BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Chia sẻ: anhphong_119

Tư tưởng thân dân đã tồn tại rất lâu đời, nó được kế thừa và phát huy qua các thời đại. Đầu tiên chúng ta phải kể đến dòng tư tưởng Nho Giáo có tư thời Xuân Thu - Chiến Quốc(722 – 221 TCN) của Trung Hoa cổ đại. Nó đã được vận dụng và truyền bá qua nước ta từ thời lập quốc. Tiếp nối dòng tư tưởng đó, qua mỗi thời đại cuả nước ta nó có sự chuyển biến phù hợp với lối sống, văn hoá và trình độ phát triển của mỗi thời kì....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tìm hiểu về tư tưởng thân dân của
Đề tài:”

Nguyễn Ái Quốc so với các bậc tiền bối.
Vấn đề này ngày nay được Đảng và Nhà
nước ta giải quyết như thế nào.”


Người hướng dẫn:
Th.S Lê Thị Hoa
Sinh
viên thực hiện:
Vũ Huy Phong
Mã SV: CQ 512404
Lớp tín chỉ: Tư tưởng Hồ Chí Minh_01




Hà nội, ngày 30
tháng 10 năm 2010



MỤC LỤC
A/ Tư tưởng “Thân dân”
I-/ Khái quát chung về tư tưởng thân dân
1. Nguồn gốc tư tưởng
2. Tìm hiểu chung về tư tưởng
II-/ Tư tưởng “Thân dân” của các nhà tư tưởng trước Hồ Chí Minh
1. Dòng tư tưởng Nho Giáo
2. Tư tưởng của Nguyễn Trãi
III-/ Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Thân dân”
IV-/ So sánh tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và các nhà tu tưởng đi
trước
1. Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và dòng tư tưởng Nho giáo
2. Tư tưởng thân dân của Hồ CHí Minh và Nguyễn Trãi
B/ Vấn đề giải quyết tư tưởng “Thân dân” của Đảng và Nhà nước ta
trong giai đoạn hiện nay
I-/ Những mặt tích cực đáng ghi nhận
II-/ Hạn chế, cần khắc phục
1. Hạn chế
2. Giải pháp bản thân




A – TƯ TƯỞNG THÂN DÂN
I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG “THÂN DÂN”
1. Nguồn gốc tư tưởng
Tư tưởng thân dân đã tồn tại rất lâu đời, nó được kế thừa và phát huy qua các
thời đại.
Đầu tiên chúng ta phải kể đến dòng tư tưởng Nho Giáo có tư thời Xuân Thu -
Chiến Quốc(722 – 221 TCN) của Trung Hoa cổ đại. Nó đã được vận dụng và
truyền bá qua nước ta từ thời lập quốc. Tiếp nối dòng tư tưởng đó, qua mỗi thời đại
cuả nước ta nó có sự chuyển biến phù hợp với lối sống, văn hoá và trình độ phát
triển của mỗi thời kì.
Luồng tư tưởng “Thân dân” đã được coi trọng và được xem như là một ưu
sách để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Các triều đại phong kiến Việt
Nam độc lập trong lịch sử đều coi trọng vấn đề này trong việc ban hành các chủ
trương, chính sách,, từ kinh tế, xã hội, văn hoá, luật pháp đến an ninh, quốc phòng,
ngoại giao… Triều Khúc Thừa Dụ có chính sách “Khoan, giản, an, lạc”, triều Lý
có chính sách “Ngụ binh ư nông”, triều Trần có “Khoan thư sức dân”, “Chung chí
thành thành” và nổi tiếng với Hội nghị Diên Hồng, triều Lê quan niệm “Dân như
nước có thể đẩy thuyền, lật thuyền”, vai trò, vị trí người dân được luật hoá trong
Bộ luật Hồng Đức. Căn cứ vào thực tiễn lịch sử, nhà sử học Ngô Sĩ Liên (thời Lê)
tổng luận, các triều đại đó đã “Lấy nghĩa mà duy trì, lấy dân để cổ kết, lấy trí để
trông coi, lấy tín để ngăn phòng. Có đặt dân lên chốn chiếu êm mới làm cho thế
nước vững như núi Thái Sơn, bàn thạch. Chăm lo cho nước trở nên văn minh, dân
đến chỗ giàu thịnh là mưu hay trị dân, giữ nước; là kế xa sửa nước, chăn dân".
Trong tập "Nước Việt Nam từ cội nguồn xa xưa đến ngày nay" của Giáo sư, Tiến sĩ
Pi-e Ri-sa Fe-ray, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và sưu tầm về Á Đông ngày
nay (CERAC) của nước Pháp, trong chương I nhan đề " Nước Việt Nam cổ xưa
hay sự chinh phục của tính cách Việt , một đoạn viết khá hấp dẫn về nhà Lê và nhà
văn hoá Nguyễn Trãi:" Triều đại nhà Lê (Lê sơ, 1428 -1527) do một chủ đất bình
thường là Lê Lợi sáng lập. Ông trở thành Hoàng đế dưới danh hiệu Lê Thái Tổ
(1428-1433), được một nhà nho, nhà văn, nhà chiến lược, nhà chính khách tài ba là
Nguyễn Trãi giúp đỡ. Lê Lợi đã điều hành một cuộc chiến tranh giải phóng quốc
gia thật mẫu mực, cho đến ngày nay, triều đại ông lập nên vẫn còn là một trong
những triều đại được hâm mộ và có tiếng tăm lừng lẫy nhất. Nhưng các vua Lê còn
làm được những việc hơn thế nữa, bằng Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông
(1470 - 1497) soạn thảo, các vua Lê đã thể nghiệm và xác định được vị trí "con
người Việt" trong tổng thể các mối quan hệ xã hội". Cụ thể, Bộ luật Hồng Đức đã
thể hiện sâu sắc tư tưởng "Lấy dân làm gốc" của dân tộc ta, trong "Điều 294: Trong
kinh thành và phường ngõ, làng xóm có kẻ ốm đau mà không ai nuôi, nằm ở đường
xá, cầu điếm, chùa quán thì xã quan ở đó phải dựng lều lên mà chăm sóc họ cơm
cháo, thuốc men, cốt sao cứu sống họ. Nếu không may mà họ chết thì phải trình
quan trên và tổ chức chôn cất, không được để lộ thi hài. Nếu phạm tội này thì quan
làng xã bị tội biếm hay bãi chức". Tính chất nhân đạo - "Thân dân" được nêu trong
điều này của Bộ luật Hồng Đức chỉ xuất hiện ở châu Âu mấy thế kỷ sau đó, khi nổ
ra cách mạng tư sản .
Như vậy, tư tưởng thân dân đã tồn tại rất lâu đời, gắn liền với các trang sử trọng
đại của dân tộc ta, nó được xem là một truyền thống tốt đẹp của cả dân tộc. Nó bắt
nguồn từ truyền thống nhân nghĩa của con người, từ những giá trị tốt đẹp đúc kết
từ thực tiễn.
2. Tìm hiẻu chung về tư tưởng thân dân
a/ Thân dân là gì?
Tuy mỗi thời đại, mỗi dân tộc có một cách nhìn nhận khác nhau về tư
tưởng thân dân. Nhưng nhìn chung chúng ta có thể nhận thấy điểm chung của tư
tưởng thân dân đó là: Đây là một tư tuởng tiến bộ, coi trọng vai trò của nhân dân,
lấy dân làm gốc, gần gũi, chia sẻ khó khăn, đau khổ cùng nhân dân, tiếp cận nhân
dân dưới góc độ xem nhân dân là sức mạnh của cả dân tộc.
b/ Ý nghĩa của tư tưởng thân dân
Tư tưởng thân dân là cái gốc căn bản để xây dựng nên các chủ trương, chính
sách xã hội, pháp luật, an ninh quốc phòng, bảo vệ tổ quốc… Các triều đại trong
lịch sử của nước ta đã nhận rõ điều này, tuỳ vào mỗi thời đại có lối sống, văn hoá,
tôn giáo, chính trị riêng… những người đứng đầu đất nước dã biết cách vận dụng
nó để đưa ra các chính sách phù hợp, đứng đắn, họ đã biết cách vận dụng tốt tư
tưởng thân dân vào quản lý xã hội, phát triển kinh tế, chống giặc ngoại xâm…
Lịch sử đã chỉ rõ những cuộc chiến tranh yêu nước thắng lợi đều là những cuộc
chiến tranh nhân dân, phát huy được sức mạnh tinh thần và vật chất tiềm tàng của
toàn dân. Kháng chiến chống Tống, chống Mông - Nguyên thời Lý - Trần là những
minh chứng hùng hồn.
Từ những hoàn cảnh, đặc điểm và thực tế của lịch sử dân tộc, một số nhân vật tiến
bộ trong giai cấp phong kiến như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... đã nhận thức
khá sâu sắc vai trò quyết định của nhân dân trong chiến tranh chống ngoại xâm
cũng như trong các biến cố lớn của lịch sử. Trần Hưng Đạo cho rằng "vua tôi đồng
lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức" là nguyên nhân thắng lợi của kháng
chiến thời Trần. Theo ông, "chúng chí thành thành", chí dân là bức thành giữ nước.
Chính vì nhận thức về vai trò đoàn kết toàn dân là rất quan trọng, Trần Quốc Tuấn
đã đề ra "thượng sách giữ nước" là "khoan thư sức dân làm kế rễ bén gốc". Đó là
điều kiện tiên quyết để chiến thắng kẻ thù. Ông đã thấy vai trò quyết định của quần
chúng nhân dân đối với vĩ nhân trong lịch sử. Trần Quốc Tuấn nói: "Chim hồng
học bay được cao là nhờ ở sáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì
cũng như chim thường thôi". Như vậy, anh hùng xuất chúng làm nên nghiệp lớn là
nhờ sự ủng hộ của quần chúng nhân dân tộc.
* Thân dân và "khoan thư sức dân"
Thấy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong việc giữ nước, cho nên
ngay từ thời Lý việc chăm lo đời sống nhân dân, quan tâm đến nguyện vọng của
nhân dân đã được khẳng định là điều quan trọng hàng đầu trong đạo trị nước.
Trong bài văn lộ bố khi đánh Tống của Lý Thường Kiệt có viết: "Trời sinh ra dân
chúng; vua hiền tất hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân". Rồi đến bài Minh
bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn đã ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt:
"...làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy.
Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính
trọng... Thái úy biết dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho
nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng đến người
già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được yên thân. Phép tắc như vậy
có thể gọi là cái gốc trị nước; cái thuật yên dân; sự đẹp tốt đều ở đấy cả". Và một
khi việc bồi dưỡng sức dân, chăm lo đời sống nhân dân có một tầm quan trọng như
vậy trong đạo trị nước, thì cũng dễ dàng trở thành một tiêu chuẩn chính trị để nhà
vua dựa vào đó mà tự răn mình.
Bên cạnh đó, thân dân còn có ý nghĩa, toàn dân không phân biệt vua tôi, cao
thấp chung sức, chung lòng xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao đời sống
nhân dân, góp phần bảo vệ tổ quốc.



II- TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG TRƯỚC HỒ CHÍ
MINH
1/ Dòng tư tưởng Nho giáo
Tư tưởng Nho Giáo từng là căn bản văn hóa của dân Việt từ thời lập quốc và
hợp với Lão Giáo, Phật Giáo và rồi với nền văn hóa Tây Phương thành nền nếp, kỷ
cương người Việt ngày nay. Người Việt rất trọng nhân nghĩa, thủy chung và đối
tượng của nhân nghĩa chính là người dân. Từ xưa đến nay, những áng văn thư lịch
sử nổi tiếng vẫn nhắc nhở chính quyền luôn lấy dân làm gốc và đề cao vai trò của
người dân.
Dòng tư tưởng Nho Giáo nổi tiếng với các đại diện tiêu biểu đó là: Khổng tử,
Mạnh tử và Tuân tử. Trong đó, Khổng Tử là một học giả học rộng, nhớ nhiều, là
nhà tư tưởng vĩ đại; tư tưởng của người đã gây ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau này.
Ông được xem là ông tổ của Nho giáo. Mạnh Tử là học trò xuất sắc của Khổng Tử,
người đã kế thừa và phát huy tốt ưởng cuả Khổng Tử. Trong dòng tư tưởng Nho
giáo tư tưởng thân dân chủ yếu được thể hiện qua việc nhân nghĩa, thương dân,
mong muốn cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc…
Khổng Tử nhắc nhở những người cầm quyền: “Sai khiến dân phải cẩn thận
như điều hành một cuộc tế lễ lớn” (Sử dân như thừa đại lễ). Mạnh Tử chủ trương:
Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo
bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành.
Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của
riêng cho mình. Phải duy dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng,
dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước
phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo
giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi
hành.
Nho gia yêu cầu các bậc trị quốc phải bảo đảm cho người dân có đời sống tối
thiểu để họ: “ngẩng lên đủ để phụng dưỡng cha mẹ, cúi xuống đủ để nuôi sống vợ
con” (sử ngưỡng túc dĩ sự phụ mẫu, phủ cập, dĩ sức thê tử). Muốn vậy, người dân
phải có “thu nhập ổn định” (hằng sản) đủ để sống. Nếu trên nét mặt người dân có
sắc đói là trách nhiệm của kẻ cầm quyền. Đó là quan điểm tiến bộ của Mạnh Tử.


2/ Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, quân sự tài năng, một nhà tư tuởng kiệt xuất.
Nói về Nguyễn Trãi, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nguyễn Trãi, người
anh hùng dân tộc, văn võ song toàn, văn là chính trị, chính trị cứu nước cứu dân,
nội trị, ngoại giao, “mở nền thái bình muôn thuở, rửa nỗi thẹn ngàn thu” (Bình Ngô
đại cáo), võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh, ít địch
nhiều,… thắng hung tàn bằng đại nghĩa” (Bình Ngô đại cáo); văn và võ đều là võ
khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao”
Cho nên tư tưởng của Nguyễn Trãi mang đậm hơi thở của cuộc sống, hoà lẫn và ẩn
chứa đằng sau các lĩnh vực khác như: chính trị, quân sư, ngoại giao, văn chương,…
Nguyễn Trãi sinh ra trong thời kỳ “binh đao loạn lạc” chiến tranh, tranh chấp
chính trị giữa các triều đại diễn ra liên miên vì vậy tư tưởng của ông mang nặng
tính nhân nghĩa, lòng thương dân. Bên cạnh đó, do chịu sự ảnh hưởng của nhiều
luồng tu tưởng khác nhau: Nho giáo, Phật giáo, Lão .. nên tư tưởng của ông có
những nét khá riêng biệt.
Tư tưởng “thân dân” của ông thể hiện chủ yếu qua tư tương nhân nghĩa, với
Nguyễn Trãi, trước hết “Nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Ông coi trọng vai trò của
nhân dân đối với đất nước, xem nhân dân là gốc. Cuộc đời Nguyễn Trãi, trừ những
năm ông sống ở Thăng Long và Côn Sơn, là cuộc sống của một Nho sĩ nghèo,
thiếu thốn, mười năm cùng Lê Lợi chống quân Minh là mười năm cực kỳ gian khổ.
Nguyễn Trãi đã có cuộc sống gần gũi với nhân dân, hòa mình vào nhân dân, nên
ông đã nhìn thấy những đức tính cao quý của nhân dân, hiểu được nguyện vọng tha
thiết của nhân dân và tin vào sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Vì thế, tư tưởng nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi đậm đà, sâu sắc, mang nhiều nét độc đáo, rất gần gũi với
nhân dân. Đối với Nguyễn Trãi, “yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa
vào dân, và cứu nước là để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người”.
Cho nên không có gì là lạ khi chúng ta thấy Nguyễn Trãi nhắc đến dân rất nhiều
lần trong các tác phẩm của ông . Nguyễn Trãi là người đầu tiên trong lịch sử Việt
Nam nói đến “dân đen con đỏ” một cách tha thiết, cảm động và chân thành. Ông
viết: “… Bọn có phận sự chăn dắt dân, thì không lấy chữ (phủ dân) làm cốt yếu,
mà chỉ vụ lợi tham nhũng. Bọn tướng suý thì không lấy chữ (vệ dân) làm cốt yếu,
lại đi lộng hành lăng ngược. Cho đến cả bọn hoạn quan, cũng tha hồ đi vơ vét áp
bức lương dân, thu nhặt vàng ngọc. Nguyễn Trãi thương dân bởi ông thấy dân đã
phải chịu nhiều đọa đày dưới sự thống trị hà khắc của giặc Minh. Trên nhiều trang
thư gửi cho các tướng giặc, Nguyễn Trãi đã thống thiết nói lên điều đó: “Phương
Chính, Mã Kỳ chỉ chuyên làm điều tàn ác, nhân dân khốn khổ, thiên hạ đều oán
giận. Chúng khai quật mồ mả ấp ta, bắt cóc vợ con dân ta, người sống đã bị hại,
người chết cũng ngậm oan”. Bình Ngô đại cáo là một bản cáo trạng đanh thép về
tội ác tày trời của giặc Minh: “Thui dân đen trên lò bạo ngược; Hãm con đỏ xuống
dưới hố tai ương”. Có “chặt hết trúc Lam Sơn” cũng “chẳng đủ ghi hết tội ác” mà
giặc Minh đã gây ra đối với nhân dân Đại Việt.

Trước chúng ta hơn sáu trăm năm, Nguyễn Trãi đã đưa ra quan niệm khá sâu sắc
về dân và vai trò của dân. Ông đã phát hiện ra rằng, sức mạnh của “dân chúng” là
sức mạnh kháng chiến cơ bản: “mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật
thuyền cũng là dân”, “chìm thuyền mới biết dân như nước”. Phải chăng từ những
bài học xương máu trong lịch sử, mà gần nhất là bài học lịch sử ở đời Trần - Hồ,
Nguyễn Trãi đã đúc rút được những kinh nghiệm quý báu về vai trò của dân? Tâm
Nguyễn Trãi “ở nơi nhân dân” không phải chỉ khi ông còn nghèo khổ hay khi ông
đang chiến đấu gian khổ chống giặc Minh, mà cả khi đất nước đã hòa bình và bước
vào xây dựng cuộc sống mới, Nguyễn Trãi vẫn luôn nghĩ tới nhân dân. Ông thấy rõ
rằng, cơm ăn, áo mặc có được là do nhân dân, điện ngọc cung vàng của vua chúa
cũng do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà có: “Thường nghĩ quy mô lớn lao lộng
lẫy đều là sức lao khổ của quân dân”. Chính vì vậy, mỗi khi được hưởng lộc vua
ban, ông luôn đến nhân dân, đến những người dãi nắng dầm mưa, lao động cực
nhọc để tạo ra những lộc ấy: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Cách Nguyễn Trãi nhìn
nhận về vai trò của nhân dân như vậy không chỉ cho thấy rằng tư tưởng của ông đã
vượt khỏi hệ tư tưởng phong kiến bảo thủ, gia trưởng về dân, mà còn khiến cho tư
tưởng, triết lý nhân sinh của ông mang đậm tính nhân văn sâu sắc.
Chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi qua các tác phẩm văn
chương, tiêu biểu trong đó là “Bình Ngô Đại Cáo”. Trong tác phẩm này, Nguyễn
Trãi nhấn mạnh tới tư tưởng vì dân – tư tưởng lón nhất trong ánh “Thiên cổ hùng
văn” này:
“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Sau này khi Nguyễn Trãi được chỉ định làm lễ nhạc, ông đã dâng một tờ
tấu thể hiện tư tưởng "thân dân", bài tấu có đoạn viết: " Thời loạn thì dùng võ, thời
bình thì dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc là đúng lúc. Song không có gốc thì
không thể đứng vững, không có văn hóa thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc
của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần phụng chiếu định ra âm nhạc, không
dám không gắng hết tâm lực; song học vấn sơ sài, nông cạn, sợ trong âm thanh luật
khó làm được hài hòa. Dám mong bệ hạ rũ lòng thương yêu mà chăn nuôi muôn
dân, khiến trong thôn cùng, xóm vắng không còn một tiếng hờn giận, oán sầu, đó
là cái gốc của nhạc vậy.."
Ta thấy được lòng thương yêu dân của ông qua đoạn tấu trên. Có thể nói tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi là lòng yêu thương dân chúng, quan hệ gần gũi với nhân
dân và đặc biệt là coi trọng vai trò của nhân dân.

III-/ TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn gần gũi với dân, sống vì
dân, thấu hiểu tâm trạng quần chúng và phấn đấu quên mình để đem lại tự do
hạnh phúc cho nhân dân. Là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc và nhân dân, Hồ Chí
Minh đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính,
sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là nước công nông đầu tiên ở Đông
Nam Á, mở ra thời đại mới trong lịch sử dân tộc. Sau khi tìm thấy con đường giải
phóng dân tộc đúng đắn cho nhân dân Việt Nam, Người đã không ngừng phấn đấu
cho mục tiêu: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Hồ Chí Minh
còn thể hiện sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, gắn lý luận với thực tiễn, nói ít
làm nhiều, lấy hành động làm chủ yếu. Các bài nói và viết đều nhằm hướng dẫn
quần chúng, cổ động phong trào nên rất dễ hiểu, giản dị, cốt để cho quần chúng
hiểu đúng và làm đúng. Mọi suy nghĩ và hành động của Bác đều hướng tới nhân
dân, đem lại lợi ích cho quần chúng. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên: Việc
gì có lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh; phải
đặt lợi ích quần chúng nhân dân lên trên hết, trước hết; phải gần gũi dân, hiểu
biết dân, học hỏi dân; phải làm kiểu mẫu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Đó là những điều căn bản nhất trong quan niệm về dân và hành động vì dân
của Người. Có thể xem đây là điểm cốt lõi, là hạt nhân trong triết lý nhân sinh,
triết lý hành động của Hồ Chí Minh. Triết lý đó, từ tinh thần đến phương pháp, đều
quy tụ vào chữ dân; vì dân và dân là gốc. Chính vì điều đó, Người là lãnh tụ được
toàn dân kính trọng, ngưỡng mộ, yêu mến và biết ơn vô hạn. Hình ảnh của Người
tát nước, đạp gầu, lội bùn, thăm hỏi mọi người... còn sống mãi trong ký ức của mỗi
người dân Việt Nam.

Tin dân, thương dân là phẩm chất nổi bật nhất ở những lãnh tụ thực sự của dân.
Nhờ có phẩm chất đó mới có niềm tin vững chắc và ý chí, nghị lực phi thường để
theo đuổi sự nghiệp lớn giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân.
Bác nói: “Đảng ta là con nòi, xuất thân từ giai cấp lao động. Cán bộ của ta đều từ
dân mà ra, phải sống sao cho xứng đáng với nhân dân và Đảng anh hùng. Hiểu Chủ
nghĩa Mác-Lênin thì phải sống với nhau có tình có nghĩa”... Hồ Chí Minh là lãnh
tụ của dân, một lãnh tụ kiểu mới - mẫu mực của lãnh tụ cách mạng. Người nêu ra
một triết lý nhân sinh và hành động sâu sắc ở đời và làm người, đã sống ở đời là
phải thân dân (gần gũi dân chúng, tôn trọng dân và hết lòng hết sức phục vụ
nhân dân). Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, thân dân là đạo đức của người cán
bộ để phục vụ nhân dân. Tính hàm súc trong từng câu nói, từng dòng viết của Bác
đều hết sức tự nhiên, nhuần nhuyễn bởi lẽ, với Bác, từ suy nghĩ đến việc làm, từ tư
tưởng đến hành động bao giờ cũng hài hoà, nhất quán: đó là tin dân và vì dân.

Đức tin dân và vì dân ở Hồ Chí Minh bao la rộng lớn và sâu sắc. Mỗi lời nói,
việc làm, cử chỉ, hành động của Người đều làm cảm động mọi người. Chính tấm
gương trong sáng đó đã có sức thuyết phục, thu phục lòng người, thức tỉnh lương
tâm, thấu hiểu mọi cảnh đời và số phận con người. Hồ Chí Minh tin dân vì Người
đã nhìn thấy được giá trị và vai trò to lớn, sức mạnh to lớn của nhân dân: Trong
bầu trời không gì quý bằng nhân dân, dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân...
Trong xã hội, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ, dân là chủ. Hồ Chí Minh hiểu
rõ sức dân: Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng
chiến kiến quốc là công việc của dân. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân...
Không có dân tham gia, dân ủng hộ thì việc dễ cũng thành khó, có dân thì có tất cả
việc khó mấy cũng giải quyết được. Mọi lực lượng ở trong dân, trí tuệ ở trong dân,
nhân dân biết giải quyết các công việc một cách nhanh chóng, đầy đủ mà cán bộ tài
giỏi, các đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra. Bác thường nhắc đến câu ca của đồng
bào Quảng Bình thời chống Mỹ: ''Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần
dân liệu cũng xong''.

Tình thương yêu nhân dân được thể hiện sinh động trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng của Người từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng. Bao giờ Bác
cũng tâm niệm: Mình chỉ là một người lính vâng lệnh quốc dân nên phải tận tuỵ
hết lòng, không ham công danh phú quý, không dính líu t ới vòng danh lợi. Hồ Chí
Minh bộc bạch tâm trạng của mình khi đất nước còn nỗi đau chia cắt, đồng bào
miền Nam còn bị doạ đầy đau khổ: Người cộng tất cả nỗi đau của mỗi người dân,
mỗi gia đình Việt Nam thành nỗi đau của mình. Cho nên, chữ dân trong tư tưởng
của Người là một khái niệm rất rộng lớn và sâu sắc. Đó là tất cả đồng bào Việt
Nam, dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, dân tộc, tôn giáo và ở mọi lứa tuổi.
Dân là nhân dân, là quần chúng lao động đông đảo, không phân biệt lứa tuổi, giai
cấp, tôn giáo, giàu nghèo, quý tiện và tất cả ai tự nhận mình là con dân nước Việt,
con Rồng cháu Tiên... trừ bọn phát xít thực dân, Việt gian bán nước thì chúng ta
phải đánh đổ.
Dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh đó là Nhân, là lòng nhân nghĩa. Hồ Chí Minh
nói: ''Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân''. Quý
trọng dân là quý trọng con người, và đã là con người thì đều có tính tốt và tính xấu,
cái hay và cái dở. Chúng ta phải làm cho cái tốt ở trong mỗi con người nảy nở như
hoa mùa xuân, cái xấu sẽ mất dần đi, phải tôn trọng nhân cách từng con người cụ
thể, phải hiểu được cách dùng người cho đúng và khéo, nghiêm khắc mà vẫn độ
lượng khoan dung. Tư tưởng đạo đức vì dân của Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng
dân là gốc của truyền thống dân tộc. Tư tưởng đó đã bắt gặp tư tưởng thân dân của
nhà văn hoá Nguyễn Trãi thế kỉ 15. Trong Đại Cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi viết:
''Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân''. Nhân nghĩa là nhân dân, thương yêu muôn dân là
cái gốc của nhạc để cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán sầu. Theo
Bác thì đối với những người lầm đường, lạc lối thì chúng ta cũng phải thực lòng
giúp họ hướng thiện, có lòng khoan dung để cảm hoá người lầm lỗi. Người cho
rằng: Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài, dù vắn dài cũng họp lại nơi bàn
tay. Trong cả nước có hàng triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng dù
thế này hay thế khác thì cũng đều là dòng dõi của tổ tiên ta, nên ta phải dùng tình
thân ái mà cảm hoá họ, có như vậy mới thành đại đoàn kết để có tương lai chắc
chắn vẻ vang. Và “Chỉ sợ lòng mình không rộng, chứ không sợ người ta không
theo mình”.

Như vậy tư tưởng “Thân dân” của Hồ Chí Minh chính là tôn trọng, gần gũi nhân
dân, coi trọng lợi ích và vai trò của nhân dân, có niềm tin và lòng yêu thương nhân
dân.

IV-/ SO SÁNH TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC VỊ
TIỀN BỐI ĐI TRƯỚC

1/ Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và dòng tư tưởng Nho Giáo

Hồ Chí Minh là một người chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Nho giáo,
đặc biệt từ người cha của mình - một nhà Nho đương thời. Tuy nhiên sống trong
một điều kiện, hoàn cảnh nước nhà bị xâm chiếm, cảnh chia ly, loạn lạc xảy ra
trên khắp đất nước,… nên tư tưởng của Người có những nét khác biệt căn bản
so với tư tưởng Nho Giáo. Sau đây, là những so sánh về tư tưởng thân dân của
Hồ Chí Minh với dòng tư tưởng Nho Giáo để thấy rõ được những nét kế thừa va
tư tưởng của Người.
phát huy trong
Đầu tiên, chúng ta nói đến nhứng điểm giống nhau để thấy được sự kế thừa
những tinh hoa của Hồ Chí Minh về tư tưởng Nho Giáo:

Điểm thứ nhất là thái độ quý trọng dân, thấy được sức mạnh to lớn của dân. Về
điều này, Mạnh Tử đã có câu nói lịch sử: “Dân là quý, sau mới đến xã tắc, vua thì
xem nhẹ” (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Tuân Tử cũng có câu nói rất
nổi tiếng: “Vua là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền, nước cũng lật thuyền”
(Quân giả chu dã, thứ dân giả thủy dã, thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu). Từ đó,
Nho gia thấy được một điểm hết sức quan trọng là: “Dân là gốc nước, gốc vững,
nước yên” (Dân duy bang bản, bản cố, bang ninh). Điều đó được nói trong sách
Kinh Thi. Hoặc: “Đường lối được dân chúng thì được nước, mất dân chúng thì mất
nước” (Đạo đắc chúng tắc đắc quốc, thất chúng tắc thất quốc)
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có quan điểm tương tự như Nho gia, khi Người nói:
“Trong bầu trời không có gì quý hơn bằng nhân dân. Trong thế gian không gì mạnh
bằng lực lượng đoàn k ết của nhân dân”
Điểm thứ hai: quan tâm đến đời sống của dân. Nho gia yêu cầu các bậc trị quốc
phải bảo đảm cho người dân có đời sống tối thiểu để họ: “ngẩng lên đủ để phụng
dưỡng cha mẹ, cúi xuống đủ để nuôi sống vợ con” (sử ngưỡng túc dĩ sự phụ mẫu,
phủ cập, dĩ sức thê tử). Muốn vậy, người dân phải có “thu nhập ổn định” (hằng
sản) đủ để sống. Nếu trên nét mặt người dân có sắc đói là trách nhiệm của kẻ cầm
quyền. Đó là quan điểm tiến bộ của Mạnh Tử.
Đây cũng là quan điểm cơ bản trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi
người xác định trách nhiệm của Đảng và Chính phủ trong việc đề ra và thực hiện
các chính sách: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến
đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng
và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và
Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới phải hết
sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”
Điểm thứ ba: phải gần dân, đối xử đúng mức với dân. Kinh Thư viết: “Đối với dân
nên gần, không nên coi là thấp hèn” (dân khả cận, bất khả hạ). Khổng Tử nhắc nhở
những người cầm quyền: “Sai khiến dân phải cẩn thận như điều hành một cuộc tế
lễ lớn” (Sử dân như thừa đại lễ).
Tác phong gần gũi nhân dân là nét tính cách tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sinh thời, Bác hay đi thăm hỏi đồng bào, tìm hiểu đời sống của nhân dân ở nhiều
địa phương. Tác phong gần dân của Bác còn thể hiện ở cuộc sống giản dị của
Người. Là Chủ tịch nước, nhưng từ chỗ ở đến cách ăn mặc và sinh hoạt hằng ngày
của Người không có sự khác biệt bao nhiêu so với người dân bình thường. Bác
luôn giáo dục cán bộ, đảng viên không được có tác phong quan liêu, cuộc sống
quan cách xa rời nhân dân.
Điểm thứ tư: lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu
thiên hạ chi lạc nhi lạc). Đây là một phương châm sống cao thượng của những nhà
nho chân chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện quan điểm này trong toàn bộ
hoạt động cũng như đời sống của Người. Bác chăm lo cho tất cả mọi người nhưng
không bao giờ đòi hỏi đãi ngộ cho riêng mình. Làm việc gì, sống như thế nào, bao
giờ Bác cũng nghĩ đến dân trước hết.
Trên đây là mấy nét tạm gọi là điểm chung giữa Nho gia và Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong tư tưởng “Thân dân”
Sau đây xin đề cập đến những điểm khác nhau để thấy rõ những phát huy
trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
Điểm thứ nhất: thái độ đối với người dân, nhất là người lao động chân taysống và
cách gần dân.
Nho gia miệt thị người dân lao động. Về trí tuệ, họ xếp con người thành hai loại:
thượng trí và hạ ngu. Thượng trí là bọn cầm quyền, bọn “quân tử”. Hạ ngu là người
dân lao động. Họ cho rằng hai loại người này do số phận an bài nên không bao giờ
thay đổi (Duy thượng trí hạ ngu bất di). Trong xã hội, họ phân biệt nghề sang, nghề
hèn. Họ đề cao lao động trí óc bằng quan điểm: “Vạn cái nghề đều thấp hèn, duy
chỉ có đọc sách là cao cả” (vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao).
Ngược lại với quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng nhân dân.
Người thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn luôn học hỏi nhân dân, học
tập kinh nghiệm sáng tạo của quần chúng, coi nhân dân là người thầy của mình.
Người tôn trọng tất cả mọi người, tất cả các nghề trong xã hội. Người nói: “Người
nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm tròn trách nhiệm cũng
vẻ vang như nhau”
Nho gia khuyên những người cầm quyền “nới nhẹ sức dân”, “thương dân”. Điều
đó có thể là tích cực, nhưng vẫn thuộc cử chỉ của người trên, của người “chăn
dân”, của những ông “quan phụ mẫu”. Về điều này, sách Kinh Thi viết: “Vui thay
bậc quân tử là cha mẹ dân” (Lạc chi quân tử, dân chi phụ mẫu). Sách Đại Học viết:
“Dân thích điều gì, người thích điều ấy; dân ghét điều gì, người ghét điều ấy, thế
mới là cha mẹ dân” (Dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi, thử chi vị dân
chi phụ mẫu). Sách Trung Dung cũng cho rằng: “Thương dân như con thì khuyến
khích được trăm họ” (Tử thứ dân tắc bách tính khuyến)
Ngược lại với quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho rằng, những người
cầm quyền trong xã hội là “người đầy tớ của nhân dân”. Người nói: “Trong bộ máy
cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là sự phân công
làm đầy tớ cho dân. Đó là vinh dự cao nhất”. Trong Di chúc, Người viết: “Phải gìn
giữ Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân”. Người còn cho rằng: cán bộ, đảng viên thương dân chưa đủ
mà còn phải hiếu với dân, như con cái giữ tròn chữ hiếu đối với cha mẹ.
Về cách sống “gần dân”, Nho gia nói “dân khả cận”. Nhưng vua chúa, quan lại
phong kiến sống trong lầu son gác tía, mấy khi người dân đen thấy “mặt rồng”, mặt
“quan phụ mẫu”. Chúng sống một cuộc đời vương giả đầy nhung lụa và yến tiệc.
Trong khi đó người dân sống trong bần hàn, cơ cực.
Ngược lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi người như người cha, người bác,
người anh gần gũi. Bác ở trong căn nhà sàn giản dị, Bác cũng dùng món ăn dân dã
trong bữa cơm, Bác đi dép cao su như mọi người dân lúc đó. Bác thường mặc bộ
ka ki bạc màu khi đi công tác, kể cả đi nước ngoài, mặc áo nâu như một lão nông
khi ở nhà. Có lúc Bác mặc áo vá.

Điểm thứ hai: mục đích “lấy dân làm gốc”.
Mục đích của Nho gia là để làm dịu mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và tầng lớp
bị trị, nhất là ở thời đại nhà Chu mâu thuẫn giữa dân và giai cấp quý tộc rất gay
gắt. Giai cấp thống trị mong muốn, nếu người dân được “bề trên” “quan tâm” thì
yên bề ở vị trí nô lệ của mình, không đụng chạm đến quyền lợi, địa vị của chúng.
Ngược lại, mục đích thực hiện quan điểm “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là để giải phóng người dân thoát khỏi tình trạng bị nô lệ về chính trị, bị kiệt
quệ về kinh tế, bị tối tăm về tinh thần, tư tưởng, văn hóa, giáo dục do xã hội cũ gây
nên. Người nói: “Tôi chỉ có ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta
hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành”.
Điểm thứ ba: sự hiện thực hóa quan điểm “lấy dân làm gốc”.
Quan điểm của Nho gia chủ yếu có ý nghĩa trên diễn đàn, học thuật, không được
giới cầm quyền đương thời thi hành, vì đụng chạm đến quyền lợi của chúng. Về
mặt vật chất, người dân vẫn sống trong bần hàn, đói rách, vì bị bóc lột thậm tệ. Họ
đâu có được “hằng sản” (thu nhập ổn định) đủ để sống, như Mạnh Tử mong muốn.
Về tinh thần, tuyệt đại bộ phận người dân sống trong ngu dốt. Hưởng thụ văn hóa,
giáo dục là đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị. Đâu có như Khổng Tử mong
muốn là “hữu giáo vô loại” (có một nền giáo dục không phân biệt đẳng cấp).
Ngược lại, tư tưởng “Thân dân” hay lý tưởng sống vì dân của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã được thể hiện bằng chính hoạt động của Người. Người không chỉ nói mà
còn làm. Người suốt đời phấn đấu không ngừng cho lý tưởng đó. Người đã tổ
chức, lãnh đạo nhằm phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân trong các giai
đoạn của cách mạng và đã đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đời sống chính trị cũng như đời sống kinh tế và văn hóa - giáo dục của nhân dân ta
không ngừng được cải thiện và nâng cao.
Sở dĩ có sự giống nhau là vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa những yếu tố tích
cực trong tư tưởng của Nho gia. Còn có sự khác nhau mà khác là căn bản, vì những
lý do sau đây:
Nho gia đứng trên lập trường của giai cấp bóc lột. Tư tưởng cũng như những triết
luận của họ có tính chất an dân, nhằm điều hòa mâu thuẫn giai cấp, bênh vực
quyền lợi và địa vị bọn thống trị. Người dân an tâm với những thu nhập “ổn định”
(hằng sản) không tưởng và do đó cũng an tâm (hằng tâm) ở địa vị nô lệ của mình.
Ngược lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên lập trường của giai cấp công nhân.
Người bênh vực cho quyền lợi của nhân dân lao động. Cơ sở tư tưởng của Người
là chủ nghĩa Mác – Lênin, học thuyết về cách mạng, xóa bỏ áp bức giai cấp, đưa
người dân từ địa vị nô lệ, bị áp bức bóc lột thành chủ nhân của xã hội mới. Một xã
hội được xây dựng trên cơ sở bình đẳng giữa người với người và mục tiêu lý tưởng
của xã hội đó là mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho tất cả mọi người.


2/ Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và Nguyễn Trãi
Nguyễn trãi và Hồ Chí Minh đều là những nhà tư tưởng sinh ra trong thời kỳ
chiến tranh, loạn lạc, vì thế mà trong tư tưởng của họ có những điểm xuất phát từ
những hoàn cảnh giống nhau. Chúng ta chỉ ra những điểm này để làm rõ những kế
thừa trong tư tưởng và thấy rõ hoàn cảnh lịch sử tác động đến tư tưởng của Người
như thế nào?
Về điểm giống nhau, chúng ta có thể chỉ ra đó là:
Điểm thứ nhất: Luôn quan tâm tới cuộc sống của người dân.
Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên đã chứng kiến nhiều cảnh đau khổ, thương tâm của
người dân. Vì vậy, ông có thể cảm nhận được nỗi đau mà người dân chịu phải,
chính vì thế ông đã quyết tâm rèn đức, luyện tài để ra sức giúp dân, ông luôn quan
tâm tới cuộc sống của người dân, quan tâm tới miếng ăn, manh áo của họ. Trong
khi đó, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã cảm nhận
được hết nỗi đau của nhân dân, vì thé mà Người luôn trăn trở suy nghĩ con đường
đư nhân dân thoát khỏi cuộc sống lầm than, đói rách.
Điểm thứ hai: Thấy rõ được vai trò của nhân dân.
Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều nhận thấy rõ vai trò của nhân dân, đó là vai
trò chống giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập của đất nước. Nguyễn Trãi đã vận dụng
tốt vai trò của nhân dân giúp Lê Lợi giành chiến thắng trong cuộc đánh đuổi quân
Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng đời sống nhân dân ấm no, hạnh
phúc. Còn Hồ Chí Minh thì xem nhân dân là cái gốc để phát triển cách mangj, là
sức mạnh để giải phóng dân tộc, giải phóng áp bức, bóc lột.
Ngoài ra, nhân dân còn góp phần vào việc xây dựng tổ quốc, ổn định trật tự xã
hội, từ đó phát triển đất nước, cải thiện đới sống nhân dân.
Điểm thứ ba: Gần gũi, chia sẻ với nhân dân.
Ở Nguyễn Trãi ta thấy được lòng thương dân da diết. ông là một con người hết sức
cảm thông chia sẻ với nhân dân, là người cảm nhận được nỗi đau khổ của nhân dân
và số phận của họ, ông từng viết:
“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”
- Bình Ngô Đại Cáo-
Ông thích một cuộc sống bình dị giống nhân dân để có thể cảm nhận sâu sắc được
cuộc sống của dân, có thời gian ông đã ở ẩn ở Côn Sơn.
Còn Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời người sống cạnh nhân dân, sống trong nhân dân,
sống vì nhân dân. Người hết sức cảm thông với dân, điều đó đã được thể hiện rõ
nét trong lối sống, văn hoá ứng xử của mình. Người luôn trằn trọc suy nghĩ làm sao
cải thiện được cuộc sống của nhân dân, làm sao để dân được ấm no, hạnh phúc.
Ngưòi chia sẻ sự khó khăn chung với đồng bào của nình. Trong những năm cách
mạng thành công, nước ta phải trải qua nạn dói, nạn dốt… vô cùng khó khăn, Hồ
Chí Minh đã kêu gọi đồng bào đoàn kết, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau, Người đã ra
chiến dịch “ Hũ gạo cứu đói” và chính mính cũng tham gia tích cực vào chiến dịch
này.
Bên cạnh những quan điểm, tư tưởng giống nhau, do sống trong những thời đại
và chế độ khác nhau nên giữa quan điểm của hai người cúng có những sự khác
nhau đó là: Quan điểm về vai trò làm chủ của nhân dân
Ở Nguyễn Trãi ta thấy được tư tưởng của ông mang nặng tính thương dân vì thế
mà ông chưa nhận rõ được vai trò lãnh đạo, làm chủ của người dân mà chỉ mới
dừng lại ở vai trò đứng lên đấu tranh giành lại độc lập.
Còn ở Hồ Chí Minh, Người đã nhận thấy rõ được vai trò làm chủ cách mạng, làm
chủ đất nước của nhân dân, đó là việc đứng lên lãnh đạo, tổ chức các hoạt động
đấu tranh giành độc lập tự do về tay mình và vai trò xây dựng phát triển đất nước.


B / VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
I-/ NHỮNG MẶT TÍCH CỰC ĐÁNG GHI NHẬN
Nhà nước ta là một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chính vì thế
mà vấn đề thân dân được xem là một trong những vấn đề quan trọng của quốc gia.
Bài học tư tưởng “Thân dân” để xây dựng Đảng và Nhà nước được tiến hành
đồng bộ trên nhiều mặt cả về kinh tế, chính trị, tư tưởng... để cùng tác động đến
đời sống, tâm lý, tư tưởng các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự chuyển biến tích cực
trong thái độ, tình cảm, tâm lý, ý thức của từng người dân. Vì thế mà, đời sống vật
chất và đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện
và nâng cao, dân chủ XHCN được củng cố, mở rộng; tệ quan liêu, tham nhũng,
tiêu cực bị ngăn chặn và đẩy lùi; Đảng vững mạnh, nâng cao được sức chiến đấu,
bộ máy nhà nước trong sạch, thật sự của dân, do dân, vì dân, nâng cao được hiệu
lực quản lý, thì sẽ được lòng dân. Đảng vì dân, dân tin ở Đảng, ra sức góp phần
xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN của chúng
ta.
Về măt kinh tế: Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế. Trong đó, chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa là nhiệm vụ trung
tâm nhằm thực hiện mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Do vậy, chỉ có thể
thực hiện được nhiệm vụ của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước,
mới có thể đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế thực hiện các mục tiêu xã hội
đã đề ra. Trước hết phải có môi trường chính trị - xã hội ổn định, phải khắc phục
được những nguyên nhân yếu kém gây ra từ hệ thống chính trị. Và trên thực tế,
Việt Nam hiện là một trong những nước có môi trường chính trị xã hội ổn định
nhất của khu vực tạo nên sự phát triển kinh tế – xã hội tương đối bền vững và thu
hút được nhiều dự án đầu tư từ nước ngoài. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và
thực tiễn trên, có thể nói, thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước theo hướng
công nghiệp hoá và hiện đại hoá, đồng thời cũng là thành công của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, xét đến cùng, tùy
thuộc ở chỗ Đảng ta giải quyết đúng đắn vấn đề dân chủ và dân chủ hóa, vấn đề
đổi mới hệ thống chính trị như thế nào. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam mang bản chất của nhà nước của dân, do
dân, vì dân, trong sạch, có hiệu lực, loại trừ quan liêu, tham nhũng.

Đồng thời, Đảng cũng đề ra chủ trương phát triển kinh tế nhanh chóng nhằm nâng
cao đời sống nhân dân, ổn định xã hội, các chủ trương hỗ trọ đồng bào miền núi
như chính sách 136… hỗ trợ trang thiết bị, vốn, kĩ thuật cho đồng bào miền núi
phát triển kinh tế. Đảng nhận rõ được vai trò của nhân dân trong việc phát triển
kinh tế, đất nước, dựa vào bộ máy Nhà nước tổ chức các chương trình, hoạt động
kinh tế trong đó nhân dân đóng vai trò chủ đạo.

Về mặt xã hội: Tăng cường vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân, Đảng và
Nhà nước tổ chức các hoạt động mang tính khuyến khích nhân dân phát triển, ổn
định trật tự an toàn xã hội. Tổ chức thường xuyên các hoạt động làm tăng tính đoàn
kết dân tộc như các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và chủ trì,
nhất là cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, vận động ủng hộ nhân dân vùng bị
thiên tai bão lũ, ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/ dioxin. Trong cuộc vận động
“Ngày vì người nghèo” từ 17-10-2000 đến nay, cả nước đã vận động ủng hộ được
2.969 tỷ đồng, đã xây dựng mới và sửa chữa được 833.845 căn nhà cho người
nghèo; phần lớn là do các doanh nhân, doanh nghiệp trong nước và ở nước ngoài
tham gia đóng góp; trong đó ghi nhận rất nhiều doanh nhân, doanh nghiệp đóng
góp ủng hộ cao như: Tập đoàn Dầu khí quốc gia ủng hộ 150 tỷ đồng, các Tập đoàn
như Bưu chính Viễn thông, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Than - Khoáng sản… ủng
hộ nhiều tỷ đồng giúp đỡ các huyện nghèo. Các doanh nhân như Trầm Bê, Dương
Thị Bạch Diệp (thành phố Hồ chí Minh), Lê văn Kiểm (Đồng Nai), Đào Hồng
Tuyển (Quảng Ninh)... Mỗi vị đã ủng hộ trên 10 tỷ đồng để làm nhà cho người
nghèo. Khi có thiên tai, bão lũ gây thiệt hại cho nhân dân ở các vùng miền của đất
nước thì các doanh nghiệp và doanh nhân luôn là người đi đầu trong việc ủng hộ,
giúp đỡ, kịp thời cứu trợ cho đồng bào; sự giúp đỡ đó không những đã đem đến giá
trị vật chất thiết thực mà còn mang đến giá trị tinh thần to lớn đối với người nghèo
và đồng bào bị nạn do thiên tai; mặt khác còn thể hiện ý nghĩa lớn lao hơn, đó là
nét đẹp văn hoá, tình cảm, đạo lý, nghĩa cử cao cả, truyền thống đoàn kết “tương
thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân” của các doanh nhân Việt
Đảng chủ trương tăng cường, phát triển mối quan hệ giữa Đảng,
Nam.
Nhà nước với quần chúng nhân dân, củng cố mối quan hệ đại đoàn kết dân tộc
thông qua các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục tư tưởng, dể
nhân dân tham gia đống góp ý kiến nhằm xây dựng bộ máy nhà nứơc của dân, do
dân và vì dân...

Về mặt quốc phòng an ninh:

Đi đôi với phát triển kinh tế -xã hội, Đảng và nhà nước ta thường xuyên coi trọng
công tác giáo dục quốc phòng, nâng cao lòng yêu nước, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ
quốc XHCN cho toàn dân. Cần làm cho mỗi người thấy, với tình hình thế giới, khu
vực và trong nước hiện nay, nếu ta giữ được sự ổn định từ trong Đảng, trong nước,
trong nội bộ chế độ thì các thế lực thù địch bên trong cũng không dễ gì gây ra đảo
lộn lớn, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp. Trong bất kể tình huống nào, kế thừa và
phát huy truyền thống "Lấy dân làm gốc", với quan điểm "Dân thực sự là người
làm chủ". Xét trên góc độ an ninh - quốc phòng, ta phải chủ động phòng ngừa,
đồng thời bảo đảm xử lý kịp thời, kiên quyết, khẩn trương, khôn khéo, nhanh gọn
các tình huống phức tạp, thì dù nó đã xảy ra cũng không thể lan rộng, kéo dài. Sự
chủ quan đối với các nguy cơ và tệ nạn nội sinh dễ tạo ra những hậu quả xấu, có
thể dẫn đến bất ngờ về chiến lược. Đó là bài học sâu sắc của nhiều nước XHCN
vừa qua. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã tăng cường giáo dục ý thứ quốc
phòng cho toàn dân, dụa vào sức mạnh của nhân dân, tạo lập được "Thế trận lòng
dân" xây dụng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đó là sự liên kết chặt
chẽ thế trận của các lĩnh vực, các ngành, được thể hiện trong mối quan hệ cụ thể
song phương và đa phương, như kết hợp quốc phòng với an ninh, quốc phòng với
kinh tế, an ninh với đối ngoại hoặc kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh và
quốc phòng - an ninh với đối ngoại; kết hợp thế trận chung trên phạm vi toàn quốc
với thế trận ở từng địa phương, từng cơ sở; kết hợp thế trận tại chỗ với thế trận cơ
động; kết hợp thế trận trong nước với thế trận ngoài nước; thế trận thời bình với
thế trận thời chiến; thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận chiến tranh nhân dân.
Thế trận quốc phòng toàn dân là thể hiện sự liên kết toàn diện trong mọi ngành
nghề, mọi tầng lớp nhân dân... nhằm phát huy mọi khả năng tạo nên sức mạnh tổng
hợp lớn nhất, đáp ứng kịp thời mọi tình huống, cả trong thời bình và thời chiến.
Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, bao gồm các thứ quân, cả bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ. Trong đó phải tập trung xây dựng quân đội
nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", có lực lượng dự
bị hùng hậu, lực lượng thường trực với chất lượng tinh, số lượng hợp lý, thực sự là
nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng và cho toàn dân chiến đấu
trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Để lực lượng vũ trang nhân dân có sức mạnh
tổng hợp, cần phải xây dựng toàn diện; trong đó hết sức coi trọng xây dựng bản
lĩnh chính trị, xây dựng lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với chế độ, với Tổ
quốc, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nhân
dân là chủ thể của đất nước, nền quốc phòng toàn dân chỉ thực vững chắc khi được
kết hợp từ nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực từ nhân dân là vô tận. Trong điều
kiện hiện nay, khi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN có những phát triển mới, yêu
cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày một cao thì càng phải biết dựa vào
dân, phát huy nguồn lực to lớn từ nhân dân. Phải nghiên cứu, cân nhắc xã hội hoá
một số nội dung của xây dựng nền quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Vừa qua, một số địa phương đã thực hiện xã hội hoá công tác quốc phòng khá hiệu
quả, như tham gia thực hiện chính sách, chế độ đối với dân quân, đóng góp kinh
phí xây dựng đường, mương, trạm điện.... kết hợp kinh tế và quốc phòng, xây dựng
thế trận quốc phòng. Trong thời gian tới, cần rút kinh nghiệm để đẩy mạnh hơn nữa
theo hướng này. Chỉ có như vậy, sự nghiệp quốc phòng mới thực sự là sự nghiệp
của dân.


II-/ NHỮNG HẠN CHẾ CẦN GIẢI QUYẾT, KHẮC PHỤC

1/ Hạn chế

Bên cạnh những tích cực, đóng góp không nhỏ của Đảng và Nhà nước ta, vẫn còn
một số mặt hạn chế, vướng mắc cần giải quyết liên quan tới mối quan hệ giữa cán
bộ Đảng viên và nhân dân, niềm tin của dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hôi,…
Đó chính là: Dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập
cùng những thiếu sót, khuyết điểm chủ quan của chúng ta trong lãnh đạo, quản lý
cũng như trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước nên thời gian qua ở
nước ta, các hiện tượng tiêu cực xã hội phát triển, một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống. Tệ tham
nhũng diễn ra nghiêm trọng, có nguy cơ làm biến chất Đảng, làm suy giảm niềm
tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước và chế độ, làm giảm sút mối quan hệ
gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nguy hại cho sự nghiệp cách mạng.
Trong quan hệ giữa Đảng với nhân dân, những biểu hiện như quan liêu, cửa
quyền, vô cảm với nhân dân, xa dân, sách nhiễu dân đang có nguy cơ phát triển. Sự
tha hóa của một bộ phận cán bộ có chiều hướng phát triển, thể hiện ở xa dân, sách
nhiễu dân, tệ quan liêu, tham nhũng… Cán bộ lãnh đạo một số nơi còn lúng túng
trước nhiệm vụ đặt ra, hội họp nhiều nhưng giải quyết công việc chưa hiệu quả,
không sâu sát thực tế...
Đối thoại giữa chính quyền và người dân chưa thường xuyên. Còn đùn đẩy, né
tránh trách nhiệm nên giải quyết khiếu nại, tố cáo chậm. Bệnh che giấu khuyết
điểm, nơi này đổ lỗi cho nơi kia còn khá phổ biến...Tình trạng hành dân, khinh
dân, thậm chí lợi dụng quyền hành để bắt dân cống nạp, vẫn xảy ra ở nơi này nơi
kia trong bộ máy chính quyền các cấp, kể cả cấp cơ sở, ở các vùng nghèo, vùng
sâu.
Nhiều cơ quan công quyền thường có thói quen ra những mệnh lệnh, những
quyết định bắt người dân phải thi hành mà không tham khảo ý kiến của nhân dân.
Ở nhiều địa phương việc xây dựng Quy chế dân chủ còn hình thức, trên thực tế
người dân chưa được thực hiện quyền chính đáng của mình. Chính quyền một số
nơi, nhất là ở cơ sở, nơi trực tiếp với nhân dân nhưng lại xa dân, ít quan tâm đến
đời sống của nhân dân, không chú ý tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và tâm
tư, nguyện vọng của dân, phong cách chỉ đạo, quản lý nặng về quan liêu, mệnh
lệnh, vô cảm trước khó khăn, vất vả của dân. Những chủ trương liên quan đến
nghĩa vụ và quyền lợi của dân không được đưa ra bàn bạc, thảo luận, lấy ý kiến của
nhân dân hoặc giải thích cho nhân dân hiểu rõ để nhân dân tự giác chấp hành. Vì
vậy, một số quyết định của chính quyền cấp cơ sở không được nhân dân đồng tình,
có nơi khiến nhân dân bất bình, là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tình
trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.
2/ Giải pháp bản thân
Qua những hạn chế, vướng mắc mà Đảng và Nhà nước ta gặp phải trong quá
trình giải quyết các vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có vấn đề “Thân dân”.
Chúng ta cần có những biện pháp cấp bách để giải quyết những vấn đề còn tồn
đọng.
Thứ nhất: Nâng cao mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân.
Các cán bộ, Đảng viên cần nhận thức rõ được vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của
mình. Cán bộ, Đảng viên là những người phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm soát của
dân.. Để thực hiện được điều đó đòi hỏi họ phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện
đạo đức, phẩm chất cách mạng, nâng cao năng lực quản lý, kiến thức… luôn bình
tĩnh lắng nghe, phân tích, thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của dân,
nhằm giải quyết kịp thời những nhu cầu, lợi ích chính đáng, thiết thực và cụ thể
của quần chúng; phải từ trong dân, từ ý chí và tâm trạng của dân để phục vụ nhân
dân. Thường xuyên tổ chức đối thoại với nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị, đề
xuất của dân để đưa ra các chương trình, chính sách phù hợp với những tâm tư,
nguyện vọng, lợi ích của nhân dân..
Thứ hai: Đổi mới cơ cấu quản lý, lãnh đạo.
Trong những năm gần đây khi chuyển từ chế độ bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, cơ cấu quản lý, lãnh đạo của nước ta đã bộc lộ nhiều bất cập: Vấn đề quan
liêu, tham nhũng trở nên phổ biến; nhiều chương trình, chính sách lệch lạc, sai trái
đã làm mất di lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.. Để giải quyết vấn đề
này đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đổi mới cơ cấu quản lý phù hợp
với tình hình phát triển của đất nước, thường xuyên rà soát công tác quản lý, kiểm
tra đôn đốc, nhắc nhở, đồng thời kiểm điểm nghiêm khắc những sai phạm nghiêm
trọng…
Thứ ba: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, nhận thức của nhân
dân về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Trong công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước, không ít những luồng tư tưởng xấu đã tác động tới nhận thức
của nhân dân, làm sai lệch suy nghĩ của họ về chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Vì vậy, các cán bộ, Đảng viên cần gương mẫu trong hoạt động thực tiễn,
tuyên truyền, hướng dẫn cho nhân dân hiểu đúng về các đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước.
Đồng thời, chúng ta cũng cần phê bình và tự phê bình để nhận thấy những khuyết
điểm, sai xót trong hoạt động, từ đó có các biện pháp sửa chữa, thay thế nhằm phục
vụ tốt nhất quyền lợi của nhân dân.

Thực hành tư tưởng “Thân dân” trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi Đảng và Nhà
nước cần hết sức nỗ lực trong quá trình đề ra và thực hiện chính sách. Đội ngũ cán
bộ, Đảng viên phải là những người đi đầu trong công tác thực tiễn, luôn lắng nghe
thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là vấn đề
hàng đầu...




TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB Chính trị Quốc Gia, Tr136..
2. Bài viết “Thân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” trên website của Mặt trận
tổ quốc.
3. Tài liệu trên trang web tailieu.vn
4. Chuyên đề quán triệt quan điểm “ Lấy dân làm gốc” của Đảng Cộng Sản.
5. Bài học “Lấy dân làm gốc” trên Báo Quảng Nam…
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản