Bài học" lấy dân làm gốc"

Chia sẻ: thanhacma

Bài học “Lấy dân làm gốc” để xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ CNXH đã ghi: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính người dân là người làm nên thắng lợị lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài học" lấy dân làm gốc"

Chuyên đề 10:
Bài học “Lấy dân làm gốc” để xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Bài học “Lấy dân làm gốc” để xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ CNXH đã ghi: “Sự nghiệp cách
mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính người dân là người làm nên
thắng lợị lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện
vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với
nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không
lường được đối với vận mệnh của đất nước”.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay phần mở đầu đã nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản
Việt Nam là Đảng cầm quyền. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xây dựng Đảng”.
Trang Di chúc bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta và nhân dân ta,
Người đặc biệt nhấn mạnh, tăng cường quan hệ giữa Đảng với nhân dân: "Đảng ta đã
đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan niệm sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch
sử và mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Người không chỉ khẳng định
dân là gốc của nước, mà còn tôn vinh nhân dân: ''Trong bầu trời không có gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đòan kết của nhân dân''.
Người còn nói, nhân dân là người xây dựng, là người đổi mới, làm nên sự nghiệp lớn,
mọi quyền hành và lực lượng đều ở nhân dân.

Quán triệt Điều lệ Đảng và thấm nhuần sâu sắc Tư tưởng Hồ Chí Minh về ''Lấy dân
làm gốc'', chúng ta càng thấm thía rằng: Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, nếu
Đảng xa dân, tách khỏi dân thì Đảng không thể tồn tại được. Không có sự tham gia giám
sát của nhân dân thì cán bộ, đảng viên dễ trở thành "ông quan'', ''bà quan" cách mạng chứ
khó trở lên ''Người lãnh đạo, Người đầy tớ trung thành của nhân dân". Không có sự giám
sát chặt chẽ của quần chúng nhân dân thì tổ chức Đảng khó tránh khỏi tệ quan liêu -
một trong những nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền, biến sứ mệnh cầm quyền cao cả
của Đảng thành ''Đảng lạm quyền", thậm chí còn dẫn đến thoái hóa, biến chất. Do vậy,
sự giám sát cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng của nhân dân trong việc xây dựng, chỉnh
đốn Đảng hiện nay đang trở nên bức bách và có ý nghĩa sống còn của Đảng ta. Đó là bài
học ''Lấy dân làm gốc" để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Lịch sử đã từng chứng minh, một chế độ chính trị - xã hội chỉ tồn tại được khi nào có
khả năng tập hợp, đoàn kết được quảng đại quần chúng nhân dân. Trong những giai
đoạn cách mạng trước, sở dĩ Đảng ta luôn luôn giữ vững được vai trò lãnh đạo của
mình, bởi nhờ có sự ủng hộ, che chở, bảo vệ của nhân dân. Ngày nay, đứng trước cuộc
đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội, trước hết là làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ
máy Nhà nước, khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa đạo đức, phẩm chất
của một bộ phận cán bộ, đảng viên chỉ có thể thực hiện đạt hiệu quả khi nào các tổ
chức đảng, các cấp ủy đảng thực sự tin ở dân, dựa vào sự tham gia kiểm tra, giám sát
của nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tham gia giám sát cán bộ, đảng viên và tổ
chức dảng còn là quyền và nghĩa vụ của nhân dân đối với Đảng. Đối với một Đảng
cầm quyền, Đảng có sứ mệnh lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội tiến
hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Do đó, toàn bộ cuộc sống từ
vật chất đến tinh thần, văn hóa của mỗi người dân trong xã hội đều gắn với sự lãnh
đạo của Đảng. Tổ chức đảng có trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên có tiên
phong gương mẫu thì mới bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng thực hiện thành công sự
nghiệp đổi mới đất nước, và cũng nhờ đó mà cuộc sống của nhân dân được đảm bảo,
cải thiện và nâng cao. Trái lại, cán bộ, đảng viên tiêu cực, tha hóa, tổ chức đảng không
trong sạch, vững mạnh thì không chỉ làm cho tổ chức đảng bị rệu rã, dẫn đến mắc sai
lầm, thất bại mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống, cuộc sống của nhân
dân. Do vậy mà việc giám sát cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng vừa là một quyền cơ bản
không thể thiếu của công dân, vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm vẻ vang của nhân dân đối
với Đảng. Nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng là một nội dung về
quyền làm chủ của nhân dân nhằm xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch,
vững mạnh và từ đó cũng nhằm bảo vệ lợi ích thiết thân, chính đáng, hợp pháp của nhân
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dân chủ là bản chất của chế độ và của Đảng ta. Bác
Hồ đã khẳng định: ''Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị
của toàn dân... Làm cho mọi công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý Nhà nước".

76 năm qua, chính nhờ bắt rễ sâu rộng trong quần chúng, đường lối chính trị được lòng
dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, cho nên Đảng và nhân dân ta đã kết thành một
khối vững chắc, quan hệ máu thịt với nhân dân là cội nguồn sức mạnh to lớn của Đảng
ta. Ở đâu và lúc nào, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thường xuyên chăm lo lợi ích của
nhân dân, sống đồng cam cộng khổ với dân, mọi việc làm đều vì lợi ích của dân, thì ở
đó Đảng và dân có mối quan hệ tốt đẹp; cán bộ, đảng viên được dân tin, dân phục, dân
theo. Trái lại, ở đâu và lúc nào tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên xa dân, quay lưng lại với
dân, quan liêu, thậm chí trù dập, ức hiếp dân thì ở đó sẽ bị dân oán ghét, chê trách, bất
hợp tác. Qua 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, với việc phát triển kinh tế - xã hội,
cải thiện đời sống, mở mang dân trí, dân chủ trong xã hội, Đảng ta ngày càng củng cố
được niềm tin của nhân dân, khơi dậy được những tiềm năng, tạo ra được những nguồn
sinh lực của cách mạng. Ý Đảng, lòng dân là sức mạnh vô tận.

Bài học "Lấy dân làm gốc" để xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành đồng bộ
trên nhiều mặt cả về kinh tế, chính trị, tư tưởng... để cùng tác động đến đời sống, tâm
lý, tư tưởng các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự chuyển biến tích cực trong thái độ, tình
cảm, tâm lý, ý thức của từng người dân. Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, dân chủ XHCN được
củng cố, mở rộng; tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực bị ngăn chặn và đẩy lùi; Đảng
vững mạnh, nâng cao được sức chiến đấu, bộ máy nhà nước trong sạch, thật sự của
dân, do dân, vì dân, nâng cao được hiệu lực quản lý, thì sẽ được lòng dân. Đảng vì dân,
dân tin ở Đảng, ra sức góp phần xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước,
bảo vệ chế độ XHCN của chúng ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm lấy dân làm gốc
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước lấy dân làm gốc; Gốc có vững, cây
mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Người rất tâm đắc với câu nói dân
gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần
gũi dân, và biết dựa vào dân; Phải có ý thức rõ “dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái,
rất anh hùng”. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng
thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối
đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là
cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu
không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì
ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”.

Theo Hồ Chí Minh phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của
dân là cốt lõi của vấn đề dân là gốc. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ,
tức là nhân dân làm chủ”. Vậy quyền hạn, nghĩa vụ của người làm chủ phải thế nào?
Câu trả lời của Người là: “Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không
phải là chửi”. Và người yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công
dân, tức là phải tuân theo pháp luật Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự
chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ Quốc. “Phải chăm lo
việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi
chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn,
làm bao nhiêu thì làm”.

Theo Hồ Chí Minh, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên
chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới
những câu của người xưa “có thực với vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người
nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách
của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân: “Nếu dân đói, Đảng
và Chính phủ có lỗi. Nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân dốt là Đảng và
Chính phủ có lỗi. Nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện.
Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí
Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng
hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái làm trung
kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém
lên. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt
theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào
sai” để vận dụng.

Một sự kiện được nhiều người nhắc tới là tháng 10/1949 khi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo Dân vận.
Người diễn đạt rất khái quát: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều
của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Công việc đổi
mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc
của dân. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành
và lực lượng đều ở nơi dân. Quan điểm của Người thật rõ ràng: Nhà nước ta là Nhà
nước của dân, do dân, vì dân.

Điều mà cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh nung nấu trăn trở là vấn đề thực hiện dân
chủ với dân; làm thế nào để nhân dân “biết dùng quyền dân chủ” và “hưởng quyền dân
chủ”. Ngày 6/1/1946, chỉ bốn tháng sau khi khai sinh nền Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ
lâm thời do Người đứng đầu đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bình
đẳng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Tháng 11/1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2
đã thông qua bản Hiến pháp do Người chỉ đạo soạn thảo. Nhà nước dân chủ, pháp
quyền từ ý tưởng của Người đã dần dần trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam.
Quan điểm của Người trong những sự kiện lịch sử này rất mẫu mực, rõ ràng: “Tổng
tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để
gánh vác công việc nước nhà”, “Hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có
quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước của dân còn bao hàm việc dân có quyền bãi miễn
Chính phủ và nhân viên chính quyền Nhà nước các cấp, nếu họ có tư tưởng hoặc việc
làm có hại đến nhà nước, hại đến dân.

Nhà nước Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập là Nhà nước kiểu mới: Nhà
nước của dân. Sức mạnh và sự trường tồn của nhà nước bắt nguồn từ lực lượng toàn
dân đoàn kết, với tinh thần làm chủ - tự chủ. Bởi thế nhà nước ta còn là nhà nước do
dân. Bác viết: “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”,
“Không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong”; “Vậy
nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, [Nhà nước của dân, do dân phải được thể hiện ở các chủ
trương, chính sách của nhà nước trong mọi mặt đời sống xã hội là vì dân. Ngay sau khi
nước nhà dành được độc lập, Người nói rõ: “… nếu nước độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhân dân đã và sẽ mãi mãi là người
làm nên lịch sử. Thực hiện tốt Di huấn của Bác về lấy dân làm gốc, chắc chắn bộ máy
Nhà nước ta sẽ “chạy” đều, hiệu quả quản lý điều hành chắc chắn có hiệu lực cao. Đó
là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn./.
Lấy dân làm gốc để xây dựng Đảng vững mạnh
Là một xã thuần nông của huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế, do vậy vấn
đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cải tạo, quy hoạch vườn tạp..., để phát
triển kinh tế luôn được lãnh đạo nơi đây trăn trở. Năm 2003, Phú Sơn đã đưa
92,85% diện tích gieo cấy giống lúa cấp 1 vào đồng ruộng; trồng 34,5 ha sắn kết
hợp với 6,5 ha lạc; lập 20,5 ha vườn trồng xoài, nhãn...
Bên cạnh đó, với kế hoạch chuyển diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang đào ao
thả cá, toàn xã hiện có 15 hồ nuôi với diện tích 1,2 ha, giúp bà con cải thiện bữa ăn, gia
đình có thêm nguồn thu.

Đời sống của nhân dân Phú Sơn đang ngày được cải thiện rõ rệt. Tính đến đầu năm
2004, toàn xã đã không còn hộ đói, hộ nghèo giảm từ 41% (2002) còn 31,5 %; 80% hộ có
nhà kiên cố và bán kiên cố; 95,55% hộ có điện thắp sáng; Công tác giáo dục được quan
tâm và đang từng bước được nâng lên ở cả chất lượng đào tạo và điều kiện trường lớp,
trang thiết bị dạy học. Tình hình trật tự trị an trên địa bàn xã cũng được giữ vững, ổn
định...

Từ một xã nghèo, lãnh đạo xã Phú Sơn đã biết khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần
đoàn kết của người dân để cùng xây dựng quê hương ngày một vững mạnh. Trong
những năm qua, chi bộ Đảng Phú Sơn đã rất chú trọng và nỗ lực trong công tác xây dựng
Đảng, coi công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh là động lực quan trọng
nhất để phát triển xã nhà trên mọi lĩnh vực.

Chi bộ Phú Sơn một mặt đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các đảng viên không
ngừng học tập, bồi dưỡng thêm trình độ lý luận chính trị, làm tốt công tác tư tưởng; mặt
khác yêu cầu thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo niềm tin trong lòng
dân. Hiện tại, trong chi bộ có 5 đồng chí đang theo học lớp quản lý nông nghiệp, kế toán
(hệ đại học). Trong công tác phát triển đảng viên, năm qua, có 9 quần chúng ưu tú được
xã gởi đi bồi dưỡng chính trị và trong số đó đã kết nạp được 3 đồng chí vào hàng ngũ
của Đảng, xóa được tình trạng thôn ''trắng''về đảng viên.

''Chúng tôi lấy dân làm gốc để xây dựng Đảng vững mạnh" là khẳng định của đồng chí
Phan Viết Giáo - Bí thư chi bộ xã Phú Sơn. Thực hiện đúng nội dung Quy chế dân chủ
tại cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp
đến quyền lợi của người dân đều được chi bộ công khai trước dân, từ mức đóng góp
cho cácnguồn quỹ AN-QP, quỹ đền đáp, góp công của cho các công trình xây dựng cơ
bản...đến việc phân cấp đất đai cho các hộ gia đình... Ngay cả trong quá trình phát triển
đảng viên, chi bộ phải thông qua ý kiến ủng hộ quần chúng ưu tú của đa số nhân dân sở
tại.

Để hiểu được những tâm tư, nguyện vọng của bà con, chi bộ xã Phú Sơn đã thành lập
Ban Dân vận với thành viên là những đảng viên ưu tú. Định kỳ, Ban Dân vận có những
buổi tham gia sinh hoạt trực tiếp với dân, để vừa phổ biến nội dung những chủ trương,
chính sách của Đảng đến bà con, vừa lắng nghe sự phản ánh từ phía nhân dân, kịp thời
sửa đổi những bất cập trong chỉ đạo, chấn chỉnh tư cách những đảng viên chưa gương
mẫu...Nhờ vậy, những chương trình hành động của Phú Sơn trong mọi lĩnh vực đều
thống nhất với tinh thần tự nguyện của bà con rất cao. Trong một tương lai không xa,
trên nền tảng đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, Phú Sơn sẽ thoát khỏi sự nghèo khó,
tiến lên lớn mạnh mọi mặt.
Phát huy truyền thống “Lấy dân làm gốc” trong xây dựng, củng cố nền quốc
phòng toàn dân hiện nay
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, "Lấy dân làm gốc" là truyền
thống văn hoá chính trị của các nhà lãnh đạo, cầm quyền một lòng vì dân, vì nước.
Nó thể hiện nhất quán tư tưởng : dân là nước, còn dân thì còn nước. Đất nước có
tạm thời bị giặc ngoại xâm chiếm đóng, nhưng làng không mất, dân không mất (mất
nước, không mất làng) thì nhân dân sẽ đứng lên đấu tranh, đất nước nhất định sẽ
được khôi phục trong độc lập, tự do.

Các triều đại phong kiến Việt Nam độc lập trong lịch sử đều "Lấy dân làm gốc" trong
việc ban hành các chủ trương, chính sách, từ kinh tế, xã hội, văn hoá, luật pháp đến an
ninh, quốc phòng, ngoại giao... Triều Khúc Thừa Dụ có chính sách "Khoan, giản, an,
lạc"; triều Lý có chính sách "Ngụ binh ư nông"; triều Trần có "Khoan, thư sức dân" ,
"Chúng chí thành thành" và nổi tiếng với Hội nghị Diên Hồng; triều Lê quan niệm "Dân
như nước có thể đẩy thuyền, lật thuyền", nên vai trò, vị trí người dân được luật hoá
trong Bộ luật Hồng Đức. Căn cứ vào thực tiễn lịch sử, nhà sử học Ngô Sĩ Liên (thời Lê)
tổng luận, các triều đại đó đã "Lấy nghĩa mà duy trì, lấy nhân để cố kết, lấy trí để trông
coi, lấy tín để ngăn phòng. Có đặt dân lên chốn chiếu êm mới làm cho thế nước vững
như núi Thái Sơn, bàn thạch. Chăm lo cho nước trở nên văn minh, dân đến chỗ giàu
thịnh là mưu hay trị dân, giữ nước; là kế xa sửa nước, chăn dân". Trong tập "Nước Việt
Nam từ cội nguồn xa xưa đến ngày nay" của Giáo sư, Tiến sĩ Pi-e Ri-sa Fe-ray, Giám
đốc Trung tâm nghiên cứu và sưu tầm về Á Đông ngày nay (CERAC) của nước Pháp,
trong chương I nhan đề " Nước Việt Nam cổ xưa hay sự chinh phục của tính cách Việt
Nam" có một đoạn viết khá hấp dẫn về nhà Lê và nhà văn hoá Nguyễn Trãi:" Triều đại
nhà Lê (Lê sơ, 1428 -1527) do một chủ đất bình thường là Lê Lợi sáng lập. Ông trở
thành Hoàng đế dưới danh hiệu Lê Thái Tổ (1428-1433), được một nhà nho, nhà văn,
nhà chiến lược, nhà chính khách tài ba là Nguyễn Trãi giúp đỡ. Lê Lợi đã điều hành một
cuộc chiến tranh giải phóng quốc gia thật mẫu mực, cho đến ngày nay, triều đại ông lập
nên vẫn còn là một trong những triều đại được hâm mộ và có tiếng tăm lừng lẫy nhất.
Nhưng các vua Lê còn làm được những việc hơn thế nữa, bằng Bộ luật Hồng Đức do
vua Lê Thánh Tông (1470 - 1497) soạn thảo, các vua Lê đã thể nghiệm và xác định được
vị trí "con người Việt" trong tổng thể các mối quan hệ xã hội". Cụ thể, Bộ luật Hồng
Đức đã thể hiện sâu sắc tư tưởng "Lấy dân làm gốc" của dân tộc ta, trong "Điều 294:
Trong kinh thành và phường ngõ, làng xóm có kẻ ốm đau mà không ai nuôi, nằm ở
đường xá, cầu điếm, chùa quán thì xã quan ở đó phải dựng lều lên mà chăm sóc họ cơm
cháo, thuốc men, cốt sao cứu sống họ. Nếu không may mà họ chết thì phải trình quan
trên và tổ chức chôn cất, không được để lộ thi hài. Nếu phạm tội này thì quan làng xã bị
tội biếm hay bãi chức". Tính chất nhân đạo - "Lấy dân làm gốc" được nêu trong điều
này của Bộ luật Hồng Đức chỉ xuất hiện ở châu Âu mấy thế kỷ sau đó, khi nổ ra cách
mạng tư sản .

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp tính nhân văn của chủ nghĩa cộng sản với
tinh hoa truyền thống "Lấy dân làm gốc" của dân tộc, đưa nhân dân lên vị trí làm chủ
trong tiến trình cách mạng. Từ chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm đến chống các
tệ nạn "làm quan cách mạng", bệnh quan liêu, quân phiệt, tham nhũng, tư túi, bè cánh, xa
rời quần chúng... Đặc biệt, truyền thống "Lấy dân làm gốc" được xác định là cơ sở của
tư tưởng cách mạng và là nền tảng tư tưởng quân sự, quốc phòng của Hồ Chí Minh và
Đảng ta. Trong những bài giảng để đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ( xuất bản
năm 1927 thành tập "Đường cách mệnh"), so sánh với những cuộc cách mạng đã nổ ra
trên thế giới, Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu "Làm cách mệnh đến nơi", "Cách mệnh
rồi thì giao cho quần chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người... tức là dân
chúng được hưởng cái tự do, bình đẳng thật". Trong những vấn đề then chốt nhất của
cách mạng, Người khẳng định "Phải theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phải có Đảng vững
bền và phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc" và "Cách mệnh là việc chung của dân
chúng chứ không phải việc của một, hai người... Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng
ống nào cũng không chống nổi". Khi đã giành được chính quyền, tư tưởng chỉ đạo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bảo vệ chính quyền cách mạng, chẳng những đã kế thừa
được truyền thống "Lấy dân làm gốc" của dân tộc mà còn tạo mọi điều kiện để thực sự
đưa nhân dân lao động lên vị trí làm chủ đất nước: "Anh em phải làm sao cho dân yêu,
mến. Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là
nhờ ở dân hết..." và "Nước lấy dân làm gốc. Trong cuộc kháng chiến kiến quốc, lực
lượng chính là ở dân. Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân".
Sau kháng chiến chống Pháp thành công, cách mạng Việt Nam tiến hành hai nhiệm vụ
chiến lược: xây dựng CNXH trên miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ý thức làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và coi phục vụ nhân dân là tốt đẹp,
vẻ vang nhất: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có
gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ
vang bằng phục vụ nhân dân". Tin tưởng vô bờ vào sức mạnh của nhân dân, không
ngừng động viên, giáo dục, tổ chức nhân dân làm cách mạng để đem lại độc lập, tự do
cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân là sự nghiệp cao cả mà Chủ tịch Hồ Chí Minh
suốt đời theo đuổi, đã đem lại cho đất nước, cho dân tộc những thành qủa chưa từng có
trong lịch sử.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của toàn dân ta đã cú những
thuận lợi mới, thời cơ mới, thực lực và sức mạnh mới, đưa dân tộc lên vị thế chưa từng
có. Bạn bè tăng lên, thù giảm bớt, đói nghèo lạc hậu từng bước được đẩy lùi, đời sống
vật chất, tinh thần, văn hoá không ngừng được cải thiện. "Lấy dân làm gốc" ngày nay
được kế thừa và phát huy trong điều kiện, vẫn đất nước mình, dân tộc mình, nhưng kết
cấu dân cư, thành phần giai cấp, xã hội đã có nhiều đổi mới. Do đó, phải phát huy được
hiệu quả của mọi thành phần kinh tế, trờn co s? bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
trong cuộc trường chinh chống đói nghèo và lạc hậu, phát huy được sức mạnh Việt
Nam, trí tuệ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước, vì mục tiêu "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Truyền thống "Lấy dân làm gốc", hơn lúc
nào hết, cần được kế thừa và phát triển một cách sáng tạo trong xây dựng, củng cố nền
quốc phòng toàn dân vững chắc để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới. Quốc phòng ngày nay không chỉ là hoạt động chuẩn bị đối phó với chiến
tranh mà trước hết là hoạt động đẩy lùi và ngăn chặn chiến tranh, tạo môi trường thuận
lợi cho việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Hơn lúc nào hết, cần làm cho mỗi người
dân nâng cao ý thức quốc phòng, thực sự chăm lo, góp phần xây dựng, củng cố sức
mạnh quốc phòng toàn dân. Muốn vậy, phải tạo dựng được "Thế trận lòng dân" vững
chắc.
Thực tế cho thấy, nơi nào nhân dân phấn khởi, tin tưởng ở lãnh đạo thì mọi việc ở nơi
đó thành công, nơi nào để cho nhân dân bất bình, mất lòng tin ở lãnh đạo thì nơi ấy tình
hình không ổn định, luôn luôn có diễn biến phức tạp. Mặt khác, những nơi có cơ sở
chính trị yếu kém, vai trò lãnh đạo bị buông lỏng, không nắm được quần chúng, lòng dân
không yên, mất niềm tin... thì các thế lực thù địch sẽ tranh thủ lôi kéo, kích động, chia rẽ
nhân dân, tạo nên những vụ, việc phức tạp gây mất ổn định chính trị. Không thế trận
nào vững mạnh bằng "Thế trận lòng dân", tạo dựng được "Thế trận lòng dân" vững
chắc là nhân tố quyết định sức mạnh quốc phòng hiện nay. Để có thế trận đó, trước hết
phải đẩy mạnh nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng - nhân tố quyết định
của mọi thắng lợi và trực tiếp tạo ra sức mạnh quốc phòng, trong đó có tiềm lực cơ bản
là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cùng với đó, phải đẩy nhanh phát triển
kinh tế - xã hội, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để không ngừng tăng tích luỹ tiềm lực
quốc phòng. Trước mắt, tập trung đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, chăm lo cải thiện,
nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng. Đi đôi với phát triển kinh
tế -xã hội, thường xuyên coi trọng công tác giáo dục quốc phòng, nâng cao lòng yêu
nước, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc XHCN cho toàn dân. Cần làm cho mỗi người
thấy, với tình hình thế giới, khu vực và trong nước hiện nay, nếu ta giữ được sự ổn định
từ trong Đảng, trong nước, trong nội bộ chế độ thì các thế lực thù địch bên trong cũng
không dễ gì gây ra đảo lộn lớn, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp. Trong bất kể tình huống
nào, kế thừa và phát huy truyền thống "Lấy dân làm gốc", với quan điểm "Dân thực sự
là người làm chủ". Xét trên góc độ an ninh - quốc phòng, ta phải chủ động phòng ngừa,
đồng thời bảo đảm xử lý kịp thời, kiên quyết, khẩn trương, khôn khéo, nhanh gọn các
tình huống phức tạp, thì dù nó đã xảy ra cũng không thể lan rộng, kéo dài. Sự chủ quan
đối với các nguy cơ và tệ nạn nội sinh dễ tạo ra những hậu quả xấu, có thể dẫn đến
bất ngờ về chiến lược. Đó là bài học sâu sắc của nhiều nước XHCN vừa qua.

Tạo lập được "Thế trận lòng dân" chính là xây móng, dựng nền để xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân vững chắc và lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Đó là sự
liên kết chặt chẽ thế trận của các lĩnh vực, các ngành, được thể hiện trong mối quan hệ
cụ thể song phương và đa phương, như kết hợp quốc phòng với an ninh, quốc phòng với
kinh tế, an ninh với đối ngoại hoặc kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh và quốc
phòng - an ninh với đối ngoại; kết hợp thế trận chung trên phạm vi toàn quốc với thế
trận ở từng địa phương, từng cơ sở; kết hợp thế trận tại chỗ với thế trận cơ động; kết
hợp thế trận trong nước với thế trận ngoài nước; thế trận thời bình với thế trận thời
chiến; thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận chiến tranh nhân dân. Thế trận quốc
phòng toàn dân là thể hiện sự liên kết toàn diện trong mọi ngành nghề, mọi tầng lớp
nhân dân... nhằm phát huy mọi khả năng tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất, đáp ứng
kịp thời mọi tình huống, cả trong thời bình và thời chiến. Xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân vững mạnh, bao gồm các thứ quân, cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân
quân, tự vệ. Trong đó phải tập trung xây dựng quân đội nhân dân "cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại", có lực lượng dự bị hùng hậu, lực lượng thường trực
với chất lượng tinh, số lượng hợp lý, thực sự là nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng, củng
cố quốc phòng và cho toàn dân chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Để lực
lượng vũ trang nhân dân có sức mạnh tổng hợp, cần phải xây dựng toàn diện; trong đó
hết sức coi trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, xây dựng lòng trung thành vô hạn đối với
Đảng, với chế độ, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân là chủ thể của đất nước, nền quốc phòng toàn dân chỉ thực
vững chắc khi được kết hợp từ nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực từ nhân dân là vô
tận. Trong điều kiện hiện nay, khi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN có những phát
triển mới, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày một cao thì càng phải biết
dựa vào dân, phát huy nguồn lực to lớn từ nhân dân. Phải nghiên cứu, cân nhắc xã hội
hoá một số nội dung của xây dựng nền quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Vừa qua, một số địa phương đã thực hiện xã hội hoá công tác quốc phòng khá hiệu quả,
như tham gia thực hiện chính sách, chế độ đối với dân quân, đóng góp kinh phí xây dựng
đường, mương, trạm điện.... kết hợp kinh tế và quốc phòng, xây dựng thế trận quốc
phòng. Trong thời gian tới, cần rút kinh nghiệm để đẩy mạnh hơn nữa theo hướng này.
Chỉ có như vậy, sự nghiệp quốc phòng mới thực sự là sự nghiệp của dân.

"Lấy dân làm gốc" là một truyền thống văn hóa chính trị, chính vì thế việc nâng cao
năng lực lãnh đạo của các cấp uỷ d?ng, từ Trung ương đến cơ sở, nâng cao năng lực
của đội ngũ cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị... là
điều kiện tiên quyết trong việc kế thừa và phát huy truyền thống này một cách có hiệu
quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, vào nhiệm vụ xây dựng,
củng cố nền quốc phòng toàn dân nói riêng.

Mô hình điển hình lấ dân làm gốc ở Thừa Thiên Huế

Lấy dân làm gốc để xây dựng Đảng vững mạnh - Là một xã thuần nông của huyện
Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế, do vậy vấn đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, cải tạo, quy hoạch vườn tạp..., để phát triển kinh tế luôn được lãnh đạo
nơi đây trăn trở. Năm 2003, Phú Sơn đã đưa 92,85% diện tích gieo cấy giống lúa cấp
1 vào đồng ruộng; trồng 34,5 ha sắn kết hợp với 6,5 ha lạc; lập 20,5 ha vườn trồng
xoài, nhãn...

Bên cạnh đó, với kế hoạch chuyển diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang đào ao
thả cá, toàn xã hiện có 15 hồ nuôi với diện tích 1,2 ha, giúp bà con cải thiện bữa ăn, gia
đình có thêm nguồn thu.

Đời sống của nhân dân Phú Sơn đang ngày được cải thiện rõ rệt. Tính đến đầu năm
2004, toàn xã đã không còn hộ đói, hộ nghèo giảm từ 41% (2002) còn 31,5 %; 80% hộ có
nhà kiên cố và bán kiên cố; 95,55% hộ có điện thắp sáng; Công tác giáo dục được quan
tâm và đang từng bước được nâng lên ở cả chất lượng đào tạo và điều kiện trường lớp,
trang thiết bị dạy học. Tình hình trật tự trị an trên địa bàn xã cũng được giữ vững, ổn
định...

Từ một xã nghèo, lãnh đạo xã Phú Sơn đã biết khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần
đoàn kết của người dân để cùng xây dựng quê hương ngày một vững mạnh. Trong
những năm qua, chi bộ Đảng Phú Sơn đã rất chú trọng và nỗ lực trong công tác xây dựng
Đảng, coi công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh là động lực quan trọng
nhất để phát triển xã nhà trên mọi lĩnh vực.

Chi bộ Phú Sơn một mặt đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các đảng viên không
ngừng học tập, bồi dưỡng thêm trình độ lý luận chính trị, làm tốt công tác tư tưởng; mặt
khác yêu cầu thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo niềm tin trong lòng
dân. Hiện tại, trong chi bộ có 5 đồng chí đang theo học lớp quản lý nông nghiệp, kế toán
(hệ đại học). Trong công tác phát triển đảng viên, năm qua, có 9 quần chúng ưu tú được
xã gởi đi bồi dưỡng chính trị và trong số đó đã kết nạp được 3 đồng chí vào hàng ngũ
của Đảng, xóa được tình trạng thôn ''trắng''về đảng viên.

''Chúng tôi lấy dân làm gốc để xây dựng Đảng vững mạnh" là khẳng định của đồng chí
Phan Viết Giáo - Bí thư chi bộ xã Phú Sơn. Thực hiện đúng nội dung Quy chế dân chủ
tại cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp
đến quyền lợi của người dân đều được chi bộ công khai trước dân, từ mức đóng góp
cho cácnguồn quỹ AN-QP, quỹ đền đáp, góp công của cho các công trình xây dựng cơ
bản...đến việc phân cấp đất đai cho các hộ gia đình... Ngay cả trong quá trình phát triển
đảng viên, chi bộ phải thông qua ý kiến ủng hộ quần chúng ưu tú của đa số nhân dân sở
tại.

Để hiểu được những tâm tư, nguyện vọng của bà con, chi bộ xã Phú Sơn đã thành lập
Ban Dân vận với thành viên là những đảng viên ưu tú. Định kỳ, Ban Dân vận có những
buổi tham gia sinh hoạt trực tiếp với dân, để vừa phổ biến nội dung những chủ trương,
chính sách của Đảng đến bà con, vừa lắng nghe sự phản ánh từ phía nhân dân, kịp thời
sửa đổi những bất cập trong chỉ đạo, chấn chỉnh tư cách những đảng viên chưa gương
mẫu...Nhờ vậy, những chương trình hành động của Phú Sơn trong mọi lĩnh vực đều
thống nhất với tinh thần tự nguyện của bà con rất cao. Trong một tương lai không xa,
trên nền tảng đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, Phú Sơn sẽ thoát khỏi sự nghèo khó,
tiến lên lớn mạnh mọi mặt.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản