Bài thảo luận "Thực trạng hoạt động của các NHTM tại Việt Nam"

Chia sẻ: Nguyễn Thị Bảo Yến | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:29

1
250
lượt xem
132
download

Bài thảo luận "Thực trạng hoạt động của các NHTM tại Việt Nam"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngân hàng thương mại là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báo hiệu trạng thái sức khoẻ của nền kinh tế. Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh. Ngược lại, các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thảo luận "Thực trạng hoạt động của các NHTM tại Việt Nam"

  1. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BÀI THẢO LUẬN Đề Tài: Ngân Hàng Thương Mại Lớp: NHI_K10 Hà nội, 09/09
  2. DANH SÁCH THAM GIA 1. Tạ Thúy Hường 2. Nguyễn Thị Hà 3. Nguyễn Thị Lý 4. Nguyễn Thị Lương 5. Nguyễn Thị Bảo Yến 6. Nguyễn Thùy Dương 7. Đỗ Thị Hải 8. Vương Quỳnh Nga 9. Lê Thị Ngọc Lụa
  3. LỜI MỞ ĐẦU Ngân hàng thương mại là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là d ấu hi ệu báo hiệu trạng thái sức khoẻ của nền kinh tế. Các ngân hàng m ạnh, n ền kinh t ế mạnh. Ngược lại, các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ y ếu kém. Thậm chí n ếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ. Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư. NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình s ản xuất kinh doanh. NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâm ti ền t ệ, tín d ụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là định chế tài chính quan trọng nh ất c ủa nền kinh tế. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực s ự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho m ạch máu (dòng v ốn) c ủa nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi tr ơn cho ho ạt đ ộng c ủa một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Với vai trò quan tr ọng nh ư v ậy trong n ền kinh tế việc nghiên cứu về NHTM là hết sức cần thiết do đó nhóm tôi đã chọn đ ề tài; “Ngân Hàng Thương Mại” Bài viết gồm 3 phần như sau: A. Lý luận chung B. Thực trạng C. Giải pháp
  4. A. LÝ LUẬN CHUNG 1. Các quan niệm về Ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn li ền v ới l ịch s ử phát tri ển của nền sản xuất hàng hoá: Các ngân hàng thương mại xuất hiện trong nền kinh tế với tư cách là các nhà tổ chức trung gian, nhận ti ền g ửi c ủa các t ổ ch ức kinh t ế có dư thừa và trên cơ sở đó cấp tín dụng cho các đơn vị kinh tế có nhu cầu tức là luân chuyển vốn một cách gián tiếp. Hệ thống ngân hàng thương mại có phạm vi ho ạt động rộng rãi vì nó cung cấp các dịch vụ tài chính cho tất c ả các lĩnh v ực c ủa n ền kinh tế và các tầng lớp dân cư. Tuỳ theo cách tiếp cận mà có các quan đi ểm khác nhau về NHTM, điều đó còn phụ thuộc vào tính chất và m ục tiêu c ủa nó trên th ị trường tài chính của từng nước. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại. Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp: Một doanh nghiệp đ ặc biệt – hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Theo quan điểm của các nhà kinh tế Hoa Kỳ. Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung c ấp d ịch v ụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo quan điểm của các nhà kinh tế Pháp. Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay c ơ sở nào hành ngh ề th ường xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các s ố tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín d ụng hay d ịch v ụ tài chính. Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam. Ngân hàng thương mại là một tổ chức mà hoạt động ch ủ y ếu và th ường xuyên là nhận tiền gửi, trên nguyên tắc hoàn trả, tiến hành cho vay, chi ết kh ấu và làm các phương tiện thanh toán. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, nhưng tựu chung lại có th ể hiểu tổng quát: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động ti ền
  5. gửi dưới các hình thức khác nhau của khách hàng, trên c ơ s ở nguồn v ốn huy động này và vốn chủ sở hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu t ư, chiết khấu đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư v ấn và một số dịch vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế. 2. Đặc trưng của Ngân hàng thương mại 2.1. Chức năng thủ quỹ cho xã hội Các NHTM thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu v ực của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận l ợi cho việc gửi ti ền tiết kiệm của dân chúng và bằng cách đưa những phương thức dễ dàng để thực hiện các mục đích có tính xã hội. Người gửi tiền tiết kiệm được nhận một kho ản tiền thưởng dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng, với mức độ an toàn và hình thức thanh khoản cao. Số tiền huy động được thông qua hình thức tiết kiệm luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghệp và các cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích sinh hoạt cá nhân như mua sắm các mặt hàng tiêu dùng và cả nhà cửa. Phần l ớn tiền g ửi tiết kiệm được thực hiện thông qua hệ thống NHTM. Tuy nhiên với các kho ản tiền, vàng bạc, đá quý, chứng từ có giá…khách hàng gửi vào ngân hàng v ới yêu c ầu giữ hộ, khách hàng vẫn phải trả cho ngân hàng một khoản phis nhất định Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nh ập ngày càng cao, tích lũy của doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn cộng them nhu c ầu b ảo v ệ tài s ản và mong muốn sinh lời từ khoản tiền có được của các ch ủ th ể kinh t ế làm cho chức năng này ngày càng được thể hiện rõ. Nó đem l ại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng. 2.2. Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng làm trung tâm thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu c ầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi c ủa h ọ đ ể thanh toán ti ền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ti ền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng với ho ạt đ ộng kinh t ế. Trước hết, thanh toán không bằng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi
  6. phí lưu thong tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Khả năng lựa chọn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái s ản xuất xã hội. th ứ hai, viêc cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng làm tăng uy tín cho ngân hàng và do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền g ửi. Ngày nay chu chuyển tiền tệ chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và do đó ch ỉ khi chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thì vai trò c ủa NHTM m ới đ ược nâng cao hơn. 2.3. Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là c ầu nối gi ữa ng ười có v ốn d ư th ừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua viêc huy động các kho ản v ốn ti ền t ệ t ạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay c ủa nó r ồi đem cho vay đối với nền kinh tế , mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. với ch ức năng này NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Ngay từ khi mới bắt đầu, những người tổ chức các NHTM đã luôn tìm ki ếm các cơ hội để thực hiện việc cho vay, coi đó như là chức năng quan tr ọng nh ất c ủa mình, và trong một số trường hợp việc cho vay đó được chính phủ bảo lãnh đối với một số nhu cầu tín dụng, trong các cộng đồng dân cư đặc biệt. Trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các NHTM đã và đang th ực hi ện ch ức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở r ộng và từ đó, đời sống dân chúng được cải thiện. Tín dụng c ủa NHTM có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài tr ợ cho các ho ạt đ ộng công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Những kh ả năng đó được các nhà kinh tế gọi là “sản phẩm đường vòng” hoặc s ản phẩm gián ti ếp, khi so sánh với những sản phẩm trực tiếp mà ở đó, s ản phẩm đem tiêu dùng đ ược t ạo ra bằng việc sử dụng trực tiếp lao động và đất đai hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong khi đó, việc cung ứng vốn của ngân hàng cũng tạo ra khả năng s ản phẩm có thể tính toán được. Tín dụng ngân hàng đã tạo ra kh ả năng th ực hi ện toàn bộ quá trình kinh tế cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Nh ững ng ười nông dân, nhờ có điều kiện vay vốn, có khả năng mua hạt giống, thức ăn, phân bón
  7. và nhiều nhu cầu cần thiết khác cho việc trồng trọt và thu hoạch trên đồng ruộng của họ. Tín dụng ngân hàng tạo khả năng để mua s ắm v ật t ư thi ết b ị, máy móc và thuê mướn nhân công. Các cửa hàng bán buôn và bán l ẻ có khả năng d ự tr ữ nh ững hàng hoá của họ và vận chuyển những hàng hoá đó đến tay ng ười tiêu dùng, nh ờ vốn có được bằng hình thức vay nợ ở các NHTM. 2.4. Chức năng tạo tiền gửi Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ….Khi ngân hàng thực hiện chức năng nhận tiền gửi mà ch ưa cho vay, ngân hàng chưa hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền. 3. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại 3.1.Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại. Nghiên cứu các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại thực chất là việc xác định các nội dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản. Đó là m ột b ảng báo cáo tài chính tổng hợp, được trình bày dưới dạng cân đ ối, ph ản ánh t ổng quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của một ngân hàng ợ phản ánh nguồn vốn hoạt đ ộng của ngân hàng thương mại, bao gồm các khoản ngân hàng nợ thị trường và vốn của ngân hàng. Các khoản vốn nợ thị trường biểu hiện thông qua các khoản vốn mà dân chúng gửi vào hoặc các khoản vốn ngân hàng đi vay các ch ủ th ể trong n ền kinh t ế như các các nhân, hộ gia đình, tổ chức tài chính trung gian…Tài s ản có ph ản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng thương mại hay các khoản th ị tr ường n ợ ngân hàng. Mỗi khoản ngân hàng cho vay ra hay đầu tư vào chứng khoán đều ghi vào bên có của bảng tổng kết tài sản, làm tăng tài sản có của ngân hàng. Tính chất quan trọng của bảng cân đối tài sản là tổng s ố tiền bên tài s ản nợ phải bằng tổng số tiền bên tài sản có. Tổng tài sản có = tổng tài sản nợ + vốn 3.2.Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ
  8. 3.2.1. Vốn tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất c ứ lúc nào. Khách hàng yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản này để chi tr ả cho ng ười được hưởng về tiền hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đồng thời khách hàng cũng có thể yêu cầu được chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này. Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng đ ược phép rút ra sau m ột thời gian nhất định từ một vài ba tháng đến một vài năm. Mục đích c ủa ng ười g ửi tiền là lấy lãi và ngân hàng có thể chủ động s ử d ụng nguồn vốn này đ ể cho vay. Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào người thời hạn gửi tiền và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở xem xét s ự an toàn c ủa ngân hàng cũng nh ư quan hệ cung cầu vốn vào thời điểm đó. Tuy nhiên, để thu hút khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với những khoản phạt đáng kể. Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào nh ằm m ục đích hưởng lãi. 3.2.2 Vốn đi vay Phát hành các chứng từ có giá: Ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn thường nhằm mục đích đã định, ví dụ phát hành kỳ phiếu để có tiền cho vay khác ph ục h ậu qu ả bão lụt, để cho vay thu mua nông sản…Việc huy động vốn phát hành dưới dạng kỳ phiếu được huy động theo hai phương thức: phát hành theo mệnh giá và phát hành dưới hình thức chiết khấu. Vay ngân hàng Trung ương: Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho ngân hàng thương mại ch ủ y ếu dưới hai hình thức: Thứ nhất là tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức tái chi ết khấu chứng từ có giá. Thứ hai là cho vay thế chấp hay ứng trước Hình thức tái cấp vốn được Ngân hàng nước Việt nam th ực hi ện theo ba
  9. cách: +Cho vay lai theo hồ sơ tín dụng +Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ng ắn hạn khác. +Cho vay có đảm bảo cầm cố thương phiếu và các giấy tờ ngắn hạn khác. Khoản vay này liên quan đến lượng tiền trung ương, đến việc th ực hi ện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Vay các ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Một mục đích quan trọng của loại vay là đảm bảo nhu c ầu v ốn kh ả d ụng trong thời hạn ngắn. Trong quá trình hoạt động, có những ngày cho vay quá nhi ều hoặc có nhu cầu lớn về các nghĩa vụ tài chính dẫn tới sự thiếu hụt dự tr ữ tại Ngân hàng trung ương. Trong khi đó có một vài ngân hàng thương mại khác trong tình trạng dư thừa vốn. Hành vi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng là nh ằm cân b ằng lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng. Các nguồn vốn vay khác: * Tiền vay từ những công ty mẹ của ngân hàng. * Phát hành hợp đồng mua lại: đây là thỏa thuận vay tiền từ các công ty. Hợp đồng mua lại hay giấy thỏa thuận mua lại là m ột hợp đồng bán ch ứng khoán và các đối tượng kinh doanh chứng khoán tương đối th ừa ti ền m ặt nh ư: các công ty tài chính, các quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng, quỹ hưu trí… Vay nước ngoài. Các ngân hàng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nước ngoài. 3.2.3 Vốn của ngân hàng Vốn tự có: * Vốn điều lệ: Là vốn mà ngân hàng th ương mại ph ải có đ ể ho ạt đ ộng được ghi trong văn bản pháp quy. * Các quỹ dự trữ trích từ lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn t ự có: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro. *Vốn coi như vốn tự có gồm phần lợi nhuận chưa chia, các qu ỹ khác
  10. chưa sử dụng có thể coi là nguồn vốn tự có của NHTM. 3.3. Nghiệp vụ thuộc tài sản có: 3.3.1 Nghiệp vụ ngân quỹ: Tiền mặt tồn quỹ: gồm tiền giấy và tiền kim loại hi ện có t ại kho c ủa ngân hàng. Tiền gửi ở ngân hàng khác: nhiều ngân hàng nhỏ gửi tiền trong các ngân hàng lớn để đổi lấy các dịch vụ khác nhau như thanh toán gi ữa các ngân hàng, giao dịch ngoại tệ… Tiền gửi ở ngân hàng trung ương: gồm tiền gửi dự tr ữ b ắt buộc và ti ền g ửi thanh toán. 3.3.2 Nghiệp vụ cho vay: Là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng tr ực tiếp cho các nhu c ầu s ản xuất, tiêu dùng… trên cở sở các điều kiện vay vốn của ngân hàng. - Chiết khấu thương phiếu. - Cho vay ứng trước. - Cho vay vượt chi. - Tín dụng ủy thác thu hay bao thanh toán. - Cho vay thuê mua. - Tín dụng bằng chữ ký (gồm tín dụng chấp nhận và tín dụng bảo lãnh) - Tín dụng tiêu dùng. 3.3.3 Nghiệp vụ đầu tư. Đầu tư vào chứng khoán là hình thức phổ biến nhất trong nghi ệp v ụ tài s ản có của NHTM (cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính ph ủ, tín phi ếu…). Ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng, ngoài việc đầu tư vào trái khoán, các t ổ chức tín dụng được dùng vốn để điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác. 3.3.4 Những tài sản có khác Đó là những vốn hiện vật như nhà làm việc máy tính và những trang thiết bị
  11. khác do ngân hàng sở hữu. 3.3.5 Các dịch vụ ngân hàng khác. Các ngân hàng thương mại với chức năng vốn có th ực hi ện các d ịch v ụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, các nghiệp vụ ủy thác và đại lý theo yêu c ầu c ầu c ủa khách hàng… Theo các Tổ chức tín dụng của Việt nam, hiện nay các d ịch v ụ mà ngân hàng được thực hiện bao gồm: Dịch vụ bao thanh toán Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường. Thực hiện nghiệp vụ ủy thác và đại lý. Cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng. B.Thực trạng hoạt động của các NHTM tại Việt Nam 1. Tình hình kinh tế nước ta hiện nay Năm 2008: khép lại với nhiều sự kiện, diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới, cũng là năm hệ thống Ngân hàng Vi ệt Nam ph ải đ ối m ặt v ới những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới. Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp tại Mỹ lan rộng thành khủng kho ảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn chưa đến hồi kết thúc và đang ti ếp t ục đẩy tình trạng nợ xấu, vỡ nợ leo thang khiến số lượng ngân hàng ở Mỹ và ở nhiều nền kinh tế khác bị đóng cửa ngày càng tăng. Chỉ tính riêng ở Mỹ, từ đầu năm 2008 đến nay đã có 23 ngân hàng Mỹ bị giải thể, đóng cửa, tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh, mới tính đến tháng 10-2008 tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã lên tới 6,7%, tăng 2% so với năm 2007. Những thách thức mà các nền kinh tế phải đối mặt trong năm 2008 diễn biến vô cùng phức tạp, khó lường. Nếu như trong 6 tháng đầu năm, sự gia tăng m ạnh c ủa giá dầu, giá lương thực, sự giảm giá của thị trường bất động sản, thị trường chứng
  12. khoán, cùng với những bất ổn chính trị đã gây áp lực l ạm phát mang tính toàn c ầu và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia gặp khó khăn tr ước áp l ực l ạm phát, thì trong 6 tháng cuối năm, giá dầu giảm mạnh từ mức kỷ lục 147 USD/thùng vào giữa tháng 7 xuống mức thấp, dưới 40 USD/thùng vào trung tuần tháng 12, giá l ương thực cũng giảm mạnh cùng với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao gây ra áp l ực gi ảm phát. Kinh tế thế giới lại chuyển từ áp lực lạm phát cao sang xu h ướng thi ểu phát và giảm phát cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu và dự báo tình tr ạng này s ẽ ti ếp t ục diễn ra trong năm 2009. Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008, không những phải đối m ặt v ới nh ững diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại: lạm phát tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại cũng đ ạt m ức k ỷ l ục (hơn 14% GDP), thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm. Trước tình hình đó, để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho tăng tr ưởng bền vững, Chính ph ủ đã điều chỉnh từ mục tiêu tăng trưởng cao sang mục tiêu kiềm ch ế l ạm phát là ưu tiên hàng đầu và tăng trưởng duy trì ở mức hợp lý. Tuy nhiên, nh ững tháng cu ối năm, diễn biến kinh tế và lạm phát của Việt Nam cũng nằm trong xu h ướng chung c ủa kinh tế thế giới, nên các giải pháp vĩ mô cũng đã có sự thay đổi cho phù hợp. Tháng 11-2008, Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải pháp nhằm ngăn chặn suy gi ảm kinh t ế, ổn định vĩ mô, trong đó đặc biệt quan tâm đến nhóm giải pháp về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng chặt chẽ, linh hoạt, hi ệu quả đ ể v ừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ mô. Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước, trong 6 tháng đ ầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã có những phản ứng kịp thời về mặt ban hành chính sách, sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt ch ặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh t ế vĩ mô. Các công c ụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiền t ừ l ưu thông, nh ưng v ẫn b ảo đảm tính thanh khoản cho nền kinh tế và thị trường, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã tăng c ường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường ngoại hối và của các tổ chức tín d ụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể gây mất an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng.
  13. 2. Hoạt động của các NHTM tại Việt Nam. 2.1. Hoạt động huy động vốn.( nghiệp vụ bên nợ) 2.1.1.Lãi suất Năm 2008 là năm có biến động lớn về lãi suất huy động vốn của các NHTM. Cuối năm 2008. Tháng 11/2008 Lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm nhanh; tốc độ huy động vốn của hệ thống đang có tín hiệu chậm lại. Ngày 11/11, nhiều ngân hàng cổ phần đồng loạt áp biểu lãi suất huy động mới; lãi suất huy động VND một số thành viên đã rút về gần mốc 13%/năm, riêng các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên chỉ còn 10% - 12%/năm.Từ ngày 5/11, thực hiện cơ chế mới theo sự điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm xuống mức thấp, đặc biệt ở khối quốc doanh và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank).Trong ngày 10 và 11/11, đến lượt nhiều ngân hàng cổ phần lớn nhỏ giảm mạnh, đưa mặt bằng chung ở nhóm này xuống dưới 14%/năm; chênh lệch lãi suất với một số ngân hàng đa có mức cao đã lên đến 1,5%-2%. Tại Ngân hàng Kỹ thương Techcombank, lãi suất VND tiết kiệm thường đều xuống dưới mốc 14,5%/năm ở tất cả các kỳ hạn. Lĩnh lãi cuối kỳ, mức cao nhất tại ngân hàng này hiện có ở kỳ hạn 3 tháng với 14,35%/năm; kế đến là ở kỳ hạn 4 tháng với 14,2%/năm, kỳ hạn 5 tháng có mức 14%/năm. Đó cũng là 3 kỳ hạn có lãi suất từ 14%/năm trở lên, còn l ại đều dưới 14%/năm. Những mức lãi suất trên cũng gần với biểu lãi suất áp dụng của Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank). Tại một số ngân hàng cổ phần lớn như Ngân hàng Á châu (ACB), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), lãi suất huy động VND cũng đã rút về ở mức thấp. Như tại ACB, mốc 14%/năm có ở kỳ hạn 3 tháng; còn lại đều dưới 14%/năm; tại kỳ hạn 6 tháng chỉ còn 12,55%/năm lĩnh lãi hàng tháng; từ 9 tháng trở lên chỉ từ 9% - 12,5%/năm. Tại những thành viên trên, lãi suất huy động VND hiện đã giảm từ 4% - 5%/năm so với những đỉnh điểm cuối tháng 6/2008.Tại khối quốc doanh và Vietcombank, một “mặt bằng” mới cũng đã thiết lập, cao nhất là 14%/năm ở Vietcombank; cao nhất
  14. tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là 13,5%/năm. Nhưng trong nhóm này cũng có sự chênh lệch khá lớn, như tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), mức cao nhất ghi nhận ở 16%, kỳ hạn 12 tháng. Một điểm đáng chú ý là “đường cong lãi suất” tại khối quốc doanh đã được chỉnh lãi theo hướng từ thấp lên cao theo kỳ hạn thấp đến cao, từ không kỳ hạn đến 12 tháng. Hiện trên thị trường, ở một số ngân hàng cổ phần, lãi suất huy động VND vẫn ở mức khá cao so với mức mới mà những ngân hàng trên vừa áp dụng. Như tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB), các kỳ hạn từ 1 - 9 tháng đều có trên 15%/năm, cao nhất là 15,8%/năm. Hay tại Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB), với khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng trở lên, người gửi vẫn được lãi suất từ 16,45% - 16,6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng. Tốc độ huy động của hệ thống ngân hàng đã có dấu hiệu chậm lại, theo dữ liệu từ báo cáo của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể, trong tháng 10 vừa qua, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng ước chỉ tăng 2,42% so với tháng 9, thấp hơn mức tăng 3,8% của tháng 9 và mức 4,21% của cùng kỳ năm 2007; trong đó, số dư tiền gửi VND ước chỉ tăng 2,16%, thấp hơn mức tăng 4,39% của tháng 9 và số dư tiền gửi ngoại tệ ước tăng 3,18%, cao hơn mức tăng 2,09% của tháng 9. So với cuối năm 2007, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng ước tăng 16,61%. Một điểm đáng chú ý là theo thông tin từ các ngân hàng thương mại lớn, cũng như từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, tốc độ huy động tiền gửi từ đầu năm đến nay chủ yếu tăng từ khối dân cư! Theo Ngân hàng Nhà nước, điều này cho thấy người dân vẫn tin tưởng vào hệ thống. Trong khi đó, lượng tiền gửi của khối doanh nghiệp có xu hướng giảm được giải thích từ nguồn tiền được đưa vào sản xuất kinh doanh thay vì gửi ngân hàng như trước đây. Tháng 12/2008: Chiều ngày 19/12 khi Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố giảm lãi suất cơ bản thì lãi suất huy động tiếp tục giảm xuống theo.
  15. Đỉnh của lãi suất huy động VND vừa được hầu hết ngân hàng công bố giờ chỉ còn 9%/năm, bằng 1/2 thời kỳ "vàng son" của lãi suất huy động hồi quý III/2008 (18%/năm); mức huy động vốn 10%/năm giờ đã thành… xa xỉ. Theo lý giải của các NHTM, ngoài việc hạ lãi suất đón đầu lãi suất cơ bản thì cơ sở chính để các đơn vị này liên tiếp giảm lãi suất huy động vào thời kỳ "cao điểm" vay vốn cuối năm nay là do nguồn vốn khả dụng hiện nay vẫn đảm bảo, các ngân hàng đều đã chủ động cân đối được các nguồn vốn, hơn nữa vốn cho vay cũng không còn "nóng bỏng" như những tháng trước, thậm chí nguồn vốn ra đang khá chậm. Theo thông báo cuối ngày 18/12 của Ngân hàng Quân đội (MB), 9%/năm là mức lãi suất cao nhất mà ngân hàng này áp cho kỳ hạn 12 và 24 tháng; các kỳ hạn còn lại dao động từ 8% - 8,33%/năm. Tính chung, lãi suất huy động VND các kỳ hạn tại MB giảm thêm 0,8% - 1,5%/năm so với trước đó. Lãi suất huy động của Techcombank kỳ hạn 1 tháng là 8,45%/năm; 3 tháng: 9,2%/năm; 6 tháng: 9,3%/năm; 12 tháng: 9,5%/năm (giảm 1%/năm). Hầu hết lãi suất huy động các kỳ hạn của BIDV (trừ ngắn hạn) đều giảm xuống còn 8% - 8,50%/năm; chỉ kỳ hạn 12 tháng là có mức lãi suất đỉnh 9%/năm. Tại Ngân hàng Á Châu (ACB) - ngân hàng luôn đưa ra mức huy động khá hấp dẫn so với các ngân hàng cổ phần, lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng VND cũng đã đồng loạt giảm khá sâu xuống dưới mốc 8%/năm ở tất cả các kỳ hạn. Mức lãi suất huy động VND 10%/năm hiện rất ít NHTM còn áp dụng. Một trong những nhà băng còn duy trì mức lãi suất 10%/năm là VIB Bank. Bảng lãi suất huy động được VIB Bank áp dụng từ ngày 18/12 cũng đã giảm mức huy động các kỳ hạn từ 0,3 - 0,5%/năm. Cụ thể, lãi suất cao nhất là 10,5%/năm áp dụng cho kỳ hạn 12 tháng (giảm 0,3%/năm); còn các kỳ hạn 1 tháng là 9,2%/năm; 2 tháng: 9,5%/năm; 3, 4, 5 tháng: 10,2%/năm; 6 - 11 tháng: 10,25% - 10,3%/năm. Với USD, lãi suất cao nhất là 5,1%/năm (giảm 0,4%/năm). Giám đốc một ngân hàng cổ phần thừa nhận, trong thời điểm này, nhu cầu vay vốn rất ít, trong khi ngân hàng đang dư thừa vốn, nên việc phải hạ lãi suất huy động là điều khó tránh.
