Bài tập an toàn môi trường

Chia sẻ: Hoang Lam | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:52

0
134
lượt xem
27
download

Bài tập an toàn môi trường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hãy sao chép từ mạng bản đồ khuôn viên trường ĐHBK và nhận xét về điều kiện môi trường, về điều kiện vệ sinh lao động của khu vực trường. Bản đồ trường ĐH Bách Khoa :nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo cũng như các tỉnh Nam Bộ khí hậu là 2 mùa nắng mưa rỏ rệt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài tập an toàn môi trường

  1. BÀI TẬP 1 Hãy sao chép từ mạng bản đồ khuôn viên trường ĐHBK và nhận xét về điều kiện môi trường, về điều kiện vệ sinh lao động của khu vực trường. Bản đồ trường ĐH Bách Khoa :
  2. Khuôn viên trường ĐH Bách Khoa TP HCM. - Về nhiệt độ , độ ẩm : + Nhiệt độ : Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng như các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết TPHCM là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - nắng rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng
  3. 12 đến tháng 4 năm sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tượng chủ yếu cho thấy những đặc trưng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh(ĐH Bách Khoa TPHCM) như sau: Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 270C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,80C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 1 (310C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 9 và tháng 10 (25,70C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-280C. Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị. + Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%. - Về gió : Đại học Bách Khoa cũng như Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc. Gió Tây -Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình 3,6m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s. Gió Bắc- Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4 m/s. Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7 m/s. Về cơ bản TPHCM thuộc vùng không có gió bão. Năm 1997, do biến động bởi hiện tượng El-Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyện Cần Giờ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ. Về vấn đề thông gió trong trường: các phòng học của trường có khả năng thông gió tốt nhờ vào số lượng cửa nhiều, kích thước cửa rộng. Ngoài ra, ở một số dãy nhà còn bố trí thêm quạt thông gió. Diện tích khuôn viên trường tương đối rộng nên lượng gió lùa vào phòng học khá nhiều.Ngoài ra mỗi phòng học còn bố trí quạt trần tạo thêm gió làm mát phòng học, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tập và thầy cô giảng dạy. - Về bụi bặm, khí độc, tiếng ồn: các phòng học bố trí xa đường xá, nhà xưởng nên ít có bụi bặm, tiếng ồn. Đồng thời có nhiều cây xanh giúp cho việc lọc khí độc, bụi bặm được tốt nên không khí trong trường khá trong lành. Tuy nhiên còn một một số dãy phòng học ở gần đ ường Tô Hiến Thành cũng khá ồn ào vào giờ cao điểm.
  4. - Về rác, chất thải: đội ngũ lao công của trường tương đối nhiều nên công tác đảm bảo vệ sinh cho khuôn viên trường và ở các phòng học rất tốt. Sọt rác được bố trí khắp nơi trong trường nên việc xả rác bừa bãi ít xảy ra. Bên cạnh đó, việc thu gom rác được thực hiện hàng ngày nên không có hiện tượng rác bốc mùi gây khó chịu, ô nhiễm. - Về cảnh quan trong trường: Số lượng cây xanh nhiều được bố trí khá hợp lý dọc theo các lối đi giúp cho việc đi lại được mát mẻ. Thêm vào đó, ghế đá được bố trí dọc theo các hàng cây thích hợp cho việc nghĩ ngơi cũng như trao đổi học tập của sinh viên trường. Các dãy nhà được bố trí khá hợp lý, các phòng ban g ồm: phòng hành chính, phòng đào tạo, hội trường … đều được bố trí ở khu trung tâm còn các khoa được bố trí xung quanh thuận lợi cho vi ệc liên l ạc. Các nhà xưởng được đặt cách xa phòng học nên không ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên trường. Tuy nhiên, một số dãy nhà chưa liên thông với nhau để tiện cho vi ệc đi lại mỗi khi trời mưa. Qua việc phân tích và tìm hiểu ở trên cho thấy cảnh quan môi trường và điều kiện vệ sinh lao động của trường cũng chỉ ở mức trung bình. BÀI TẬP 2 Tìm hiểu về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp I.Tai nạn lao động I.1 Khái niệm Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài, làm chết hoặc tổn thương hay phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó trên cơ thể con người. I.2 Thống kê tai nạn lao động trong năm năm gần đây a) Tình hình tai nạn lao động năm 2004(theo BLĐTBXH) Theo số liệu thống kê báo cáo của 64 tỉnh, thành phố, trong năm 2004 (tính đến ngày 31/12) đã xảy ra 6026 vụ tai nạn lao động làm 6186 người bị nạn, trong đó có 85 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên; 561 vụ TNLĐ chết người làm 575 người bị chết. Nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ Qua kết quả điều tra và phân tích cho thấy nguyên nhân chủ yếu của các vụ TNLĐ xảy ra trong năm 2004 là do người sử dụng lao động và người lao động vi phạm tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật
  5. an toàn, không có quy trình, biện pháp làm việc an toàn (có 2087 vụ chiếm 34,8% về số vụ). Về phía người sử dụng lao động - Không huấn luyện hoặc huấn luyện chưa đầy đủ về an toàn lao động cho người lao động (206 vụ chiếm 3,4% về số vụ) - Không đảm bảo điều kiện làm việc và môi trường làm việc an toàn cho người lao động theo quy định tại các tiêu chuẩn (chiếm 354 vụ chiếm 5,9% về số vụ); Nhiều máy, thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo an toàn vẫn đưa vào sử dụng; - Không có quy trình biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (215 vụ chiếm 3,6% về số vụ). - Nguyên nhân khác (2779 vụ chiếm 41,6% về số vụ): Không thường xuyên kiểm tra nhắc nhở người lao động tuân thủ các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; Không thực hiện đúng các quy định tại Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT- BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 của Liên tịch Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; Không trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động và những nguyên nhân khách quan khó tránh.v.v... Về phía người lao động - Nhiều người lao động xuất phát từ các vùng nông thôn đi làm thuê không được đào tạo cơ bản qua trường lớp, khi vào làm việc lại chỉ được hướng dẫn về các thao tác trong công việc vì vậy không hiểu biết luật pháp an toàn lao động, không biết các mối nguy hiểm cần phải đề phòng trong môi trường lao động của mình.Vì vậy người lao động vi phạm các quy định về an toàn lao động cũng khá phổ biến. - Một số người lao động mặc dù đã được đào tạo cơ bản, được huấn luyện kỹ về an toàn lao động nhưng do chủ quan, chạy theo năng suất, ý thức chấp hành kỷ luật kém nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc cho bản thân và những người làm việc bên cạnh. - Không sử dụng các trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động mặc dù đã được người sử dụng lao động cấp phát đủ và hướng dẫn cách sử dụng. Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước - Công tác chỉ đạo chưa thường xuyên, thiếu nhạy bén. - Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động với
  6. các doanh nghiệp còn ít, hiệu quả chưa cao. Số lượng, chất lượng thanh tra viên chưa tương xứng với yêu cầu. Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên hầu hết chỉ tiến hành các cuộc kiểm tra liên ngành mà không tiến hành được các cuộc thanh tra lao động. Do đó không kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật Lao động, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng đã xảy ra. - Một số lĩnh vực quản lý còn lỏng lẻo như: các doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề. - Việc xử lý các vụ TNLĐ chết người đề nghị truy tố trước pháp luật chưa kịp thời, chưa nghiêm. Việc xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với những người vi phạm để xảy ra TNLĐ nghiêm trọng cũng chưa nghiêm, chưa kịp thời. - Việc điều tra TNLĐ ở một số địa phương còn kéo dài do sự phối hợp của các cơ quan chức năng chưa tốt; Một số vụ xác định nguyên nhân gây tai nạn chưa chính xác nên chưa đưa ra đúng và đầy đủ các biện pháp phòng ngừa TNLĐ tái diễn. b) Tình hình tai nạn lao động năm 2005 Cho đến ngày 13/2/2006, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được báo cáo tai nạn lao động năm 2005 của 60/64 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Theo số liệu thống kê c ủa 60 tỉnh, thành phố, tình hình tai nạn lao động trong năm 2005 như sau - Tổng số vụ 4.050, trong đó có 443 vụ tai nạn lao động chết người, 59 vụ có 2 người bị nạn trở lên. - Tổng số người bị nạn: 4.164, trong đó có 473 người chết, 1.026 người bị thương nặng. Các loại yếu tố, thiết bị gây nhiều tai nạn lao động chết người - Liên quan đến mặt bằng sản xuất 33 vụ chiếm 13,04% tổng số vụ và 15,05% tổng số người chết - Liên quan đến giàn giáo, sàn thao tác có 24 vụ chiếm 9,49% tổng số vụ và 8,79% tổng số người chết, - Liên quan đến đường dây tải điện các loại có 33 vụ chiếm 13,04 tổng số vụ và 12,46 tổng số người chết, - Liên quan đến thiết bị nâng có 15 vụ chiếm 5,93% tổng số vụ và 5,86% tổng số người chết. - Liên quan đến phương tiện vận tải có 16 vụ do ô tô chiếm 6,32% và 12 vụ do xe máy chiếm 4.74%. Các loại tai nạn lao động gây chết người nhiều nhất - Điện giật có 46 vụ làm chế 46 người;
  7. - Rơi ngã có 54 vụ làm chết 57 ngươì; - Vật đổ, đè có 21 vụ làm chết 24 người; - Vật văng bắn có 10 vụ làm chết 10 người. Các nguyên nhân gây nhiều tai nạn lao động chết người nhất - Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động: 69 vụ làm 72 người chết; - Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp an toàn lao động có 52 vụ làm 58 người chết; - Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động có 34 vụ làm 36 người chết; - Chưa huấn luyện an toàn lao động có 24 vụ làm 24 người chết. c)Tình hình tai nạn lao động năm 2006 Theo số liệu thống kê, báo cáo của 64 tỉnh, thành phố, tình hình tai nạn lao động trong năm 2006 như sau: - Tổng số vụ tai nạn lao động: 5.881 vụ, trong đó có 505 vụ tai nạn lao động chết người, 147 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên. - Tổng số người bị nạn: 6.088 người, trong đó có 536 người chết và 1.142 người bị thương nặng. Các loại yếu tố, thiết bị gây nhiều tai nạn lao động chết người. - Liên quan đến mặt bằng sản xuất chiếm 21,72% tổng số v ụ và 20,38% tổng số người chết. - Liên quan đến Thiết bị nâng, thang máy chiếm 7,8% tổng s ố v ụ và 7,55% tổng số người chết. - Liên quan đến đường dây tải điện chiếm 6,15% tổng số vụ và 5,66% tổng số người chết. - Liên quan đến máy hàn điện chiếm 4,92% tổng s ố v ụ và 4,53% tổng số người chết. - Liên quan đến giàn giáo, sàn thao tác chiếm 4,1% t ổng s ố v ụ và 4,15% tổng số người chết. Các yếu tố chấn thương gây tai nạn lao động chết người nhiều nhất. - Điện giật chiếm 20,1% tổng số vụ và 18,87% tổng số người chết. - Ngã từ trên cao chiếm 16,4% tổng số vụ và 15,47% tổng số người chết. - Vật đổ, đè chiếm 7,78% tổng số vụ và 7,17% tổng số người chết. - Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 4,1% tổng số vụ và 4,15% tổng số người chết.
  8. - Vật văng bắn chiếm 2,87% tổng số vụ và 2,64% tổng số người chết. Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người. - Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy phạm Kỹ thuật an toàn: Chiếm 17,62% tổng số vụ và 16,23% tổng số người chết. - Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao đ ộng: Chiếm 15,57% tổng số vụ và 15,47% tổng số người chết. - Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động: Chiếm 13,11% tổng số vụ và 12,45% tổng số người chết. - Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn: Chiếm 11,89% tổng số vụ và 11,32% tổng số người chết. - Chưa huấn luyện an toàn lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân: Chiếm 4,92% tổng số vụ và 4,9% tổng số người chết d) Tình hình tai nạn lao động năm 2007 Theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố, tình hình tai n ạn lao động trong năm 2007 như sau: - Tổng số vụ tai nạn lao động: 5.951 vụ, trong đó có 505 vụ tai nạn lao động chết người, 78 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên, đ ặc biệt là vụ sập 2 nhịp dẫn cầu Cần Thơ ngày 26/9/2007 làm chết 53 người, bị thương 80 người và vụ sạt lở núi đá tại mỏ đá D3 công trình Thuỷ điện Bản Vẽ (Nghệ An) ngày 15/12/2007 làm chết 18 người; - Tổng số người bị nạn: 6.337 người, trong đó có 621 người chết và 2.553 người bị thương nặng. Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 35,53% tổng số vụ, do người lao động chiếm 30%, còn lại là do các yếu tố khách quan hoặc không kết luận nguyên nhân cụ thể là 34,47% tổng số vụ tai nạn lao động, cụ thể là: - Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật, Quy phạm an toàn chiếm 17,62% tổng số vụ; - Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 11,89% tổng số vụ; - Chưa huấn luyện an toàn lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,72% tổng số vụ; - Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 1,7% tổng số vụ; không có thiết bị an toàn chiếm 2,2% tổng số vụ;
  9. - Người bị nạn vi phạm quy trình quy ph ạm an toàn lao động chiếm 25,3% tổng số vụ; - Người bị nạn vi phạm không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,7% tổng số vụ. e)Tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2008 Theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong 6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 2.497 vụ tai nạn lao động làm 2.574 người bị nạn, có 250 vụ TNLĐ chết người làm 266 người chết, 546 người bị thương nặng. Nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ *Về phía người sử dụng lao động - Không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động: 195 vụ (chiếm 7,94% tổng số vụ); - Thiết bị không đảm bảo an toàn, nhiều máy, thi ết b ị, công c ụ sản xuất không đảm bảo an toàn vẫn đưa vào sử dụng: 81 vụ (chiếm 3,30% tổng số vụ); - Không có thiết bị an toàn : 65 vụ (chiếm 2,65% tổng số vụ); - Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động: 58 v ụ (chi ếm 2,36% tổng số vụ); - Không đảm bảo điều kiện làm việc và môi trường làm việc an toàn cho người lao động theo quy định tại các tiêu chu ẩn: 39 vụ (chiếm 1,59% tổng số vụ); - Do tổ chức lao động (bố trí lao động làm việc không có tay nghề hoặc chưa phù hợp với ngành nghề chuyên môn được đào tạo): 29 vụ (chiếm 1,18% tổng số vụ); - Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động: 24 vụ (chiếm 0,97% tổng số vụ); - Do yếu tố khách quan, khó tránh: 452 vụ (chiếm 18,41% t ổng số vụ); - Nguyên nhân khác 486 vụ chiếm 19,81%: Do không thường xuyên kiểm tra nhắc nhở người lao động tuân th ủ các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; không th ực hiện đúng các quy định tại Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT- BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 của Liên tịch Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh… * Về phía người lao động
  10. - Có 825 vụ do người lao động vi phạm các quy định về an toàn lao động (chiếm 33,60 % tổng số vụ). Nhiều người lao động xuất phát từ các vùng nông thôn đi làm thuê không được đào tạo cơ bản qua trường lớp, khi vào làm việc lại ch ỉ được hướng dẫn về các thao tác trong công việc nên không hiểu bi ết luật pháp an toàn lao động, không biết các mối nguy hiểm c ần phải đề phòng trong môi trường lao động của mình…; - Có 133 vụ (chiếm 5,42% tổng số vụ) do không sử dụng các trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động mặc dù đã được người sử dụng lao động cấp phát đủ và hướng dẫn cách sử dụng. - Có 68 vụ (chiếm 2,77% tổng số vụ) do người khác vi phạm quy định về an toàn lao động. Một số người lao động mặc dù đã được đào tạo cơ bản, được huấn luyện kỹ về an toàn lao động nhưng do chủ quan, chạy theo năng suất, ý thức chấp hành kỷ luật kém… nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc cho bản thân và những người làm việc xung quanh; *Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước - Công tác thanh tra của Thanh tra Nhà nước về lao động ch ưa thường xuyên, thiếu nhạy bén dẫn đến việc thực hiện công tác bảo hộ lao động ở doanh nghiệp chưa tốt; - Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp còn ít, hiệu quả chưa cao. Số lượng, ch ất lượng thanh tra viên chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các doanh nghiệp cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất, kinh doanh. Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên hầu hết chỉ tổ chức các cuộc kiểm tra liên ngành, số cuộc thanh tra lao động còn rất ít. Do đó không kịp th ời phát hi ện những vi phạm pháp luật Lao động, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng đã xảy ra. - Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ch ưa được các c ơ quan quản lý Nhà nước thanh, kiểm tra, hướng dẫn thường xuyên, kịp thời nên tình trạng vi phạm các quy định của pháp lu ật, các Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn lao động còn ph ổ bi ến đặc biệt tại các doanh nghiệp tư nhân; lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề. - Việc xử lý các vụ TNLĐ chết người đặc biệt nghiêm trọng chưa nghiêm: 6 tháng đầu năm 2008 Bộ Lao động – Th ương binh và Xã hội nhận được 69 biên bản điều tra hoặc báo cáo
  11. nhanh tai nạn lao động chết người của các địa phương trong đó chỉ có 1 trường hợp TNLĐ nghiêm trọng bị đề nghị truy tố trách nhiệm hình sự (vụ TNLĐ sập lò gạch xảy ra tại c ơ s ở sản xuất gạch của Ông Nguyễn Văn Đủ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây). Việc xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với những người vi phạm để xảy ra TNLĐ nghiêm trọng cũng chưa nghiêm, chưa kịp thời. - Một số vụ xác định nguyên nhân gây tai nạn chưa chính xác nên chưa đưa ra được các biện pháp phù hợp để phòng ngừa TNLĐ tái diễn. II. Bệnh nghề nghiệp II.1 Khái niệm Bệnh nghề nghiệp là sự suy yếu dần sức khoẻ dẫn đến gây bệnh tật cho người lao động do tác động của các yếu tố có hai phát sinh trong quá trình lao động sản xuất. II. 2 Các loại bệnh nghề nghiệp Hiện nay ở mỗi quốc gia điều công nhận những bệnh nghề nghiệp của nước mình và ban hành chế độ đền bù hoặc bảo hiểm b ệnh ngh ề nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay đã có 21 bệnh nghề nghiệp được nhà n ước công nhận và có chề độ bảo hiểm. - bụi phổi do silic - bụi phổi do amiang - bụi phổi bông - nhiễm độc chì và các hoá chất của chì - nhiễm độc bezen và đồng đẳng của bezen - bệnh nhiễm độc thuủy ngân và các hợp chất của thuỷ ngân - bệnh nhiễm độc mangan và cá hợp chất của mangan - bệnh nhiễm độc TNT(trinitrotoluen) - bệnh nhiễm độc do các tia phóng xạ - bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn
  12. - bệnh rung chuyển nghề nghiệp - bệnh sạm da nghề nghiệp - bệnh loét da, viêm da, loét vách ngăn mũi - bệnh lao nghề nghiệp - bệnh viêm gan do virut nghề nghiệp - bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất của asen - bệnh nhiễm độc nicôtin nghề nghiệp - bệnh nhiễm độc hoá chất trừ saau nghề nghiệp - bệnh giảm áp nghề nghiệp - bệnh viêm phế quảmg mãn tính nghề nghiệp - bệnh do Leptopira nghề nghiệp Trong 21 bệnh trên có trên 70% bệnh do nhiễm độc mãn tính khi tiếp xúc với các hoá chất trong công việc. II.3 Đặc điểm của một số bệnh nghề nghiệp BỆNH BỤI PHỔI-SILIC Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Bệnh bụi phổi-silic, là một trong các bệnh nghề nghiệp lâu đời nhất, cho đến ngày nay hàng năm vẫn có hàng ngàn người bị chết vì bệnh này trên khắp thế giới. Bệnh bụi phổi-silic là một bệnh nan y, do người lao động hít phải bụi có chứa silic tự do. Đây là b ệnh ti ến tri ển không h ồi phục, thậm chí cả khi đã ngừng tiếp xúc với bụi. Nếu tiếp xúc với m ột lượng lớn bụi, có hàm lượng silic tự do trong bụi cao, trong m ột th ời gian ngắn đã có thể phát sinh bệnh. Bụi silic phát sinh ra trong hoạt động như là nghiền đá, nghiền quặng, phun cát vv. Công nhân làm việc ở những nơi như là các mỏ, khu vực khai thác đá, đúc, xây dựng, ở các phân xưởng kính, gốm , các phân xưởng mài,
  13. phân xưởng nề có nguy cơ bị bệnh này cao. Phun cát là một trong hoạt động có nguy cơ cao bị bụi ph ổi-silic. Các thi ết bị mài, thậm chí các thiết bị này không chứa silic, người công nhân v ẫn có thể bị bệnh do sử dụng để mài các vật liệu có chứa bụi silic, giống như khi chúng ta mài các khuôn đúc vần còn cát chứa trên đó. Một số hoạt động như là làm sạch cát hoặc bê tông hoặc làm sạch các chỗ nề bằng thổi khí nén có thể tạo ra các đám bụi lớn, đây có thể là các nguyên nhân gây bệnh. Tác động đến sức khỏe: Bệnh bụi phổi-silic gặp ở cả các nước phát triển và đang phát triển, tiếp xúc với bụi silic qua đường hô hấp năm này qua năm khác, có th ể b ị b ệnh từ mức độ nhẹ đến mất khả năng lao động, và chết. Bệnh bụi phổi-silic là kết quả của quá trình xơ hóa ph ổi. Th ể loại và m ức độ bệnh phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc v ới bụi: có th ể mãn tính hoặc cấp tính. Giai đoạn muộn có thể dẫn đến các rối loạn làm mất khả năng lao động và muộn nữa là tử vong. Nguyên nhân tử vong thường do các biến chứng như là lao phổi , phổi bị xơ hóa và khí thũng, suy tim phải. Vào thế kỷ thứ 16 Tác giả Agricola viết tại các ảo ở vùng núi Carpathian của Châu Âu: những người phụ nữ đã được pháthiện là cưới tới 7 lần, t ất cả chồng của họ đều bị mắc bệnh bụi phổi-silic có kèm theo lao mà ch ết. Chỉ vài năm sau ở một số ngôi làng ở phía bắc Thái Lan đã được m ệnh danh là ngôi làng của các bà góa bởi vì một số lượng lớn đàn ông đã b ị chết sớm vì bệnh bụi phổi- silic . ·Giai đoạn 19951-1995, Trung Quốc đã ghi nhận 500.000 trường h ợp mắc bệnh bụi phổi-silic, số mới mắc bệnh hàng năm khoảng 6000 người và trên 24.000 người chết môi năm. ·Tại Ấn Độ trong một nghiên cứu xác định khoảng 55% số công nhân bị mắc bệnh bụi phổi silic. Phần lớn trong số họ là nh ưng người trẻ tuổi làm việc tại một mỏ đá (loại đá trầm tích) với đi ều ki ện thông gió rất kém. Trong một số nghiên cứu tại miền trung cho th ấy t ỷ l ệ tử vong do bụi phổi rất cao, tuổi thọ của những người mắc bệnh này chỉ là 35 và tuổi nghề là 12 năm ·Còn ở Brazil, tại bang Minas Gerais đã có hơn 4500 người được chẩn đoán bị bệnh bụi phổi silic. Khu vực đông bắc của nước này người
  14. lao động thường xuyên đào các giếng nước xuyên qua tầng đá có thành phần là hạt quartz trên 97% và tỷ lệ mắc bệnh là trên 26%. Nhiều ca trong số đó có tiển triển bệnh rất nhanh. ·Còn ở Hoa Kỳ theo ước đoán có khoảng trên 1 triệu có tiếp xúc nghề nghiệp với bụi silic, (khoảngtrên 100.000 người làm nghề phun cát)trong số đó có khoảng 59.000 người sẽ có thể bị bệnh bụi phổi- silic. Báo cáo của Hoa Kỳ xác nhận thì số mới mắc bệnh bụi ph ổi- silic mỗi năm vào khoảng 300 người. Nhưng th ực tế số này còn cao hơn rất nhiều. ·Còn tại Quebec của Canada, từ năm 1988-1994, có hơn 40 trường hợpmắc bệnh bụi phổi-silic, và có 12 người trong số đó chết trước tuổi 40. ·Còn theo báo cáo của Colombia có khoảng 1,8 triệu người công nhân có nguy cơ măc bệnh bụi phổi- silic. ·Còn tại Việt Nam đến nay có khoảng trên 17.000 người mắc bệnh b ụi phổi- silic đã được phát hiện. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo chúng ta hay sử dụng các biện pháp dự phòng để tránh hít phải bụi có chứa silic tự do. Người dịch ThS. Nguyễn Văn Sơn Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường Ngày 31/07/2008 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM BỤISILSÍC BẢO VỆ SỨC KHOẺ NGƯỜI LAO ĐỘNG ThS.. Đinh Xuân Ngôn Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường Ở Việt Nam, bệnh bụi phổi silíc chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. Bệnh gây nên bởi sự hít thở phải bụi có chứa tinh thể dioxyt silíc, thông thường nh ất là th ạch anh. Ng ười lao động làm việc trong các ngành, nghề có nguy cơ cao mắc bệnh bụi phổi silíc là khai thác mỏ, đào đường hầm, sản xuất vật liệu xây dựng, đúc, làm
  15. công việc mài mòn (phun cát), đồ gốm, khai thác khoáng sản và làm thuỷ tinh. Cho đến nay, bệnh bụi phổi silíc vẫn là bệnh không chữa được nên biện pháp dự phòng đóng vai trò hết sức quan trọng. Dưới đây là một số biện pháp dự phòng cơ bản, tuỳ từng ngành nghề, công việc, điều kiện sản xuất mà có thể áp dụng biện pháp phù hợp để bảo vệ sức khoẻ người lao động. Các biện pháp kỹ thuật làm giảm ô nhiễm bụi -Biện pháp thay thế: thay thế những nguyên liệu độc hại bằng những nguyên liệu ít hoặc không độc hại.Có thể thay th ế cát silíc b ằng olivine (Mg, Fe)2SiO4 ít độc hại hơn. -Thay đổi quy trình sản xuất để hạn chế phát sinh bụi. C ơ gi ới hoá, t ự động hoá để tránh tiếp xúc với bụi. -Biện pháp thông khí: bao gồm thông khí chung (đưa không khí sạch vào để hoà loãng không khí bị ô nhiễm rồi sau đó hút không khí bị pha loãng đó ra bằng quạt hút) và thông khí hút cục bộ (hút bụi bằng m ột ch ụp hút rồi đẩy không khí có chứa bụi ra ngoài qua các ống dẫn b ằng qu ạt đẩy). -Biện pháp cách ly: những nguồn phát sinh nhiều bụi được che ch ắn, cách ly để hạn chế bụi phát tán ra các công đoạn, bộ phận khác. -Biện pháp làm ẩm: những nơi bụi nhiều (bộ phận xay, nghiền, khoan, ...) nếu điều kiện kỹ thuật cho phép có thể phun nước, tưới ẩm nguyên, vật liệu; dùng quạt phun sương làm ẩm không khí nhằm làm giảm nồng độ bụi môi trường. Biện pháp hành chính -Tổ chức dây chuyền sản xuất hợp lý. Bố trí nơi làm vi ệc gọn gàng, ngăn nắp. Làm vệ sinh mặt bằng sản xuất thường xuyên. -Tổ chức các lớp về vệ sinh an toàn lao động cho người sử d ụng lao đ ộng và người lao động, khuyến cáo các tác hại do bụi silíc gây ra và các biện pháp bảo vệ. -Thường xuyên kiểm tra môi trường lao động. .Đo nồng độ bụi, đặc biệt là nồng độ bụi hô hấp. Phân tích hàm lượng silíc tự do trong bụi. Biện pháp cá nhân -Đeo khẩu trang ngăn bụi (loại có hiệu suất lọc bụi hô hấp cao ). N ơi làm
  16. việc có nồng độ bụi và hàm lượng silíc tự do trong bụi cao thì ph ải s ử dụng bán mặt nạ hoặc mặt nạ lọc bụi . Biện pháp y tế -Tổ chức khám tuyển công nhân vào lao động trong những ngành nghề tiếp xúc với bụi nhiều theo đúng những tiêu chuẩn khám tuyển đã qui định. -Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ hàng năm. Những bộ phận sản xuất mà công nhân phải tiếp xúc với bụi nhiều và hàm lượng silíc trong b ụi cao thì phải khám sức khoẻ định kỳ 6 tháng một lần, khám phát hiện sớm bệnh bụi phổi silíc nghề nghiệp. Trong các biện pháp trên, các biện pháp kỹ thuật là mong mu ốn nh ất và hiệu quả nhất, có thể kiểm soát được ô nhiễm bụi tại nguồn để làm gi ảm tiếp xúc cho người lao động. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng thực hiện được các biện pháp này bởi các lý do về kinh tế, kỹ thuật và đi ều ki ện sản xuất. Ở nước ta hiện nay, biện pháp cá nhân sử dụng khẩu trang chống bụi được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các cơ sở sản xuất. Tuy nhiên hiệu quả ngăn bụi của khẩu trang cần phải xem xét bởi người lao động ch ủ y ếu sử dụng khẩu trang bằng vải thông thường hoặc màn xô. Ưu điểm của các loại khẩu trang này là giá thành rẻ, trở lực hô hấp th ấp, có th ể s ử d ụng được nhiều lần nhưng hiệu suất lọc bụi không cao. Một số loại khẩu trang nhập ngoại hoặc sản xuất trong nước có hiệu suất lọc bụi cao thì giá thành lại đắt (15-20.000đồng/chiếc), chỉ sử dụng được một lần hoặc trở lực hô hấp cao gây khó thở cho người lao động khi làm vi ệc th ể lực nặng nhọc. Để sử dụng khẩu trang có hiệu quả, cần nghiên cứu để l ựa chọn loại khẩu trang thích hợp cho mỗi loại ngành nghề. Những người làm công tác y học lao động, trong quá trình giám sát, đánh giá môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp sẽ đề xuất, khuyến ngh ị các biện pháp dự phòng phù hợp, khả thi cho từng cơ sở sản xu ất đ ể b ảo vệ sức khoẻ người lao động. Ngày 31/07/2008 Qua tìm hiểu về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể thấy rằng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là một trong những hết sức quang
  17. trọng, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải hết sức quan tâm. Cần nghiên cứu và đưa ra cá giải pháp khắc phục và hạn chế tối đa nó. Một đất nước hay một xã hội sẽ không phát triển được nếu số người tàn tật, bệnh nghề nghiệp quá lớn. Về phía những người lao động thì không nên chủ quan mất cảnh giác trong quá trình tham gia lao động sản suất. Nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định an toàn trong lao động sản xuất. Mỗi người khi tham gia lao động sản suất phải biết tự ý thức về hành vi, quan tâm tới những người xung quanh mình, nhắc nhở họ khi vi phạm quy định an toàn dù là nhỏ nhất. Một khi tai nạn xảy ra thì hậu quả của nó thật khó lường. Vì vậy chúng ta nên đề phòng, ngăn ngừa nó “ phòng bệnh hơn chữa bệnh” Đừng để những giọt nước mắt rơi trong muộn màng, những nổi đau mà không gì bù đắp được. BÀI TẬP 3 Nhận xét về tình hình môi trường của Việt Nam trong những năm gần đây với sự phát triển kinh tế xã hôi có những thay đổi gì? I- Dự đoán của các chuyên gia về tình hình môi trường trong năm 2009. Nhìn chung, các chuyên gia đều dự đoán về những diễn biến môi trường khả quan hơn khi sự tuân thủ pháp luật môi trường được nâng lên... PGS., TS Phạm Gia Điền – Chuyên gia về Hoá dược và Hoá sinh hữu cơ: “Năm 2009 sẽ có nhiều sự kiện về môi trường. Năm 2008, là một năm phát hiện ra nhiều vụ vi phạm. Năm 2009, sẽ có nhiều vi phạm nữa được phát hiện, số vụ vi phạm gia tăng cả về hình thức và tính chất vi phạm. Các nước sẽ tích cực chấp hành nghiêm chỉnh Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu toàn cầu. Dự báo, tình hình ô nhiễm môi trường sẽ càng được các tầng lớp nhân dân, cộng đồng chú ý nhiều hơn." TSKH Phạm Hoàng Hải – Chuyên gia về địa lý và tài nguyên thiên nhiên: "Năm 2009, sẽ là năm các doanh nghiệp tích cực tuân thủ trong lĩnh vực môi trường. Các vi phạm không chỉ trong lĩnh vực ô nhiễm nguồn nước mà còn mở rộng sang cả ô nhiễm không khí, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên". Anh Tạ Anh Quang – Chuyên gia về kiểm soát độc chất và phòng ngừa rủi ro về ô nhiễm môi trường: "Năm 2009, ý thức bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp của cộng đồng sẽ được nâng cao. Luật Bảo vệ môi trường sẽ được tuân thủ triệt để hơn. Các doanh nghiệp sẽ chú trọng hơn trong việc bảo vệ môi trường. Các cơ quan quản lý môi trường sẽ phải bận rộn hơn. Trên bình diện quốc tế, thì sau tình hình suy thoái kinh tế thế giới, các nước sẽ có nhiều điều chỉnh về chính sách kinh tế. Sự suy giảm
  18. kinh tế dẫn tới việc khai thác các nguồn tài nguyên cũng hạn chế. Việc phát thải các loại khí gây hiệu ứng nhà kính cũng giảm bớt". II- Báo cáo. Tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 9 tháng đầu năm 2008 1. Tình hình chung về các KCN: Cho đến nay, có 11 KCN được thành lập, tổng diện tích 6.350 ha. 06 KCN đã đi vào hoạt động gồm: Đông Xuyên, Phú Mỹ I, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1-Conac và Cái Mép; 03/06 KCN cơ bản đã lấp đầy gồm: Đông Xuyên, Phú Mỹ I và Mỹ Xuân A. 05 KCN còn lại hiện đang thực hiện công tác bồi thường, GPMB gồm: Phú Mỹ II, Phú Mỹ III, Mỹ Xuân B1- Tiến Hùng, Mỹ Xuân B- Đại Dương và KCN dầu khí Long Sơn (thành lập tháng 6/2008). Tính đến 30/8/2008 có 181 dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đó có 108 dự án đã đi vào hoạt động, 73 dự án đang trong giai đọan đầu tư xây dựng hoặc mới được cấp phép đầu tư. 88/181 dự án đầu tư trong nước, 93 dự án đầu tư nước ngòai với số vốn đầu tư quy đổi là 11.808 triệu USD. 2. Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường KCN: a. Kết quả rà soát, thanh kiểm tra: Hiện nay, nhiệm vụQLNN về BVMT của Ban quản lý các KCN vẫn thực hiện theo cơ chế phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc thanh, kiểm tra các lĩnh vực: Môi trường, Tài nguyên nước. Từ tháng 6 – 9/2008, Ban tham gia 02 đoàn thanh tra, khảo sát về Tài nguyên nước; chủ trì 01 đoàn làm việc rà soát hồ sơ môi trường với chủ đầu tư hạ tầng và một số doanh nghiệp tại KCN Mỹ Xuân A và Mỹ Xuân A2; tham gia 01 đoàn kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trên lưu vực sông Thị Vải do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì. Trong 9 tháng đầu năm 2008, qua công tác rà soát, phối hợp thanh kiểm tra và tổng hợp báo cáo của các doanh nghiệp cho thấy công tác bảo vệ môi trường còn một số mặt tồn tại sau: a1- Đối với Doanh nghiệp trong KCN: Đa số các DN trong KCN đã thực hiện việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, bản cam kết
  19. bảo vệ môi trường, nhưng chỉ có tính chất đối phó, một số DN còn xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường. Cụ thể như: - Chưa thực hiện thủ tục pháp lý về môi trường: Công ty TNHH thủy sản Đông Nam (KCN Mỹ Xuân A), trạm phân phối khí, Công ty Happro, nhà máy sản xuất bình Gas (KCN Phú Mỹ I)… - Chưa thực hiện báo cáo giám sát môi trường định kỳ hàng năm theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005. - Chưa thực hiện đúng nội dung về đầu tư xử lý nước thải, khí thải như đã cam kết. - Các Doanh nghiệp chưa thực hiện tốt việc quản lý chất thải nguy hại từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý, nhiều Doanh nghiệp đã có phân loại và ký hợp đồng vận chuyển chất thải nguy hại cho đơn vị có chức năng xử lý nhưng chưa thực hiện đăng ký chủ nguồn thải theo quy định tại Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại. Rác thải công nghiệp tạm lưu chưa có biện pháp che chắn, bảo quản. - Một số Doanh nghiệp chưa có biện pháp tách, xử lý nước mưa chảy tràn nhiễm dầu mỡ. - Việc đóng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ giảm so với các năm trước do các Doanh nghiệp tự kê khai, chưa tập trung về một đầu mối là chủ đầu tư hạ tầng nên chưa hiệu quả trong công tác kê khai và thu phí. a2- Đối với chủ đầu tư hạ tầng KCN Nhìn chung, các chủ đầu tư hạ tầng KCN chấp hành chưa tốt về các nội dung sau: - Chưa thực hiện đầy đủ việc báo cáo giám sát môi trường định kỳ 02 lần/năm - Các KCN chưa hòan thiện hệ thống thu gom tòan bộ nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt của các DN trong KCN để xử lý nên vẫn còn hiện tượng đấu nối ống xả nước thải vào hệ thống thoát nước mưa chung. - Chưa chú trọng đến việc phân khu chức năng hợp lý giữa các lọai hình sản xuất trong quá trình thu hút đầu tư nên chưa đảm bảo giảm thiểu được việc phát sinh ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dự án và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh, dẫn đến tình
  20. trạng phát sinh khiếu nại, tố cáo về môi trường giữa các dự án trong KCN. - Chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường trong quá trình xây dựng cũng như trong giai đoạn đi vào hoạt động như cam kết trong báo cáo ĐTM. - Chưa đầu tư xây dựng khu tập kết rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, rác thải nguy hại nên chưa thống kê, quản lý đầu ra chất thải phát sinh. - Chưa thực hiện tốt nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, giám sát công tác BVMT của các Doanh nghiệp trong KCN. b-Kết quả tham gia hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM của tỉnh Ban quản lý các KCN đã cử cán bộ tham gia hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM của tỉnh, góp phần trong việc đánh giá phê duyệt dự án và thu thập ý kiến đóng góp của các thành viên trong hội đồng để giúp Lãnh đạo Ban quyết định trong việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 9/2008, Ban đã tham gia thẩm định 4 dự án đầu tư vào KCN. Đồng thời tham gia HĐTĐ cho 01 đề án xả thải tại KCN Mỹ Xuân A do Công ty IDICO làm chủ đầu tư. 3- Tình hình xử lý chất thải, bảo vệ môi trường các KCN: a-Tình hình thu gom và xử lý nước thải tập trung: Lượng nước thải phát sinh từ 06 KCN đang hoạt động khoảng 11- 13.050m3/ngày đêm. Trong đó, lượng nước thải được thu gom và xử lý khoảng 7.900m3/ngày, đạt 60,5% gồm: KCN Mỹ Xuân A2 đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải công suất 2.500m3- 3000m3/ngày đêm, KCN Cái Mép: 1.000m3/ngày đêm và các doanh nghiệp KCN đầu tư hệ thống xử lý cục bộ công suất khoảng 4.400 m3/ngày đêm. Ngoài trách nhiệm bảo vệ môi trường, tuân thủ theo đúng luật định, việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung còn là một trong những tiêu chí bắt buộc phải hoàn thành trước khi mở rộng và phát triển KCN. Do đó, Ban quản lý các KCN đã có nhiều văn bản và tổ chức họp để đôn đốc, nhắc nhở và xử lý các vướng mắc trong quá trình thực hiện của các Công ty phát triển hạ tầng. Kết quả đầu tư xây dựng HTXLNT đến thời điểm hiện nay như sau:
Đồng bộ tài khoản