Bài Thảo Luận Môn Tin Hoc Đại Cương

Chia sẻ: Nguyen Thi Thuyduong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
532
lượt xem
105
download

Bài Thảo Luận Môn Tin Hoc Đại Cương

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài thảo luận này cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về những nguyên lý cơ bản của hệ điều hành.Chúng ta bắt đầu với việc xem xét mục tiêu và các chức năng của hệ điều hành ,sau đó khảo sát các dạng khác nhau của chúng cũng như xem xét quá trình phát triển qua từng giai đoạn.Các phần này được trình bày thông qua các nội dung sau:
*Khái niệm hệ điều hành
*Lịch sử phát triển của hệ điều hành
*Các chức năng cơ bản của hệ điều hành
*Phân loại hệ điều hành...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài Thảo Luận Môn Tin Hoc Đại Cương

  1. Bài Thảo Luận Môn Tin Hoc Đại Cương Nhóm 2 Đề tài:Hệ điều hành,lịch sử phát triển của hệ điều hành,các chức năng cơ bản,phân loại hệ điều hành. Bài thảo luận này cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về những nguyên lý cơ bản của hệ điều hành.Chúng ta bắt đầu với việc xem xét mục tiêu và các chức năng của hệ điều hành ,sau đó khảo sát các dạng khác nhau của chúng cũng như xem xét quá trình phát triển qua từng giai đoạn.Các phần này được trình bày thông qua các nội dung sau: *Khái niệm hệ điều hành *Lịch sử phát triển của hệ điều hành *Các chức năng cơ bản của hệ điều hành *Phân loại hệ điều hành I.Khái niệm về hệ điều hành Hệ điều hành là một chương trình hay một hệ chương trình hoạt động giữa người sử dụng (user) và phần cứng của máy tính.Mục tiêu của hệ điều hành là cung cấp một môi trường để người sử dụng có thể thi hành các chương trình.Nó làm cho máy tính dễ sử dụng hơn,thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Hệ điều hành là một phần quan trọng của hầu hết các hệ thống máy tính.Một hệ thống máy tính thường được chia làm bốn phần chính:phần cứng,hệ điều hành,các chương trình ứng dụng và người sử dụng.Hệ điều hành điều khiển và phối hợp việc sử dụng phần cứng cho những ứng dụng khác nhau của nhiều người sử dụng khác nhau.Hệ điều hành cung cấp một môi trường mà các chương trình có thể làm việc hữu hiệu trên đó. Hệ điều hành có thể được coi như là bộ phân phối tài nguyên của máy tính.Nhiều tài nguyên của máy tính như thời gian sử dụng CPU,vùng bộ nhớ,vùng lưu trữ tập tin,thiết bị nhập xuất v.v…được các chương trình yêu cầu để giải quyết vấn đề.Hệ điều hành hoạt động như một bộ quản lý các tài nguyên và phân phối chúng cho các chương trình và người sử dụng khi cần thiết.Do có rất nhiều yêu cầu,hệ điều hành phải giải quyết vấn đề tranh chấp và phải quyết định cấp phát tài nguyên cho những yêu cầu theo thứ tự nào để hoạt động của máy tính là hiệu quả nhất.Một hệ điều hành cũng có thể được coi như là một chương trình kiểm soát việc sử dụng máy tính,đặc biệt là thiết bị nhập xuất.
  2. Tuy nhiên,nhìn chung chưa có định nghĩa nào là hoàn hảo về hệ điều hành.Hệ điều hành tồn tại để giải quyết các vấn đề sử dụng hệ thống máy tính.Mục tiêu cơ bản của nó là giúp cho việc thi hành các chương trìng dễ dàng hơn .Mục tiêu thứ hai là hỗ trợ cho các thao tác trên hệ thống máy tính hiệu quả hơn. II.Lịch sử phát triển của hệ điều hành II.1 Thế hệ 1 (1945–1955) Vào khoảng giữa thập niên 1940,Howard Aiken ở Havard và John Von Neumann ở Princeton,đã thàng công trong việc xây dựng máy tính dùng ống chân không.Những máy này rất lớn với hơn 10000 ống chân không nhưng chậm hơn nhiều so với máy rẻ nhất ngày nay. Mỗi ngày được một nhóm thực hiện tất cả từ thiết kế,xây dựng lập trình,thao tác đến quản lý.Lập trình bằng ngôn ngữ máy tính tuyệt đối,thường là bằng cách dùng bảng điều khiển để thực hiện các chức năng cơ bản.Ngôn ngữ lập trình chưa được biết đến và hệ điều hành cũng chưa nghe đến. Vào đầu thập niên 1950,phiếu đục lỗ ra đời và có thể viết chương trình trên phiếu thay cho dùng bảng điều khiển. II.2 Thế hệ 2(1955-1965) Sự ra đời của thiết bị bán dẫn vào giữa thập niên 1950 làm thay đổi bức tranh tổng thể.máy tính trở nên đủ tin cậy hơn.Nó được sản xuất và cung cấp cho các khách hàng.Lần đầu tiên có sự phân chia rõ ràng giữa người thiết kế,người xây dựng ,người vận hành,người lập trình và người bảo trì. Để thực hiện một công việc (một chương trình hay một tập hợp các chương trình),lập trình viên trước hết viết chương trình trên giấy (bằng hợp ngữ hay FORTRAN)sau đó đục lỗ trên phiếu và cuối cùng đưa phiếu vào máy.Sau khi thực hiện xong nó sẽ xuất hiện kết quả ra máy in. Hệ thống xử lý theo lô ra đời ,nó lưu các yêu cầu cần thực hiện lên băng từ,và hệ thống sẽ đọc và thi hành lần lượt.Sau đó, nó sẽ ghi kết lên băng từ xuất và cuối cùng người sử dụng sẽ đem băng từ xuất đi in. Hệ thống xử lý theo lô hoạt động dưới sự điều khiển của 1 chương trình đặc biệt là tiền thân của hệ điều hành sau này.Ngôn ngữ lập trình sử dụng trong giai đoạn này chủ yếu là FORTRAN và hợp ngữ II.3 Thế hệ 3(1965-1980) Trong giai đoạn này,máy tính được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như trong thương mại.Máy IBM 360 là máy tính đầu tiên sử
  3. dụng mạch tích hợp(IC).Từ đó kích thước và giá cả của các hệ thống máy giảm đáng kể và máy tính càng phổ biến hơn.Các thiết bị ngoại vi dành cho máy xuất hiện ngày càng nhiều và thao tác điều khiển bắt đầu phức tạp. Hệ điều hành ra đời nhằm điều phối,kiểm soát hoạt động và giải quyết các yêu cầu tranh chấp thiết bị.Chương trình hệ điều hành dài cả triệu dòng hợp ngữ do hàng ngàn lập trình viên thực hiện Sau đó,hệ điều hành ra đời khái niệm đa phương.CPU không phải chờ thực hiện các thao tác nhập xuất.Bộ nhớ được chia làm nhiều phần,mỗi phần có 1 công việc khác nhau,khi một công việc chờ thực hiện nhập xuất CPU sẽ xử lý các công việc còn lại.Tuy nhiên khi có nhiều công việc cùng xuất hiện trong bộ nhớ,vấn đề là phải có một cơ chế bảo vệ tránh các công việc ảnh hưởng đến nhau.Hệ điều hành cũng cài đặt thuộc tính spool. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự ra đời của hệ điều hành chia sẻ thời gian như CTSS của MIT.Đồng thời các hệ điều hành lớn ra đời như MULTICS,UNX và hệ thống các máy mini cũng xuất hiện như DEC PDP-1. II.4 Thế hệ 4(1980-) Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của máy tính cá nhân,đặc biệt là hệ thống IBM PC với hệ điều hành MS-DOS và Windows sau này.Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh của các hệ điều hành tựa Unix trên nhiều má khác nhau như Linux.Ngoài ra,từ đầu thập niên 90 cũng đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của hệ điều hành mạng và hệ điều hành phân tán. III.Các chức năng cơ bản của hệ điều hành III.1 Quản lý các luồng thông tin ra vào Hệ điều hành quản lý các luồng thông tin được đưa vào hay đưa ra khỏi máy tính cũng như các luồng thông tin qua lại giữa bộ phận xử lý trung tâm và các thiết bị ngoại vi.Hệ điều hành dẫn dắt dữ liệu đến những nơi tiến hành xử lý chúng và đưa kết quả ra màn hình,máy in hay một thiết bị đưa ra nào đó theo yêu cầu của người dùng. III.2 Kiểm tra và phát hiện những sai hỏng của thiết bị Hệ điều hành giám sát hiện trạng của các thành phần quan trọng trong máy tính để phát hiện những hỏng hóc có ảnh hưởng đến việc xử lý.Ví dụ,nếu một thành phần điện tử trong máy bị hỏng thì hệ điều hành hiện một thông báo về vấn đề phát hiện được và không cho phép tiếp tục phiên làm việc với máy tính chừng nào vấn đề chưa được giải quyết
  4. III.3 Phân chia tài nguyên Tài nguyên của một hệ thống máy tính là những phương tiện có trong hệ thống mà một chương trình có thể khai thác và sử dụng nó.Ví dụ:Ổ đĩa,bộ nhớ trong,máy in,thời gian làm việc của CPU…Hệ điều hành phân chia các nguồn tài nguyên sao cho các chương trình có thể thực hiện một cách đúng đắn,ngăn ngừa được tình trạng tắc ngẽn.Các hệ điều hành đa chương trình hay đa nhiệm phải đảm bảo cho các chương trình có đủ chỗ trong bộ nhớ và phân phối CPU(cũng như các thiết bị ngoại vi) giành những khoảng thời gian thích hợp cho các nhiệm vụ đặt ra bởi các chương trình khác nhau.Hệ điều hành nhiều người dùng luôn có cmả giác máy tính chỉ phục vụ một mình mình thôi III.4 Quản lý các tệp tin Thông tin được lưu trữ trên bộ nhớ ngoài thành những tệp (file) giống như những tập hồ sơ được cất giữ trong những cặp hồ sơ(folder) hay những cuốn sách được phân chia vào các thư mục(Directory).Hệ điều hành đóng vai trò tương tự như người thủ thư hay nhân viên lưu trữ hồ sơ để giúp người dùng cất tệp lên các phương tiện của bộ nhớ ngoài như đĩa từ,đĩa CD-ROM…quản lý các tệp đó và sau này giúp người dùng tìm lại chúng. III.5 Bảo mật Hệ điều hành cũng giúp cho bảo mật dữ liệu trong máy tính,ngăn ngừa những người không có thẩm quyền sử dụng.Ví dụ hệ điều hành sẽ không cho một người tiếp cận với máy tính hay với một số tệp trong máy nếu người đó không có tên (User ID) và mật khẩu (Password) hợp lệ IV.Phân loại hệ điều hành Có 4 cách phân loại HĐH: * Dưới góc độ loại máy tính: - Hệ điều hành dành cho máy nhiều Main Frame - Hệ điều hành cho máy Server - Hệ điều hành cho máy nhiều CPU - Hệ điều hành cho máy tính cá nhân(PC) - Hệ điều hành cho máy PDA(Embedded OS-hệ điều hành nhúng) - Hệ điều hành cho máy chuyên biệt - Hệ điều hành cho thẻ chip(Smart Card) * Dưới góc độ người sử dụng và số chương trình được sử dụng cùng lúc
  5. - Hệ điều hành đơn nhiệm một người dùng - Hệ điều hành đa nhiệm một người dùng - Hệ điều hành đa nhiệm nhiều người dùng * Dưới góc độ người dùng - Một người dùng - Nhiều người dùng: + Mạng ngang hang + Mạng có máy chủ:LAN,WAN *Dưới góc độ hình thức xử lí 1. Hệ thống xử lý theo lô Bộ giám sát thường trực: Khi một công việc chấm dứt,hệ thống sẽ thực hiện công việc kế tiếp mà không cần sự can thiệp của người lập trình,do đó thời gian thực hiện sẽ mau hơn.Một chương trình,còn gọi là bộ giám sát thường trực được thiết kế để giám sát việc thực hiện dãy các công việc một cách tự động,chương trình này luôn thường trú trong bộ nhớ chính. Hệ điều hành theo lô thực hiện các công việc lần lượt theo những chỉ thị định trước CPU các thao tác nhập xuất: CPU thường hay nhàn rỗi do tốc độ làm việc của các thiết bị nhập xuất(thường là thiết bị cơ)chậm hơn rất nhiều lần so với các thiết bị điện tử.Cho dù là một CPU chậm nhất,nó cũng nhanh hơn rất nhiều lần so với thiết bị nhập xuất.Do đó phải có các phương pháp để đồng bộ hoá việc hoạt động của CPU và thao tác nhập xuất. Xử lý off_line: Xử lý off_line là thay vì CPU phải đọc trực tiếp từ thiết bị nhập và xuất ra thiết bị xuất,hệ thống dùng một bộ lưu trữ trung gian.CPU chỉ thao tác với bộ phận này.Việc đọc hay xuất đều đến và từ bộ lưu trữ trung gian. Spooling: Spool là đồng bộ hoá các thao tác bên ngoài on-line.Cơ chế này cho phép CPU là on-line,sử dụng đĩa để lưu các dữ liệu nhập cũng như xuất. 2. Hệ thống xử lý theo lô đa chương Khi có nhiều công việc cùng truy xuất lên thiết bị,vấn đề lập lịch cho các công việc là cần thiết.Khía cạnh quan trọng nhất trong việc lập lịch là khả năng đa chương.Đa chương gia tăng khai thác CPU bằng
  6. cách tổ chức các công việc sao cho CPU luôn luôn phải trong tình trạng làm việc. Ý tưởng như sau:hệ điều hành lưu giữ một phần của các công việc ở nơi lưu giữ trong bộ nhớ.CPU sẽ lần lượt thực hiện các phần công việc này.Khi đang thực hiện,nếu có yêu cầu truy xuất thiết bị thì CPU không nghỉ mà thực hiện tiếp công việc thứ hai… Với hệ đa chương hệ điều hành ra quyết định cho người sử dụng vì vậy,hệ điều hành đa chương rất tinh vi.Hệ phải xử lý các vấn đề lập lịch cho công việc,lập lịch cho bộ nhớ và cho cả CPU nữa 3. Hệ thống chia sẻ thời gian Hệ thống chia sẻ thời gian là một mở rộng logic của hệ đa chương.Hệ thống này còn được gọi là hệ thống đa nhiệm.Nhiều công việc cũng được thực hiện thông qua cơ chế chuyển đổi của CPU như hệ đa chương nhưng thời gian mỗi lần chuyển đổi diễn ra rất nhanh. Hê thống chia xẻ được phát triển để cung cấp việc sử dụng bên trong của 1 máy tính có giá trị hơn.Hệ điều hành chia xẻ thời gian dùng lập lịch CPU và đa chương để cung cấp cho mỗi người sử dụng một phần nhỏ trong máy tính chia xẻ.Một chương trình khi thi hành được gọi là một tiến trình.Trong quá trình thi hành của một tiến trình,nó phải thực hiện các thao tác nhập xuất và trong khoảng thời gian đó CPU sẽ thi hành một tiến trình khác.Hệ điều hành chia xẻ cho phép nhiều người sử dụng chia xẻ máy tính một cách đồng bộ do thời gian chuyển đổi nhanh nên họ có cảm giác là các tiến trình đang được thi hành cùng lúc. Hệ điều hành chia xẻ phức tạp hơn hệ điều hành đa chương.Nó phải có các chức năng:quản trị và bảo vệ bộ nhớ,sử dụng bộ nhớ ảo.Nó cũng cung cấp hệ thống tập tin truy xuất on-line… Hệ điều hành chia xẻ là kiểu của các hệ điều hành hiện đại ngày nay. 4. Hệ thống song song Ngoài ác hệ thống chỉ có một bộ xử lý còn có các hệ thống có nhiều bộ xử lý cùng chia xẻ hệ thống đường truyền dữ liệu,đồng hồ,bộ nhớ và các thiết bị ngoại vi.Các bộ xử lý này liên lạc bên trong với nhau. Có nhiều nguyên nhân xây dựng dạng hệ thống này.Với sự gia tăng số luợng bộ xử lý,công việc được thực hiện nhanh chóng hơn,nhưng không phải theo đúng tỷ lệ thời gian,nghĩa là có n bộ xử lý không có nghĩa là sẽ thực hiện nhanh hơn n lần.
  7. Hệ thống với máy nhiều bộ xử lý sẽ tối ưu hơn hệ thống có nhiều máy có một bộ xử lý vì các bộ xử lý chia xẻ các thiết bị ngoại vi,hệ thống lưu giữ,nguồn…và rất thuận tiện cho nhiều chương trình cùng làm việc trên cùng một tập hợp dữ liệu. Một lý do nữa là độ tin cậy.Các chức năng được xử lý và sự hỏng hóc của 1 bộ xử lý sẽ không ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Hệ thống đa xử lý thông thường sử dụng cách đa xử lý đối xứng,trong cách này mỗi bộ xử lý chạy với 1 bản sao của hệ điều hành,những bản sao này liên lạc với nhau khi cần thiết.Một số hệ thống sử dụng đa xử lý bất đối xứng,trong đó mỗi bộ xử lý được giao một công việc riêng biệt…Một bộ xử lý chính kiểm soát toàn bộ hệ thống,các bộ xử lý khác thực hiện theo lệnh của bộ xử lý chính hoặc theo những chỉ thị đã được định nghĩa trước.Mô hình này theo dạng quan hệ chủ tớ.Bộ xử lý sẽ lập lịch cho các bộ xử lý khác. Một ví dụ về hệ thống xử lý đối xứng là version Encore của UNIX cho máy tính Multimax.Hệ thống này có hàng tá bộ xử lý.Ưu điểm của nó là nhiều tiến trình có thể thực hiện cùng lúc.Một hệ thống đa xử lý cho phép nhiều công việc và tài nguyên được chia xẻ tự động trong những bộ xử lý khác nhau. Hệ thống đa xử lý không đồng bộ thường xuất hiện trong những hệ thống lớn,trong đó hầu hết thời gian hoạt động đều dành cho xử lý nhập xuất 5. Hệ thống phân tán Hệ thống này cũng tương tự như hệ thống chia xẻ thời gian nhưng các bộ xử lý không chia xẻ bộ nhớ và đồng hồ,thay vào đó mỗi bộ xử lýcó bộ nhớ cục bộ riêng.Các bộ xử lý thông tin với nhau thông qua các đường truyền thông như những bus tốc độ cao hay đường dây điện thoại. Các bộ xử lý trong hệ phân tán thường khác nhau về kích thước và chức năng.Nó có thể bao gồm máy vi tính,trạm làm việc,máy mini,và những hệ thống máy lớn.Các bộ xử lý thường được tham khảo với nhiều tên khác nhau như site,node,computer v.v….tuỳ thuộc vào trạng thái làm việc của chúng Các nguyên nhân phải xây dựng hệ thống phân tán là:  Chia xẻ tài nguyên:Một người sử dụng A có thể sử dụng máy in laser của người sử dụng B và người sử dụng B có thể truy xuất những tập tin của A.Tổng quát,chia xẻ tài nguyên trong hệ thống phân tán cung cấp cho một cơ chế để chia sẻ tập tin ở vị trí xa,xử lý thông tin trong một cơ sở dữ liệu phân tán,in ấn
  8. tại một vị trí xa,sử dụng những thiết bị ở xa để thực hiện các thao tác.  Tăng tốc độ tính toán:Một thao tác tính toán được chia làm nhiều phần nhỏ cùng thực hiện 1 lúc.Hệ thống phân tán cho phép phân chia việc tính toán trên nhiều vị trí khác nhau để tính toán song song.  An toàn:Nếu 1 vị trí trong hệ thống phân tán bị hỏng,các vị trí khác vẫn tiếp tục làm việc.  Thông tin liên lạc với nhau:có nhiều lúc,chương trình cần chuyển đổi dữ liệu từ vị trí này sang vị trí khác.Ví dụ trong hệ thống Windows,thường có sự chia xẻ và chuyển dữ liệu giữa các cửa sổ.Khi các vị trí được nối kết với nhau trong một hệ thống mạng,việc trao đổi dữ liệu diễn ra rất dễ.Người sử dụng có thể chuyển tập tin hay các E_mail cho nhau từ cùng vị trí hay những vị trí khác. 6. Hệ thống xử lý thời gian thực Hệ thống xử lý thời gian thực được sử dụng khi có những đòi hỏi khắt khe về thời gian trên các thao tác của bộ xử lý hoặc dòng dữ liệu,nó thường được dùng điều khiển các thiết bị trong các ứng dụng tận hiến.Máy tính phân tích dữ liệu và có thể chia các điều khiển giải quyết cho các dữ liệu nhập. Một hệ điều hành xử lý thời gian thực phải được định nghĩa tốt,thời gian xử lý nhanh.Hệ thống phải cho kết quả chính xác trong khoảng thời gian bị thúc ép nhanh nhất.Có 2 hệ thống xử lý thời gian thực là hệ thống thời gian thực cứng và hệ thôứng thời gian thực mềm. Hệ thống thời gian thực cứng là nhưũng công việc được hoàn tất đúng lúc.Lúc đó dữ liệu thường được lưu trong bộ nhớ ngắn hạn hay trong ROM.Việc xử lý theo thời gian thực sẽ xung đột với tất cả hệ thống liệt kê ở trên. Dạng thứ 2 là hệ thống thời gian thực mềm,mỗi công việc có một độ ưu tiên riêng và sẽ được thi hành theo độ ưu tiên đó.Có một số lĩnh vực áp dụng hữu hiệu phương pháp này là multimedia hay thực tại ảo. V.Một số hệ điều hành thông dụng trên các máy vi tính. V.1 Hệ điều hành MS Dos Dos có 2 nhãn thương mại là PC-DOS và MS-DOS.Đó là sản phẩm của công ty Microsoft corporation.DOS ra đời vào năm 1981 cùng với máy tính IBN-PC đầu tiên.Hệ điều hành này không ngừng được cải tiến và đã trải qua 7 phiên bản chủ yếu,mang các số hiệu từ 1.0- 7.0.Các phiên bản cũ của DOS chỉ giao tiếp với người dùng qua
  9. “giao diện” bằng dòng lệnh văn bản nhưng các phiên bản mới đây có cả giao diện dẫn dắt bằng bảng chọn gọi là DOS Shell.Qua hệ thống bảng chọn,người dùng có thể sử dụng hầu hết các chứng năng thông dụng của DOS mà không cần nhớ các lệnh DOS. V.2 Hệ điều hành Windows Hãng Microsoft đã sản xuất hệ điều hành Windows với các phiên bản gần đây là Windows 3.x,Windows 9x,Windows 2K,Windows Me,Windows XP và Windows NT.Hệ điều hành Windows dùng giao diện đồ hoạ trong đó có các hình tượng và các bảng chọn(menu).Người dùng có thể ra lệnh cho hệ điều hành 1 cách dễ dàng bằng cách dùng bàn phím và dùng 1 thiết bị chuột trình ứng dụng chạy trong môi trường Windows đều có giao diện nhất quán nên dễ sử dụng.Windows là hệ điều hành đa nhiệm,nó còn hỗ trợ việc sử dụng mạng máy tính và gửi thư điện tử.Hệ điều hành Windows NT có đầy đủ khả năng quản lý mạng máy tính. V.3 Hệ điều hành OS/2 OS/2 được Microsoft và IBM cùng cộng tác thiết kế.Mục đích của họ là tạo ra 1 hệ điều hành có thể tận dụng được tính ưu việt của các máy tính mới,tạo ra được giao diện đồ hoạ đồng thời vẫn duy trì được khả năng thực hiện hầu hết các chương trình viết trong môi trường DOS và Windows.OS/2 cũng là hệ điều hành đa nhiệm. V.4 Hệ điều hành Macintosh Hãng máy tính Apple Computer,Inc đã sản xuất ra loại máy tính Macintosh với hệ điều hành Macintosh.Hệ điều hành này thường được gọi theo số hiệu phiên bản,chẳng hạn System 8 là phiên bản thứ 8 của nó.Hệ điều hành Macintosh cũng là hệ điều hành đa nhiệm,có giao diện đồ hoạ và thực đơn và có hỗ trợ việc sử dụng mạng máy tính V,5 Hệ điều hành UNIX UNIX là một hệ điều hành được phát triển ở các phòng thí nghiệm của hãng AT$T ngay từ năm 1969.Thoạt đầu UNIX được thiết kế cho các máy tính cỡ vừa và nhỏ nhưng bây giờ đã có các phiên bản cho máy vi tính và máy tính cỡ lớn.Giao diện chủ yếu của UNIX là dòng lệnh,tương đối khó dùng,tuy nhiên các phần mềm chạy trong môi trường UNIX có thể cung cấp giao diện đồ hoạ và thực đơn.Đây là hệ điều hành đa nhiệm phục vụ đồng thời nhiều người dùng.
Đồng bộ tài khoản