  16. Năm 2009 Tháng 01/2009: lãi suất tiếp tục giảm mạnh Theo Ngân hàng Nhà nước, trong tháng 1/2009, mặt bằng lãi suất huy động VND đã giảm từ 0,2% - 1,5%/năm so với tháng 12/2008; mức lai phổ biên ở ở các ̃ ́ kỳ hạn từ 6,99% - 7,84%/năm. Cuối tháng 1, nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục giảm mạnh lãi suất huy động VND xuống dưới mốc 6,5%/năm ở hầu hết các kỳ hạn, đón đầu quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản (xuống 7%/năm) của Ngân hàng Nhà nước bắt đầu có hiệu lực từ tháng 2. Với lãi suất huy động USD, mức giảm ghi nhận trong tháng 1 là từ 0,5% - 1,2%/năm. Hiện lãi suất huy động USD phổ biến ở mức 2,35% - 3,55%/năm. Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, trong tháng 1/2009, vốn đầu tư cho nền kinh tế tháng ước chỉ tăng 0,52% so với tháng 12/2008; trong đó, đầu tư bằng VND ước tăng 0,17% và đầu tư bằng ngoại tệ ước tăng 1,91% Tháng 03/2009: lãi suất bắt đầu tăng Lan rộng sang nhiều kỳ hạn khác nhau, các ngân hàng thương mại cổ phần đang âm thầm tạo nên một cuộc đua tranh tăng lãi suất huy động VND đầu tiên trong năm 2009. Sau khi Habubank tạo nên đỉnh LS 8,4%/năm chỉ cách đây ít ngày, Sacombank ngày 12.3 tiếp tục gây chú ý khi công bố áp dụng mức LS huy động cao nhất 8,7%/năm cho kỳ hạn 36 tháng. LS các kỳ hạn khác tại Sacombank cũng lần lượt được điều chỉnh tăng, lên mức 8%/năm cho kỳ hạn trên 12 tháng, 7,32%/năm cho kỳ hạn 3 tháng, và các kỳ hạn 6 - 9 - 12 tháng lần lượt nhận được mức LS 7,44%/năm, 7,524%/năm và 8,004%/năm. "Cuộc đua" huy động vốn VND đã đẩy LS tăng lên đáng kể trong khoảng 2- 3 tuần qua. Nhiều NH đã tăng LS huy động đến 2 lần và còn đang xem xét tình hình để tăng tiếp. Tại TPHCM, NH hiện có LS cao nhất có lẽ là NH Việt Nam Tín Nghĩa: Kỳ hạn 1 tháng và 2 tháng LS 7,6%, 3 tháng và 6 tháng 7,8%, 9 tháng 8,0%, 12 tháng 8,2%...
  17. Riêng Sacombank đang "quán quân" ở kỳ hạn 36 tháng (8,7%). Tuy nhiên, theo đánh giá trong giới NH, hiện các kỳ hạn trên 6 tháng rất khó huy động. Không ít NH áp dụng trở lại kỳ hạn huy động theo tuần, với LS khá cao. Các lý do của lần điều chỉnh mới đây, khi áp dụng trần LS 7,8% cho các kỳ hạn 12 và 13 tháng tiết kiệm thông thường, theo TGĐ SeABank - Lê Văn Chí, là nhằm phù hợp với diễn biến thị trường vừa chuẩn bị một nguồn vốn dồi dào, đáp ứng nhu cầu vay đang ngày một tăng của khách hàng. Nhiều NHTMCP khi tiến hành điều chỉnh tăng LS huy động VND cũng đều chung nhận định khi cho rằng, gói cho vay kích cầu tiêu dùng và hỗ trợ LS cho các DN sẽ là động lực quan trọng làm tăng mạnh nhu cầu vốn của DN trong các tháng tới.... Nguyên nhân tăng . Ông Lê Quang Trí, TGĐ NH Nam Việt, cho biết: LS tăng không phải do nguồn huy động bị giảm mà do nhu cầu vay đang tăng nhanh. Sau khi Chính phủ và NHNN cho hỗ trợ LS kích cầu, nhiều cá nhân và doanh nghiệp muốn được vay vốn lưu động giá rẻ để phục hồi sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, gần đây nhiều NHTM cũng đã mở rộng cho vay tiêu dùng. Một phó TGĐ NHTM nhận xét: "Năm nay các dịch vụ liên quan đến XNK sẽ trở nên "khó gặm" hơn do kinh tế toàn cầu suy thoái. Vì vậy, nhiều NH chuyển hướng sang khai thác hoạt động tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước. Vì vậy, hoạt động huy động vốn và cho vay đang trở nên sôi động hơn". Với LS huy động ngắn hạn khoảng 8% như hiện nay, các NH chỉ có thể thu lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng, còn cho vay sản xuất kinh doanh với "trần" 10,5% sẽ bị lỗ, nhưng NH sẽ thu lại từ các dịch vụ kèm theo. Cũng theo thông tin từ các NHTM, nhu cầu vay VND tăng cao còn có nguyên nhân các DN ngại vay bằng USD. Ngay cả các DN NK cũng muốn vay VND đ ể mua USD. Điều này đẩy các NH vào cảnh thừa USD cho vay nhưng lại thiếu USD để bán. Hiện nay LS huy động USD đang xuống thấp nhưng tại nhiều NH nguồn huy động vẫn lớn hơn cho vay.
  18. TGĐ một NHTM cho biết: Nếu DN nằm trong diện được hỗ trợ LS kích cầu thì vay bằng VND càng có lợi, vì LS phải trả không cao hơn vay USD, lại tránh được rủi ro về tỉ giá. Tính từ đầu tháng đến nay LS USD đã giảm đáng kể. Theo thống kê của một NHTM, mức LS huy động cao nhất trên địa bàn TPHCM, vào đầu tháng 2, ở kỳ hạn 1 tháng từ 3,3% đã giảm xuống 2,6%, 3 tháng từ 3,52% xuống 3%, 6 tháng từ 3,62% xuống 3%, 9 tháng từ 3,92% xuống 3,4%, 12 tháng từ 4% xuống 3,5%. Từ tháng 4/2009 à nay: lãi suất liên tục tăng Cụ thể, nhóm NHTM Nhà nước điều chỉnh tăng lãi suất USD với mức tăng khoảng 0,2-0,5%/năm; áp dụng lãi suất huy động ở kỳ hạn 12 tháng phổ biến ở mức 2%/năm. Tương tự, một số ngân hàng thuộc nhóm NHTM cổ phần điều chỉnh tăng khoảng 0,5-1,2%/năm; áp dụng lãi suất huy động ở kỳ hạn 12 tháng dao động trong khoảng 2,5-3%/năm. Hiện, NHTM cổ phần Nhà Hà Nội là ngân hàng áp dụng mức lãi suất huy động USD cao nhất trên thị trường với mức 4,15%/năm đối với kỳ hạn 60 tháng và số tiền gửi lớn hơn 100.000 USD. Đối với VND, nhóm NHTM Nhà nước và nhóm NHTM cổ phần đều áp dụng mức huy động tương đương so với tuần trước. Cụ thể, đối với kỳ hạn 12 tháng, nhóm NHTM Nhà nước huy động phổ biến ở mức 8,5-8,8%năm, nhóm NHTM cổ phần huy động ở mức 8,5-9,3%/năm. Để hút thêm tiền gửi, ngoài việc tăng lãi suất các ngân hàng còn áp dụng đa dạng các hình thức khuyến mại. VietBank áp dụng chính sách lãi suất cộng, khách hàng gửi trên 1 tỷ đồng được cộng thưởng lãi suất lên tới 0,25%. Sacombank với chương trình “Cơn lốc quà tặng”, giải đặc biệt là xe hơi BMW trị giá 1,4 tỉ đồng và nhiều giải thưởng có giá trị khác. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng tung ra chương trình “Gửi tiền nhận quà”, chỉ cần gửi trên 20 triệu đồng là khách hàng đã nhận được quà từ ngân hàng. Tổng giá trị của chương trình lên đến hơn 4 tỷ đồng... Các ngân hàng lớn như, Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công thương (VietinBank) cũng không đứng ngoài cuộc. Khi gửi tiền tại
  19. Vietcombank khách hàng được tặng bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe môtô. Đồng thời, còn được cộng thêm lãi suất ưu đãi khi gửi tiền kỳ hạn 1- 12 tháng. VietinBank phát hành chứng chỉ tiền gửi ghi danh có mức lãi suất huy động 9%/năm, kỳ hạn 36 tháng. Khách hàng mua chứng chỉ tiền gửi với số lượng lớn còn được tặng thêm lãi suất 0,2-0,4%/năm. 2.1.2. Phát hành trái phiếu huy động vốn trung dài hạn Thời gian qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) rất khó khăn trong việc huy động vốn trung, dài hạn. Hiện nay lại càng khó hơn khi quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn theo Thông tư 15 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sắp đến ngày có hiệu lực thi hành. Ngày 10-8, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 15/2009/TT-NHNN quy định: Các tổ chức tín dụng (TCTD) phải sử dụng nguồn vốn để cho vay trung, dài hạn theo thứ tự: Sử dụng nguồn vốn trung, dài hạn; sử dụng nguồn vốn ngắn hạn. Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với NHTM là 30%; công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính: 30%; Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương: 20%. So với quy định cũ, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn đối với các NHTM tại Thông tư này giảm 10%. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, để thực hiện được tỷ lệ theo quy định trên đối với các NHTM, nhất là NHTM cổ phần rất khó khăn. Trao đổi với một vài NHTM trên địa bàn, được biết, việc sử dụng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của các NH hiện đang ở mức 30 - 40%. Tuy nhiên, giám đốc một NHTM cổ phần trên địa bàn khẳng định, khó có tỷ lệ “đẹp” như vậy! Tỷ trọng vốn trung, dài hạn của các NH hiện chỉ chiếm khoảng 10 - 25%, còn lại vốn ngắn hạn chiếm từ 75 - 90%. Vì 2 năm nay, tình hình huy động vốn trung, dài hạn của các NHTM gặp rất nhiều khó khăn. Số liệu trên đang chờ NHNN kiểm tra. Tuy nhiên, nếu đúng như vị giám đốc kia khẳng định thì việc đạt tỷ lệ theo quy định của Thông tư 15 sẽ rất vất vả; chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng tín dụng và dĩ nhiên là đến lợi nhuận của các NH, đặc biệt là những NH có cơ cấu thu nhập chủ yếu từ hoạt động tín dụng. Được biết, các NH đang lên kế hoạch huy động nguồn vốn trung, dài hạn từ người dân để cải thiện cơ cấu vốn huy động của mình. Bà Lương Thị Cẩm Tú,
  20. Giám đốc NHTM Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) Chi nhánh Khánh Hòa cho biết, không phải đến lúc NHNN ra quy định trên, các NH mới bắt đầu tìm cách thu hút vốn trung, dài hạn; nhiều NH đã bắt đầu từ cách đây vài tháng. Chẳng hạn, trong tháng 8 vừa qua, Sacombank đã huy động thành công 2.000 tỷ đồng trái phiếu - một sự bổ sung cần thiết cho nguồn vốn trung, dài hạn, điều mà không phải NH nào cũng làm được. Theo bà Tú, vấn đề khó khăn cho các NH muốn thu hút vốn trung, dài hạn từ dân cư là: Trong 2 năm gần đây, do tình hình thị trường bất ổn nên người dân đã không còn thói quen gửi tiền dài hạn vào NH mà chuyển sang gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng. “Ngoài ra, hiện nay, các thị trường khác như: bất động sản, chứng khoán đang dần hồi phục và có “sóng” nên đang hấp dẫn các nhà đầu tư. Họ chỉ muốn gửi tiết kiệm với kỳ hạn ngắn để có thể rút ra đầu tư vào các thị trường khác khi có cơ hội”, bà Tú phân tích. Hiện nay, một số NH đang triển khai phát hành giấy tờ có giá trung và dài hạn gồm các loại trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi dài hạn. Ngoài ra, một số NH còn tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác chiến lược để thu hút nguồn vốn trung, dài hạn. Tuy nhiên, theo một chuyên viên NH, quy trình phát hành giấy tờ có giá dài hạn phức tạp hơn nhiều so với phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, đặc biệt là phát hành trái phiếu. Vì vậy, giải pháp này cũng rất khó khăn. Còn việc quan hệ hợp tác với các đối tác chiến lược để thu hút nguồn vốn hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào thế mạnh và uy tín của NH. Việc huy động vốn trung, dài hạn của các NH, vì vậy, sẽ còn chật vật, khó khăn. 2.2. Nghiệp vụ bên có 2.2.1. Hoạt động cho vay Đầu năm, tín dụng tăng chậm do những khó khăn chung của nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 0,6% và 1,1% trong tháng 1 và 2. Cuối tháng 2, nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, hoạt động tín dụng đã tăng trưởng nhanh hơn. Đến cuối tháng 6/2009, tổng dư nợ tín dụng đã tăng 17,01% so với cuối năm 2008. Mặc dù thấp hơn cùng kỳ năm ngoái (tăng 17,53%) nhưng xét trong bối cảnh kinh tế suy thoái, mức tăng trưởng này là một dấu hiệu tốt. Tăng trưởng huy động VND khá ổn định và khá tương thích với tăng trưởng tín dụng nên đã đảm bảo thanh khoản tốt trên thị trường. Hết 6 tháng, tổng huy động

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản