Bài kiểm tra tư tưởng Hồ Chí Minh

Chia sẻ: nhung_pham112

Câu 1: Phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Với cương vị công tác hiện nay đồng chí đã làm gì để thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài kiểm tra tư tưởng Hồ Chí Minh

ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
---  ---




LỚP BỒI DƯỠNG ĐẢNG VIÊN MỚI KHÓA III – NĂM 2010




BµI KIÓM TRA

Họ và tên: Lê Đắc Nhường
Đơn vị: Chi bộ Khoa Toán Tin




THÁNG 09/2010
0
Câu 1: Phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Với cương vị công
tác hiện nay đồng chí đã làm gì để thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Trả lời:
Phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết
hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội trong bản chất của Đảng.
Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế
quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước
đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy khắp mọi miền đất nước, thu
hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến.
Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi
nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn
áp và thất bại.
Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên là yêu
cầu cơ bản, cấp bách. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong “tình hình
đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh
vác sứ mệnh trọng đại đó?
Nhưng rồi chính lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu
từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư
bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không
có người bóc lột người. Và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công
nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng
chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong
kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới, chi phối mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Chính vào thời điểm ấy Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra, mở đầu cho một xu thế mới của
lịch sử thế giới, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có
quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong
mảnh đất Việt Nam – nơi mà chính “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi;
chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa
thôi”. Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ

1
chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Vời kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa
Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển
hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc
gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng.
Đảng tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi
tới xã hội Cộng sản”. Một cách tự nhiên, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa Xã
hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam
chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi, từ đó dọc theo thế kỷ XX,
sang thế kỷ XXI, và tiếp tục đi cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có
chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành
gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất
cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người.
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng
và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp
với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu
cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và
nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị
cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.
Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ
phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa
không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và
chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về
tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp.
Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong việc giải quyết vấn đề độc lập theo
lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của
chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh
tế, văn hoá, đối ngoại; xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với
dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình
đẳng, công việc nội bộ quốc gia – dân tộc nào phải do quốc gia – dân tộc đó giải quyết,
không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân
tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ căn nguyên kinh tế

2
sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô
dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc
mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi
thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày
càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc
vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác
trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối
quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc
khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng
con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới
ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và
theo hệ giá trị đó, Đảng đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, tiến
hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra
thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên
thế giới.
Qua nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
Quốc, đặc biệt 15 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu
biểu bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tín độc
lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên
ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và trên thế giới.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là
cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của
dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh
thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay
và mai sau.
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng
thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc
biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, thì hệ giá trị độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc
bảo phù hợp với xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to
lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ Quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và
trên thế giới.

3
Để thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, với cương vị là một giảng viên của Trường Đại học Hải Phòng tôi tự nhận thấy:
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục có vị trí quan trọng, đó là nguồn sáng
soi đường cho giáo dục Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua và cả trong giai đoạn sắp tới.
Nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vấn đề rất phong phú,
hấp dẫn và lý thú. Cho đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu của nhiều tác giả
trong và ngoài nước viết về tư tưởng của Người về giáo dục. Mỗi công trình đều có sắc thái
riêng khi tiếp cận dưới những góc độ khác nhau nhưng đều đi đến khẳng định chung: Hồ
Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của Việt Nam, Người đã để lại một di sản tư tưởng rất
quý giá. Ngày nay chúng ta đang khai thác triệt để những tư tưởng đó để củng cố và phát
triển sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Trong kho tàng quý báu đó, có một vấn đề mà
người hết sức quan tâm, đó là, vai trò và phẩm chất của người thầy giáo nhân dân trong sự
nghiệp giáo dục.
Giáo dục là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn dân, nhưng người trực tiếp
thực hiện nhiệm vụ là nhà giáo. Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo
cán bộ cho nước nhà, là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hoá có trách
nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa
văn hoá của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lục
sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: " Không có
thầy giáo thì không có giáo dục...không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến
kinh tế - văn hoá". Cho nên trong mọi chương trình, mọi chính sách, tài liệu giáo khoa dù
hay đến đâu nếu không có thầy giáo tốt thì không có tác dụng gì với thế hệ trẻ. Người
nói:"Thời trước, giáo dục là gõ đầu trẻ để kiếm cơm....Bây giờ nhiệm vụ khác trước, các
cô, các chú có nhiệm vụ bồi dưỡng công dân... mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân
dân, phục vụ tổ quốc, đào tạo lớp người cán bộ mới".
Trong bài phát biểu tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội(10/1964) Người nói: "Có gì vẻ
vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa Xã
hội và Chủ nghĩa Cộng sản. người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy
vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song
những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang,
nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội được. Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang. Ai có ý kiến không đúng
về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa".
Bác Hồ của chúng ta đã từng làm thầy giáo nhiều năm, đã từng đào tạo nhiều thế hệ
cách mạng cho nên người rất hiểu công lao to lớn và thầm lặng của người thầy. Lúc còn là
thầy giáo Nguyễn Tất Thành, dạy ở trường Dục Thanh Người rất được học sinh yêu quý,

4
có thể nói đó là nghề đầu tiên trên bước đường đi tìm chân lý của người. Qua những năm
tháng ngắn ngủi trên đất Phan Thiết, Người đã chứng tỏ khả năng cũng như định hướng về
giáo dục, về vai trò của người thầy. Công lao vĩ đại đầu tiên của Người là đã thành lập tổ
chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, mở lớp đào tạo, rèn luyện cán bộ cho cách mạng
Việt Nam - Đội ngũ những con chim đầu đàn như Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng
Sơn....Trong điều kiện khó khăn, việc mở rộng lớp giảng dạy, từ khâu soạn bài, tổ chúc
thực hiện đều do Hồ chí Minh đảm nhiệm. Chất lượng hiệu quả, tầm quan trọng của sự
nghiệp giáo dục- đào tạo cán bộ đã được lịch sử kiểm nghiệm, chúng ta càng thấy được sự
vĩ đại của nhà giáo dục Hồ Chí Minh.
Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của người thầy giáo, Hồ Chí Minh đòi hỏi trước hết
người thầy giáo phải cải tạo tư tưởng bản thân mình: "Trước hết phải tẩy sạch ảnh hưởng
giáo dục nô dịch còn sót lại...và cần xây dựng tư tưởng dạy học để phục vụ tổ quốc, phục
vụ nhân dân".
Để xứng đáng với danh hiệu "Người kỹ sư tâm hồn","người chiến sĩ trên mặt trận tư
tưởng văn hoá, mỗi người thầy giáo phải không ngừng học tập trau dồi chuyên môn nghiệp
vụ và phẩm chất đạo đức cách mạng của nhà giáo, thực sự vừa "hồng" vừa "chuyên". Để
làm được như vậy thì "giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiện
vụ, chớ tự mãn cho mình giỏi rồi thì dừng lại mà dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, tự đào thải
mình trước. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo con em, cải tạo xãhội. Mà theo
Người cách cải tạo tốt nhất là học tập chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa Mác- Lênin là cơ
sở, tư tưởng của chế độ mới, là một khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên, xãhội
và tư duy, về sự thắng lợi của chủ nghĩa xãhội, về xây dựng chủ nghĩa cộng sản, là hệ tư
tưởng của giai cấp công nhân và Đảng cộng sản. Người thầy giáo cũng phải nắm được
những những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin để xây dựng nền giáo dục Việt Nam
theo phương châm "khoa học- dân tộc - đại chúng".
Để nâng cao chất lượng dạy và học - quán triệt quan điểm của Mác- Lênin "bản thân
nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục", Hồ Chí Minh cho rằng: "Người huấn luyện
phải học tập mãi thì mới làm tốt được công việc của mình- Người huấn luyện nào tự cho
mình là biết đủ cả rồi thì người đó là dốt nhất". Ngoài việc nhắc nhở về học tập chuyên
môn, Người cũng lưu ý một vấn đề hết sức quan trọng đó là học tập chính trị, vì "Có học
tập lý luận Mác- Lênin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường,
nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác Đảng giao phó".
Trong giáo dục học sinh, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến phương pháp giáo dục đạo đức.
Theo Người "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền". Thật
vậy, thầy cô giáo là những người đi khai sáng trí tuệ, mở mang tri thức, đem đến cho học
sinh một tâm hồn cao đẹp, lành mạnh, trong sáng và tiến bộ. Nếu không tích cực học tập

5
chủ nghĩa Mác- Lênin, thì không thể khai sáng được trí tuệ, không thể thắp sáng ngọn lửa
tâm hồn của học sinh. Người nói" Thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu".
Một hành vi xấu của người thầy có thể làm tổn thương, làm mất niềm tin cả một lớp người.
Ngược lại một tấm gương sáng của người thầy sẽ có cả một thế hệ noi theo. Người viết:"
Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng, nhuộm xanh thì nó sẽ xanh,
nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ, vì vậy sự học tập ở nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai
của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của nước nhà". Về quan hệ Thầy-
Trò, Hồ Chí Minh lưu ý phải có quan hệ dân chủ đúng đắn: "Trong trường cần có dân chủ,
đối với mọi vấn đề thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có vấn đề gì đều thật thà phát biểu,
điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt, dân chủ nhưng trò phải phải kính thầy,
thầy phải quý trò, chứ không phải "Cá đối bằng đầu".Trong quan hệ thầy trò phải có tính
hai chiều, phải tạo được tính dân chủ trong học tập nhưng không phải dân chủ quá trớn.
Người nhắc lại câu "giáo bất nhiêm, sư chi toạ", tức là dạy không nghiêm túc, không đến
nơi đến chốn là do thầy lười nhác. Vì vậy để nâng cao chất lượng của hoạt động dạy và học
thì thầy giáo phải rèn luyện mình thêm trong thực tiễn đấu tranh của xãhội, tiếp thu lấy chất
lượng sống ở đó mà truyền lại cho thế hệ trẻ: "Thầy giáo và học trò, tuỳ hoàn cảnh và khả
năng cần tham gia vào những công tác xãhội ích nước lợi dân, Những kiến thức thực tiễn
đó mới thật là dòng sữa ngọt lành nuôi dưỡng thế hệ đang lớn lên.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Đảng ta đã nhận thức rõ vị trí, vai trò
của giáo dục. Điều đó đã được Luật giáo dục khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu,
phát triển giáo dục là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển.
Về vai trò, phẩm chất của người giáo viên Văn kiện Hội nghị TWII khoá VIII của Đảng
đã chỉ rõ: "Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xãhội tôn vinh.
Giáo viên phải có đủ đức, tài...". Điều 16, Luật Giáo dục cũng quy định:: "Không truyền
bá tôn giáo, tiến hành các nghi thức tôn giáo trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ
thống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị- xã
hội,của lực lượng vũ trang nhân dân". Điều này đòi hỏi nhà giáo phải có thế giới quan Mác
- Lênin.
Vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên là vấn đề trọng tâm của ngành giáo dục, vì vậy
trong thời gian qua Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên như củng cố và nâng cấp trường học, đặc biệt là các trường sư phạm, có
chính sách thu hút học sinh giỏi vào ngành sư phạm, thực hiện chương trình bồi dưỡng
thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hoá nhằm nhanh chóng đảm bảo số lượng giáo viên, nâng
cao tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn, nâng cao phẩm chất và năng lực cho giáo viên. Vì vậy trong
những năm qua nền giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tuy vậy vẫn

6
chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Điều đó càng làm cho chúng ta thấy rằng,
cần phải quán triệt hơn nữa, vận dụng triệt để hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Hồ Chí Minh là nhà giáo dục kiệt xuất trong thời đại chúng ta, tư tưởng giáo dục của
Người đãvạch ra phương hướng cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục ở nưóc ta, đồng
thời phản ánh nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động là được đi học, phản ánh
quy luật khách quan của quá trình xây dựng và phát triển giáo dục là xác định đúng vị trí
của giáo dục và vị trí của giáo viên - người quyết định chất lượng đào tạo. Tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn mà trong đó còn
chứa đựng những lời khuyên rất chân thành, thiết thực của Người.
Cuộc vận động lớn của Đảng: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
là dịp để mỗi chúng ta thấm nhuần hơn tư tưởng của người, biết rõ và khâm phục hơn hơn
mỗi hành động, việc làm nhân nghĩa của người. Với tư cách là một người đồng nghiệp,
những người làm công tác giáo dục, tôi càng ra sức học tập và vận dụng thật tốt tư tưởng.
tấm gương đạo đức của Người để ngày càng vững vàng trên bục giảng, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ của mình góp phần xây dựng phát triển sự nghiệp cách mạng nói chung và sự
nghiệp giáo dục nói riêng.


Câu 2: Trình bày nội dung phấn đấu rèn luyện của người đảng viên trong giai đoạn
hiện nay. Liên hệ cụ thể theo nhiệm vụ, vị trí công tác hiện nay của đồng chí.

Trả lời

Nội dung phấn đấu rèn luyện của người đảng viên trong giai đoạn hiện nay
Trong giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam hiện nay, người đảng viên đứng trước
những đòi hỏi mới và nhiệm vụ mới. Đó là nhiệm vụ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội
chủ nghĩa; là yêu cầu giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện đổi
mới hệ thống chính trị, dân chủ hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; là
nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực.
Tình hình, nhiệm vụ đó đòi hỏi người đảng viên không thể như trước mà ngoài những
phẩm chất chung, cần có sự phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu mới
của sự nghiệp cách mạng.
1. Về lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị
Đảng viên phải kiên định lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, trung thành với
lý tưởng cộng sản, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ

7
chế độ Xã hội chủ nghĩa, vững vàng, không dao động trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào.
Cùng với việc thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, người đảng viên lúc này cần ủng hộ
nhân tố mới, tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng, chống các tiêu cực xã hội và
tệ nạn xã hội, phê phán những biểu hiện mơ hồ, cực đoan hay tư tưởng sai lệch.
Lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị của đảng viên lúc này được thể hiện là sự kiên
định những vấn đề về quan điểm có tính nguyên tắc mà Đảng ta đã đề ra. Đó là: Độc lập
dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa Xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta; Chủ
nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi
hành động của Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, không chấp nhận “đa nguyên, đa đảng”; Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do
dân và vì dân, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh của giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; tập trung dân
chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; kết hợp chủ
nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.
Là tiêu chuẩn hàng đầu của người đảng viên, lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị
được hình thành qua giáo dục và rèn luyện trong tổ chức của Đảng và đồng thời cũng là kết
quả của quá trình tích lũy vốn sống thực tiễn mà người đảng viên trải qua. Vốn sống ấy
chứa đựng cả tri thức và cả kinh nghiệm, bao quát những lĩnh vực hoạt động và những
quan hệ xã hội. Khi đã có vốn sống thực tiễn phong phú, kinh nghiệm dày dặn, cần có thêm
tri thức để phân tích, chắt lọc, khái quát thành giá trị, để có thể tổng kết những vấn đề thực
tiễn, phát triển lý luận, để không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như tình trạng tách
rời giữa lý luận và thực tiễn.
Xét về sự phát triển nhân cách của người đảng viên, mối quan hệ giữa vốn sống thực
tiễn và học vấn; giữa kinh nghiệm và lý luận, giữa lý thuyết và thực hành, nếu được xử lý
đúng đắn sẽ tạo nên cơ sở cho sự phát triển tính tích cực và sáng tạo của mỗi người. Người
đảng viên trong công cuộc đổi mới và con người mới được đào luyện trong sự nghiệp xây
dựng Chủ nghĩa Xã hội là con người có học thức, có tư duy khoa học, có tính tư tưởng cao;
đồng thời, cũng là con người thiết thực trong hành động. Phải tránh rơi vào những cực đối
lập sau đây làm cho con người không có sự phát triển lành mạnh về nhân cách: hoặc thô
thiển, thực dụng (sống và hành động tùy tiện, buông thả, chạy theo lợi ích vật chất); hoặc
lý thuyết suông, không phải con người hành động (do tách rời lý thuyết với kinh nghiệm
trong thực tiễn).
2. Về nhận thức, kiến thức, năng lực toàn diện thực hiện công cuộc đổi mới
Đổi mới là một cuộc vận động cách mạng toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh
vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến cơ chế quản lý, từ chế độ kinh tế đến hệ thống
chính trị… Đó là một quá trình khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có mô hình

8
định sẵn. Đổi mới đụng chạm đến rất nhiều vấn đề, phá vỡ nhiều cái cũ, trong khi có những
cái cũ đã tồn tại quá lâu, ăn sâu vào nếp nghĩ, cách làm, đã thành thói quen, thành cơ chế
chính sách rất khó sửa. Mặt khác, thế giới cũng đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ với
nhiều biến cố, nhiều cái cũ bị đảo lộn, nhiều vấn đề phức tạp mới được nảy sinh; trên một
số vấn đề, dường như rất khó phân biệt, khó kết luận đâu là phải trái, đâu là trắng đen để có
thể xử lý. Thời đại chúng ta là thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão,
thời đại tin học đạt nhiều thành tựu kỳ diệu, hằng ngày lượng thông tin ồ ạt dồn đến rất
nhanh và rất nhiều, đòi hỏi phải có trình độ thu nhận, phân tích và xử lý đúng đắn.
Rõ ràng, trong tình hình đó, nếu cán bộ đảng viên không có kiến thức, không có trình
độ nhất định về các mặt văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, pháp luật… thì không
thể có đủ năng lực để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, thậm chí còn phạm những sai lầm.
Vừa qua, không ít trường hợp đảng viên không phát huy được tác dụng, rơi vào tình trạng
“trung bình”, mất uy tín trước quần chúng, là do thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức. Đã qua rồi
cái thời hễ cứ là đảng viên, là cán bộ thì dường như có thể làm được mọi việc. Ngày nay,
mỗi người cộng sản chỉ có thể khẳng định vai trò lãnh đạo và uy tín của mình trong quần
chúng bằng sự kiên định, trí thông minh, sự hiểu biết và năng lực hoàn thành nhiệm vụ.
Để đạt tới năng lực trí tuệ và sáng tạo không thể không trau dồi học vấn và coi học tập
là trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ đạo đức của người đảng viên. Trong Đảng ta hiện nay,
trình độ học vấn của một bộ phận đảng viên còn rất thấp. Có không ít đảng viên, kể cả cán
bộ Đảng, còn thấp hơn quần chúng về học vấn, văn hóa. Đó là lực cản nội tại làm cho
Đảng gặp khó khăn trong công tác lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo giới trí thức và công tác
khoa học kỹ thuật.
Năng lực là một khái niệm đa nghĩa và nhiều cấp độ. Người đảng viên không chỉ là con
người hành động một cách chủ động, mà còn phải có năng lực làm việc, năng lực tổ chức
quản lý, năng lực giáo dục quần chúng, năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực giao tiếp, đối
thoại, tranh luận một cách dân chủ và có văn hóa. Những năng lực đó không có sẵn, không
hình thành tự động, ngẫu nhiên mà là kết quả của rèn luyện, học hỏi, tích lũy. Xuyên suốt
tất cả những năng lực đó là năng lực phê phán, tự phê phán, sự nhạy cảm, khả năng điều
chỉnh và thích ứng để thường xuyên tự đổi mới theo đúng quy luật. Yêu cầu này cần thiết
cho mọi đảng viên. Nó càng đặc biệt cần thiết đối với các đảng viên ở các cương vị lãnh
đạo, nhất là lãnh đạo cao cấp. Năng lực của người đảng viên ở cương vị này là năng lực
chiến lược, chung đúc trong đó cả tri thức, kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị, tài tổ chức và
thuyết phục. Đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về năng lực đó đối với các đảng viên và toàn
Đảng là một yêu cầu đặc biệt đối với Đảng lúc này.
3. Về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách


9
Để thúc đẩy công cuộc đổi mới tới những bước tiến và kết quả cụ thể theo quan điểm
thực tiễn, cần phải tổ chức việc giáo dục đạo đức trong Đảng và trong xã hội sao cho mỗi
người thấm nhuần sâu sắc rằng, đạo đức mới của những người tham gia đổi mới xã hội
là đạo đức hành động, đạo đức trong lao động, trong công việc, trong quan hệ với con
người, trong đấu tranh khắc phục mọi tệ nạn tha hóa để hướng tới sự cao đẹp, hướng tới
việc lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Đối với người đảng viên, chí phấn đấu cho cá nhân trở nên lương thiện, giữ gìn phẩm
chất cá nhân cho trong sạch là chưa đủ và chưa thể hiện tính tiên phong gương mẫu. Người
đảng viên không thể là người đứng ngoài cuộc đấu tranh loại trừ cái ác, thờ ơ và lảng tránh
trước sự hoành hành của cái ác trong đời sống. Đạo đức hành động đòi hỏi ở họ dũng khí
trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, ức hiếp quần chúng; bảo
vệ sự thật, chân lý, lẽ công bằng và các giá trị dân chủ xã hội vì lợi ích công dân và vì lợi
ích chung của xã hội. Dũng khí đó phải biểu hiện trong đấu tranh bảo vệ sự trong sạch,
vững vàng của Đảng, uy tín của Đảng đối với xã hội; đồng thời, còn biểu hiện trong đời
sống chính trị- xã hội, gắn liền mật thiết với các sinh hoạt của nhân dân, của xã hội, tích
cực bảo vệ pháp luật, kỷ cương, an ninh trật tự, luân lý đạo đức, văn hóa tinh thần và lối
sống lành mạnh của từng gia đình, từng tập thể đến toàn xã hội.
Không thể được coi là người có đạo đức, là người xứng đáng với danh hiệu đảng viên
nếu người đó chỉ làm tròn nhiệm vụ, bổn phận của mình trong cơ quan, trong tập thể chi
bộ, đảng bộ ở nơi làm việc, nhưng lại thờ ơ với các sinh hoạt công dân ở địa phương, trước
hết ở nơi cư trú. Càng chưa thể có đạo đức, nếu như mỗi đảng viên không góp phần vào
việc hình thành dư luận xã hội tích cực, phê phán cái tiêu cực, cái ác, cái xấu đang diễn ra
hằng ngày trong đời sống xã hội. trong thực tế, có thể xảy ra những trường hợp và tình
huống sau đây: Đảng viên không vi phạm pháp luật, nhưng không bộc lộ thái độ, quan
điểm mang tính phê phán đối với những hiện tượng phạm pháp hay lợi dụng kẽ hở trong
quản lý của nhà nước để làm điều sai trái; đảng viên không phạm pháp nhưng không hành
động, không đấu tranh với các hành vi phạm pháp, giữ an toàn cho riêng mình, nhưng để
mặc nhiên diễn ra sự tổn hại cho công dân khác, cho xã hội; đảng viên sống lương thiện,
nhưng không đủ dũng khí đấu tranh với mọi sự bất lương. Những biểu hiện đó, tuy là giữ
được mình nhưng lại thiếu tính chiến đấu cách mạng, có thể gọi là tình trạng bạc nhược về
chính trị và đạo đức, ích kỷ trong nhân cách.
Ở mức độ nặng hơn, lại có những cán bộ, đảng viên, thậm chí cả tổ chức đảng đứng ra
bao che cho những hành vi tội lỗi, không ngăn cản mà còn tham gia vào những hành động
tự phát, manh động, vô chính phủ của quần chúng do bị kích động hoặc kém giác ngộ. Lại
có những trường hợp đảng viên hoặc tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất ý chí chiến đấu, phó
mặc cho hoàn cảnh điều khiển khi những phần tử xấu xuyên tạc, công kích, bôi nhọ đảng

10
và chế độ. Thái độ dung túng, bao che hoặc đồng lõa, cũng như thái độ im lặng, bất động
như vậy là vô tình hoặc cố ý đồng lõa với tình trạng suy thoái đạo đức, tinh thần.
Tình hình đó cho thấy, để hình thành những lớp đảng viên có đạo đức tương xứng với
yêu cầu đổi mới, phải tiến hành hết sức công phu, tỷ mỷ việc giáo dục đạo đức và rèn luyện
các tính cách đạo đức thông qua việc làm, hành động; mà việc kiểm tra, đánh giá những
hoạt động đó không chỉ bằng các phương pháp và nguyên tắc của tổ chức đảng mà bằng cả
sự giám sát của toàn dân.
4. Về quan hệ với quần chúng nhân dân lao động
Đảng ta đã xác định chế độ chính trị của nước ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh vô địch của Đảng là mối liên hệ chặt chẽ với
quần chúng nhân dân. Đảng chủ trương phát huy dân chủ, coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa
là động lực của công cuộc đổi mới. Mỗi đảng viên, trước hết đảng viên là cán bộ lãnh đạo,
có chức có quyền, phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của dân, chăm lo đời sống
hằng ngày của quần chúng, tìm hiểu nguyện vọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng,
giúp đỡ quần chúng khi gặp khó khăn, kiên quyết đấu tranh chống bệnh quan liêu, mệnh
lệnh, gia trưởng, độc đoán, đặc quyền đặc lợi, trù dập ức hiếp quần chúng và mọi hành vi
vi phạm quyền làm chủ của dân. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, một yêu cầu rất cần
thiết đối với người đảng viên trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền. Nó quyết định sự
tín nhiệm của nhân dân đối với đảng viên. Không phải ngẫu nhiên khi còn sống, Bác Hồ
luôn luôn quan tâm đến vấn đề này, nói nhiều về vấn đề này. Người thường nhắc nhở cán
bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, trau dồi quan điểm và thái
độ đúng đắn đối với quần chúng, coi việc tôn trọng quần chúng, học hỏi quần chúng, có
quan hệ mật thiết với quần chúng là một vấn đề thuộc về phẩm chất, tư cách, đạo đức của
đảng viên.
Đương nhiên, trong quá trình phát huy dân chủ, phải chống thái độ theo đuôi quần
chúng, mị dân, dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan. Dân chủ phải đi đôi với kỷ luật và
pháp luật. Dân chủ không có nghĩa là tự do vô tổ chức, vô chính phủ.
Những vấn đề chủ yếu nêu trên không phải chỉ là biểu hiện hợp thời cuộc trong tiêu
chuẩn của đảng viên, là yêu cầu đặc biệt về năng lực hoạt động chính trị- thực tiễn của
người đảng viên, mà còn là sự khẳng định về bản lĩnh chính trị, về ý thức đạo đức, về năng
lực vận động quần chúng, về phương pháp và phong cách công tác của người đảng viên
trong điều kiện mới và tình hình mới.
Liên hệ cụ thể theo nhiệm vụ, vị trí công tác hiện nay của bản thân
Là một giảng viên trẻ được ở lại trường công tác và làm việc. Ngày tôi được kết nạp
Đảng, tôi gọi đó là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời mình. Trở thành một "đảng viên trẻ"

11
đem đến cho tôi niềm tự hào, hạnh phúc lớn lao. Có được niềm vui đó, không chỉ là sự cố
gắng của riêng bản thân, mà còn ở sự dìu dắt, dạy bảo của thầy cô trong khoa – những
người đi trước. Trong gần 5 năm học công tác tại Khoa Toán Tin, tôi đã học tập được rất
nhiều điều. Ngoài kiến thức chuyên môn, tôi còn học tập ở các thầy, các cô những nhân
cách tốt. Những nhân cách ấy sẽ giúp tôi hoàn thiện bản thân mình và trưởng thành hơn
trong tương lai. Ngoài tình cảm thầy trò, tôi còn nhận thấy ở thầy, cô tình cảm như của
những người cha, người mẹ, dìu dắt tôi trên đường đời, như những người anh, người chị
chia sẻ cùng tôi nỗi buồn, niềm vui. Hạnh phúc đó, không phải ai cũng may mắn có được.
Trở thành đảng viên là vinh dự, tự hào nhưng trên hết là trách nhiệm. Trách nhiệm tiếp
tục cống hiến để xứng đáng với những gì mà thầy cô, bạn bè đã tin tưởng. Cống hiến,
không phải là cái gì đó quá cao siêu, mà trư ớc hết chỉ đơn giản là phải hết sức cố gắng
trong học tập và công tác ở khoa, là phấn đấu hết mình để chiếm lĩnh tri thức, nâng cao
trình độ chuyên môn.
Tôi nhớ trong cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm, khi được kết nạp vào Đảng, dòng đầu tiên
của ngày hôm đó chị viết: “Cái cảm giác rõ nét nhất của ngày hôm nay là: Phải phấn đấu
để sống xứng đáng với cái tên "một người cộng sản". Vâng, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào,
người đảng viên, người cộng sản luôn luôn thực hiện đúng mục tiêu lý tưởng của Đảng, lấy
ngọn cờ của Đảng làm mục tiêu, là ngọn đuốc dẫn đường, là hi sinh vì sự nghiệp cách
mạng. Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng
rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng...”. Chính những
ngọn lửa đó đã truyền sức mạnh để thế hệ trẻ như chúng tôi được thắp sáng, thôi thúc nhân
lên nhằm vươn tới, cống hiến nhiều hơn nữa sức trẻ của mình cho đất nước!




12
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản