nâng cao sức đề kháng của đất đối với xói mòn.
- Có chế độ canh tác hợp lý nhất là trên đất dốc.
1.8.2. Phân vùng xói mòn - đặc điểm xói mòn và phương hướng phòng chống
xói mòn
Đơn vị cơ bản để tiến hành quy hoạch trồng rừng chống xói mòn đất do
nước là khu thu nước. Mỗi một khu thu nước được chia thành 3 vùng:
a. Vùng đỉnh núi, đường chia nước và gần đường chia nước:
Đặc điểm độ dốc thoải, sức công phá của dòng chảy nhẹ nhưng lại là nơi
tích nước. Phương hướng có thể tiến hành sản xuất nông lâm nghiệp (nếu đất tốt)
hoặc làm đồng cỏ (nếu đất xấu).
b. Vùng mặt dốc thu nước
Đặc điểm vùng này là địa bàn chủ yếu để sản xuất nông lâm nghiệp, đồng
thời cũng là nơi nước tích tụ để biến thế năng thành động năng. Cho nên đây là đối
tượng chủ yếu của công tác phòng chống xói mòn. Phương hướng làm giảm bít độ
dốc, hạn chế và tiêu diệt dòng chảy, tăng cường che phủ đất chống sự công phá của
hạt mưa, cải thiện tính chất của đất nhằm tăng sức đề kháng của đất đối với xói
mòn.
c. Vùng lưới đường nước
Đặc điểm hình thức bào mòn chủ yếu là bào mòn hai bên bờ khe, đáy khe
làm cho khe phát triển trên cả ba chiều: sâu, rộng và dài.


10
Phương hướng ngăn chặn sự phát triển của đầu khe tiến dần lên phía trên,
chú ý sử dụng biện pháp thuỷ lợi và biện pháp lâm nghiệp.
1.8.3. Các biện pháp kỹ thuật trong phòng chống xói mòn đất
- Biện pháp phi sinh vật: bao gồm đắp bờ giữ nước ở sườn dốc, đào hố giữ
nước (hố hình chữ nhật, hố hình bát úp, hố hình vảy cá, làm ruộng bậc thang), đắp
phai đập để ngăn nước ở khe suối, xây kè cánh để bảo vệ bờ sông , bờ suối, xây
dựng hồ chứa nước ở thượng lưu để điều tiết nước cho hạ lưu.
- Biện pháp sinh vật: bao gồm các biện pháp kỹ thuật xây dựng đồng cỏ chăn
nuôi; trồng rừng phòng hộ cải thiện tính chất của đất để nâng cao sức chống chịu
của đất đối với xói mòn.
1.8.4. Trồng rừng phòng hộ chống xói mòn đất
1.8.4.1. Tác dụng của rừng đối với việc phòng chống xói mòn đất do nước
1) Tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn của rừng


2) Tác dụng nuôi dưỡng nguồn nước của rừng
Trồng rừng phòng hộ chống xói mòn là một bộ phận tổ thành quan trọng
trong biện pháp tổng hợp tiến tới thoả mãn yêu cầu: “Đất giữ nước, nước nuôi cây,
cây giữ đất”.
1.8.4.2. Hệ thống rừng phòng hộ chống xói mòn đất
Do chức năng của mỗi loại rừng là khác nhau, căn cứ vào việc phân vùng xói
mòn, người ta chia hệ thống rừng phòng hộ chống xói mòn ra thành 4 loại rừng sau:
- Rừng phòng hộ ở đỉnh núi, đường chia nước và gần đường chia nước;
- Rừng phòng hộ trên sườn dốc;
- Rừng phòng hộ ở các mương khe xói lở;
- Rừng phòng hộ đầu nguồn.
1.8.4.3. Nguyên tác bố trí đai rừng phòng hộ chống xói mòn đất và chọn loài
cây trồng
a) Nguyên tắc bố trí đai rừng
- Phải chiếm một diện tích thoả đáng đủ để nuôi dưỡng nguồn nước, cải tạo
thiên nhiên.


11
- Phải có bề rộng thích hợp đủ sức ngăn cản dòng chảy nhất là ở sườn dốc, để
phát huy tác dụng giữ đất tối đa.
- Hướng của đai phải bố trí theo đường đồng mức.
- Mật độ trồng rừng phải dầy để rừng nhanh khép tán để sớm phát huy tác
dụng phòng hộ.
b) Tiêu chuẩn cây trồng
- Phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng đầu nguồn và dễ tạo thành rừng
phòng hộ.
- Cây thân gỗ sống lâu năm, có bộ rễ ăn sâu và tán lá rậm, thường xanh.
- Thích hợp với trồng rừng hỗn giao và có thể tạo thành rừng đa tầng với mục
đích phòng hộ.
- Có thể chịu được điều kiện khô hạn, sống được ở nơi đất dốc, nơi cao và có
địa hình phức tạp, đất nghèo dinh dưỡng hoặc nơi có điều kiện lập địa đặc biệt như
vùng núi đá.
- Cây đa tác dụng, ngoài khả năng phòng hộ còn có khả năng cung cấp gỗ củi
và các sản phẩm khác, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất.
- Không sinh ra chất độc làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ
của con người.
1.8.5. Trồng rừng phòng hộ trên đỉnh núi, đường phân thuỷ và gần đường
phân thuỷ


1.8.6. Trồng rừng điều tiết nước trên sườn dốc (mặt thu nước)
1) Nơi đất dốc (xói mòn mạnh) cần trồng rừng toàn diện, làm ruộng bậc thang
để hạn chế xói mòn
2) Nơi đất ít dốc: chiều dài sườn dốc dài, địa phương có nhu cầu sản xuất nông,
lâm nghiệp, nên trồng rừng phòng hộ theo giải (băng), Khi bố trí vị trí các giải
rừng phòng hộ trên sườn dốc cần căn cứ đặc điểm hình dạng mặt dốc địa hình:
- Trên mặt dốc lồi: giải rừng nên bố trí gần phía chân dốc, vì tại đó độ dốc
lớn, lưu lượng và tốc độ dòng chảy đều tăng.
- Trên mặt dốc lõm: giải rừng nên bố trí gần đỉnh, vì tại đó độ dốc lớn nhất,
nguy cơ xói mòn là mạnh nhất so với các vị trí khác trên sườn dốc.

12
- Trên mặt dốc thẳng: các giải rừng phòng hộ nên bố trí cách đều để phát
huy tốt tác dụng phòng hộ chống xói mòn.
Hướng của giải rừng bố trí song song với đường đồng mức, bề rộng của giải
rừng là một chỉ tiêu kỹ thuật cần được tính toán cụ thể. Trường hợp cần biến dòng
chảy trên bề mặt đất thành dòng chảy ngầm trong đất thì bề rộng của giải rừng
càng rộng càng tốt. Song ở những nơi cần có đất để sản xuất lương thực, thực
phẩm, thì các giải rừng phòng hộ trên mặt dốc phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm
đất, diện tích nhỏ nhất nhưng vẫn phát huy vai trò phòng hộ. Xác định bề rộng giải
rừng nên căn cứ vào độ dốc và chiều dài sườn dốc. Độ dốc càng lớn, chiều dài
sườn dốc càng dài, bề rộng giải rừng phòng hộ càng lớn. Kinh nhiệm của Liên Xô
cũ, bề rộng của giải rừng thường từ 20 - 60 mét, khoảng cách giữa các giải thường
gấp 4 - 6 bề rộng của giải rừng.
Trong điều khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều như ở Việt Nam, bề rộng
giải rừng phòng hộ nên rộng hơn và khoảng cách giữa các giải rừng nên hẹp hơn
so với tính toán của Liên Xô (cũ).
Điều kiện địa hình phức tạp, độ dốc mạnh trên 200, chiều dài sườn dốc ngắn
dưới 200 mét thì các giải rừng phòng hộ nên bố trí cách nhau từ 20 - 30 mét. Bố trí
giải cây bụi xen kẽ với giải cây gỗ kết hợp với các biện pháp công trình như làm
ruộng bậc thang, đào mương đắp bờ ngang dốc, ... để hạn chế xói mòn.
Kết cấu rừng phòng hộ chống xói mòn đất nên là kết cấu nhiều tầng. Tốt
nhất nên phối hợp tầng cây ưa sáng với tầng cây chịu bóng và tầng cây bụi.
Trong điều kiện không bố trí được loại rừng hỗn loài nhiều tầng thì nên
trồng dầy, nên để lại lớp cây bụi thảm tươi dưới tán rừng để tăng cường khả năng
chống xói mòn của rừng phòng hộ.
Trên đất dốc nghèo xấu, khô hạn không thể tiến hành trồng cây lương thực,
thực phẩm được, thì cần trồng rừng toàn diện kết hợp với việc tăng cường đầu tư
các khâu kỹ thuật trồng rừng khác.
1.8.7. Trồng rừng ở mương khe xói lở
Mục tiêu của công tác phòng chống xói mòn ở khe suối cần tập trung vào
việc khống chế sự phát triển của xói mòn khe.


13
Ở đây, nên áp dụng biện pháp tổng hợp, kết hợp biện pháp sinh vật (trồng
rừng) với biện pháp công trình như kè cánh, đắp phai đập trên lòng suối để điều
tiết tốc độ dòng chảy, hạn chế xói mòn.
Ở những nơi còn rừng tự nhiên, cần phải bảo vệ tuyệt đối các giải rừng ven
khe và đầu khe. Những nơi không còn rừng, cần phải trồng rừng kịp thời và trồng
hỗn loài giữa cây gỗ và cây bụi để tạo rừng nhiều tầng. Bề rộng của đai rừng cần
căn cứ vào tình hình địa hình, kích thước của khe cũng như tình hình dòng chảy.
Trồng rừng bảo vệ khe, chống lại sự phát triển của khe theo 3 chiều (sâu,
rộng, dài) càn chọn các loài cây có hệ rễ phát triển, tái sinh chồi mạnh, cành lá
nhiều để có thể cố định và cải tạo đất.
Ở những bờ khe quá dốc, cần phải tạo ra bậc thang để trồng rừng. Ngoài ra
cần phải có biện pháp chống xói mòn ở đáy khe, nhằm nâng lòng khe suối lên cao
dần. Cần kết hợp trồng rừng ở đáy khe cạn với việc đắp đập ngăn nước ở khe suối,
trên bờ đập trồng cây gỗ, cây bụi để giữ đất, tạo điều kiện để bùn đất lắng đọng
nhiều sẽ khiến cho lòng suối không bị khoét sâu, đất dưới lòng khe ngày càng dầy
lên, có tác dụng hạn chế tác hại của dòng chảy một cách rõ rệt.
1.8.8. Quản lý bảo vệ và trồng rừng phòng hộ đầu nguồn
Rừng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng nuôi dưỡng nguồn nước, bao gồm
rừng tự nhiên và rừng trồng trên diện tích lưu vực sông hay xung quanh hồ chứa
nước.
Tác dụng của rừng biến dòng chảy bề mặt thành dòng chảy ngầm, nuôi dưỡng
nguồn nước, hạn chế xói lở ven bờ, hạn chế sự lắng đọng bùn đất ở đáy sông, hồ.
Trồng rừng quanh hồ chứa nước không những có tác dụng ngăn chặn bùn cát
xô xuống đáy hồ, mà còn chống bốc hơi mặt nước, làm giảm tốc độ gió, giảm sóng
mặt hồ, khống chế sự lầy hóa và cải tạo tiểu khí hậu.
Rừng phòng hộ quanh hồ chứa nước cần bố trí từ ngấn nước bình thường trở
lên. Giải rừng bán ngập cần chọn những loài cây chịu được ngập nước trong một
khoảng thời gian nhất định trong năm, có bộ rễ bám chặt vào đất, có khả năng đâm
chồi mạnh, và không gây độc hại cho nguồn nước.
Bề rộng của giải rừng bán ngập tùy thuộc theo độ dốc của địa hình. Bên trên
giải rừng bán ngập cần bố trí đai rừng hỗn loài nhiều tầng, trồng với mật độ dầy

14
với bề rộng từ 20 - 60 mét tùy theo địa hình và điều kiện canh tác của từng nơi.
Ngoài giải rừng trên, phần còn lại phía trên có thể trồng rừng phòng hộ theo giải
kết hợp với việc trồng cây nông nghiệp, cây ăn quả, cây hoa màu,... tuy nhiên khu
vực đỉnh núi, đường chia nước và gần đường chia nước vẫn phải tạo lập rừng
phòng hộ.
Danh mục các loài cây ưu tiên cho trồng rừng phòng hộ đầu nguồn

T
Tên tiếng Việt Tên khoa học
T

Litsea glutinosa (Lour.) C.B. Rob. (Litsea
1 Bời lời nhớt
sebifera Willd.)

2 Cáng lò Betula alnoides Buch. Ham.ex D.Don

3 Chò chỉ Parashorea chinensis H. Wang

4 Chò nâu Dipterocarpus retusus

5 Dầu rái Dipterocarpus alatus Roxb. Ex G.Don

Lithocarpus fissus (Champ.ex Benth.) A.
6 Dẻ bộp Camus; Castanopsis fissa (Champ. ex Benth.)
Rehd & Wils

Lithocarpus ducampii (Hickel et A. Camus)
7 Dẻ đỏ
A. Camus

8 Giổi xanh Michelia mediocris Dandy

9 Huỷnh Tarrietia javanica Blume

1
Keo lá tràm A. auriculiformis A. Cunn. ex Benth
0

1
Keo tai tượng Acacia mangium Wild.
1

1 Lát hoa Chukrasia tabularis A. Juss.


15
T
Tên tiếng Việt Tên khoa học
T

2

1
Lim xanh Erythrophloeum fordii Oliv.
3

1 Pelthophorum dasyrrachis (Miq.) Kurz. var.
Lim xẹt
4 Tonkinensis (Pierre) K. & S.Larsen

1
Luồng Dendrocalanus membranceus Munro
5

1
Ràng ràng mít Ormosia balansae Drake
6

1
Sa mộc Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook.
7

1
Sao đen Hopea odorata Roxb.
8

1
Sở Camellia oleifera C. Abel.
9

2
Thông ba lá Pinus kesiya Royle ex Gordon
0

2
Thông nhựa Pinus merkusii Jungh.et de Vries
1

2
Thông mã vĩ Pinus massoniana Lamb.
2

2
Tông dù Toona sinensis (A. Juss.) M. Roem
3

2 Tống quán sủ Alnus nepalensis D. Don

16
T
Tên tiếng Việt Tên khoa học
T

4

2 Anisoptera costata Korth. (Anisoptera
Vên vên
5 cochinchinensis Pierre)

2 Schima wallichii var. noronhae (Blume)
Vối thuốc
6 Bloemb.




17
PHẦN 2: TRỒNG RỪNG CHẮN GIÓ
2.1. Cơ sở lý luận của trồng rừng chắn gió
2.1.1. Các loại gió hại và tác hại của nó
Bình thường gió có nhiều tác dụng tốt như làm cho không khí lưu thông, đưa
hơi nước từ biển vào đất liền, điều hoà nhiệt độ không khí, gióp cho việc thụ phấn
hoa và phát tán quả và hạt của một số loài cây.
Nếu sức gió mạnh hoặc gió có tính chất khô, nóng, lạnh thì sẽ gây hại cho
người nói chung và gây hại về mặt sinh lý lẫn cơ giới cho cây trồng nói riêng. Việt
nam có các loại gió hại chính sau:
Gió mùa Đông bắc: Thổi từ Xibêri vào Miền Bắc nước ta (từ đèo Hải Vân
trở ra) mùa gió thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Tốc độ gió cấp 3, cấp 4, vào
giữa mùa gió (tháng 12, tháng 1, tháng 2) gió mạnh đến cấp 6, 7.
Tính chất gió khô lạnh, nhiệt độ giảm thấp gây giá lạnh có hại đến sinh
trưởng phát triển của thực vật. Vùng thung lũng, ngày trời quang mây có thể xuất
hiện sương muối, làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
tính chất khô của gió làm ẩm độ không khí giảm gây hạn hán. Địa hình vùng cát
ven biển Miền Trong gió mùa đông bắc là động lực cho cát di động, ảnh hưởng rất
lớn đến đời sống và sản xuất của con người.
Gió Lào: là loại gió khô nóng, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 9, mạnh nhất
là tháng 6 đến tháng 7 , mỗi đợt kéo dài 2-3 ngày có khi một tuần đến nửa tháng,
gây hạn vụ hè thu. Cây trồng bị rám thân, cháy lá, giảm năng suất, cây con mới
trồng bị chết hàng loạt.
Phạm vi hoạt động thuộc các tỉnh dọc biên giới Việt Lào và miền Trong
Trong bộ: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị là các tỉnh bị ảnh hưởng
nhiều nhất.
Bão: Hình thành từ những vùng áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, thời gian
xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 11 có khi đến tháng 12, tần số cao nhất vào các
tháng 7,8,9. Sức gió rất mạnh có khi lên đến cấp 11, cấp 12, giật trên cấp 12. Bán
kính hoạt động 200-300 km, kèm theo mưa lớn. Bão làm đổ nhà cửa, phá hoại hoa
màu, ngập lụt…ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của con người.


18
Gió hại địa phương: Một số địa phương do địa hình đặc biệt nên đã hình
thành các loại gió hại có tính quy luật ở địa phương, còn gọi là gió địa hình. Ví dụ
ở vùng Than Uyên (Tây Bắc) do nằm kẹp trong thung lũng hẹp của dãy Hoàng
Liên Sơn nên đã hình thành những cơn gió mạnh dữ dội gây bụi mù mịt, ảnh
hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của con người và làm giảm năng suất cây trồng.
Thời gian hoạt động của loại gió này ở vùng Than Uyên từ tháng 4 đến tháng 11.
Các loại gió hại bất thường: Do sự biến đổi bất thường của thời tiết đã tạo
ra những cơn giông, lốc, xoáy…ở nơi này, nơi khác trong những thời điểm không
xác định, do đó cũng gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của con
người.
2.1.2. Nguyên lý chắn gió của đai rừng
Gió là sự chuyển động của dòng khí theo cả chiều ngang và chiều thẳng
đứng, xoáy theo chiều thẳng đứng là nguyên nhân gây nên tình trạng thay đổi độ
ẩm của lớp không khí sát mặt đất, có hại cho cây trồng. Kết cấu của gió là chỉ hai
phương chuyển động của gió.
Gió khi gặp vật chắn kín, bắt buộc nó phải đi vòng quanh sườn hay vượt qua
vật chắn, lúc đó tốc độ và kết cấu của gió bị thay đổi, sự thay đổi này phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như hình dạng, kích thước vật chắn và bản thân kết cấu của gió.
Mỗi đai rừng cũng là vật chắn, nhưng khác với vật chắn kín là khi gió thổi
đến, gặp đai rừng nó sẽ chia làm hai phần: phần chui qua đai và phần vượt lên trên
tán đai rừng.
Phần chui qua đai rừng, do bị ma sát mà giảm động năng và xoáy lớn xé
thành xoáy nhỏ, vì thế đai rừng đã làm cho kết cấu của gió bị thay đổi và giảm tốc
độ gió.
Phần vượt qua tán đai rừng, kết cấu ít thay đổi, nó chia thành 2 phần nhỏ:
một phần tiếp tục đi xa với độ cao như cũ; một phần hạ thấp độ cao và kết hợp
cùng với phần gió chui qua đai rừng hình thành nên lớp xoáy...........
2.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá tác dụng chắn gió của đai rừng
1) Hiệu năng phòng hộ
2) Hệ số lọt gió
3) Tốc độ gió còn lại sau đai rừng

19
4) Độ hổng
5) Phạm vi phòng hộ (phạm vi chắn gió của đai rừng)
2.1.4. Ảnh hưởng của đai rừng đến tốc độ gió
2.1.4.1. Ảnh hưởng của kết cấu đai rừng đến tốc độ gió
1) Khái niệm về kết cấu đai rừng: Kết cấu đai rừng là đặc trưng về hình dạng và
cấu tạo bên trong của đai rừng, mà từ đó nó quyết định đến đặc điểm và mức độ lọt
gió của đai rừng.
Có 3 loại kết cấu:
- Kết cấu kín: là đai rừng có nhiề tầng tán gồm cây bụi, cây nhỡ và cây cao, thường
đai rừng có nhiều hàng cây, mặt cắt của đai rừng có rất ít lõ hổng lọt sang (độ hổng
nhỏ hơn 5%), gió nhẹ cấp 1-2 không thể lọt qua mà chủ yếu vượt qua tán rừng, hệ
số lọt gió (k < 0,3).
- Kết cấu thưa: là đai rừng chỉ có một tầng, tầng tán lá kín (hệ số lọt gió = L để đảm bảo độ cao phòng hộ
của cây khi cát di chuyển tới. khi đó chiều cao đai rừng >= độ cao cồn cát nên cây
không bị vùi lấp mà cũng cản trở sự di động của cát.
+ Băng chặn trước kéo sau:
Mặt đón gió trồng 1 đai rừng, Có tác dông như đai rừng phòng hộ chắn
gió. Dải rừng này Có tác dông hạn chế tác động của gió đến di động của cát.
Mặt khuất gió trồng 1 đai rừng, tác dông phòng hộ chống lại di động
cát.
+ Trồng nhiều lần.
Trồng 1/3 – 2/3 diện tích dưới chân đồi phớa đón gió. Khi bãi cát cố định
trồng tiếp các diện tích cũng lại.
Áp dông cho nơi Có cát di động mạnh, nguồn nhân lực và kinh phớ thiếu.
+Trồng theo băng: lần 1 trồng theo 3 mặt: mặt đón gió và 2 bên sườn. Những
lần sau trồng tiến thêm vào tâm cồn cát, bãi cát.
+ Trồng theo mạng lưới: Có thể trồng theo mạng lưới ô vuông áp dụng cho
những cho bãi bỏn cố định, cố định hoặc ít di động. Tính chất đất được cải thiện.
Chú ý khi trồng kết hớp với sản xuất nông lâm kết hợp đặc biệt là cây họ đậu Có
khả năng cải tạo đất tốt. Như vậy sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều.
Yờu cầu các đai rừng bề rộng 15-20(m), tạo ra kết cấu thưa, thông thoáng để
cho cây nông nghiệp, cây ăn quả sinh trưởng, phát triển tốt.
Khi tiến hành trồng rừng phòng hộ chắn gió chống cát bay cần lưu ý một số
vấn đề sau:
1) Chọn loài cây trồng



33
Đây là vùng đất Có điều kiện lập địa cực đoan. Đất khô nóng, nghèo mùn,
nghèo dinh dưỡng, biên độ dao động nhiệt lớn. Ở vùng cát di động mạnh Có thể
vùi lấp cây trồng. Chính vì vậy việc chọn cây trồng thích hợp luôn là một vấn
đề khó khăn. Về cơ bản Có một số nguyờn tắc cần tuõn thủ:
• Cây trồng phải là cây gỗ, mọc nhanh ở giai đoạn đầu, nhanh khép tỏn và
phát huy vai trò phòng hộ.
• Chịu được gió mạnh, cản gió tốt, Có hệ rễ phân bố rộng, bỏm cát khoẻ và
rễ ăn sâu, Có khả năng chịu được sự va đập của cát.
• Cây Có biện độ sinh thái rộng, chịu được đất xấu, nghèo khoáng, dinh
dưỡng, thích nghi với lập địa cực đoan, Có khả năng chịu vùi lấp trong trong một
thời gian, hoặc bị trốc rễ (lộ rễ).
• Có tác dông cải tạo và nâng cao độ phì của đất cát.
• Dễ trồng và đa tác dông như: khả năng cung cấp gỗ, củi, cảnh quan môi
trường và các giỏ trị khác.
Một số loài cây trồng rừng phòng hộ trên đất cát đang được sử dông:
• Phi lao (Casuarina equisetifolia)
• Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)
• Keo lá liềm (Acacia crassicarpa)
• Keo tai tượng (Acacia mangium)
• Các loài keo chịu hạn: A. torulosa, A. tumida, A.difficilis
• Xoan chịu hạn (Azadiracta indica Iuss.F)
• Bạch đàn trắng (E. camaldulensis)
• Bạch đàn liễu (E. exserta)
• Điều (Anacadium occidentale)
2) Kỹ thuật trồng rừng và chăm sóc rừng phòng hộ chắn cát.
Trong trồng rừng phòng hộ chắn cát Có một điều đặc biệt quan trọng Có ý
nghĩa đến thành bại của công tác trồng rừng sau công tác chọn loài đó là Tiêu
chuẩn cây con. Tiêu chuẩn cây con trong trồng rừng phòng hộ chắn cát thường
phải cao hơn trong trồng rừng thông thường do tính chất cực đoan của điều kiện
lập địa. Gồm các yếu tố cả về tuổi, chiều cao và đường kớnh gốc.


34
Khi thực hiện trồng rừng, theo Viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam: Trồng
rừng phòng hộ chắn cát nên trồng ở vụ xuõn hố và Có thể mở rộng trồng vụ thu
đông. Vùng Có gió Lào trồng vụ thu đông, vùng khô hạn cực Nam trồng vụ đông,
các vùng cũng lại trồng đầu mùa mưa.
Để trồng và chăm sóc tốt loại rừng phòng hộ chắn cát cần đảm bảo đỳng kỹ
thuật: Nơi đôn, cồn cát di động cần trồng cây bôi, cây cỏ chịu hạn trước để cố định
cát, 1-2 năm sau mới trồng rừng cây gỗ. Trồng cây vào ngày rõm mỏt, Có mưa,
không Có gió heo may. Moi lỗ sâu 30-50cm ở giữa hố, đặt cây cho rễ và thõn đứng
thẳng, lấp kớn đất, giậm chặt rồi vun cao hơn mặt đất 3-5cm. Ở nơi cát bay phải
“Chặn sâu, giậm chặt’’, Có điều kiện tủ kớn quanh gốc cây một lớp cỏ lá dày 2-
3cm để giữ ẩm và chống cát bay. Bón lót khi trồng cây gỗ 100-200g phân vi sinh
cho mỗi gốc, nơi Có điều kiện bón 1-2kg phân chuồng hoặc cỏ, lá cây cho mỗi
gốc. Trồng dặm những cây chết sau khi trồng 1 tháng. Cần chăm sóc cây trong
vũng 3 năm liền, năm đầu 2 lần với cây trồng vụ xuõn hố, 1 lần với cây trồng vụ
thu đông. Năm thứ 2 và 3 chăm sóc 2 lần mỗi năm, gồm phát cây bôi cục bộ quanh
gốc cây gỗ rộng 1,5m, xới quanh gốc rộng 0,8-1,0m, vun cao 5-10cm. Tận dông cỏ
lá tủ kớn quanh gốc cây. Nếu Có điều kiện bón thúc100-200g phân vi sinh cho mỗi
cây gỗ vào lần chăm sóc thứ nhất ở năm thứ 2. Khi chăm sóc cho cây gỗ cũng vun
xới quanh gốc cho cây bôi trồng kết hợp. Đặc biệt, ở nơi xung yếu nguy hiểm
không tỉa thưa, chỉ chặt phần cây bị khô tận dông làm củi; nơi ít xung yếu cần Có
phương ỏn điều chế rừng, khai thỏc theo băng xen kẽ và xỳc tiến tỏi sinh chồi,
trồng thêm các hàng cây mới bên cạnh để tăng độ che chắn ngay từ mặt đất trở lờn.
Bên cạnh đó, việc xử lý thực bỡ, làm đất cũng rất quan trọng, chỉ xử lý thực bỡ nơi
Có cây bôi mọc cao, rậm, phát theo rạch trồng cây rộng 2m. Nơi đôn, cồn cát di
động cát dễ bị bay cuốc hố cục bộ với kích thước 30x30x40cm hoặc 40x40x50cm
và trồng cây ngay khi cuốc hố. Nơi cồn bãi cát cao, cố định, mực nước ngầm sâu
Có thể cày máy theo băng hoặc đào rónh và trồng cây dưới rónh. Đối với địa hình
bãi cát thấp, mực nước ngầm nông Có thể cày máy toàn diện hoặc theo băng. Nơi
bãi cát thấp ngập nước mùa mưa phải lờn lớp cao 0,3-0,5m; nơi bãi cát ngập
thường xuyên phải lờn lớp cao 0,7-1,0m; đào hố 30x30x30cm trên lớp để trồng
cây.

35
2.3.. Một số mô hình trồng rừng chống cát bay ở Việt Nam.
2.3.1. Mô hình làng sinh thái Hải Thủy
Bãi cát ven biển là vùng sinh thái rất khắc nghiệt, hiểm hoạ cát di động uy
hiếp mạnh mẽ và trở thành khu vực rất xung yếu. Nước ta Có khoảng 400.000ha
các dải cát di động trải dọc bờ biển miền Trong đó và đang bị sa mạc hóa, ước tính
mỗi năm Có 20 ha đất canh tác nông nghiệp bị lấn bởi các đôn cát di động. Phần
lớn diện tích các đôn, cồn cát bay trên khắp dải cát ven biển nước ta vẫn bị bỏ
hoang do chưa xỏc định được loài cây trồng và kỹ thuật phù hợp. Chúng ta Có
khoảng 462.000 ha cát ven biển, 87.800 ha trong số này là các đôn cát, đồi cát lớn
di động. Trong các vùng bị sa mạc hóa tấn công, hai tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận được xem là vùng Có tốc độ sa mạc hóa nhanh nhất cả nước với diện tích
hoang mạc hóa ở Ninh Thuận đó lờn gần 90.000 ha và Bình Thuận là 81.000 ha.

Trước thực trạng đó, trong những năm gần đây, nhiều sáng kiến, mô hình
nhằm cải thiện môi trường, đồng thời gúp phần xúa đói giảm nghèo, hướng tới
phát triển bền vững được áp dụng và nhận được sự khuyến khích ủng hộ của các
ban, ngành, các tổ chức quốc tế cũng như sự hưởng ứng của người dân địa phương.
Mô hình làng sinh thái tại các vùng sinh thái kém bền vững như Hải Thủy, huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình là một trong những mô hình như thế.

Xõy dựng mô hình làng sinh thái Hải Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình là một
trong những hoạt động của Chương trình Quản lý tài nguyờn biển và vùng ven
biển ở Việt Nam do cơ quan Phát triển quốc tế Thôy Điển (Sida) tài trợ và IUCN,
Ban biên giới Chính phủ hợp tác cùng Viện Kinh tế Sinh thái (Eco-Eco), một tổ
chức thành viờn của IUCN, triển khai thực hiện. IUCN đánh giỏ cao mô hình làng
sinh thái này và cho rằng đây là mô hình rất phù hợp, đỏng để học tập cho các nơi
khác Có cùng điều kiện thiờn nhiên khắc nghiệt như Hải Thủy.

Hải Thủy - Vùng đất "chang chang cồn cát"

Hải Thủy là một trong 3 xóm miền biển thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng
Bình, và cũng là xóm nghèo nhất huyện. ở đây, đất cát là chủ yếu, giữ nước và giữ
màu kém, dễ bị gió cuốn. Khả năng hấp thô nhiệt của đất về ban ngày và toả nhiệt
36
về đờm (nhất là mùa hố), dẫn đến chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đờm cao, tạo ra
tính khắc nghiệt, nghèo nàn của thảm thực vật và các sinh vật khác cũng kém phát
triển. Đặc biệt, từ tháng 4 đến tháng 9 trong năm, vùng này chịu ảnh hưởng của gió
mùa tõy nam nên cát rất khô và nóng bỏng, hạn hỏn thường xuyên xảy ra. Ngược
lại, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11, với lượng mưa Bình quõn rất cao,
thường gây ra lũ lớn.

Chính vì điều kiện thiờn nhiên vụ cùng khắc nghiệt nên đời sống kinh tế xóm
hội của bà con nơi đây vụ cùng khó khăn. Số hộ đói nghèo ở xóm chiếm gần một
nửa, cơ sở hạ tầng vừa kém vừa thiếu thốn, đời sống văn hóa rất nghèo nàn. Kinh
tế Hải Thủy chủ yếu nhờ vào đánh bắt hải sản, sản xuất nông nghiệp và một số
ngành nghề dịch vụ. Mặc dự vùng biển Hải Thủy được đánh giỏ là phong phỳ về
các loại hải sản Có giỏ trị kinh tế và xuất khẩu. Tuy nhiên, nghề cỏ không phát
triển do ngư cô lạc hậu, tàu thuyền công suất nhỏ nên chỉ đánh bắt ven bờ, sản
lượng rất thấp, ngư dân thậm chớ không đủ ăn. Đất nông nghiệp ít, lại bạc màu,
môi trường suy thóai, thêm nữa lệ thuộc rất lớn vào thiờn nhiên, do đó hàng năm
bà con ở đây phải mua lương thực từ nơi khác từ 10 đến 11 tháng để ăn.

Làng sinh thái – hướng phát triển đúng đắn cho Hải Thủy

Nhận thấy Hải Thủy Có nhiều tiềm năng chưa được khai thỏc hết, Eco-Eco
cùng ban biên giới chính phủ và IUCN, với sự hỗ trợ tài chính của Sida đó xõy
dựng và triển khai mô hình làng sinh thái nhằm khơi dậy và phát huy những tiềm
năng hệ sinh thái vùng cát nơi đây, giỳp người dân thóat khỏi cảnh đói nghèo và
cải thiện môi trường sống.

Môc Tiêu của làng sinh thái Hải Thủy là phủ xanh, cải thiện môi trường,
khống chế cát di động, cải tạo vùng cát nhằm sản xuất nông lâm nghiệp Có hiệu
quả. Hỗ trợ kỹ thuật do Eco-Eco tư vấn và hướng dẫn, cùng với nguồn lao động do
địa phương đảm nhận, một mô hình làng sinh thái trên vùng cát được hình thành,
với từng bước tiến hành cô thể, khoa học và phù hợp.

Đai rừng phòng hộ

37
Đóng vai trò là những "chiếc áo giỏp" chống nóng, chống cát bay và nhằm
giảm tốc độ gió bảo vệ làng xúm và hoa màu lương thực bên trong được an toàn,
đai rừng phòng hộ gồm chủ yếu là phi lao, kết hợp với keo lá tràm và keo tai tượng
với độ dày cao thấp đan xen nhau. Ngoài những tác dông trên, đai cây này cũng
cho phộp người dân thu được lợi ớch về kinh tế. Khi cây khép tỏn, chặt tỉa bít cây,
lấy gỗ củi dựng hoặc bỏn đầu tư trở lại cho vườn sinh thái.

Ngoài ra, đai rừng phòng hộ cũng giỳp chống cát trôi ở những khe suối trong
vùng, chống sạt lở và chắn gió cát bay lấp khe suối. Khi rừng phòng hộ phát triển,
các thảm thực vật phủ kớn, ngoài chức năng to lớn như duy trỡ và bảo tồn đa dạng
sinh học, chức năng phòng hộ giữ thế cõn bằng giữa rừng và nước, đai rừng phòng
hộ cũng Có hiệu quả trong việc cải tạo môi trường không khí, tạo ra các vùng vi
khí hậu địa phương.

Ao trữ nước và thả cỏ

Những ao này được đào ở địa hình thấp, vùng cát tròng gần khe suối. Ao này
kết hợp để trữ nước tưới cây và nuôi cỏ nhiều tầng, đồng thời thả bốo phôc vụ chăn
nuôi. Trên bờ ao trồng thêm các loại rau xanh tạo bóng mỏt và cải thiện bữa ăn
hàng ngày cho các gia đình.

Vườn ao cạn

Bà con ở đây thường gọi vui là "vườn õm phủ". Vườn này được đào ở địa
hình cao và trồng các loại cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả. Nước được
dẫn từ trong lũng cát, qua các mao mạch nuôi sống cây, cho năng suất khỏ. Đây là
một sáng tạo của người dân vùng cát, theo sự hướng dẫn của Eco-Eco.

Vườn sinh thái gia đình

Trên đất thổ canh thổ cư, đai rừng phòng hộ được xõy bổ sung, chủ yếu là phi
lao kết hợp keo lá tràm, keo tai tượng và tre trỳc, được trồng với độ dày cao thấp
đan xen tạo thành vành đai phòng hộ khép kớn, chống cát bay, cát lấp bảo vệ vườn
nhà bên trong. Vườn ao cạn được đào bên trong vành đai, trồng các loại cây lương

38
thực, thực phẩm như khoai, ngô, lạc, vừng... Đất cát được bổ sung thêm lớp rơm
rỏc, lá cây và phân bón tạo thêm màu cho đất. Phần đất cao hơn trồng các loại cây
ăn quả như xoài, khế, dừa, ổi... Có thể kết hợp chăn nuôi, lấy phân bón thõm canh
cây trồng và đào ao thả cỏ, nuôi cỏ nhiều tầng như trắm, mố, chộp... Ngoài ra, các
khe nước gần nhà Có thể tận dông làm thủy điện nhỏ để thắp sáng, chạy đài, tivi,
quạt máy.

Vườn sinh thái cộng đồng

Vườn này được san ủi tạo mặt bằng, chia thành từng ô, mỗi ô đều Có đai cây
bao quanh để chắn gió, chống cát bay và giảm nóng. Bên trong ô trồng các loại cây
như dừa, điều, kết hợp bón phân vi sinh hữu cơ tăng độ màu cho đất. Ngoài giỏ trị
kinh tế vườn mang lại, vườn sinh thái cộng đồng cũng tạo được cảnh quan đẹp cho
làng xóm.




Vườn - trang trại

Đây là mô hình nông - lâm kết hợp để chuyển hướng từ vùng cát di động kém
bền vững tạo thành vùng sinh thái bền vững. Việc xõy dựng vườn Có qui hoạch chi
tiết các dải rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn theo tỷ lệ 80% và 20% đất dành cho
sản xuất nông nghiệp. Kết hợp vườn ươm cây rừng, trồng cây lương thực thực
phẩm, cây ăn quả, chăn nuôi, thả cá. Thủy điện nhỏ hay phong điện cũng được ứng
dông để phôc vụ thắp sáng, chạy đài, tivi phôc vụ gia đình.

Chỉ trong vũng 3 năm thực hiện xõy dựng làng sinh thái, từ một vùng đất "khô
ngàn bạt gió", màu xanh của cây cối đó phủ trên màu trắng của cát nóng bỏng miền
Trong. Môi trường sinh thái ở Hải Thủy được cải thiện rừ rệt. Bằng việc xõy dựng
đai rừng phòng hộ chắn gió, chống cát bay, xõy dựng mô hình vườn nhà, hệ thống
ao, vườn sinh thái cộng đồng, mô hình vườn - trang trại... đó làm chuyển biến
mạnh mẽ nhận thức người dân về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi, chế biến hải sản,
chuyển đổi phương thức canh tác tiếp cận với kỹ thuật sinh thái trong sản xuất.
Người dân Hải Thủy đó làm quen với việc lợi dông sức nước, sức gió với những
39
thiết bị và phương tiện sẵn Có và dễ tỡm tại địa phương để tạo ra nguồn năng
lượng sạch và rẻ phôc vụ đời sống. Thu nhập của người dân từ đó cũng được nâng
lờn, gúp phần xoỏ đói giảm nghèo. Khai thỏc hải sản cùng phát triển mô hình nông
lâm kết hợp tạo ra sự phát triển hài hoà trong kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm
cho người dân nơi đây. Cùng với nền kinh tế địa phương đi lờn, đời sống văn hóa
xóm hội cũng thay da đổi thịt. Xóm đó Có điều kiện xõy dựng thêm trường học
mới, người dân giờ Có điện nghe đài, xem tivi tiếp thu thông tin trong nước và
quốc tế. Một người dân Hải Thủy đó nhận xột như sau: "Chúng tôi rất phấn khởi là
đó xõy dựng thành công làng sinh thái, vừa tạo cảnh quan "nhà xanh, sạch, đẹp",
môi trường được cải thiện, vừa tạo ra lương thực, thực phẩm và sản phẩm chăn
nuôi, Có cái ăn, cái bỏn cải thiện đời sống gia đình. Điều mà chúng tôi tâm đắc
nhất là dự ỏn đó giỳp cho gia đình chúng tôi Có nguồn năng lượng thắp sáng, dựng
trong sinh hoạt, nghe đài xem tivi, đưa lại niềm vui cho cả xúm làng." Cái được
lớn nhất là tiềm năng vùng cát trắng được khơi dậy, đưa lại sức sống và màu xanh
cây cối cho Hải Thủy.

Thành công của làng sinh thái Hải Thủy là nhờ Có sự đóng gúp rất lớn của
các cán bộ Eco-Eco trong việc hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật và sự lao động cần cự
chịu khó của người dân nơi đây. Mô hình này nên được nhân rộng ở những vùng
cát Có cùng điều kiện tự nhiên như Hải Thủy. Đồng thời, thành công của làng sinh
thái Hải Thủy là một khích lệ lớn đối với IUCN, vì đó gúp phần xoỏ đói giảm
nghèo cho cộng đồng địa phương, vùng đất giàu truyền thống cách mạng.

Bên cạnh mô hình làng sinh thái Hải Thủy cũng Có các mô hình làng sinh thái
khác và chúng cũng cho kết quả tương tự như đối với Hải Thủy

2.3.2. Mô hình làng sinh thái Triệu Trạch
Thực hiện Nghị quyết của Đảng uỷ, HĐND xóm Triệu Trạch (huyện Triệu
Phong) về phát triển kinh tế- xóm hội nhằm giải quyết công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho nhân dân bằng việc khai thỏc tiềm năng, thế mạnh của vùng cát trên địa
bàn, được sự giỳp đỡ của các cấp các ngành, đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện,
hỗ trợ, đầu tư của dự ỏn Nauy, từ năm 2002, xóm Triệu Trạch Có chủ trương gión

40
dân ra vùng cát thành lập các làng sinh thái để Có cuộc sống ổn định và sản suất
lâu dài cho bà con. Bước đầu xóm đó chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn
tương đối đồng bộ như: Xõy dựng được 5 tuyến đường với chiều dài 25 km cùng
với các hệ thống mương Tiêu, điện các làng sinh thái, trường mầm non...đặc biệt
hỗ trợ 10 triệu đồng/ hộ khó khăn để tạo dựng nhà cửa. Với đầu tư ban đầu, đến
nay hình thành 3 làng sinh thái, đó là: Linh An, An - Long - Võn, Lệ Xuyên với
tổng số 140 hộ, 525 khẩu và 250 lao động.

Sau 5 năm xõy dựng mô hình làng sinh thái, từ việc chú trọng nơi ăn chốn ở,
đặc biệt là quan tâm vấn đề sản xuất nông nghiệp, đảm bảo cuộc sống hàng ngày,
đến nay, đại đa số bà con của các làng sinh thái đó sản xuất ổn định, đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa các giống cây, con Có năng suất, chất
lượng và phù hợp với chân đất cát vào gieo trồng trên diện tích đất của 3 làng sinh
thái như: Giống ngô nếp, lạc, hành, ít... đặc biệt cây dưa hấu đó phát huy được hiệu
quả, giỏ trị 1 ha trồng dưa hấu đạt 80 triệu đồng/năm. Mô hình sản xuất cây màu
vùng cát, cây công nghiệp ngắn ngày ở các làng sinh thái từng bước đó làng ổn
định và phát triển kinh tế.

Trong chăn nuôi người dân đó biết áp dụng khoa học kỹ thuật nên trong
những năm qua đó đem lại thu nhập khỏ cao. Cô thể, được sự đầu tư hỗ trợ của
Nhà nước về cấp giống lợn, qua đó đó Có nhiều hộ đó đầu tư xõy dựng hệ thống
chuồng trại Có quy mô lớn để chăn nuôi như: Hộ anh Lờ Văn Vững ở sinh thái
Linh An; hộ anh Đặng Công Thành, Trần Nhật Linh ở sinh thái Long Quang;
Nguyễn Toản ở sinh thái Võn Tường; hộ anh Nguyễn Khỏnh Hưng ở sinh thái Lệ
Xuyên...hàng năm mang lại thu nhập 20 - 30 triệu đồng. Mô hình nuôi cá nước
ngọt cũng được người dân chú trọng và quan tâm, nhỡn chung các hộ đều Có ao
nuôi với diện tích khoảng 0,5 ha. Đến nay, trên 3 làng sinh thái đó hình thành
nhiều mô hình VAC kết hợp đem lại hiệu quả kinh tế lớn, điển hình trong mô hình
này Có hộ anh Lờ Vang, Mai Niếm, Lờ Công Thăng ở sinh thái Linh An mang lại
thu nhập 25 - 30 triờô đồng, số cũng lại Bình quõn thu nhập 10 - 15 triệu
đồng/năm. Ngoài ra, mỗi hộ đó được chia đất vườn 0,7 - 1 ha trồng cây chắn gió
với hàng ngàn cây keo lá tràm, Có hộ đó trồng hàng chôc hộc ta rừng tràm, đến
41
nay cây đó phát triển khỏ tốt trong tương lai đem lại nguồn thu khỏ cao, điển hình
trong mô hình trồng rừng Có hộ anh Nguyễn Toàn ở sinh thái Lệ Xuyên. Từ hiệu
quả đó, những năm tới diện tích rừng trồng của xóm Triệu Trạch sẽ được mở rộng,
vì ở vùng cát cũng 145 l,8 ha.

Từ thực tế, hiệu quả sau 5 năm xõy dựng làng sinh thái ở Triệu Trạch và nhất
là qua trao đổi với người dân, Có thể thấy rằng, việc thực hiện mô hình làng sinh
thái đó làm thay đổi quan điểm về sản xuất nông nghiệp, bước đầu tạo ra sản phẩm
hàng hóa Có giỏ trị cao giỳp người dân thóat nghèo và tiến tới làm giàu. Việc xõy
dựng mô hình làng sinh thái ở những vùng này đó khai thỏc tốt lợi thế và tiềm
năng của vùng, khai thỏc các diện tích đất cát hoang hóa đưa vào sản xuất nâng
cao hiệu quả sử dông đất, thúcđẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
gúp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng.

Việc mô hình làng sinh thái giỳp người dân tiếp cận và nắm bắt khoa học kỹ
thuật, quy trình canh tác tiờn tiến, ứng dông và đưa khoa học công nghệ vào sản
xuất, tạo ra nhiều sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân. Người nông dân
học hỏi được nhiều kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi, các quy trình quản lý tiờn tiến của
sản xuất nông nghiệp, thay đổi nhận thức và cách làm nông nghiệp của người dân,
đó thu hỳt một lượng lớn vốn của người dân vào sản xuất, xu hướng tích tô và
chuyờn môn hóa sản xuất phát triển mạnh, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập.
Việc phát triển làng sinh thái ở các vùng cát khó khăn cũng tạo nhanh việc phủ
xanh đất trống đồi trọc, đẩy nhanh việc xanh hóa vùng cát ven biển theo các
chương trình trồng rừng phòng hộ chống cát bay cát lấp, gúp phần bảo vệ môi
trường và thúcđẩy sản xuất nông nghiệp quy mô lớn phát triển bền vững.

Với thời gian 5 năm, bước đầu xõy dựng làng sinh thái đem lại hiệu quả, theo
ông Trương Duy, Chủ tịch UBND xóm Có thể rỳt ra những kinh nghiệm sau: Thứ
nhất, kết cấu hạ tầng nông thôn phải đồng bộ và đi trước một bước; thứ hai, tuyờn
truyền vận động bà con hiểu rằng nông nghiệp muốn giàu Có thì phải Có tỷ lệ
thuận với quy mô đất đai từ đó làm tốt việc di dân; thứ ba, mỗi vùng đều Có địa
thế và thổ nhưỡng riờng, do đó việc áp dụng từ mô hình này sang mô hình khác là

42
máy múc và khó thành công. Vì vậy, Có thể thấy rằng, muốn xõy dựng làng sinh
thái Có hiệu quả, trước hết phải nghiên cứu điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, biết nắm
lợi thế và tiềm năng của vùng đất mỡnh để phát triển chuyờn môn hóa và đa dạng
hóa cây trồng, từ đó tiến hành sản xuất kinh doanh sẽ phát huy hết tiềm năng thế
mạnh và cho thu nhập cao; thứ tư, người dân phải luôn trăn trở, học hỏi kinh
nghiệm làm ăn, tỡm hiểu thị trường để nắm bắt thông tin, lựa chọn cây trồng vật
nuôi phù hợp hoặc chuyển hướng kinh doanh kịp thời, sản phẩm làm ra phải Tiêu
thô được. Đặc biệt, người dân phải chủ động trong sản xuất và đầu tư, không trông
chờ, ỷ lại Nhà nước mà phải mạnh dạn trong việc lựa chọn hướng đầu tư, mạnh
dạn vay vốn phát triển sản xuất, nhất là việc áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng
năng suất cây trồng, vật nuôi.

Qua thực tiễn từ hiệu quả xõy dựng mô hình làng sinh thái đem lại và để phát
triển và nhân rộng trong tương lai, lónh đạo xóm và người dân nơi đây đề nghị với
Nhà nước, các ban, ngành cấp trên liên quan tiếp tôc đầu tư kết cấu hạ tầng, thực
hiện chương trình vay vốn với lói suất thấp, hỗ trợ giống cây con phù hợp với vùng
cát, tập huấn và đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào ứng dông, đem năng suất
cao trong nông nghiệp để người dân yờn tâm ổn định sản xuất ở làng sinh thái.

Từ những phân tích trên chúng ta Có thể thấy mô hình làng sinh thái đang là
một hướng phát triển rất phù hợp đối với miền cát Việt Nam. Làng sinh thái Hải
Thủy là một minh chứng cho điều đó. Như vậy để thấy rằng khi Có những sự quan
tâm đầu tư thích đỏng thì các vùng đất chết cũng Có thể trở nên tươi tốt hơn.

2.3.3. Nuôi tôm trên cát quy mô lớn

Để phát triển kinh tế bền vững trên vùng đất cát không chỉ dựa vào mô hình
làng sinh thái là đủ. Làng sinh thái chỉ giỳp người dân Có đời sống ổn định hơn chứ
khó Có thể làm giàu thật sự. Chính vì vậy, mô hình nuôi tôm trên cát được đề xuất
và thực hiện. Trong những năm gần đây chúng ta đó tiến hành nuôi tôm Sỳ trên đất
cát và đó Có một số kết quả nhất định. Tuy nhiên quy mô cũng nhỏ lẻ và chưa Có
một quy hoạch tổng hợp, cô thể. Do đó tiem ẩn một số nguy cơ. Cạn kiệt nguồn
nước ngọt và nước ngầm, ô nhiễm biển và nước ngầm do chất thải từ nuôi trồng,

43
mặn hóa đất và nước ngầm, thu hẹp diện tích rừng phòng hộ , làm tăng hoạt động
cát bay và bão cát

Rừng phòng hộ (phi lao) đối với vùng bờ cát Có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là
giải pháp hữu hiệu chống cát bay, cát chảy và bão cát, tạo cảnh quan đẹp cho vùng
bờ cát ở các xứ nóng. Những cánh rừng như vậy đang bị ảnh hưởng và chết do
nguồn nước ngầm nuôi cây đó bị hỳt cạn kiệt phôc vụ cho nuôi tôm. Tại Ninh
Thuận, thực tế đó Có hiện tượng cây phi lao ven biển chết do thiếu nước, hậu quả
của việc khai thỏc nước ngầm quá giới hạn.

Quá trình làm ao, đắp bờ và mở đường đi lại đều làm cho lớp cát đó được ổn
định tương đối bởi cây hoang dại bị đào xới khiến mức độ gắn kết của cát yếu đi,
tạo điều kiện thuận lợi cho hiện tượng cát bay và bão cát. Nếu thiếu thận trọng
trong quá trình chọn địa điểm xõy dựng ao nuôi, việc phát triển ao nuôi không đi
đôi với bảo vệ rừng phòng hộ hay trồng rừng che chắn, đặc biệt là các khu vực
nhiều gió cát, dễ dẫn đến hiện tượng đầm nuôi bị vùi lấp trong quá trình sản xuất.

Do vậy, cần Có các giải pháp trước mắt là :

- Cần ưu tiờn công tác quy hoạch và thiết kế mô hình ngư trại (vùng nuôi tôm)
trên cát hợp lý : hiệu quả kinh tế, an sinh xóm hội và an toàn môi trường.

- Các ngư trại lớn bắt buộc phải xõy dựng hệ thống trữ nước ngọt kiểu hồ
chứa, tận dông nước mưa, nước chảy bề mặt và sông suối dẫn về.

- Xỳc tiến việc đánh giỏ tác động môi trường đối với các dự ỏn xõy dựng vùng
nuôi tôm trên cát. Cần xõy dựng hệ thống xử lý môi trường Có hiệu quả, trỏnh tình
trạng thải chất thải bừa bãi gây ô nhiễm môi trường đất, nước xung quanh.

- Thực hiện chế độ nuôi tôm ít thay nước nhằm hạn chế dịch bệnh lõy lan và
xõy dựng mô hình lâm ngư kết hợp trên vùng cát.

- Tiến hành kiểm soỏt môi trường nuôi tôm trên cát dựa trên các Tiêu chớ môi
trường và kết quả quan trắc-cảnh báo môi trường và dịch bệnh dựa vào cộng đồng,
kết hợp với việc đánh giỏ các chỉ số ngư trại bền vững để Có hướng dẫn phòng
ngừa các rủi ro và tác động Tiêu cực môi trường.



44
éể đảm bảo cho phát triển nuôi tôm trên cát một cách bền vững, không nên chỉ
làm kinh tế cực đoan , phải nhỡn nhận một cách toàn diện, cõn đối, hài hoà giữa các
môc Tiêu kinh tế, xóm hội và môi trường nhằm giảm thiểu mõu thuẫn giữa lợi ớch
cộng đồng dân địa phương và các nhà đầu tư và kinh doanh.

2.3.4. Cộng đồng ngăn ngừa hoang mạc hoá
Ở Việt Nam, quá trình hoang mạc hóa cũng đang xảy ra mạnh mẽ ở 2 tỉnh
Bình Thuận và Ninh Thuận và dải ven biển Miền Trong trong đó Có Thạch Đỉnh-
Hà Tĩnh là nơi hoang mạc cát ven biển, nóng, nửa cây bôi.
Quá trình hình thành hoang mạc ở Thạch Đỉnh diễn ra nhanh chúng do tác
động mạnh của con người. Vào các năm 1977-1978, thực hiện chủ chương tự tỳc
lương thực, nhân dân ở đây đó phát quang, chặt trắng rừng tràm tự nhiên tồn tại từ
lâu đời, biến đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp để trồng sắn, nhưng chỉ sau
hai vụ trồng, do chế độ canh tác không hợp lý, đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh, bạc
màu cho nên năng suất cây trồng rất thấp, không đem lại hiệu quả canh tác, từ đó
đất bị bỏ hoang, biến thành bãi chăn thả trõu bũ, không Có chủ quản lý.
Khi thảm rừng tràm che phủ không cũng nữa, quá trình cát bay vào mùa
nắng, khô hạn, cát nhảy cát trôi vào mùa mưa đó mang cát từ hai cồn cát cao phớa
Đông và Tõy lấp dần tròng Trảng Chỏy và biến vùng đất này thành hoang mạc Có
dạng như ngày nay.
Môc Tiêu mô hình đặt ra là xõy dựng mô hình kinh tế sinh thái nông lâm kết
hợp qui mô cộng đồng nhằm kiểm soỏt, ngăn ngừa hiện tượng hoang mạc hóa;
biến vùng đất hoang hóa thành một vùng đất sống với các đai rừng phòng hộ chống
cát bay, cát chảy; đa dạng hóa cây trồng phù hợp với khả năng cung cấp nước của
khu vực, nâng cao tính ổn định và hiệu quả kinh tế của việc sử dông đất đai; từng
bước cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong vùng, hạn
chế tình trạng di dân bỏ hoang hóa đất.
Mô hình thực hiện trên nguyờn tắc dựa vào dân, thuyết phôc và tạo mọi điều
kiện để người dân tham gia các hoạt động của chương trình dự ỏn. Hộ nông dân Có
lao động là đơn vị cơ bản thực hiện mô hình. Họ được cấp và giao quyền sử dông
đất lâu dài (20 - 30 năm) nhằm phát triển sản xuất gắn liền với công tác cải tạo đất.


45
Diện tích đất của mỗi hộ được quy hoạch: đất dành cho sản xuất nông nghiệp
chiếm 55- 60%, cây lâm nghiệp và cơ sở hạ tầng khoảng 40-45%.
Mô hình được xõy dựng trên diện tích 35 ha ở khu vực cồn cát hoang hóa
Trảng Chỏy với 22 hộ tham gia với vị trớ liền kề. Diện tích đất của mỗi hộ từ 1,5 -
1,6 ha; kích thước: (70 - 80) x 200m. Xung quanh mô hình Có hàng rào bảo vệ và
đai rừng phòng hộ với chiều rộng tổng cộng 37m. Ngoài ra, cũng xõy dựng hệ
thống mương Tiêu nước và đường đi chung rộng 10m, nối với đường liên xóm.
Trong quá trình tham gia mô hình, các chủ hộ đó được hướng dẫn trồng các
loại cây như điền thanh, khoai lang, cây họ đậu để bổ sung chất hữu cơ cho đất.
Sau đó, lựa chọn cây Có tác dông chắn cát, chắn gió như các cây bản địa (dứa dại,
xương rồng, tràm gió, bời lời, chọi) và tre... kết hợp với keo tràm hoa vàng là loại
cây đó được trồng thử nghiệm và phát triển tốt trên các vùng cát lân cận. Những
cây này thích hợp với điều kiện của vùng cồn cát, chịu được đất xấu, nghèo dinh
dưỡng, khô hạn, đồng thời đỏp ứng môc đớch bảo vệ môi trường và lợi ớch kinh
tế.
Ngoài ra, một lợi thế của vùng là Có mực nước ngầm khỏ nông nên Có thể sử
dông giếng đào để cung cấp nước tưới, kết hợp tưới nhỏ giọt. Phương pháp này Có
thể áp dụng thuận tiện cho mô hình và tiết kiệm sức tưới, tiền điện cho nông hộ. Ở
khu vực Trảng Chỏy Có quy hoạch hệ thống mương Tiêu cộng đồng, do vậy xung
quanh mương Tiêu trồng cây dứa dại để hạn chế cát lấp.
Kết quả đạt được từ mô hình về kinh tế và môi trường
Vùng cát ven biển Hà Tĩnh núi chung và xóm Thạch Đỉnh núi riờng, mặc dự
là vùng thừa ẩm nhưng hội tô đủ các yếu tố tự nhiên và nhân tạo để hình thành
kiểu hoang mạc cát ven biển với thảm cây bôi. Trảng Chỏy là vùng đất đặc trưng
của kiểu hoang mạc này. Sau một quá trình thực hiện mô hình đó đem lại hiệu quả
rừ rệt:
- Cây lâm nghiệp (keo các loại và cây bản địa) đạt độ cao Trong Bình 3 -
3,5m, cá biệt đến 4m. Đường kớnh cây là 50 -80cm.
- Cây nông nghiệp ngắn ngày cho thu hoạch: lạc 1-1,2 tấn/ha, dưa hấu Thái
Lan 0,8-1,1 tấn/ha, bầu bớ 1-1,3 tấn/ha với giỏ bỏn tại địa phương: lạc 7.000 -


46
8.000đ/kg, dưa hấu 2.500 - 3.000đ/kg và các sản phẩm khác gúp phần cải thiện đời
sống cư dân.




47
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản