Bài thảo luận "Giải pháp tăng cường thu hút ,quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam"

Chia sẻ: Nguyen Hong Trang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:7

0
194
lượt xem
110
download

Bài thảo luận "Giải pháp tăng cường thu hút ,quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhìn một cách tổng thể, công tác thu hút và sử dụng nguồn ODA của nước ta trong 10 năm qua được thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước là ưu tiên sử dụng nguồn lực này để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thảo luận "Giải pháp tăng cường thu hút ,quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam"

  1. I. Những giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư ODA Nhìn một cách tổng thể, công tác thu hút và sử dụng nguồn ODA của nước ta trong 10 năm qua được thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước là ưu tiên sử dụng nguồn lực này để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Thành công Những mặt được trong công tác này có thể kể ra ở đây là: -Công tác thu hút ODA đạt hiệu quả cao, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, góp phần phá thế bao vây, cấm vận, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế và khu vực. -Chúng ta đã tranh thủ được một nguồn vốn khá lớn có ý nghĩa quan trọng bổ sung cho đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội.mTrong 5 năm 1996-2000, đầu tư bằng nguồn vốn ODA chiếm khoảng 12% tổng đầu tư toàn xã hội, bằng 24% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và bằng 50% vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. -Cải thiện cơ bản và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, cơ sở hạ tầng xã hội, trước hết là giao thông vận tải và điện năng, góp phần khơi dậy nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. -Nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo. Các chương trình, dự án ODA đã góp phần cung cấp nguồn tín dụng cho nông dân, tạo ra các ngành nghề phụ, phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, cung cấp nước sạch, xây dựng và nâng cấp hệ thống thoát nước, phát triển lưới điện sinh hoạt, trạm y tế, trường học… Nguồn vốn ODA đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn đã góp phần khơi dậy nguồn lực tại chỗ thông qua việc huy động sự tham gia của người dân trong các dự án phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực quản lý phát triển. -Nguồn vốn ODA được huy động cho vay lại đã có hiệu quả thiết thực đối với sự phát triển của một số doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu về vốn để đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống của người lao động. Thông qua các chương trình, dự án ODA cho vay lại, một số công nghệ được chuyển giao, giúp các doanh nghiệp đào tạo cán bộ về kỹ năng quản lý, nghiệp vụ chuyên môn và ngoại ngữ. Hiện nay, việc cho vay
  2. lại đã được thực hiện ở các lĩnh vực năng lượng, cảng biển, cấp nước, điện, chế biến cao su, sản xuất mía đường… -Nguồn vốn ODA đã góp phần tích cực hỗ trợ ngân sách của nhiều tỉnh và thành phố, khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là đối với các tỉnh nghèo, có nhiều khó khăn. -ODA đã có tác dụng tích cực giúp nước ta tăng cường năng lực, phát triển thể chế trên nhiều lĩnh vực, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách hành chính... -Công tác quản lý nhà nước về ODA đã đi vào nề nếp trên cơ sở các văn bản pháp quy ngày một đồng bộ. Bên cạnh những mặt được như trên đã nêu, cũng phải thấy rằng công tác thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua cũng có những mặt chưa được, trong một số trường hợp việc sử dụng ODA còn kém hiệu quả, gây thất thoát và lãng phí. Những yếu kém trong công tác thu hút và sử dụng ODA chủ yếu là: Thứ nhất, trong quan niệm của một số cơ quan và đơn vị thụ hưởng ODA cả ở cấp trung ương lẫn địa phương vẫn còn tư tưởng "ODA thời bao cấp", coi "ODA không hoàn lại là Chính phủ cho, vốn vay ODA là Chính phủ trả nợ". Hậu quả của quan niệm sai lệch này là ra sức tranh thủ nguồn vốn ODA mà không tính toán hiệu quả kinh tế, tính bền vững sau dự án và khả năng trả nợ (đối với chương trình, dự án vay vốn ODA). Thứ hai, công tác quy hoạch thu hút và sử dụng ODA chưa phát huy được vai trò định hướng các nhà tài trợ và các cơ quan thụ hưởng của nước ta vào các lĩnh vực và vùng đích thực ưu tiên sử dụng nguồn lực này. Thứ ba, nhiều cơ quan thụ hưởng ODA của chúng ta chưa phát huy được vai trò làm chủ trong việc thu hút và sử dụng ODA. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan thụ hưởng chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế mà bị động và phụ thuộc vào nhà tài trợ trong việc hình thành các dự án ODA. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các dự án ODA, các đối tác trong nước vẫn còn thiếu chủ động, còn trông chờ vào chuyên gia và tư vấn nước ngoài. Thứ tư, các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng ODA chưa được thực hiện nghiêm chỉnh. Theo quy định, đàm phán điều ước quốc tế với nhà tài trợ phải dựa trên cơ sở văn kiện dự án hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Song nhiều trường hợp, do tâm lý sợ mất viện trợ, phía Việt Nam đã đàm phán và ký kết điều ước
  3. quốc tế với nhà tài trợ khi dự án hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Kết quả là sau khi ký kết phải mất nhiều thời gian chỉnh sửa dự án, làm chậm giải ngân và giảm hiệu quả dự án. Thứ năm, nhiều văn bản pháp quy liên quan tới ODA thiếu tính đồng bộ. Chẳng hạn các quy định về đấu thầu, về đền bù thiệt hại khi di dân và giải phóng mặt bằng chậm được sửa đổi và bổ sung, làm kéo dài thời gian chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA, ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân và hiệu quả dự án. Thứ sáu, các chính sách tài chính trong nước (thuế, cơ chế cho vay lại, các định mức chi phí về chuyên gia và ban quản lý dự án…) nặng về xử lý theo vụ việc thay vì có một chính sách nhất quán, được công bố trước. Thứ bảy, khó khăn về vốn đối ứng. Dù đã có quy định ưu tiên tuyệt đối về vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA và đã có lệnh nghiêm cấm sử dụng vốn đối ứng cho các mục đích khác nhưng trên thực tế, vốn đối ứng vẫn là một trong các trở ngại lớn đối với nhiều ban quản lý dự án, đặc biệt là ở các ban quản lý dự án thuộc các tỉnh mới thành lập, các tỉnh nhỏ và nghèo, các khu vực miền núi... Thứ tám, thiếu các biện pháp hài hoà thủ tục. Hiện nay, các ban quản lý dự án vừa phải tuân theo các thủ tục của Chính phủ vừa phải tuân theo các thủ tục của nhà tài trợ trong khi thủ tục của hai bên có nhiều khác biệt, thậm chí khác biệt về nguyên tắc (đặc biệt là thủ tục giải ngân, thủ tục xác định và chuẩn bị dự án, thủ tục mua sắm). Thứ chín, công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA ở các cấp, các ngành còn bị buông lỏng. Nhiều cơ quan chủ quản ở trung ương và các tỉnh chưa quản lý được các dự án của mình. Quy định về báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA thực hiện thiếu nghiêm túc. Thứ mười, quy trình và thủ tục ODA của ta còn phức tạp, rườm rà (quy trình phê duyệt dự án, giải phóng mặt bằng, đấu thầu và xét thầu). Bên cạnh đó, các quy định của một số nhà tài trợ phức tạp, kém linh hoạt và thiếu minh bạch, cũng gây ra không ít khó khăn và chậm chễ cho quá trình thực hiện các dự án. Chính những điều này đã làm giảm hiệu quả tiếp nhận và sử dụng ODA trong thời gian qua mà một trong những biểu hiện về lượng là giải ngân ODA của ta còn chậm,
  4. chỉ đáp ứng được 70-80% yêu cầu giải ngân bình quân một năm của thời kỳ kế hoạch. Vì vậy, muốn đạt được kết quả tốt trong việc thu hút và sử dụng ODA; không ngừng phát huy những yếu tố tích cực, thuận lợi đồng thời khắc phục những hạn chế trong công tác này đòi hỏi các bộ, ban, ngành quản lý ODA không ngừng phấn đấu, tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn này trong thời gian tới. chúng ta cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Một là, hoàn thiện công tác kế hoạch hoá và xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA. Hoàn thiện kế hoạch hóa vốn ODA là tạo điều kiện để liên tục hóa các bộ phận của kế hoạch đầu tư xây dựng: Kế hoạch chuẩn bị đầu tư, kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án và kế hoạch thực hiện dự án. Ngoài ra, phải xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn vốn theo từng ngành và lĩnh vực cụ thể. Các ngành, các địa phương và các đơn vị sử dụng nguồn vốn ODA cần tính toán chính xác hiệu quả để tránh sử dụng lãng phí các nguồn vốn và xác định đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, chịu trách nhiệm chính trong quá trình sử dụng vốn và phải đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Hai là, chuẩn bị vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA. Tất cả các chương trình, dự án ODA khi chuẩn bị phê duyệt ở các cấp phải chỉ rõ nguồn vốn trong nước và phải được bố trí trong các kế hoạch ở các cấp tương ứng. Ba là, các dự án phải tập trung phát huy nguồn lực hiện có của địa phương. Các chương trình, dự án ODA phải nghiên cứu để phát huy được những lợi thế sẵn có và phải xuất phát từ thực tế của địa phương để tài trợ hiệu quả hơn, phải tạo điều kiện để người dân của địa phương có thể trực tiếp tham gia và quản lý chương trình, dự án. Bốn là, Xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá dự án. Điều này sẽ góp phần khắc phục được những yếu kém trong quá trình thực hiện dự án và quản lý nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả, đạt được những mục tiêu ưu tiên của đất nước. Năm là, phát huy tối đa năng lực của các nhà tài trợ. Để sử dụng nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả nhất, chúng ta cần kiên trì và kiên quyết loại bỏ các ràng buộc chính trị ra khỏi quan hệ của hỗ trợ phát triển chính thức. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến những lợi ích của các nhà tài trợ khi họ mở rộng quan hệ hỗ trợ cũng như đầu tư, thương mại với nước ta. Từ đó, mới có thể huy động một cách có hiệu quả nguồn vốn này phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Sáu là, hài hoà thủ tục giữa các nhà tài trợ. Hiện nay, các nhà tài trợ cũng như các quốc gia đối tác đều mong muốn có các quy chế và hệ
  5. thống đơn giản hoá để cùng nhau thực hiện, tiến tới các điểm chung về mẫu, nội dung và tính thường xuyên cho một báo cáo định kỳ ở mỗi chương trình, dự án phù hợp yêu cầu của tất cả các nhà tài trợ. Hơn nữa, những điểm chung là cần thiết để loại bỏ sự trùng lặp trong việc chuẩn bị tài liệu, đánh giá các tác động về môi trường và xã hội đối với các chương trình, dự án đồng tài trợ. Vì thế nhu cầu hài hoà thủ tục theo các quy chế và các hệ thống phù hợp với những tiêu chuẩn, nguyên tắc quốc tế là khách quan và cần thiết. Bảy là, cần mở rộng thêm đối tượng của nguồn vốn ODA. Nguồn vốn ODA hiện nay chủ yếu chỉ dành cho khu vực quốc doanh, những gì thuộc sở hữu nhà nước; còn khu vực tư nhân thì mới chỉ được tiếp cận nguồn vốn này với tư cách là nhà thầu (chủ yếu là xây dựng và mua sắm trang thiết bị) - một mắt xích nhỏ trong toàn bộ chuỗi xích của việc sử dụng nguồn vốn ODA. Thực tế đã cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân đã sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước, vì vậy trong thời gian tới cần chú ý hơn tới đối tượng này. Cuối cùng là, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ. Thời gian qua trong khuôn khổ các chương trình, dự án ODA, một đội ngũ khá đông đảo cán bộ đã được đào tạo và huấn luyện về công tác quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần có một chương trình huấn luyện rộng rãi để tạo ra những thay đổi về nhận thức, thái độ và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp. II. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA: Từ thực trạng như đã nêu, để có thể hình dung những định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA, cần thống nhất một số quan điểm cơ bản sau: - Nguồn vốn ODA là không chắc chắn. Vì vậy, quốc gia tiếp nhận vốn ODA không nên quá kì vọng vào nguồn vốn này. - Vốn ODA phải được nhìn nhận là một bộ phận của Ngân sách Nhà nước. Các cấp quyết định, cơ quan chủ quản và chủ đầu tư các DA ODA phải chịu trách nhiệm trước toàn dân - không chỉ với thế hệ hôm nay mà cả mai sau - về hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. - Hiệu quả quản lý vốn ODA phải được đảm bảo từ 2 phía: nhà tài trọ và quốc gia tiếp nhận tài trợ.
  6. -Mọi thông tin của quá trình quản lý vốn ODA phải rõ ràng và minh bạch, cần được cập nhật và công bố công khai một cách thường xuyên. Từ thực trạng và trên cơ sở quan điểm đã nêu, để nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA cần thực hiện các giải pháp sau: Thứ nhất, Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan chủ quản và chủ đầu tư các DA ODA phải thống nhất nhận thức: nguồn vốn ODA là một bộ phận NSNN, là một phần nguồn lực tài chính quốc gia và tạo gánh nặng nợ nần cho người dân, không chỉ thế hệ hôm nay mà cả mai sau. Quản lý lãng phí và không hiệu quả nguồn vốn này là có tội đối với dân tộc. Thứ hai, Chính phủ cũng như từng chính quyền địa phương phải hoạch định chiến lược vận động và sử dụng vốn ODA phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Do phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố bất định nên khó có thể dự kiến chuẩn xác (trong dài hạn) vốn ODA vận động được. Vì vậy, các chương trình, dự án dự định sẽ đầu tư bằng vốn ODA phải được sắp xếp thứ tự ưu tiên theo một số phương án với các khả năng khác nhau. Các chương trình dự án có mức ưu tiên cao cần bố trí nguồn vốn thay thế nếu không vận động được vốn ODA. Mặt khác, kinh nghiệm của Malaysia trong vấn đề này cũng rất đáng tham khảo: họ lựa chọn rất kĩ các DA sử dụng vốn ODA và nguồn vốn vay ODA, chỉ tập trung vào các DA qui mô lớn và tận dụng tối đa sự hỗ trợ của nhà tài trợ. Thứ ba, cần quán triệt nguyên tắc quản lý vốn ODA phải căn cứ vào kết quả và hiệu quả. Xây dựng và thực hiện qui trình kỹ thuật dự án theo hướng chuyên nghiệp hóa: từ khi xác định DA, chuẩn bị DA, đánh giá DA, phê duyệt DA, đàm phán, kí kết, đấu thầu, thi công, giám định, đánh giá sau DA và kiểm toán, cố gắng mỗi khâu phải được đảm nhiệm bởi cơ quan chuyên trách. Ban hành hệ thống các hướng dẫn chi tiết trong từng khâu, từ đó phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp liên quan. Đặc biệt, cần có những hướng dẫn cụ thể thực hiện quá trình đánh giá dự án sau hoàn thành. Các thông tin về quá trình quản lý vốn ODA phải rõ ràng minh bạch, được thông báo đầy đủ cho nhân dân và các nhà tài trợ. Thứ tư, để khắc phục tình trạng một dự án phải có hai thủ tục như đã nêu .Chính phủ cần chấp nhận dự án nhà tài trợ nào được phép áp
  7. dụng thủ tục và hướng dẫn của nhà tài trợ đó. Mặc dầu đã có những nỗ lực nhất định từ phía các nhà tài trợ trong vấn đề thống nhất thủ tục, nhưng khó có thể hình thành một hệ thống thủ tục chung của các nhà tài trợ trên phạm vi toàn cầu. Do vậy, đối với các DA ODA, Chính phủ nên hình thành qui định hệ thống thủ tục trong nước theo kiểu “khung“, các vấn đề chi tiết cho phép áp dụng thủ tục và hướng dẫn của nhà tài trợ. Thứ năm, Chính phủ cần xây dựng hệ thống tiêu chí hợp lý, phân cấp quản lý vốn ODA. Để xây dựng được hệ thống tiêu chí này cần đánh giá lại một cách toàn diện và thống kê đầy đủ các DA ODA đã và đang được triển khai thực hiện nhằm xác định mối quan hệ giữa mức độ hiệu quả đạt được của DA với các tiêu chí: qui mô, trách nhiệm trả nợ, năng lực quản lý vốn ODA của địa phương, lĩnh vực đầu tư của DA, nhà tài trợ v.v… Thứ sáu, các bộ ngành trong Chính phủ và chính quyền các địa phương cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác quản lý vốn ODA theo hướng chuyên môn hóa. 4. Kết luận Việt Nam là một trong các quốc gia tiếp nhận vốn ODA có nhiều nỗ lực trong vấn đề quản lý hiệu quả nguồn vốn này. Song, thực tiễn cho thấy còn rất nhiều bất cậptrong lĩnh vực này. Hy vọng rằng các ý kiến đề xuất của những nhà nghiên cứu, sự quan tâm thích đáng từ phía Chính phủ và Quốc hội, tính chuyên nghiệp của bộ phận làm công tác quản lý ODA thật sự mang lại tác dụng, đem lại sự an tâm nơi người dân và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản