Bài tập cá nhân môn Quản trị chiến lược

Chia sẻ: hanamy

Mấy năm gần đây bộ mặt đất nước ta có nhiều thay đổi, kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Đó là do nước ta kịp thời chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao do đó nhu cầu mua sắm hàng hoá cũng phát triển theo.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài tập cá nhân môn Quản trị chiến lược

Bài tập cá nhân môn


Quản trị chiến lược
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .............................................................................................4
PHẦN I: Một số cơ sở lý luận về quản trị chiến lược ................................5
1. Khái niệm: ................................................................................................5
2. Nhiệm vụ. .................................................................................................5
3. Sự cần thiết khách quan của quản trị chiến lược. ..................................6
4. Môi trường bên ngoài...............................................................................7
4.1 Môi trường vi mô: ........................................................................... 7
4.2 Môi trường vi mô ............................................................................ 9
5 Môi trường bên trong ..............................................................................11
I. Quá trình hình thành và phát triển ...................................................... 18
1. Giới thiệu về công ty ..................................................................... 18
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà, tên giao dịch quốc tế là Haiha
Confectionery Joint-Stock Company (HAIHACO), là một doanh nghiệp
chuyên sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại Việt Nam. ............................... 18
Sản phẩm của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà được người tiêu dùng
mến mộ và bình chọn là “Hàng Việt nam chất lượng cao” trong 13 năm
liền. Từ năm 1997 đến năm 2009. ....................................................... 21
1.5. Chức năng nhiệm vụ của Công ty bánh kẹo Hải Hà. ................... 22
2. Các đặc điểm của doanh nghiệp liên quan đến quá trình quản trị
chiến lược: ......................................................................................... 24
2.2. Đặc điểm về lao động.................................................................. 25
2.3. Đặc điểm về sản phẩm ............................................................... 26
2.4 Thị trường ..................................................................................... 28
2.5. Đặc điểm về máy móc thiết bị ......................................................... 28
Haihaco đang sở hữu những dây chuyền sản xuất bánh kẹo tương đối
hiện đại tại Việt Nam, trong số đó có một số dây chuyền thuộc loại hiện
đại nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Toàn bộ các máy móc
thiết bị của Công ty được trang bị mới 100%, mỗi dây chuyền sản xuất
từng dòng sản phẩm có sự phối hợp tối ưu các loại máy móc hiện đại có
xuất xứ từ nhiều nước khác nhau ........................................................ 29
1. Khái niệm về chiến lược sản phẩm .............................................. 29
2. Sự cần thiết phải hoạch định chiến lược sản phẩm ..................... 30
3. Chiến lược sản phẩm của công ty đã và đang thực hiện ............. 32
III. Đánh giá chung ................................................................................... 43
1.Những mặt mạnh: .......................................................................... 43
2.Những hạn chế: ............................................................................. 45
3. Nguyên nhân tồn tại......................................................................... 48
Bên cạnh những thành công đạt được, hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty còn hạn chế như sau: chưa hoàn toàn khắc phục được tính thời
vụ của nhu cầu bánh kẹo trong nhân dân như vào các dịp lễ tết, sản phẩm
của Công ty tiêu thụ rất lớn song nhiều khi sản xuất ra không đủ bán. Do
vậy, các phân xưởng phải làm thêm ngoài giờ mới đủ đảm bảo lượng
hàng hoá phục vụ nhu cầu khách hàng...................................................... 49
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI
HÀ ..............................................................................................................49
II. Giải pháp ...................................................................................... 49
KẾT LUẬN ................................................................................................ 54
LỜI NÓI ĐẦU


Mấy năm gần đây bộ mặt đất nước ta có nhiều thay đổi, kinh tế ngày
càng phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Đó là do
nước ta kịp thời chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao do
đó nhu cầu mua sắm hàng hoá cũng phát triển theo. Do vậy mà các doanh
nghiệp không ngừng hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm. Trong cơ chế
mới sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng gay gắt vì vậy đã có
nhiều doanh nghiệp không chịu được sức ép của thị trường đã không đứng
vững được nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp với đường lối kinh doanh
đúng đắn đã vượt qua được khó khăn, nắm bắt kịp thời cơ hội, thích nghi
được với điều kiện mới nên đã tồn tại và phát triển vững vàng. Một trong
những doanh nghiệp đó có Công ty Bánh kẹo Hải Hà.


Công ty bánh kẹo Hải Hà là một trong các doanh nghiệp chuyên sản
xuất kinh doanh các loại bánh kẹo. Trong những năm qua, công ty đã biết
chăm lo phát huy các nhân tố nội lực để vượt qua các thử thách của thời kỳ
chuyển đổi, phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả. Với mục
tiêu trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại
Việt Nam thì công ty phải nhanh chóng xây dựng cho mình một chiến lược
phát triển toàn diện, trong đó đặc biệt quan tâm đến chiến lược sản phẩm.
PHẦN I: Một số cơ sở lý luận về quản trị chiến lược
1. Khái niệm:
Quản trị chiến lược là sự tác động của các chủ thể quản trị lên đối
đối tượng quản trị và khách thể quản trị một cách thường xuyên, liên tục
nhằm xác định mục tiêu, con đường mà doanh nghiệp cần hướng đến trong
tương lai trên cơ sở phát huy những tiềm năng, thế mạnh, hạn chế những
yếu kém, tranh thủ cơ hội, đẩy lùi nguy cơ, biến nỗ lực của mỗi người
thành nỗ lực chung của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
trong những điều kiện môi trường nhất định.
+ Chủ thể quản trị: Là người đứng đầu, có quyền lực cao nhất trong tổ
chức quản trị, Quyền lực đó gắn với trách nhiệm của họ như hình với bóng.
+ Đối tượng quản trị: là những người dưới quyền của chủ thể quản trị, có
trách nhiệm thực hiện các mệnh lệnh của chủ thể quản trị, họ được đãi ngộ
đúng đắn theo khả năng quản lí.
+ Khách thể quản trị: Là những đối tượng có liên quan đến quá trình
quản trị, đó chính là khách hàng, bạn hàng, các đối thủ cạnh tranh và các
loại môi trường tác động.
2. Nhiệm vụ.
Quản trị chiến lược có 5 nhiệm vụ quan hệ mật thiết với nhau
+ Tạo lập một viễn cảnh chiến lược mô tả hình ảnh của công ty trong
tương lai, nêu rõ công ty muốn hướng đến đâu, trở thành một công ty như
thế nào? Chính điều này đã cung cấp định hướng dài hạn, chỉ rõ hình ảnh
mà công ty muốn trở thành, truyền cho công ty cảm giác về hành động có
mục đích.
+ Thiết lập các mục tiêu: Chuyển hoá viễn cảnh chiến lược thành các kết
quả thực hiện cụ thể mà công ty phải đạt được.
+ Xây dựng các chiến lược để đạt được mục tiêu mong muốn.
+ Thực thi và điều hành các chiến lược đã được lựa chọn một cách có
hiệu quả và hiệu lực.
+ Đánh giá việc thực hiện và tiến hành các điều chỉnh về viễn cảnh, định
hướng dài hạn, các mục tiêu, chiến lược hay sự thực hiện trên cơ sở kinh
nghiệm, các điều kiện thay đổi, các ý tưởng và các cơ hội mới.
3. Sự cần thiết khách quan của quản trị chiến lược.
- Với tình hình kinh tế phát triển như hiện nay,các doanh nghiệp muốn
tồn tại và phát triển thì phải có một tầm nhìn và hướng đi xác định Quản trị
chiến lược giúp tổ chức, doanh nghiệp xác định rõ ràng được mục tiêu,
hướng đi, vạch ra các con đường hợp lý và phân bổ các nguồn lực một cách
tối ưu để đảm bảo đi đến mục tiêu đã định trong quỹ thời gian cho phép.
- Một tổ chức thành công chỉ khi có hướng đi đúng đồng thời có sự
liên kết chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, các thành viên
trong tổ chức đó. Quản trị chiến lược sẽ kết hợp các nguồn lực của tổ chức
nhằm gắn kết,phát huy các nguồn lực để tạo ra sức mạnh cho doanh nghiệp,
tổ chức đó.
- Các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp luôn luôn biến đổi
như: tình hình thị trường, khách hàng, xu thế tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh,
sự thay đổi về công nghệ, môi trường pháp lý, tình hình kinh tế xã hội,
những điểm mạnh yếu nội tại, các cơ hội và nguy cơ có thể có từ bên
ngoài… sẽ tác động không ngừng. Do vậy sẽ là những mục tiêu thách thức
mà tổ chức cần phải ứng phó có hiệu quả trước những thách thức nảy sinh,
gồm cả những khó khăn và cơ hội.
- Với xu thế quá trình quốc tế hoá diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới,
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ diễn ra với tốc độ rất cao, sự
thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh… Vì vậy mà việc quản
trị chiến lược sẽ giúp cho doanh nghiệp vẽ được viễn cảnh trong tương
lai,phát huy và tận dụng được những điểm mạnh, cơ hội; đồng thời hạn chế,
khắc phục những điểm yếu và thách thức trong tương lai.
4. Môi trường bên ngoài
4.1 Môi trường vi mô:
4.1.1 Môi trường kinh tế
Phân tích môi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nó bao gồm
những yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và kết cấu tiêu dùng. Các yếu tố kinh
tế có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược của các doanh nghiệp, đặc biệt
quan trọng là các yếu tố sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối
đoái, và tỷ lệ lạm phát.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Biểu hiện qua xu hướng của tổng sản phẩm quốc nội(GDP) và tổng sản
phẩm quốc dân(GNP): cho biết tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và tốc độ
tăng của thu nhập bình quân đầu người. Từ đó cho phép dự đoán dung
lượng thị trường của từng ngành và thị phần của doanh nghiệp.
+ Lãi suất và xu hướng của lãi suất trong nền kinh tế: những yếu tố
này có ảnh hưởng đến xu thế tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư. Lãi suất tăng sẽ
hạn chế nhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, đồng
thời khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, nên cũng
sẽ làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm xuống.
+ Xu hướng của tỷ giá hối đoái: Sự thay đổi tỷ giá hối đoái có thể
ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động xuất nhập khẩu và ảnh hưởng tới
hoạt động của cả nền kinh tế. Yếu tố tỷ giá tạo ra những cơ hội và nguy cơ
khác nhau đối với các doanh nghiệp khác nhau, đặc biệt nó có tác động
điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu.
+ Mức độ lạm phát: lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu
tư vào nền kinh tế. Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng
khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng.
Ngoài 4 yếu tố cơ bản trên, khi phân tích môi trường kinh tế ở Việt
Nam người ta còn chú ý phân tích một số yếu tố khác như: hoạt động xuất
nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hệ thống thuế và mức thuế, các
biến động của thị trường chứng khoán:
4.1.2 Môi trường chính trị và hệ thống pháp luật
Doanh nghiệp/tổ chức là tế bào của nền kinh tế. Mọi quyết định của
doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố của môi trường
chính trị. Chính vì vậy những biến động phức tạp trong môi trường chính
trị và pháp luật sẽ tạo ra những cơ hội và rủi ro đối với các doanh nghiệp.
4.1.3Môi trường văn hoá – xã hội
Môi trường văn hoá – xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà
những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã
hội hoặc một nền văn hoá cụ thể. Cùng với quá trình hội nhập, các yếu tố
văn hoá ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của các tổ
chức/doanh nghiệp. Các khía cạnh hình thành môi trường văn hoá - xã hội
có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh. Vấn đề đặt ra đối với
các nhà quản trị là không chỉ nhận thấy sự hiện diện của nền văn hoá – xã
hội hiện tại, mà còn cần phải dự đoán những xu hướng thay đổi của nó, từ
đó chủ động hình thành những chiến lược thích ứng.
4.1.4 Môi trường dân số
Bao gồm những yếu tố: Quy mô dân số, mật độ dân số, tuổi tác, giới
tính, chủng tộc, trình độ học vấn. Những thông tin của môi trường dân số
cung cấp những dữ liệu quan trọng cho các nhà quản trị trong việc hoạch
định chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, tiếp thị, phân phối và
quảng cáo…
4.1.5 Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên khoáng
sản…đảm bảo các yếu tố đầu vào cần thiết và môi trường hoạt động cho
các doanh nghiệp/tổ chức.
4.1.6 Môi trường công nghệ
Môi trường công nghệ - những lực lượng tạo nên các công nghệ mới, tạo
nên các sản phẩm mới và các cơ may thị trường. Thay đổi công nghệ cho
phép tạo ra hàng loạt sản phẩm mới ngày càng tiên tiến hơn nhưng cũng
chính sự thay đổi công nghệ đó sẽ làm cho sản phẩm hiện hữu bị lạc hậu,
thải hồi. Như vậy sự thay đổi công nghệ bao gồm cả sáng tạo và huỷ diệt,
đem đến cả cơ hội và nguy cơ.
4.1.7 Môi trường toàn cầu
Môi trường toàn cầu bao gồm môi trường của các thị trường mà doanh
nghiệp có liên quan. Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá, không có
một quốc gia, doanh nghiệp nào lại không có mối quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp với nền kinh tế thế giới và càng ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa
dạng, phức tạp và tác động lên doanh nghiệp.
4.2 Môi trường vi mô
4.2.1 Nguy cơ nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng
Đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện sẽ khai thác những năng lực sản
xuất mới, giành lấy thị phần, gia tăng áp lực cạnh tranh ngành và làm giảm
lợi nhuận của doanh nghiệp. Như vậy sẽ ảnh hưởng đến chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguy cơ xâm nhập vào một ngành phụ thuộc rất nhiều vào các rào cản
xâm nhập thể hiện qua phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện hữu mà
các đối thủ mới có thể dự đoán. Một số nguồn rào cản chủ yếu như:
- Lợi thế kinh tế theo quy mô
- Sự khác biệt của sản phẩm
- Các đòi hỏi về vốn…
4.2.2 Sức mạnh đàm phán từ nhà cung cấp
Nhà cung cấp có thể tạo ra các cơ hội cho doanh nghiệp khi giảm giá
bán, tăng chất lượng sản phẩm, tăng chất lượng các dịch vụ kèm theo,
ngược lại cũng có thể gây ra các nguy cơ cho doanh nghiệp khi tăng giá
bán, giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ, không đảm bảo số lượng và thời
gian cung ứng…
4.2.3 Đe doạ của các sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm khác về tên gọi và thành phần
nhưng đem lại cho người tiêu dùng những tính năng, lợi ích tương đương
như sản phẩm của doanh nghiệp. Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế có thể
dẫn tới nguy cơ làm giảm giá bán hoặc sụt giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp phải dự báo và phân tích khuynh hướng phát
triển của các sản phẩm thay thế để nhận diện hết các nguy cơ do sản phẩm
thay thế gây ra cho doanh nghiệp.
4.2.4 Cường độ cạnh tranh của các DN hiện hữu trong ngành
Đối thủ cạnh tranh chia sẻ thị phần với doanh nghiệp và có thể vươn lên
nếu có vị thế cạnh tranh cao hơn. Đối thủ cạnh tranh là một áp lực thường
xuyên và đe doạ trực tiếp lên doanh nghiệp, khi áp lực cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp càng tăng lên thì càng đe doạ về vị trí và sự tồn tại của
chúng. Đặc biệt, khi các doanh nghiệp bị lôi cuốn vào cuộc chiến về giá sẽ
làm cho mức lợi nhuận chung của ngành bị giảm sút. Thậm chí rất có thể
làm cho tổng doanh thu của ngành bị giảm nếu như mức co giãn của cầu
không kịp với sự giảm xuống của giá. Vì vậy phân tích đối thủ cạnh tranh
là một nội dung quan trọng của nghiên cứu môi trường vi mô.
5 Môi trường bên trong
Môi trường bên trong bao gồm các yếu tố nội tại trong một doanh
nghiệp nhất định, trong thực tế doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố hoàn
cảnh nội bộ của nó.
a. Các yếu tố vật chất.
- Tiền vốn : Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh. Nhưng vấn đề quan trọng là nhà quản trị phải biết sử dụng có
hiệu quả đồng vốn đầu tư của mình, nó được phản ánh trên các chỉ tiêu sau:
Tốc độ hoàn trả vốn hiệu quả sử dụng vốn và lợi nhuận hàng năm thu được.
- Nhân sự: Con người là yếu tố quyết định mọi sự thành bại của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý tới việc sử
dụng con người, phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và nề
nếp tổ chức của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm tới
các chỉ tiêu rất cơ bản như: Số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng
suất lao động, thu nhập bình quân, năng lực của cán bộ quản lý...
b.Các yếu tố tinh thần:
- Nền văn hoá: Như ta đã biết những doanh nghiệp có nền văn hoá phát
triển sẽ có không khí làm việc say mê luôn đề cao sự chủ động sáng tạo.
Ngược lại, những doanh nghiệp có nền văn hoá thấp kém sẽ phổ biến sự
bàng quang, thờ ơ và bất lực trước đội ngũ lao động của doanh nghiệp.
- Giá trị ước vọng của lãnh đạo:Lãnh đạo theo cách lãnh đạo dân chủ
lắng nghe ý kiến đóng góp của của mọi người. Ước vọng đó được thể hiện
qua các quyết định của ban lãnh đạo. Cùng với sự phấn đấu của cán bộ
công nhân viên.
6. Những nhân tố chủ yếu để thực hiện quản trị chiến lược quản trị
thành công

6.1. Đặc điểm của quản trị chiến lược có hiệu quả là gì? Những đặc
điểm phải có là:
- Một chiến lược kinh doanh và tầm nhìn rõ ràng trong tương lai

- Một phương hướng chiến lược đã được các nhà quản lý cấp cao tán
thành, đã kể đến cả những đối tác và những người góp vốn.

- Một cơ chế cho trách nhiệm giải trình (với các khách hàng trong việc
đáp ứng kỳ vọng của họ cũng như trọng tâm trong việc đáp ứng được các
mục tiêu chính sách).

- Một khuôn khổ chung cho người quản lý ở một vài cấp độ (từ quản lý
bao quát cho tới việc sắp xếp những báo cáo nội bộ) để đảm bảo rằng bạn
có thể cùng phối hợp mọi thứ với nhau (nhiều mục tiêu) thậm chí cả khi có
sự cạnh tranh giữa thứ tự những công việc ưu tiên và các mục tiêu khác
nhau.

- Khả năng khai thác cơ hội và ứng phó trước những thay đổi từ bên
ngoài (bất ổn) bằng cách thực hiện tiếp các quyết định chiến lược.

- Một khuôn khổ chặt chẽ cho quản trị rủi ro - liệu có thể cân bằng giữa
những rủi ro và phần thưởng của một phương hướng kinh doanh, đương
đầu với những thay đổi rủi ro định sẵn hay đảm bảo tính liên tục trong kinh
doanh hay không? (Xem mục Risk Management).




6.2. Những ai có liên quan đến quản trị chiến lược?
Vai trò chủ chốt bao gồm:
- Các nhà quản trị kinh doanh và giám đốc điều hành cấp cao trong các tổ
chức thuộc lĩnh vực công cộng; họ cần phải tim ra những cơ hội cho cách
làm việc mới để có thể giúp tổ chức đó nhận ra những vấn đề thay đổi trong
lĩnh vực phục vụ công cộng, họ cũng cần phải nhận thức được sự cần thiết
phải sắp xếp lại tổ chức khi phương hướng chiến lược thay đổi.

- Các nhà quản trị cao cấp chịu trách nhiệm xem xét và đánh giá lại các
yêu cầu về cung cấp dịch vụ cơ bản và những nhà quản trị chịu trách nhiệm
tìm kiếm các phương thứ.

- Các nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện và đánh giá chiến lược kinh
doanh trong tổ chức; họ cần phải tôn trọng những đối tác và người góp vốn
kinh doanh chịu ảnh hưởng của chiến lược đó trong bối cảnh kinh doanh
rộng mở hơn

6.3. Các nguyên tắc

Vấn đề chiến lược mà tổ chức đang phải đối mặt và những ứng phó trước
các vấn đề này sẽ yêu cầu những kỹ năng trong quản trị chiến lược – đó là
khả năng nhận thức và giải quyết thành công những vấn đề chiến lược của
tổ chức. Trong lĩnh vực phục vụ công cộng, những vấn đề này bao gồm:
- Giải quyết nhu cầu của khách hàng chứ không phải lợi ích của tổ chức
- Sử dụng tiền có hiệu quả và giá trị lớn hơn
- Cung cấp các dịch vụ đã được cải thiện và đổi mới cho công chúng
- Quá trình xây dựng chính sách do nhiều người cùng thực hiện
- Gia tăng đối thoại với khách hàng và đối tác
- Phối hợp tốt hơn giữa chính quyền từ trung ương đến địa phương
- Tình hình thực hiện Thoả thuận cung cấp dịch vụ công cộng (Public
Service Agreements) được cải thiện
- Thực hiện chiến lược xây dựng chính phủ điện tử (một khuôn khổ chung
về những nguyên tắc chủ yếu như khả năng hoạt động tương hỗ và các tiêu
chuẩn kỹ thuật hỗ trợ)

Mặc dù quá trình thực hiện chiến lược có thể kết hợp các công việc đã
lên lịch sẵn cho phù hợp với quá trình quản trị mở rộng – như vòng quay kế
hoạch tài chính trong lĩnh vực công cộng – thì quản trị chiến lược vẫn là
một quá trình liên tục.

Các nhà quản lý mọi cấp độ trong tổ chức có thể cần phải ra quyết định
về các vấn đề kinh doanh vào bất kỳ lúc nào, và một số quyết định có thể
coi như “chiến lược” - mặc dù vào lúc đó nó không được coi là chiến lược.
Bất kỳ một chiến lược tập trung vào kinh doanh cần phải đủ linh hoạt để
đáp ứng những nhu cầu liên tục thay đổi

6.4. Các quá trình

Quản trị chiến lược có vai trò hợp tác và hội nhập, tìm kiếm sự đồng
thuận trong các chiến lược hỗ trợ và kinh doanh (HR workspace và IT) và
đảm bảo tính đúng đắn của chiến lược, xem Strategic Management
workbook để có phương pháp tiếp cận từng bước cụ thể hơn.

Nhiệm vụ của quản trị chiến lược, trong việc cộng tác với các đối tác, là
kiểm soát quá trình liên tục sau:
- Duy trì mối quan hệ tốt giữa tổ chức và môi trường - chuẩn bị sẵn sàng
ứng phó với những bất ổn trong tương lai.
- Phát triển và triển khai những phương pháp để thực hiện những vấn đề
được thảo luận đối với thay đổi về chiến lược – phát triển đề tài của chiến
lược.

- Phát triển, xem xét và kiểm soát các chính sách có ảnh hưởng đến các
quyết định quản trị và thực hiện kế hoạch.

- Theo dõi sự phát triển của công nghệ để xác định các cơ hội đổi mới.

Một chiến lược cho tổ chức – dù chiến lược đó là cho toàn bộ hoạt động
kinh doanh hay chỉ là hệ thống thông tin – cũng đều phải bao gồm:
- Một “tầm nhìn” chiến lược – một tầm nhìn dài hạn xem tổ chức mong
muốn tự đặt mình vào trong mối quan hệ tới môi trường kinh doanh như
thế nào – ví dụ, vai trò và chức năng của tổ chức, sản phẩm và dịch vụ mà
tổ chức cung cấp, mối quan hệ giữa tổ chức với khách hàng và đối thủ cạnh
tranh.

- Các công việc cần làm cho sự thay đổi - những khu vực thay đổi quan
trọng mà tổ chức tham gia nhằm ứng phó với những khó khăn và cơ hội mà
nó phải đối mặt; những điều này sẽ là “chủ điểm” trong chiến lược trong đó
nó đưa ra một số chủ đề như cơ cấu và tổ chức, chức năng và hoạt động
kinh doanh, cung cấp sản phẩm và dịch vụ, các vấn đề về quản lý và nhân
viên; công nghệ hay các mối quan hệ bên ngoài; một chủ điểm được thực
hiện trong khoảng thời gian dài hoặc trung hạn.

- Các chính sách hướng dẫn quá trình ra quyết định và đưa ra một khuôn
khổ chung cho các quyết định quản trị - những chính sách này sẽ ảnh
hưởng tới những đặc điểm hành vi dẫn dắt tổ chức hướng tới một tương lai
như mong muốn (xem Bussiness and supporting strategies)
Lộ trình tới tương lai như mong đợi phải được vạch rõ về mặt chủ điểm
của chiến lược. Chủ điểm có thể được coi như “những nhân tố làm nên
thành công cho chiến lược” – đây là thứ mà tổ chức cần phải có nếu đi theo
phương hướng tới tương lai như mong muốn.

6.5. Các quyết định chiến lược

Một quyết định chiến lược bao gồm những vấn đề gì? Nó dường như có
tính chiến lược hơn là có tính chiến thuật hay giải quyết công việc hàng
ngày nếu:
- Quyết định có liên quan đến nguồn lực về tài chính lớn hay các nguồn lực
khác như đội ngũ nhân viên hay các máy móc thiết bị.

- Quyết định sẽ liên quan tới một số thay đổi lớn trong tổ chức

- Quyết định có ảnh hưởng tới toàn bộ hay một phần lớn tổ chức

- Quyết định bắt buộc tổ chức phải có những cam kết trong dài hạn.

- Quyết định sẽ có tác động lớn ra bên ngoài tổ chức – ví dụ tác động tới
các khách hàng hoặc những cơ quan khác.

- Quyết định có chứa đựng rủi ro đối với hoạt động kinh doanh

- Quyết định sẽ liên quan tới những thay đổi về kinh doanh trong tổ chức
như các sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức cung cấp.

- Quyết định liên quan đến những lĩnh vực quyết định quan trọng khác
và làm nổi lên những mối quan hệ tương tác phức tạp đan chéo nhau.

- Sẽ rất khó hoặc không thể đảo được lại kết quả của quyết định
Nếu một tổ chức buộc phải thực hiện một quyết định chiến lược không
mong đợi thì quyết định này sẽ được thực hiện và chiến lược sẽ được thay
đổi lại cùng một lúc. Một chiến lược là hướng dẫn hành động chứ không
phải là sự bó buộc, bạn nên tiếp tục đón nhận yêu cầu có những thay đổi
trong chiến lược khi hoạt động kinh doanh thấy cần thiết.

6.6. Xem xét đánh giá

Bạn cần phải luôn đánh giá xem xét lại chiến lược như là một phần trong
nhiệm vụ giám sát tính hình tổ chức. Bạn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng:
- Tầm nhìn cho tổ chức vẫn còn có giá trị? Tầm nhìn về tương lai mong
muốn cho doanh nghiệp có còn phù hợp với những áp lực lên chúng ta hay
không, con đường mà hoạt động kinh doanh đang phát triển và những thay
đổi đã diễn ra - hoặc dường như sẽ diễn ra - trong môi trường kinh doanh
của chúng ta.

- Các chủ điểm trong chiến lược có còn đúng không? Chúng ta có cần
phải thêm vào các chủ điểm khác trong “danh mục những công viêc quan
trọng cần làm” do tình hình kinh doanh đã thay đổi, xuất hiện công nghệ
mới và có áp lực từ môi trường bên ngoài hoặc thay đổi trong khả năng
kinh doanh hay không? Có chủ điểm chiến lược nào không còn phù hợp
với“danh mục những công viêc quan trọng cần làm”?

- Tiến trình nào chúng ta đang thực hiện đối với chủ điểm chiến lược, và
chúng ta có cần phải xác định lại thứ tự ưu tiên hoặc lập lại kế hoạch để
đảm bảo rằng tỷ lệ thay đổi đáp ứng được những yêu cầu kinh doanh.
Bạn cũng cần phải luôn đánh giá lại các cấp độ chiến lược hoặc kế
hoạch sau:
- Tầm nhìn chiến lược
- Lộ trình đã được chọn để hướng tới tầm nhìn (“chủ điểm” của chiến
lược)
- Các kế hoạch chi tiết để thực hiện.

PHẦN II: Thực trạng chiến lược sản phẩm tại công
ty
I. Quá trình hình thành và phát triển
1. Giới thiệu về công ty
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà, tên giao dịch quốc tế là Haiha
Confectionery Joint-Stock Company (HAIHACO), là một doanh nghiệp
chuyên sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại Việt Nam.

Công ty được thành lập từ năm 1960 trải qua hơn 40 năm phấn đấu và
trưởng thành Công ty đã không ngừng lớn mạnh, tích lũy được nhiều kinh
nghiệm trong sản xuất kinh doanh. Với đội ngũ lãnh đạo giàu kinh nghiệm,
chiến lược kinh doanh tốt, đội ngũ kỹ sư được đào tạo chuyên ngành có
năng lực và lực lượng công nhân giỏi tay nghề Công ty cổ phần bánh kẹo
Hải Hà đã tiến bước vững chắc và phát triển liên tục để giữ vững uy tín và
chất lượng xứng đáng với niềm tin yêu của người tiêu dùng.

Tiền thân là một xí nghiệp nhỏ với công suất 2000 tấn/ năm. Ngày
nay, Công ty đã phát triển thành Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà với qui
mô sản xuất lên tới 20.000 tấn/ năm.
Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà là Doanh nghiệp đầu tiên trong lĩnh
vực sản xuất bánh kẹo được cấp chứng nhận hệ thống "Phân tích mối nguy
và các điểm kiểm soát tới hạn" (HACCP) tại Việt Nam. Điều này thể hiện
cam kết của Lãnh đạo doanh nghiệp về đảm bảo an toàn thực phẩm đối với
sức khoẻ của người tiêu dùng. Năm 2003 Công ty thực hiện cổ phần hóa
theo quyết định số 191/2003/QĐ-BCN ngày 14/11/2003 của Bộ Công
nghiệp.

Công ty chính thức hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày
20/01/2004 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103003614 do
Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp và thay đổi lần thứ hai ngày
13/08/2007.

1.1.Tên địa chỉ của Công ty

Trụ sở chính tại:

Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà

Vốn điều lệ: 54.750.000.000 đồng

Cơ cấu sở hữu: Nhà nước: 51%, cổ đông trong, ngoài công ty: 49%.
Số 25 - Ðường Trương Ðịnh - Quận Hai bà Trưng - Thành phố Hà Nội
Ðiện thoại: (84-4)8632956 - 8632041
Fax: (84-4) 8631683- 8638730
Email: haihaco@hn.vnn.vn.
Ðịa chỉ website: www.haihaco.com.vn

Các chi nhánh và các nhà máy trực thuộc:




Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh:
Ðịa chỉ: Lô 27, Đường Tân Tạo, Khu Công Nghiệp Tân Tạo, Q.Bình
Tân - Thành phố Hồ Chí Minh.
Ðiện thoại : (84-8) 7542017
Fax:(84-8) 7542934
Ðịa chỉ website: www.haihaco.com.vn

Chi nhánh thành phố Ðà nẵng:

Ðịa chỉ : 134- Ðường Phan Thanh - Quận Thanh Khê - Thành phố Ðà
nẵng
Ðiện thoại : 84-511-652244 , 84-511-650524
Fax: 84-511-650524
Ðịa chỉ website: www.haihaco.com.vn

Nhà máy thực phẩm Việt Trì -Thành phố Việt trì -Tỉnh Phú Thọ
Nhà máy bột dinh dưỡng Nam Ðịnh - Thành phố Nam Định



1.2. Các hoạt động sản xuất kinh doanh chính
- Sản xuất, kinh doanh bánh kẹo và chế biến thực phẩm.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, sản phẩm
chuyên ngành, hàng hoá tiêu dùng và các sản phẩm hàng hoá khác.
- Đầu tư xây dựng, cho thuê văn phòng, nhà ở, trung tâm thương mại.
- Kinh doanh các ngành nghề khác không bị cấm theo các quy định của
pháp luật.

1.3. Sản phẩm và các thành tích đạt được:




☻ Công ty hiện có các nhóm sản phẩm chính sau:
- Bánh quy - Kẹo Chew


- Bánh kẹo hộp - Kẹo mềm




- Bánh kem xốp - Kẹo jelly



- Bánh Cracker - Kẹo cứng

- Bánh trung thu - Lollipop




☻ Các thành tích của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà được Ðảng
và Nhà Nước công nhận :
+ 4 Huân chương Lao động Hạng Ba (năm1960 – 1970)
+ 1 Huân chương Lao động Hạng Nhì (năm 1985)
+ 1 Huân chương Lao động Hạng Nhất (năm 1990)
+ 1 Huân chương Ðộc lập Hạng Ba ( năm 1997)

Sản phẩm của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà được tặng nhiều Huy
chương Vàng, Bạc trong các cuộc triển lãm Hội chợ quốc tế hàng công
nghiệp Việt nam, triển lãm Hội chợ thành tựu kinh tế quốc dân, triển lãm
kinh tế- kỹ thuật- Việt nam và Thủ đô.

Sản phẩm của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà được người tiêu dùng
mến mộ và bình chọn là “Hàng Việt nam chất lượng cao” trong 13 năm
liền. Từ năm 1997 đến năm 2009.
1.4. Sứ mệnh

 Sứ mệnh của chúng tôi đối với người tiêu dùng là tạo ra những
sản phẩm phù hợp, tiện dụng bao gồm các loại thực phẩm thông
dụng, thiết yếu, các sản phẩm bổ sung. Chúng tôi cung cấp các thực
phẩm an toàn, thơm ngon, dinh dưỡng, tiện lợi và độc đáo cho tất cả
mọi người để luôn giữ vị trí tiên phong trên thị trường thực phẩm.
 Với cổ đông, sứ mệnh của chúng tôi không chỉ dừng ở việc
mang lại mức lợi nhuận tối đa trong dài hạn mà còn thực hiện tốt
việc quản lý rủi ro từ đó làm cho cổ đông an tâm với những khoản
đầu tư của họ.
 Với đối tác, sứ mệnh của chúng tôi là tạo ra những giá trị bền
vững cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng bằng cách đảm
bảo một mức lợi nhuận hợp lý thông qua các sản phẩm, dịch vụ đầy
tính sáng tạo. Chúng tôi không chỉ đáp ứng đúng xu hướng tiêu dùng
mà còn thỏa mãn được mong ước của khách hàng.
 Chúng tôi luôn ươm mầm và tạo mọi điều kiện để thỏa mãn
các nhu cầu và kỳ vọng trong công việc nhằm phát huy tính sáng tạo,
sự toàn tâm và lòng nhiệt huyết của nhân viên. Vì vậy Hải Hà luôn
có một đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, trung thành, có khả
năng thích nghi cao và đáng tin cậy.

1.5. Chức năng nhiệm vụ của Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Công ty bánh kẹo Hải Hà thuộc Bộ công nghiệp nhẹ được thành lập
với chức năng là sản xuất bánh kẹo phục vụ mọi tầng lớp nhân dân và một
phần để xuất khẩu.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao ban giám đốc cùng toàn thể cán
bộ công nhân viên của công ty phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tăng cường đầu tư chiều sâu với mục đích không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, đa dạng hoá sản phẩm
nhằm mở rộng thị trường đáp ứng nhu cầu về sản phẩm cho từng khu vực
thị trường.
Thứ hai, xây dựng phát triển chiến lược công nghệ sản xuất bánh
kẹo và một số sản phẩm khác, tăng cường công tác đổi mới cải tiến công
nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh.
Thứ ba, xác định rõ thị trường chính, thị trường phụ, tập trung nghiên
cứu thị trường mới, chú trọng hơn nữa đến thị trường xuất khẩu đặc biệt là
thị trường các nước láng giềng, củng cố thị trường Trung Quốc.
Thứ tư, nghiên cứu sắp xếp lại bộ máy sản xuất, tổ chức trong doanh
nghiệp, hoàn thiện bộ máy quản lý từ trên xuống, vận hành nhanh chóng
thông suốt. Trước mắt phải phát triển bộ phận Marketing trong phòng kinh
doanh thành một phòng Marketing riêng biệt nhằm nâng cao hiệu quả trong
khai thác thị trường cũ và phát triển thị trường mới nhất là thị trường các
tỉnh phía Nam và thị trường xuất khẩu.
Thứ năm, không ngừng nâng cao công tác đào tạo cán bộ, công nhân
viên.
Thứ sáu, tăng cường công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp,
thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt Đảng để quán triệt nghị quyết của
Đảng, tổ chức Đảng phải thực sự lãnh đạo kiểm tra được hoạt động kinh
doanh, đảm bảo thực hiện đúng đường lối của Đảng, chủ trương chính sách
của Nhà nước.
Thứ bảy, quản lý sử dụng vốn có hiệu quả, không ngừng phát triển
nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp, huy động thêm các nguồn vốn
khác, tiến tới tăng vốn chủ sở hữu.
Thứ tám, không ngừng chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên,
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, tham gia các công tác xã hội.


2. Các đặc điểm của doanh nghiệp liên quan đến quá trình quản trị
chiến lược:

Để thực hiện được chiến lược sản phẩm thì công ty CP Hải Hà phải
xem xét rất nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài cũng như nội lực bên
trong, Phải dựa vào vị thế hiện tại của công ty , nguồn lực của công ty và
các thế mạnh của công ty, các giá trị cốt lõi mà công ty đã tạo dựng được
để từ đó mới thực hiện chiến lược thành công.

2.1.Vị thế Công ty trong ngành

So với các ngành khác, ngành bánh kẹo là một trong những ngành có tốc
độ tăng trưởng ổn định (khoảng 2%/năm). Dân số phát triển nhanh khiến
nhu cầu về bánh kẹo cũng tăng theo tạo điều kiện cho Công ty tiếp tục duy
trì và mở rộng sản xuất. Hiện nay khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là
khu vực có tốc độ tăng trưởng về doanh thu tiêu thụ bánh kẹo lớn nhất thế
giới, khoảng 5%/năm từ năm 2007 đến năm 2009.

Trên thị trường sản xuất bánh kẹo hiện nay có khoảng hơn 30 doanh
nghiệp sản xuất bánh kẹo có tên tuổi trong đó Haihaco là một trong 5 nhà
sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam, là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của
các công ty như Bibica, Kinh Đô miền Bắc.

Sản phẩm bánh kẹo Hải Hà liên tục được người tiêu dùng bình chọn là
Hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền từ 1996 đến nay. Gần
đây nhất, Haihaco được bình chọn vào danh sách 100 thương hiệu mạnh
của Việt Nam.
Về thị phần, Haihaco chiếm khoảng 6,5% thị phần bánh kẹo cả nước tính
theo doanh thu. Kinh đô chiếm khoảng 20%, Bibica chiếm khoảng 7%, Hải
Châu chiếm khoảng 3%.

Đặc biệt, nếu xét về dòng kẹo Chew, Haihaco giữ vị trí số 1 về công
nghệ, uy tín trên thị trường. Trong tương lai gần, sản phẩm của các đối thủ
cạnh tranh như Bibica, Perfectti Van Melle vẫn chưa phải là thách thức lớn
nhất đối với Haihaco. Về kẹo mềm, với dây chuyền thiết bị hiện đại, các
sản phẩm kẹo xốp mềm Hải Hà chiếm thị phần lớn vượt qua tất cả các công
ty sản xuất kẹo mềm trong nước.

Hơn nữa, các sản phẩm của Haihaco rất đa dạng về kiểu dáng và phong
phú về chủng loại, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, mặt khác luôn có
chất lượng đồng đều, ổn định nên được người tiêu dùng đặc biệt là ở miền
Bắc rất ưa chuộng. Đây là một nhân tố mang lại sự cạnh tranh lớn cho
Công ty.

2.2. Đặc điểm về lao động
Trong quá trình phát triển công ty đã không ngừng chú trọng phát triển
nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng lao động. Trong đó năm
2008, thu nhập bình quân người lao động 3 triệu đồng/tháng, tăng 20% so
với năm 2007. Số lao động toàn công ty tính đến cuối năm 2008 là 3455
người và được chia thành 3 loại: Lao động dài hạn, lao động hợp đồng (từ 1
đến 3 năm) và lao động thời vụ. Vì tính chất sản xuất của công ty mang
tính thời vụ nên công ty mở rộng chính sách lao động hợp lý đó là chế độ
tuyển dụng hợp đồng lao động theo thời vụ. Hết thời hạn hợp đồng, người
lao động tạm nghỉ cho tới mùa vụ sau.
Trong tổng số lao động của toàn công ty thì nữ giới chiếm khoảng 80%.
Vì vậy mà công ty rất chú trọng đến các chế độ đãi ngộ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi để cho họ yên tâm làm việc. Cụ thể như giải quyết hợp lý các
vấn đề nghỉ thai sản, con ốm, bệnh tật...

- Về mặt số lượng: Từ một xí nghiệp chỉ có 9 cán bộ công nhân viên
thì đến năm 2008 Công ty đã có 3455 lao động.
- Về mặt chất lượng: Công ty có 265 người có trình độ đại học chiếm
29,6%, có 318 người có trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm 35,53% trong
đó cán bộ quản lý và kỹ thuật có trình độ đại học là 70 người chiếm 7,82%,
trình độ trung cấp có 242 người chiếm 27,04%. Điều đó cho thấy nguồn lao
động của Công ty được nâng cao về chất lượng, những người nắm giữ chức
vụ chủ chốt đều có trình độ đại học để phù hợp với sự thay đổi củ cơ chế
thị trường tạo những bước đi vững chắc cho sự phát triển của Công ty.
2.3. Đặc điểm về sản phẩm
Hiện tại công ty đang cung ứng ra thị trường bánh kẹo khoảng 160
chủng loại sản phẩm bánh kẹo khác nhau, với những nhãn hiệu, bao bì, đặc
tính riêng.
☻ Lịch sử phát triển và vị thế thị trường của các dòng sản phẩm chính
của haihaco
Kẹo chew : Dẫn đầu trong cơ cấu doanh thu là nhóm sản phẩm kẹo chew
Hải Hà với sản lượng tiêu thụ của kẹo chew gối và chew nhân đạt 6.789
tấn, doanh thu tăng từ 30% năm 2007 lên 43% năm 2009. Xét về dòng kẹo
chew, HAIHACO giữ vị trí số 1 về công nghệ, uy tín và thương hiệu trên
thị trường. Trong tương lai gần sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh như
Bibica, Perfectti Van Melle sẽ chưa phải là thách thức lớn nhất đối với
HAIHACO. Sản phẩm kẹo chew Hải Hà có mười hai hương vị: nhân dâu,
nhân khoai môn, nhân sôcôla, nhân cam….với công suất 20 tấn/ngày.
Kẹo mềm : Trong cơ cấu doanh thu 2009 sản phẩm kẹo mềm chiếm
29,8%. HAIHACO là Công ty sản xuất kẹo mềm hàng đầu, với dây chuyền
thiết bị hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức, các sản phẩm kẹo xốp mềm
Hải Hà chiếm lĩnh phần lớn thị phần của dòng sản phẩm này vượt qua tất
cả các công ty sản xuất kẹo mềm trong nước.

Bánh kem xốp : Sản phẩm bánh kem xốp và bánh xốp cuộn được sản
xuất trên 2 dây chuyền của Malaysia công suất 6 tấn/ngày và 3 tấn/ngày.
Sản phẩm của HAIHACO vẫn có ưu thế về giá cả, chất lượng cũng không
thua kém các sản phẩm cạnh tranh khác từ các doanh nghiệp trong nước
như Kinh Đô, Bibica, Hải Châu, Wonderfarm và hàng nhập khẩu. Doanh
thu từ bánh kem xốp đạt 37,2 tỷ đồng trong năm 2009 tăng 6,2 tỷ đồng. Về
tỷ trọng, dòng sản phẩm này chiếm 10,9%, tăng từ 11% năm 2008. Sản
lượng tiêu thụ đạt mục tiêu chất lượng đề ra.

Kẹo Jelly : Là dòng sản phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, từ
6,0% năm 2007 đến 9,2% năm 2009, kẹo jelly đem lại cho HAIHACO 30,6
tỷ đồng doanh thu (tăng 22,8% so với năm 2008) và 1,6 tỷ đồng lợi nhuận
(tăng 9% so với năm 2007). Trong năm 2009, kẹo Jelly Chip Hải Hà đã
được tiêu thụ với khối lượng 987,9 tấn.

Bánh Trung thu : HAIHACO luôn bám sát được thị hiếu của người
tiêu dùng. Sản phẩm của HAIHACO được đánh giá cao về chất lượng, vệ
sinh an toàn thực phẩm đặc biệt có hương vị thơm ngon. Bánh Trung thu
của HAIHACO gần đây được đổi mới về mẫu mã sản phẩm đẹp, sang trọng
không thua kém các doanh nghiệp sản xuất bánh Trung thu khác. Hiện nay,
bánh Trung thu Hải Hà cạnh tranh rất mạnh với bánh trung thu của Hữu
Nghị và Bibica, đặc biệt là trên thị trường miền Bắc. Tuy nhiên tỷ trọng của
bánh Trung thu trên tổng doanh thu chưa cao do tính chất mùa vụ của
sản phẩm.

Bánh Quy & Cracker: chịu sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước và nước ngoài. Các doanh nghiệp trong nước có thế mạnh về công
nghệ bên cạnh đó hàng ngoại nhập ngày càng xuất hiện nhiều ở những siêu
thị lớn, chủng loại khá phong phú, phù hợp nhiều loại đối tượng người tiêu
dùng.
2.4 Thị trường
Trong những năm qua nhìn chung sản lượng của công ty được tiêu thụ ở
Miền Bắc.
+ Sản lượng tiêu thụ năm 2008 là 10.345 tấn năm 2009 tăng lên 12.125
tức là tăng 1.780 tấn trong đó thị trường: Hải Dươn + Hưng Yên tăng 432
tấn; Thái Bình tăng 145 tấn; Tuyên Quang tăng 198 tấn; Ninh Bình tăng
276 tấn; Sơn La tăng 156 tấn; Hoà Bình tăng 235 tấn; Lai Châu tăng 190
tấn; Hà Nội tằng 148 tấn đây là những thị tường truyền thống của công ty.
So với thị trường miền Bắc thì thị trường miền Trung và miền Nam còn
khiêm tốn hơn
+ Thị trường miền Trung tổng sản lượng tiêu thụ năm 2008 là 5.367 tấn,
năm 2009 tăng lên 6.389 tấn trong đó Nghệ An tăng 320 tấn; Thanh Hoá
tăng 289 tấn; Quảng Ngãi tăng 413 tấn.
Thi trường Miền Nam:Năm 2009 sản lượng tiêu thụ tăng so với 2008 là
140 tấn trong đó: Phú yên tăng 6 tấn; Thành Phố Hô Chí Minh tăng 105
tấn; Lâm Đồng tăng 12 tấn; Gia Lai tăng 20 tấn. Đâylà thị trường mà công
ty cần phải mở rộngvà chiếm lĩnh, đặc biệt là thị trường vùng sâu, vùng xa.
Như vậy đối với thị trường trong nước, công ty cần phát huy hết tiềm
năng để mở rộng và tạo uy tín, vị thế trên thị trường này.


2.5. Đặc điểm về máy móc thiết bị
Haihaco đang sở hữu những dây chuyền sản xuất bánh kẹo tương đối
hiện đại tại Việt Nam, trong số đó có một số dây chuyền thuộc loại hiện đại
nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Toàn bộ các máy móc thiết bị
của Công ty được trang bị mới 100%, mỗi dây chuyền sản xuất từng dòng
sản phẩm có sự phối hợp tối ưu các loại máy móc hiện đại có xuất xứ từ
nhiều nước khác nhau
- Xí nghiệp bánh có 3 dây chuyền sản xuất bánh kem xốp bánh Biscuit
và bánh Cracker.
- Xí nghiệp kẹo gồm 2 dây chuyền sản xuất kẹo cứng và kẹo mềm.
Năm 2002 Công ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất kẹo Chew và kẹo
Caramen của Đức, đây là thiết bị hiện đại nhất cua công ty.

Trong năm 2007, Công ty đã đầu tư vào dây chuyền sản xuất bánh mềm
phủ sôcôla và bánh snack. Trong những năm tới, Công ty sẽ tiếp tục đẩy
mạnh bộ phận nghiên cứu nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra những sản
phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và hướng tới xuất khẩu.

Các máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn đều được đăng
ký kiểm định đầy đủ đúng quy định. Hàng tuần Cty bố trí ngày sửa chữa và
vệ sinh thiết bị, hàng năm bố trí kinh phí, thời gian sửa chữa thiết bị để đảm
bảo máy móc thiết bị hoạt động an toàn, hiệu quả

II. Thực trạng
1. Khái niệm về chiến lược sản phẩm
Muốn chiến thắng trong cạnh tranh thì phải làm chủ được cạnh tranh.
Nếu một công ty có thể cho rằng cứ tập trung mọi cố gắng của mình
để sản xuất ra thật nhiều sản phẩm, chất lượng cao là chắc chắn thu được
nhiều lợi nhuận, điều này chẳng có gì là chắc chắn. Bởi vì đằng sau nó còn
có hai vấn đề lớn mà nếu không giải quyết được thì mọi cố gắng của
công ty đều vô nghĩa.
Một là, thị trường có cần và cần hết số sản phẩm mà công ty sản xuất
ra hay không?
Hai là, giá thị trường mà công ty định bán người tiêu dùng có đủ tiền
mua hay không?
Nếu doanh nghiệp không trả lời chính xác hai câu hỏi này thì có
nghĩa là doanh nghiệp và thị truờng chưa có mối liên hệ mật thiết.
Trái với hình thức kinh doanh trên, nghĩa là hướng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào thị trường đó là mục tiêu của hoạch
định chiến lược sản phẩm.
Chiến lược sản phẩm là cách thức duy trì hoặc tạo ra một cơ cấu sản
phẩm hợp lý nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường và của khách hàng, phù
hợp với các khả năng và nguồn lực của công ty, chiếm ưu thế hơn các đối
thủ cạnh tranh trong từng thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty.
2. Sự cần thiết phải hoạch định chiến lược sản phẩm
Hiện nay trên cả nước có hơn 30 cơ sở sản xuất bánh kẹo lớn và vừa
và hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Thị trường bánh kẹo được coi là có tiềm
năng nhưng chưa được khai thác hết. Hàng năm lượng bánh kẹo sản xuất
trong nước khoảng 100.000 tấn, nhập khẩu khoảng 30.000 tấn, doanh thu
toàn ngành trên 1.200 tỷ đồng/ năm, bánh kẹo nội đã chiếm 80% thị phần
trong nước.
Trên thị trường hiện nay có thể kể đến một số đối thủ cạnh tranh lớn
chủ yếu của công ty bánh kẹo Hải Hà là: Hải Châu, Biên Hoà, Quảng Ngãi,
Tràng An, Kinh Đô, Hải Hà- Kotobuki…, còn các cơ sở nhỏ, các làng nghề
truyền thống thì: Bánh đậu xanh Rồng Vàng, Nguyên Hương ở Hải Dương,
kẹo dừa Bến Tre, bánh cốm Hàng Than… Bên cạnh đó, trên thị trường
còn có sự xuất hiện của bánh kẹo ngoại, bánh kẹo làm giả nhãn hiệu của
công ty làm mất uy tín của công ty. Đây là một khó khăn trên con đường
kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà.
Khi hiệp định về ưu đãi thuế quan (CEPT) có hiệu lực hoàn toàn,
thuế nhập khẩu sẽ giảm từ 20% năm 2003 xuống còn 0- 5% năm 2006, thì
tình hình cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo nước ta sẽ rất quyết liệt, sự
cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các công ty trong nước mà cả với các
công ty sản xuất bánh kẹo của các nước Đông Nam Á,đây là một trở ngại
rất lớn.
Tuy nhiên hiện nay công ty chưa có chiến lược sản phẩm hoàn chỉnh,
thực sự mới chỉ dừng lại ở việc hình thành những tư tưởng, giải pháp mang
tính chiến lược như: đa dạng hoá, dị biệt hoá sản phẩm, tạo ra cơ cấu chủng
loại sản phẩm phong phú đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Nhưng
cơ cấu sản phẩm của công ty chưa hợp lý, sản phẩm chủ yếu thuộc loại
bình dân, chưa có nhiều sản phẩm cao cấp phục vụ nhu cầu của những
người có thu nhập cao.
Như vậy, để xây dựng một lợi thế cạnh tranh dài hạn, kịp thời thích
ứng với lịch trình dỡ bỏ thuế quan (CEPT) và hội nhập quốc tế thì ban lãnh
đạo của công ty phải xây dựng một chiến lược kinh doanh dài hạn, trong đó
phải tập trung xây dựng hoàn chỉnh chiến lược sản phẩm, một trong những
chiến lược chức năng quan trọng nhất của chiến lược kinh doanh, để làm
trung tâm cho các chiến lược chức năng khác. Bởi vì:
- Trong thời gian tới thị trường bánh kẹo sẽ có những biến động rất
lớn, với kế hoạch sản xuất hiện nay nếu coi đó là phương tiện để có thể
cạnh tranh trong thời gian tới thì quả là sai lầm. Do vậy, việc đầu tư đổi
mới thiết bị công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản
phẩm… sẽ không có trọng tâm để tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn. Những
chính sách giá cả, chính sách phân phối và các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ
khó đạt được kết quả cao.
- Chiến lược sản phẩm được xây dựng dựa trên cơ sở lợi thế so sánh
của công ty, chiến lược sản phẩm tập trung vào các vấn đề chủ yếu như:
xác định lợi thế cạnh tranh dài hạn dựa vào khách hàng, đối thủ và nguồn
tài nguyên của công ty. Xác định sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao, có lợi
thế cạnh tranh ngắn hạn và dài hạn trong nước và quốc tế, để tập trung
nguồn lực vào đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị, nghiên cứu sản phẩm mới
đảm bảo có thể sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá bán thấp và
phù hợp với khách hàng. Đồng thời với việc thực hiện chiến lược sản phẩm
công ty có thể chủ động thích ứng tốt với những biến động của thị trường.
Tóm lại, nếu công ty có chiến lược sản phẩm đúng đắn sẽ là cơ sở
đảm bảo sự thống nhất giữa kế hoạch và chính sách kinh doanh, giữa chiến
lược chức năng với chiến lược chung toàn công ty. Chiến lược sản phẩm
cho phép công ty kết hợp các mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế,
giữa mục tiêu ngắn hạn với mục tiêu dài hạn, đây chính là điểm cốt lõi
trong việc đạt được lợi thế cạnh tranh.
3. Chiến lược sản phẩm của công ty đã và đang thực hiện
Mặc dù là một công ty lớn trong ngành sản xuất bánh kẹo nhưng hiện
nay công ty mới chỉ dừng ở việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở sau:
- Nhu cầu của thị trường về bánh kẹo, thông tin này thu thập được
thông qua điều tra thị trường và thông qua các đại lý bán hàng của công ty.
Bản sắc văn hoá phong tục tập quán, lối sống của từng vùng ảnh hưởng rất
lớn đến nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo. Đối với người miền Bắc quan tâm
nhiều hơn tới hình thức bao bì mẫu mã và khẩu vị ngọt vừa phải, còn người


miền Nam lại quan tâm nhiều hơn đến vị ngọt, hương vị trái cây.
- Dựa vào tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và tiêu thụ
sản phẩm của công ty cùng kỳ năm trước.
- Căn cứ vào nguồn lực của công ty như: vốn, nguồn nhân lực, máy
móc thiết bị các nguồn lực này được kiểm tra đành giá định kỳ.
- Dựa vào định mức kinh tế kỹ thuật của công ty, hệ thống định mức
này được xây dựng trong phòng thí nghiệm, qua thực tế sản xuất ở phân
xưởng sản xuất và được so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành.
- Dựa vào các hợp đồng đã ký.
Trên cơ sở trên Ban kế hoạch lập dự toán nguyên vật liệu, kế hoạch
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rồi trình lên Tổng giám đốc thông qua hoặc
sửa đổi nếu cần, sau đó nó sẽ được đưa xuống các phòng ban liên quan để
phân bổ lực lượng sản xuất, tính chi phí kinh doanh, giá bán, doanh thu và
lợi nhuận… trong kế hoạch.
4. Những kết quả đạt được
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do suy thoái kinh tế trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt, Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà (Cty CP) vẫn hoàn thành
vượt mức kế hoạch đề ra, đảm bảo đời sống cho người lao động với tốc độ
tăng trưởng sản xuất kinh doanh (SXKD) cũng như lương bình quân hàng
tháng của cán bộ công nhân viên đều trên 10%.

Trong năm 2008, Cty đạt doanh thu 418 tỷ đồng tăng 21%, thu nhập
bình quân người lao động 3 triệu đồng/tháng, tăng 20% so với năm 2007.
Là một trong những đơn vị hàng đầu của ngành bánh kẹo Việt Nam với gần
50 năm tuổi, Hải Hà đã phát triển được 6 xí nghiệp thành viên với 1.200
CBCNV tại Hà Nội, Việt Trì, Nam Định. Hàng trăm loại bánh kẹo thơm
ngon đậm hương vị trái cây nhiệt đới, ngày càng được người tiêu dùng ưa
chuộng.
Trong năm 2009, Công ty đạt tổng doanh thu 450 tỷ đồng, hoàn thành
100% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế 27 tỷ đồng, vượt 16% so với kế
hoạch.

Tính đến hết tháng 6/2010, HHC đạt 6,587 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế.
Do đặc thù của Công ty là sản xuất kinh doanh bánh kẹo nên doanh thu và
lợi nhuận thường đạt cao hơn trong quý IV/2010, đây là mùa tiêu thụ bánh
kẹo cao nhất trong năm. Công ty cũng có chủ trương di dời nhà máy sản
xuất bánh kẹo sang Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (Bắc Ninh) kể
từ năm 2011. Để nâng cao năng lực sản xuất, Công ty đã đầu tư dây
chuyền công nghệ để sản xuất bánh kẹo cao cấp.

Những thành tích HAIHACO đã đạt được trong thời gian qua cho phép
khẳng định bánh kẹo do Công ty sản xuất sẽ tiếp tục chiếm ưu thế tại thị
trường nội địa.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển để không chỉ
giữ vững vị trí của mình mà còn phải nhắm đến cả thị trường dành cho
người có thu nhập cao.
5. Các nhân nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược sản phẩm của công ty
5.1. Các nhân tố về môi trường vĩ mô
5.1.1. Nhân tố kinh tế
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước
phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2004 đến 2008 lần
lượt là: 5,67%; 4,77%; 6,75%; 6,84%; 7,04%. Đời sống nhân dân từng
bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 615 nghìn đồng
năm 2004 lên 840 nghìn năm 2007. Bên cạnh đó sự phân hoá thu nhập với
khoảng cách ngày càng xa dẫn đến ngày càng gia tăng người tiêu dùng
chấp nhận mức giá cao và có những người chỉ chấp nhận mức giá vừa
phải và thấp cho sản phẩm mình tiêu dùng. Khi mức sống của người dân
tăng lên thì nhu cầu của thị trường đối với bánh kẹo đòi hỏi phải thoả mãn
về số lượng, chất lượng cao hơn, mẫu mã phong phú hơn, phải bảo đảm vệ
sinh, an toàn cao hơn. Sự phân hoá giàu nghèo là một thách thức đối với
công ty sản xuất bánh kẹo với chất lượng trung bình.
Mặc dù nằm trong khu vực khủng hoảng tiền tệ Châu Á nhưng nhìn
chung về cơ bản những năm qua việc điều hành chính sách tiền tệ đã có
những tác động tích cực tới thị trưòng tiền tệ, thị trường vốn của nước ta,
hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường tài chính quốc tế. Mức điều
chỉnh lãi suất đối với ngân hàng thương mại trong những năm qua cho vay
ngắn phổ biến ở mức 0,6- 0,75%/ tháng, trung bình và dài hạn từ 0,65- 1%/
tháng. Trong những năm qua, tỷ giá ngoại tệ ổn định với mức tăng trên thị
trường liên ngân hàng trong năm 2008 bình quân 4,2% so với tỷ giá cuối
năm 2007. Sự thuận lợi trên thị trường tài chính, tiền tệ sẽ tạo điều kiện cho
công ty đầu tư mở rộng sản xuất.
5.1.2. Các yếu tố về chính trị pháp luật
Cùng với xu thế phát triển của khu vực và thế giới, trong nững năm
qua nước ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Nhà nước đã đẩy mạnh xây dựng, đổi mới thể chế pháp luật
trong Hiến pháp năm 1992 thay cho Hiến pháp năm 1980. Các luật và pháp
lệnh quan trọng thể hiện sự thay đổi này là: luật đầu tư trong nước và nước
ngoài tại Việt Nam, bộ luật thuế áp dựng thống nhất cho mọi thành phần
kinh tế, luật bảo vệ môi trường, pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm, luật
doanh nghiệp, luật bản quyền.
Đồng thời với quá trình xây dựng, sửa đổi các bộ luật cho phù hợp,
Chính phủ cũng đẩy mạnh cải tiến thể chế hành chính. Sau khi thực hiện
luật doanh nghiệp năm 1999, Chính phủ đã bãi bỏ 150 giấy phép con và
nhiều loại phí, lệ phí không hợp lý, đơn giản thủ tục giấy phép thành lập
doanh nghiệp… đã tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng thuận lợi hơn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Đối với mặt hàng bánh kẹo, Chính phủ đã có pháp lệnh về vệ sinh an
toàn thực phẩm, Luật bản quyền sở hữu công nghiệp quy định ghi nhãn
mác, bao bì nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các công ty làm
ăn chân chính. Nhưng việc thi hành của các cơ quan chức năng không triệt
để nên trên thị trường vẫn còn lưu thông một lượng hàng giả không nhỏ,
hàng nhái, hàng không rõ nhãn mác, hàng kém phẩm chất, quá hạn sử
dụng…
5.1.3. Các nhân tố xã hội
Bánh kẹo tuy không phải là nhu cầu thiết yếu của con người nhưng
nó là một sản phẩm kế thừa truyền thống ẩm thực của Việt Nam nói chung
và của các vùng nói riêng. Do đó bản sắc văn hoá phong tục tập quán, lối
sống của từng vùng ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo. Đối
với người miền Bắc quan tâm nhiều hơn tới hình thức bao bì mẫu mã và
khẩu vị ngọt vừa phải, còn người miền Nam lại quan tâm nhiều hơn đến vị
ngọt, hương vị trái cây.
Việt Nam là xứ sở nhiệt đới với nhiều loại hoa quả có hương vị khác
nhau cho nên sẽ rất thuận lợi cho việc sản xuất ra các loại bánh kẹo hương
vị hoa quả, ngoài ra còn có sự du nhập của các loại hương vị Châu Âu như:
sôcôla, cacao, cà phê. Đây chính là thuận lợi cho công ty trong việc đa
dạng hoá chủng loại sản phẩm.
Bên cạnh những người tin tưởng vào hàng hoá trong nước thì vẫn còn
những người chuộng hàng ngoại, cho rằng hàng ngoại có chất lượng cao
hơn hàng trong nước. Đây thực sự là cản trở đối với công ty khi thâm nhập
thị trường hàng cao cấp.
5.1.4. Các nhân tố kỹ thuật công nghệ
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, năng lực nghiên cứu,
triển khai, chuyển giao công nghệ của nước ta còn rất yếu. Đặc biệt công
nghệ sinh học, công nghệ cơ khí, công nghệ chế biến và tự động hoá. Trình
độ công nghệ nói chung của nước ta còn lạc hậu hơn so với thế giới tới vài
chục năm. Đây là một hạn chế rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung và công ty Hải Hà nói riêng trong việc đổi mới thiết bị, dây
chuyền công nghệ, triển khai sản phẩm mới để cạnh tranh với công nghiệp
sản xuất bánh kẹo nước ngoài. Mặc dù thị trường mua bán và chuyển giao
công nghệ đã phát triển nhưng nó chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty
đầu tư để cạnh tranh với doanh nghiệp ở trong nước, còn để có thể cạnh
tranh với các công ty bánh kẹo nước ngoài, công ty phải chịu một sức ép về
giá mua và chuyển giao công nghệ rất lớn.
5.1.5. Các nhân tố tự nhiên
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều đã ảnh
hưởng rất lớn tới tính thời vụ của công nghệ sản xuất và tiêu dùng bánh
kẹo.
Thứ nhất, bánh kẹo là một loại thực phẩm nên luôn phải đảm bảo vệ
sinh, an toàn thực phẩm nhưng nó cũng là loại sản phẩm khó bảo quản, dễ
bị hư hỏng. Do đó chi phí bảo quản và chi phí vận chuyển lớn làm tăng giá
thành sản phẩm.
Thứ hai, phần lớn NVL dùng cho sản xuất bánh kẹo là sản phẩm từ
nông nghiệp mà thời tiết nước ta diễn biến rất phức tạp như mưa bão, lũ lụt,
hạn hán rất nhiều làm cho thị trường cung cấp NVL không ổn định, chi
phí dự trữ NVL lớn.
Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo thay đổi rất lớn theo mùa, sản
phẩm bánh kẹo được tiêu dùng chủ yếu vào các tháng đầu năm và cuối năm
cho nên công tác nhân sự (quản lý, tuyển dụng lao động) và công tác điều
độ sản xuất của công ty gặp nhiều khó khăn.
Ngoài những bất lợi trên, các công ty sản xuất bánh kẹo nước ta cũng
có nhiều thuận lợi. Với hoa quả, hương liệu đa dạng, nếu công ty có hướng
nghiên cứu thay thế NVL nhập ngoại thì công ty sẽ chủ động được NVL và
có thể tạo ra được NVL mới, công ty sẽ có được lợi thế cạnh tranh trên thị
trường.
5.1.6. Các nhân tố môi trường quốc tế
Trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngày
28/7/1995, Việt Nam troẻ thành thành viên chính thức của ASEAN, sự hình
thành khối mậu dịch tự do ASEAN (APTA- ASEAN free Trade Area) và
việc ký hiệp định ưu đãi thuế ưu đãi thuế quan (CEPT- Common Effective
Preferential Tariffs) đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển kinh tế
của ASEAN, trong đó có Việt Nam. Theo lịch trình cắt giảm thuế quan
trong lộ trình gia nhập APTA của Việt Nam: giai đoạn 2001- 2003 nếu mức
thuế suất hiện hành của dòng thuế nào cao hơn 20% thì sẽ giảm xuống mức
dưới 20% và tiếp tục giảm xuống còn 0- 5% trong giai đoạn 2003- 2006.
Hàng hoá Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất tối
huệ quốc mà các nước ASEAN dành cho các nước thành viên của WTO, từ
đó công ty có điều kiện thuận lợi thâm nhập tất cả thị trường của các nước
thành viên của ASEAN_ một thị trường có hơn 500 triệu dân với tốc độ
phát triển tương đối cao. Nhưng đây cũng là thách thức đối với công ty,
không chỉ đối mặt với khó khăn khi xuất khẩu sang các nuớc thành viên mà
phải cạnh tranh quyết liệt ngay trên thị trường nội địa với chính những
sản phẩm bánh kẹo của các nước ấy, đặc biệt các mặt hàng này từ trước tới
nay vẫn được bảo hộ với mức thuế cao từ 50- 100%. Nếu công ty bánh kẹo
Hải Hà không chịu theo sát tiến trình thực hiện AFTA thì có thể đối đầu
với những bất lợi không nhỏ.
5.2. Môi trường cạnh tranh nội bộ ngành
5.2.1. Khách hàng
Khách hàng là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của
chiến lược sản phẩm. Nếu như sản phẩm của công ty đưa ra thị trường mà
không có nhu cầu hoặc ít có nhu cầu thì giá có thấp tới đâu mà quảng cáo
có hấp dẫn tới mức nào thì cũng không có ý nghĩa gì hết. Cũng như vậy
nếu sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tuyệt hảo nhưng giá lại quá cao
không phù hợp với túi tiền người tiêu dùng thì nó sẽ không được thị trường
chấp nhận. Vì thế khi hoạch định chiến lược sản phẩm, công ty cần nghiên
cứu phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, động cơ mua hàng của từng khu
vực thị trường. Có thể phân chia khách hàng của công ty thành hai loại đối
tượng: khách hàng trung gian (các đại lý) và người tiêu dùng cuối cùng.
Đối với các đại lý, mục đích của họ là lợi nhuận và động lực thúc đẩy
họ là hoa hồng, chiết khấu bán hàng, phương thức thanh toán thuận lợi của
công ty trả cho họ. Với hơn 200 đại lý, hệ thống phân phối của công ty
được đánh giá mạnh nhất trong ngành sản xuất bánh kẹo, nhìn trung các đại
lý tương đối trung thành, hệ thống đại lý của công ty chủ yếu tập trung ở
các tỉnh phía Bắc sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho công ty kinh doanh
ở thị trường này. Nhưng hệ thống đại lý ở các tỉnh miền Trung và phía
Nam lại có nhiều hạn chế, gây khó khăn khi công ty xâm nhập thị trường.
Đối với người tiêu dùng cuối cùng, nó có tính quyết định sự thành
công của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty cần phải
nghiên cứu, phân tích chính xác nhu cầu, khả năng thanh toán… của
nhóm khách hàng này.
5.2.2. Đối thủ cạnh tranh
Thị trường bánh kẹo ở nước ta hiện nay có sự cạnh tranh khá quyết
liệt. Bên cạnh hơn 30 nhà máy sản xuất bánh kẹo có quy mô vừa và lớn còn
hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Có thể kể một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu
của công ty như:
 Công ty bánh kẹo Hải Châu
Đây là công ty sản xuất bánh kẹo đứng thứ 2 trên cả nước chỉ sau
công ty bánh kẹo Hải Hà với số vốn đầu tư hơn 60 tỷ đồng và sản lượng
6.000 tấn/ năm. Trong thời gian qua Hải Châu rất chú ý đến vấn đề đa dạng
hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty đã đầu tư hơn 15 tỷ đông
nhập dây chuyền sản xuất bánh kem xốp phủ sôcôla của Đức, Hà Lan.
Đồng thời tổ chức lại hệ thống đại lý với hơn 200 đại lý và siêu thị trên
toàn quốc. Điểm mạnh của Hải Châu là: công ty có uy tín lâu năm trong
ngành sản xuất bánh kẹo, danh mục sản phẩm rộng, hệ thống phân phối
rộng chủ yếu ở miền Bắc, giá cả tương đối rẻ.
Tuy nhiên phần lớn sản phẩm của Hải Châu có chất lượng trung
bình, mẫu mã chưa thật hấp dẫn, chỉ có mặt hàng bánh kem xốp là mặt
hàng chủ lực có chất lượng tốt.
Mục tiêu của công ty là tiếp tục giữ vững thị trường miền Bắc, mở
rộng thị trường trong nước, hướng tới các phân đoạn thị trường có thu nhập
cao và từng bước thâm nhập thị trường nước ngoài.
Như vậy công ty Hải Châu cạnh tranh với công ty Hải Hà chủ yếu
diễn ra ở thị trường miền Bắc với các sản phẩm bình dân.
 Công ty bánh kẹo Tràng An
Đây là một công ty sản xuất bánh kẹo tương đối mạnh ở thị trường miền
Bắc. Sản phẩm của công ty Tràng An cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của
công ty bánh kẹo Hải Hà, các sản phẩm cạnh tranh chủ yếu là: kẹo cứng,
kẹo mềm và đặc biệt là kẹo hương cốm, sản phẩm này của công ty Tràng
An rất đa dạng với giá rẻ, hương vị cốm đặc trưng phù hợp với người tiêu
dùng miền Bắc.
 Công ty đường Quảng Ngãi và công ty đường Biên Hoà
Công ty đường Quảng Ngãi với chức năng ban đầu là sản xuất đường
và cồn. Với ưu thế sẵn có công ty đã đầu tư 50 tỷ đồng nhập các dây
chuyền sản xuất bánh kẹo của Đài Loan, Đan Mạch để đa dạng hoá sản
phẩm.
Công ty đường Biên Hoà ban đầu sản xuất đường, một vài năm gần
đây công ty nhập các máy móc thiết bị sản xuất bánh kẹo của Đan Mạch,
Pháp, Italy. Các mặt hàng như kẹo cứng, kẹo dẻo Jelly, sôcôla, bánh biscuit
cạnh tranh khá mạnh với Hải Hà về giá cả.
 Công ty TNHH Kinh Đô
Đây là công ty mới tham gia vào thị trường bánh kẹo nước ta với các
dây chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại của các nước hàng đầu thế giới.
Danh mục sản phẩm của công ty tương đối rộng (trên 60 chủng loại sản
phẩm) với chất lượng cao, mẫu mã đẹp đủ sức cạnh tranh với bánh kẹo
ngoại. Sản phẩm chủ yếu của Kinh Đô là bánh tươi, bánh mặn, snack, kẹo
sôcôla nhân… cung cấp cho những người có thu nhập cao. Bên cạnh chất
lượng sản phẩm cao, mẫu mã đẹp, hấp dẫn người tiêu dùng, công ty rất chú
trọng quảng cáo nhằm xây dựng hình ảnh của công ty. Công ty Kinh Đô là
một đối thủ cạnh tranh rất lớn của Hải Hà trong quá trình thâm nhập thị
trường bánh kẹo cao cấp.
 Công ty liên doanh Hải Hà- Kotobuki
Là công ty liên doanh với hả Hà chuyên sản xuất bánh kẹo, tách ra hạch
toán độc lập theo giấy phép 489/CP ngày 24/12/1992.
So với các công ty khác Hải Hà- Kotobuki có ưu thế về công nghệ,
sản phẩm chủ yếu của công ty gồm: snack, bánh tươi, sôcôla, kẹo cứng,
bimbim và các loại bánh hộp khác. Sản phẩm của công ty hết sức đa dạng,
chất lượng cao, mẫu mã đẹp nhưng giá còn cao.
Điều này được thể hiện rõ hơn qua bảng so sánh các đối thủ cạnh
tranh chủ yếu (Bảng 16)
5.2.3. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu
Các loại nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất của công ty như:
đường, sữa, cà phê, gluco, nước hoa quả, bột ngô, bột gạo được mua chủ
yếu từ các nhà sản xuất trong nước. Còn các loại NVL mà trong nước
không đáp ứng được hoặc chất lượng trong nước không đảm bảo cho yêu
cầu sản xuất sản phẩm công ty phải nhập ngoại như: bột mì, bơ, cacao, sữa
bột, short, phẩm mầu và các loại hương liệu. Để tăng tính chủ động nguồn
cung cấp NVL, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng. Công ty đã
lựa chọn ký kết hợp đồng kinh tế với các nhà cung ứng truyền thống có uy
tín trong nước và quốc tế với số lượng nhà cung ứng hợp lý sao cho có thể
đảm bảo được số lượng, chất lượng NVL khi có sự biến động từ phía nhà
cung ứng nào đó, đồng thời công ty cũng có được những lợi thế khi mua
với số lượng lớn.
Hiện nay, ngành mía đường, ngành sữa Việt Nam đang phát triển
mạnh tạo ra nhiều thuận lợi cho công ty trong việc lựa chọn nhà cung ứng.
Tuy nhiên hiện nay giá đường trong nước còn cao hơn các nước trong khu
vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia và xuất hiện xu hướng sát nhập
xuôi theo chiều dọc của các nhà máy đường sẽ tạo sức ép rất lớn cho công
ty trong việc cạnh tranh về giá với các công ty này.


5.2.4. Các đối thủ tiềm ẩn
Ngành công nghiệp sản xuất bánh kẹo có quy trình công nghệ kỹ
thuật khá đơn giản, vốn đầu tư tương đối ít so với một số ngành công
nghiệp khác. Mặt khác hiện nay những pháp lệnh, quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm cũng như sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan ban
ngành đối với ngành sản xuất bánh kẹo còn lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ. Do vậy
rào cản gia nhập ngành sản xuất bánh kẹo còn thấp.
Vì vậy ngành bánh kẹo rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc
quy hoạch đầu tư, quan tâm đến quá trình sản xuất, lưu thông và sử dụng
các sản phẩm bánh kẹo đảm bảo các vấn đề về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn
thực phẩm, sức khoẻ cho người dân và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành
mạnh giữa các nhà sản xuất.
Đối với các công ty bánh kẹo cần tổ chức hiệp hội bánh kẹo để có
những biện pháp hữu hiệu bảo vệ thị trường trong nước chống lại sự xâm
nhập của các công ty nước ngoài khi lịch trình cắt giảm thuế quan (CEPT)
đến gần. Với lợi thế về quy mô sản xuất, công nghệ chế biến, ngành bánh
kẹo nên nâng cao hàng rào ra nhập thị trường bằng các biện pháp như:
chính sách giá cả, chính sách sản phẩm…
5.2.5. Sản phẩm thay thế
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều loại hoa quả đa
dạng, thơm ngon. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì ngành
sản xuất chế biến hoa quả cũng phát triển theo, đáp ứng thị hiếu của những
người ưa mới lạ như: mít sấy, khoai sấy, các loại nước ép hoa quả, sữa tươi
mang hương vị hoa quả… được người tiêu dùng rất ưa chuộng.
Các sản phẩm thay thế trên là mối đe doạ rất lớn đối với sản phẩm
hiện tại của công ty, nhưng nó cũng gợi mở cho công ty hướng nghiên cứu,
phát triển sản phẩm mới cho tương lai.


III. Đánh giá chung
1.Những mặt mạnh:
Haihaco là một công ty có bề dày hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bánh
kẹo, được thành lập từ năm 1960. Trải qua hơn 40 năm, Công ty đã không
ngừng lớn mạnh và đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh
doanh. Sản phẩm bánh kẹo Hải Hà liên tục được người tiêu dùng bình
chọn là "Hàng Việt Nam chất lượng cao" trong nhiều năm liền từ 1996 đến
nay. Gần đây nhất, HAIHACO được bình chọn vào danh sách 100 thương
hiệu mạnh của Việt Nam. Sản phẩm của HAIHACO rất đa dạng về kiểu
dáng và phong phú về chủng loại đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Có những sản phẩm mang hương vị hoa quả nhiệt đới như Nho đen, Dâu,
Cam, Chanh..., có những sản phẩm mang hương vị sang trọng như Chew cà
phê, Chew caramen, sôcôla....lại có những sản phẩm mang hương vị đồng
quê như Chew Taro, Chew đậu đỏ, Cốm...Mặt khác các sản phẩm Bánh kẹo
Hải Hà luôn luôn có chất lượng đồng đều, ổn định nên được người tiêu
dùng đặc biệt là ở miền Bắc rất ưa chuộng. Thị phần của HAIHACO ở thị
trường này rất lớn.

Với đội ngũ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, Công ty luôn đề ra được những
chiến lược kinh doanh tốt, đội ngũ kỹ sư được đào tạo chuyên ngành có
năng lực và lực lượng công nhân giỏi tay nghề.

Mặt khác, Haihaco đang sở hữu những dây chuyền sản xuất bánh kẹo
tương đối hiện đại tại Việt Nam, trong số đó có một số dây chuyền thuộc
loại hiện đại nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Toàn bộ các máy
móc thiết bị của Công ty được trang bị mới 100%, mỗi dây chuyền sản xuất
từng dòng sản phẩm có sự phối hợp tối ưu các loại máy móc hiện đại có
xuất xứ từ nhiều nước khác nhau.



Ngoài ra, Công ty cũng đã tranh thủ được sự quan tâm giúp đỡ của các
cơ quan quản lý cấp trên, của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và
tổng Công ty mía đường I, các cơ quan nhà nước (đặc biệt là Ngân hàng
đầu tư và phát triển Hà Nội) đã tạo điều kiện giúp đỡ Công ty trong việc
xây dựng triển khai và tổ chức khai thác tốt các dự án đầu tư chiều sâu, đầu
tư mới cùng việc khai thác các sản phẩm sau đầu tư. Trên cơ sở đó Công ty
đã tăng được nguồn tích luỹ khấu hao, tạo nguồn chi trả vốn vay đầu tư
đúng và trước thời hạn thanh toán. Đồng thời do chủ động về tài chính và
thanh toán, nên thực tế đã tiết kiệm và giảm thấp được chi phí lãi vay ngân
hàng đồng thời khắc phục được sự biến động về tỷ giá ngoại tệ trong
những thời điểm thanh toán.
Thời gian gần đây ,do nền kinh tế phát triển nên đời sống của nhân dân
được nâng cao và đồng thời nhu cầu về sản phẩm bánh kẹo cũng tăng theo.
Thị trường của Công ty không ngừng được mở rộng (trong nước và cả
nước ngoài) như Lào, Campuchia, Cuba, ấn Độ... đặc biệt năm vừa qua
Công ty đã xuất khẩu 70 tấn kẹo các loại sang Lào .
Mặt khác, Công ty còn thực hiện phương thức thanh toán đơn giản,
hợp lý tạo điều kiện cho các kênh tiêu thụ phối hợp nhịp nhàng, lưu thông
nhanh chóng. Tuy nhiên Công ty cần theo dõi sát sao các đại lý, không nên
để tình trạng các đại lý đọng vốn nhiều, lâu, gây khó khăn cho Công ty về
vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh , đặc biệt tránh tình trạng không
trả được nợ của các đại lý. Công ty đã có nhiều hình thức hỗ trợ bán hàng,
nâng cao sức mua đối với sản phẩm của mình thông qua quảng cáo trên các
phương tiện thông tin đại chúng: Ti vi, đài, báo, tạp chí... tham gia các kỳ
hội chợ giới thiệu sản phẩm của Công ty, tổ chức các kỳ hội chợ khách
hàng.
2.Những hạn chế:
Bên cạnh đó, Công ty cũng có những khó khăn cần khắc phục như
nguyên vật liệu đầu vào chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm
(khoảng 65% - 70%), do đó biến động giá nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng
trực tiếp tới giá thành sản phẩm.

Hơn nữa, giá bán đường của Việt Nam sản xuất hiện nay cao hơn 20 -
30% giá đường của Thái Lan, điều này làm tăng chi phí nguyên vật liệu,
giảm sự cạnh tranh của các sản phẩm bánh kẹo Việt Nam. Ngoài ra, một số
nguyên phụ liệu cho sản xuất bánh kẹo phải nhập khẩu, khi giá nguyên phụ
liệu thế giới lên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá bán của các sản phẩm sử dụng
nhiều nguyên liệu nhập khẩu.

Để khắc phục điều này, Công ty xác định nguồn nguyên liệu không nên
tập trung vào một hay hai nhà cung cấp mà được cung cấp bởi một số nhà
sản xuất có uy tín trong ngành như mua bao bì nhựa của Công ty Cổ phần
Bao bì nhựa Tân Tiến, sữa đặc của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam(
Vinamilk)...

Một điều khó khăn không thể tránh khỏi của các công ty ngành bánh kẹo
đó là vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng còn tồn tại. Các sản phẩm
hàng giả và hàng nhái bắt chước mẫu mã, kiểu dáng của các thương hiệu
nổi tiếng như Hải Hà, Kinh Đô, Bibica… đã ảnh hưởng không nhỏ tới uy
tín của những thương hiệu này.

Những năm, qua công tác phòng chống hàng giả cũng đã có những hiệu
quả nhất định, tuy nhiên theo Công ty nhận định, số lượng bánh kẹo giả lưu
hành trên thị trường vẫn còn khá lớn chiếm khoảng 15% thị phần bánh kẹo
cả nước.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, Công ty gặp nhiều khó khăn trong
quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp có tuổi đời chưa cao nhưng có
sự đầu tư mạnh và dây chuyền sản xuất hiện đại, chất lượng sản phẩm cao,
mẫu mã đẹp. Trong khi đó, quá trình quảng cáo và Marketing sản phẩm
của Công ty chưa được mở rộng đến nhiều vùng, tỉnh …Việc đáp ứng nhu
cầu của thị trường là rất khó vì mỗi vùng, tỉnh có sở thích khác nhau, khẩu
vị hoàn toàn khác nhau.
Mặt khác, công ty còn gặp khó khăn trong việc vận chuyển hàng hoá đi
các tỉnh khác vì chi phí tăng đẩy giá thành sản phẩm tăng theo. Đây là một
vấn đề cần bàn đến nhưng để giải quyết là một vấn đề khó .
Bên cạnh những kết quả đạt được, Công ty bánh kẹo Hải hà còn một số
vấn đề cần giải quyết :
- Các sản phẩm của Công ty đang phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt vì :
giá cả các yếu tố đầu vào tăng như dầu, mỡ, nguyên liệu, bột, đường, các
chất phụ gia... trong khi đó giá của sản phẩm vẫn giữ nguyên, mặt khác
các mặt hàng trốn lậu thuế vẫn còn chỗ đứng trên thị trường trong nước.
Do đó Công ty phải cố gắng tìm các biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất
, hạ giá thành sản phẩm .
- Trên thị trường hiện nay , tệ nạn làm hàng giả, hàng nhái đối với các
doanh nghiệp tư nhân vẫn xuất hiện nhiều. Do đó Công ty cùng với các
nhà phân phối hợp tác cùng điều tra, phát hiện và xử phạt nghiêm minh đối
với việc làm giả, làm nhái đồng thời cũng có chế độ thưởng cho những
người có công tìm ra.
- Phải khắc phục được tính mùa vụ của nhu cầu bánh kẹo trong dân
chúng. Vào dịp lễ tết sản phẩm bánh kẹo, bột canh tiêu thụ lớn, nhiều khi
sản xuất ra không đủ để bán , điều này làm ảnh hưởng tới uy tín của Công
ty đối với các bạn hàng , đôi khi dẫn đến mất thị trường .
- Sản phẩm của Công ty tuy phong phú, đa dạng nhưng chủ yếu thuộc
loại sản phẩm bình dân, trong khi đó thị trường đòi hỏi sản phẩm cao cấp
hơn. Trong năm nay thị trường bánh, kẹo của các đối thủ cạnh tranh có ưu
thế chiếm lĩnh thị trường như bánh của Công ty Kinh Đô, bánh kẹo của
Tràng An, Hải châu, Bảo Ngọc...Do đó Công ty cần phải nâng cao chất
lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường .
- Một số loại sản phẩm bao bì còn thô sơ, đơn điệu, mẫu mã chưa hợp
lý, mầu sắc kém hấp dẫn.Ví dụ như mầu nền của bánh kem xốp loại 470 gr
không thanh nhã, đẹp bằng của Hải châu . Bao bì không đủ cứng cáp để
vận chuyển đường xa làm cho sản phẩm bị vỡ, tạo ra sự mặc cảm cho
người tiêu dùng, làm tăng cạnh tranh . Do đó Công ty phải đầu tư nâng cao
chất lượng bao bì, tạo ra những kiểu mẫu mã đẹp hơn, sang trọng hơn.
- Bên cạnh đó, Công ty chưa có chế độ về doanh thu, đây cũng là vấn
đề quan trọng cần chú ý. Bởi các Công ty khác vẫn có chế độ về doanh thu
mặc dù cũng sản phẩm như thế thậm chí còn tốt hơn, thí dụ như các công
ty bánh kẹo Hải châu, Tràng An...Như vậy, Công ty cần có chế độ về
doanh thu hợp lý để có thể khuyến khích các cán bộ công nhân viên ,qua
đó có thể nâng cao năng suất chất lượng.
3. Nguyên nhân tồn tại
Trong những năm qua, là một doanh nghiệp sản xuất có tiếng trên thị
trường, trong bước chuyển đổi trong cơ chế thị trường, Công ty bánh kẹo
Hải Hà đã từng bước nắm được nhu cầu của thị trường, cải tiến và đầu tư
máy móc thiết bị , mua sắm những dây chuyền công nghệ hiện đại và thực
hiện đa dạng hoá sản phẩm. Công ty mạnh dạn đưa ra thị trường những sản
phẩm phong phú về hình thức và chất lượng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của
người tiêu dùng.
Mặt khác, Công ty còn thực hiện một hệ thống chính sách khuyến khích
với khách hàng được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tế trong từng
thời kỳ, điều này đã giúp Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định
và phát triển ngày càng cao.
Bên cạnh những thành công đạt được, hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty còn hạn chế như sau: chưa hoàn toàn khắc phục được tính thời vụ
của nhu cầu bánh kẹo trong nhân dân như vào các dịp lễ tết, sản phẩm của
Công ty tiêu thụ rất lớn song nhiều khi sản xuất ra không đủ bán. Do vậy,
các phân xưởng phải làm thêm ngoài giờ mới đủ đảm bảo lượng hàng hoá
phục vụ nhu cầu khách hàng.



PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY BÁNH KẸO
HẢI HÀ


I. Định hướng:
Mục tiêu phấn đấu của công ty trong thời gian tới là giữ vững quy
mô, tốc độ phát triển để trở thành một trong những công ty sản xuất bánh
kẹo lớn nhất Việt Nam. Công ty bánh kẹo Hải Hà có trang thiết bị tiên tiến,
có khả năng cạnh tranh với công nghiệp sản xuất bánh kẹo của các nước
trong khu vực. Sản lượng bánh kẹo của Hải Hà ước tính đến năm 2008
khoảng 21.000 tấn/ năm chiếm khoảng 17- 19% tổng sản lượng ngành,
trong đó tiêu thụ trong nước khoảng 17.000 tấn, xuất khẩu 4.000 tấn, doanh
thu 450 tỷ đồng, nộp ngân sách 25 tỷ đồng.
II. Giải pháp
1. Giải pháp chung.
Tămg doanh thu của công ty bằng cách kích thích khách hàng truyền
thống, thu hút khách hàng của các đối thủ cạnh tranh nâng cao khả năng
cạnh tranh . Đây chính là vấn đề sống còn của công ty trên thị trường. Công
ty chỉ có thể phát triển được khi khả năng cạnh tranh của công ty ngày càng
tăng lên. Sức cạnh tranh cao luôn giúp công ty tăng khả năng trong kinh
doanh các phương thức bán hàng. Trong thời gian tới, mục tiêu cơ bản tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa - thúc đẩy mạnh mẽ tiêu thụ sản
phẩm.
Nâng cao uy tín của công ty trên thị trường trong nước cũng như
ngoài nước. Uy tín trong kinh doanh là vấn đề quan trong trên thị trường
hiện nay. Có uy tín khả năng kinh doanh trên thương trường thuận lợi hơn
cả trong hiện tại cũng như trong tương lai, khả năng ổn định và phát triển
kinh doanh của công ty ngày càng cao tạo cho mục tiêu khác cũng phát
triển.
Kinh doanh phải có hiêu quả, từ đó có khả năng tái đầu tư để phát
triển và phát huy tốt vai trò trong nền kinh tế, đóng góp đầy đủ cho ngân
sách nhà nước, tăng lợi nhuận cho công ty.
2. Giải pháp cụ thể.
Giữ vững và ổn định sản xuất kinh doanh trên cơ sở đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh. Tích cực khai thác thêm mặt hàng mới đáp ứng đầy đủ,
kịp thời nhu cầu của thị trường. Bảo tồn và tăng cường vốn. Dựa vào các
hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty đề ra các chiến lược về tài chính, sử
dụng vốn nhằm phát huy hơn nữa các hiệu quả kinh doanh, tăng cường
công tác quản lý sử dụng tài sản, tiền vốn song song với việc nâng cao
kinh doanh về cả mặt chất lượng lẫn số lượng. Khai thác tốt , có hiệu quả
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có.
Củng cố và khai thác triệt để thị trường truyền thống, thị trường hiện
tại của công ty. Phát hiện xâm nhập và dần chiếm lĩnh thị trường mới. Đảm


bảo giữ được thị phần, tăng doanh số bán, tăng lợi nhuận vừa củng cố uy
tín của công ty trên thị trường.
Phát huy tốt nhất mọi nguồn lực của công ty, nguồn nhân lực của
công ty phải được bảo đảm về chất lượng. Tức là đủ kiến thức, kinh
nghiệm và được sắp xếp một cách hợp lý trong cơ cấu lao động.
Tạo dựng, thiết lập mối quan hệ rộng rãi với các bạn hàng trong
nước và quốc tế.
Bảo đảm việc làm ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất
cho cán bộ công nhân viên , làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.
Về bộ máy lao động:
Tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý đã ban hành. Có kế hoạch đào tạo
và đào tạo lại lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
Công tác quản lý: Tiếp tục xây dựng cơ chế quản lý và quy chế cho phù
hợp. Triệt để tiết kiệm trong chi phí, trước hết là chi phí về điện nước, hành
chính, thực hiện tài chính công khai và kiểm tra nội bộ từng quý trong năm.
2.1. Kiện toàn công tác tài chính kế toán , quản lý chặt chẽ nguồn vốn
kinh doanh , có tầm nhìn chiến lược trong huy động và sử dụng vốn.

Vấn đề đặt ra hiện nay cho công ty là vốn kinh doanh , để nhập khẩu
hàng hoá doanh nghiệp cần có vốn, cơ cấu vốn lưu động của công ty cần đủ
để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Và để công ty nhập khẩu được kịp
thời đúng tiến độ kinh doanh chung cũng như giảm tối thiểu các khoản chi
phí. Công ty phải kiện toàn công tác tài chính kế toán doanh nghiệp, quản
lý chặt chẽ nguồn vốn kinh doanh , đa dạng hoá các hình thức huy động
vốn và sử dụng vốn.

Công ty phải quản lý chặt chẽ nguồn vốn, tổ chức các nghiệp vụ thu
chi tiền tệ đảm bảo thúc đẩy có hiệu quả , tiết kiệm phù hợp với các chi phí
hiện hành.
Xây dựng mối quan hệ với hệ thống ngân hàng tốt hơn nữa, tạo lập và
duy trì niềm tin của ngân hàng đối với công ty một cách cụ thể và thiết
thực.

Tranh thủ huy động khai thác các nguồn vốn vay dài hạn.

2.2. Hiện đại hoá trang thiết bị.

Hiện nay tất cả các doanh nghiệp đang từng bước trang bị máy móc,
cơ sở vật chất hiện đại để phục vụ cho công tác hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Trước tình hình đó Hai hà phải:Mạnh dạn đầu tư trang
thiết bị hệ thống máy tính cho cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu là biện
pháp mang lại hiệu quả kinh doanh cao, ổn định mặc dù chi phí khá
lớn.Đông thời với việc đầu tư trang thiết bị, công ty phải đào tạo đội ngũ
cán bộ công nhân chuyên sử dụng các trang thiết bị đó nhằm sử dụng một
cách có hiệu quả nhất và đảm bảo độ an toàn.

2.3. Nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ
công nhân viên.

Con người là trung tâm trong mọi hoạt động , có sức sáng tạo vô hạn
cho nên quản lý con người phải khoa học rõ ràng nhằm đạt được hiệu quả
kinh doanh tốt nhất. Nhiều điều tra cho thấy quản trị nguồn nhân lực tốt
dẫn đến thành công của doanh nghiệp.
Thường xuyên đào tạo cán bộ trong kinh doanh cho phù hợp với yêu
cầu và tình hình mới. Tuyển chọn thêm nhân viên từ các trường học thuộc
khối kinh tế, quản trị kinh doanh, đưa cán bộ công nhân viên tham gia lớp
tập huấn ngắn hạn.

Thực hiện chế độ đãi ngộ nhân sự, kích thích bằng vật chất và tinh
thần thông qua tiền lương, tiền thưởng tạo cơ hội cho cá nhân có thành tích
, trình độ nghiệp vụ đạt yêu cầu đề ra, bên cạnh đó khuyến khích bằng tinh
thần như tổ chức các cuộc hội thảo… tạo mối quan hệ thân thiện giữa
lãnh đạo với công nhân.

Xây dựng một cơ cấu nhân sự hợp lý, khoa học, phát huy tính năng
động sáng tạo của mỗi cá nhân cũng như khai thác có hiệu quả nguồn chất
xám của mỗi cơ hội kinh doanh, tránh tình trạng người lao động có tay
nghề nghiệp vụ, trí tuệ không được phát huy năng lực của mình.

2.4. Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường.

Đảm bảo khả năng cạnh tranh , tránh rủi ro, công ty cần phải nắm
vững thị trường (qua quá trình điều tra thu thập xử lý và phân tích thông tin
thị trường). Nghiên cứu thị trường chính là việc phục vụ đề ra sách lược
đúng đắn.

Đối với thị trường hiện tại : Công tác nghiên cứu thị trường cần hiểu
rõ khách hàng của mình cần gì, đã mãn nhu cầu của khách hàng chưa, nhu
cầu khách hàng tăng hay giảm, các loại hình dịch vụ đã hợp lý chưa. Từ đó
đề ra các biện pháp cụ thể nhằm tăng doanh số bán hàng.

Đối với thị trường mới : cần làm rõ vấn đề nhu cầu của khách hàng
ra sao, mua cái gì, mua bao nhiêu , có chấp nhận được mức giá mình đưa ra
hay khaông. Từ đó doanh nghiệp quyết định kinh doanh trong lĩnh vực nào,
tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh và các loại hình dịch vụ mà công ty sẽ đưa
ra.
KẾT LUẬN


Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, việc
xây dựng và lựa chọn chiến lược sản phẩm là một vấn đề hết sức có ý
nghĩa, bởi vì nó có vị trí và vai trò rất quan trọng, là cơ sở để xây dựng và
thực hiện các kế hoạch nhằm phát triển toàn diện doanh nghiệp.
Trước tình hình thị trường bánh kẹo Việt Nam luôn biến động và sự
kiện Việt Nam ra nhập APTA. Vấn đề đặt ra đối với công ty là cần thiết
phải hoạch định một chiến lược sản phẩm hữu hiệu giúp công ty ứng phó
linh hoạt với những thay đổi của môi trường kinh doanh, vượt qua thử
thách, chiến thắng trong cạnh tranh chủ động hội nhập và đi lên trong thời
gian tới.
Mặc dù thế giới đã có nhiều kinh nghiệm trong hoạch định và lựa
chọn chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược sản phẩm, nhưng ở nước
ta nói chung và công ty Hải Hà nói riêng đây là vấn đề khá mới mẻ, cần
phải được làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để vận dụng sáng tạo
vào hoàn cảnh cụ thể, chuyên đề đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung
nhất về chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Trên cơ sở phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài và môi trường nội
bộ công ty kết hợp với cơ sở lý luận chung để hoạch định và lựa chọn một
chiến lược sản phẩm cho công ty (chiến lược đa dạng hoá, chú trọng phát
triển các sản phẩm chất lượng cao và cao cấp).

Top Download Quản Trị Kinh Doanh

Xem thêm »

Tài Liệu Quản trị kinh doanh Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản