Bài thảo luận về Nguồn tài trợ ngắn hạn do vay mượn có đảm bảo

Chia sẻ: huytam102

Một công ty không dễ dàng gì nhận được nguồn tài trợ ngắn hạn của một ngân hàng hay các nguồn khác khi không có đảm bảo,vì các hình thức tài trợ đó đem lại rất nhiều rủi ro cho người cho vay.Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp đủ sự đảm bảo đối với khoản tiền vay theo yêu cầu thì họ sẽ dễ dàng nhận được khoản tín dụng cần thiết từ một nhà tài trợ nào đó. Việc bảo đảm an toàn nhằm đảm bảo thanh toán cả tiền vốn gốc và lãi của khoản cho vay là hình thức thế chấp(collateral). Các...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài thảo luận về Nguồn tài trợ ngắn hạn do vay mượn có đảm bảo

 

  1. Đề tài thảo luận: Nguồn tài trợ ngắn hạn do vay mượn có đảm bảo Một công ty không dễ dàng gì nhận được nguồn tài trợ ngắn hạn của một ngân hàng hay các nguồn khác khi không có đảm bảo,vì các hình thức tài trợ đó đem lại rất nhiều rủi ro cho người cho vay.Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp đủ sự đảm bảo đối với khoản tiền vay theo yêu cầu thì họ sẽ dễ dàng nhận được khoản tín dụng cần thiết từ một nhà tài trợ nào đó. Việc bảo đảm an toàn nhằm đảm bảo thanh toán cả tiền vốn gốc và lãi của khoản cho vay là hình thức thế chấp(collateral). Các hình thức thế chấp để đảm bảo cho khoản vay ngắn hạn bao gồm:  Vay có thế chấp bằng khoản phải thu  Mua nợ  Vay thế chấp bằng hàng hóa  Chiết khấu thương phiếu 1.vay thế chấp bằng khoản phải thu Doanh nghiệp có thể có được một khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng hay các công ty tài chính bằng cách sử dụng các hóa đơn thu tiền làm vật đảm bảo cho khoản vay.Nếu ngân hàng quan tâm và đồng ý tài trợ cho công ty, họ sẽ đánh giá chất lượng của các loại hóa đơn thu tiền được dùng làm vật thế chấp và sau đó, xác định giá trị khoản cho vay tương xứng với giá trị của khoản phải thu. Gía trị của khoản cho vay tùy thuộc vào mức độ rủi ro, có thể dao động trong khoảng 20% đến 90% giá trị danh nghĩa của khoản phải thu. Khi giá trị này đã được xác định,công ty đi vay sẽ gửi ngân hàng cho vay một bản danh mục liệt kê danh sách các khoản phải thu, cùng thời hạn trả và tổng số tiền. sau đó công ty sẽ yêu cầu ngân hàng cung cấp một cam kết bằng văn bản để chuyển tất cả các khoản phải thu sang phần thanh toán và bù trừ cân đối công nợ.Thông thường, một khi doanh nghiệp đã được ngân hàng tài trợ tin cậy, ngân hàng có thể tiếp tục cho vay trên cơ sở nhận cầm cố những khoản phải thu mới như những giao dịch đã xảy ra trước đó.  Điều kiện áp dụng đối với doanh nghiệp :  Cần được thanh toán ngay sau khi giao hàng nhưng vẫn duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng thông qua các điều khoản ưu đãi về thời gian thanh toán.  Cần có ngay tiền mặt để thu mua nguyên vật liệu nhằm hưởng các ưu đãi về giá.  Đối tượng thường gặp :  Doanh nghiệp xuất khẩu có bộ chứng từ hàng xuất khẩu  Doanh nghiệp sẽ được ngân hàng ứng trước tiền hàng xuất khẩu dựa trên bộ chứng từ hàng xuất thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ (D/P, D/A) hoặc tín dụng chứng từ (L/C).
  2.  Doanh nghiệp đuợc cấp hạn mức cho vay bảo đảm bằng khoản phải thu từ bộ chứng từ hàng xuất khẩu để có thể sử dụng một cách chủ động và thuận tiện với tỷ lệ cho vay lên đến 100% trị giá bộ chứng từ.  Tài trợ không cần tài sản bảo đảm đối với doanh nghiệp xuất khẩu có kinh nghiệm lâu năm và uy tín thanh toán tốt với ngân hàng  Tại sao doanh nghiệp nên sử dụng dịch vụ này? Vì đây là:  Một giải pháp thanh toán chuyên biệt cho các giao dịch sử dụng phương thức Ghi sổ.  Một giải pháp tài trợ thương mại khác trong trường hợp người mua không phát hành Tín dụng thư.  Doanh nghiệp sẽ không cần phải theo dõi khoản tiền thanh toán.  Bảo vệ doanh nghiệp trong trường hợp người mua không có khả năng thanh toán.  Quản lý sổ cái bán hàng hiệu quả Nhược điểm Hiện nay trên thị trường có rất ít ngân hàng có hình thức cho vay thế chấp bằng khoản phải thu ( mới chỉ có ACB) thường thì có vay thế chấp bằng bất động sản hoặc tài sản cố định. Vì vậy hồ sơ thủ tục rất phức tạp, lãi suất chưa ổn định… 2.Mua nợ Các định chế tài chính có thể mua những khoản phải thu và đây cũng là một phương pháp để gia tăng nguồn tín dụng ngắn hạn của doanh nghiệp. Các tổ chức mua nợ thường là một ngân hàng, một công ty tài chính hay công ty mua nợ. Sau khi việc mua bns hoàn tất, bên mua nợ sẽ có trách nhiệm thu hồi các khoản nợ theo các chứng từ đã mua và chịu mọi rủi ro khi gặp những món nợ khó đòi( mua nợ được áp dụng cho cả bán hàng trong nước và xuất khẩu)
  3. Khách hàng (3) (4 Báo cho khách hàng ) Trả tiền cho người tiền người mua nợ mua nợ Doanh nghiệp (1) Bán chứng từ bán hàng cho người Người mua nợ mua nợ Ngân hàng Công ty tài chính Công ty mua nợ trả tiền theo thảo thuận (2) các bên và những hoạt dộng liên quan đén lĩnh vực mua nợ nội địa. Bên cạnh việc nguồn tài chính như mong muốn, mua nợ còn cho phép doanh nghiệp chấp nhận bán chịu cho khách hàng mà không phải chịu nhiều rủi ro: bởi các công ty mua nợ sẽ kiểm tra vị thế tài chính của khách hàng trước khi quyết định mua chứng từ bán hàng của doanh nghiệp.. Ưu điểm:  Đối với doanh nghiệp bán hàng:
  4.  Cải thiện dòng tiền, tăng khả năng thanh khoản.  Tăng doanh số bán hàng nhờ chính sách bán hàng trả chậm, tăng lòng tin nơi khách hàng  Giảm chi phí hành chính, quản lý công nợ.  Có nguồn tài chính mới mà không phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng,không yêu cầu phải có tài sản bảo đảm.  Giảm thiểu nợ xấu, hạn chế rủi ro tín dụng.  Đối với doanh nghiệp mua hàng:  Có thể mua hàng theo điều khoản thanh toán sau.  Sử dụng tín dụng người bán để tài trợ vốn lưu động.  Cơ hội đàm phán điều khoản mua hàng tốt hơn.  Đơn giản hóa thủ tục thanh toán nhờ tập trung thanh toán về một đầu mối là ngân hàng Nhược điểm:  chi phí huy động ngân quỹ theo hình thức thảo thuận mua nợ khá cao, bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí như chi phí kiểm tra tư cách tín dụng của khách hàng  rủi ro không thu hồi được nợ. 3. Vay thế chấp bằng hàng hóa Bên cạnh các chứng từ bán hàng, các loại hàng hóa, tài sản cũng thường được sử dụng để thế chấp cho những khoản vay ngắn hạn. Trị giá của khoản vay thuộc loại thế chấp này tùy thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng chuyển đổi nhanh, và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hóa thế chấp. Nếu những hàng hóa, tài sản này không có rủi ro, có thể bán nhanh trên thị trường và có giá cả ổn định thì khoản vay mượn sẽ chiếm một tỷ lệ khá cao so với giá trị ghi trên chứng từ. Những công ty có hàng hóa, tài sản mà cần mốt số vốn ngắn hạng có thể dựa vào nguồn tài trợ này. Vay thế chấp bằng hàng hóa gồm có các hình thức sau: • Vay ký thác • Vay thế chấp bằng ký hóa phiếu hàng di chuyển được • Vay thế chấp bằng ký hóa phiếu hàng cồng kềnh • Để đương • Lãnh nợ hay bảo lãnh của bên thứ ba 3.1.Vay ký thác bằng hàng hóa Vay ký thác là khoản vay do ngân hàng tài trợ trên cơ sở những hàng hóa đặc biệt đang thuộc quyền sở hữu của công ty. Nó còn được gọi là vay bắc cầu hay tiền cho vay trên hàng hóa. Đặc trưng: • chỉ được chấp nhận khi công ty đi vay có những hàng hóa thuộc loại có thể dễ dàng nhận diện và, những hàng hóa này có giá trị lớn trên thị trường
  5. • ví dụ như xe hơi,các thiết bị âm thanh nổi… Theo thỏa thuận cho vay ký thác, người đi vay phải ký nộp văn bản ủy thác chỉ rõ những hàng hóa đang thuộc quyền sở hữu của họ được giao cho ngân hàng quản lý. Đổi lại, công ty nhận được một hối phiếu có thời hạn để được rút tiền trong một khoảng thời gian nhất định nhằm trang trải cho toàn bộ chi phí của giao dịch mua hàng hóa. Sau đó cũng theo thỏa thuận này, ngân hàng ký phát những chứng từ thích hợp cho phép công ty nhận lại quyền sở hữu hàng hòa và kết toán tài khoản khi chúng được bán xong Nhược điểm: những doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có thể vay được bằng hình thức này 3.2. Vay thế chấp bắng ký hóa phiếu hàng di chuyển được Đối với những loại hàng hóa dễ dàng vận chuyển như xi măng hay bột mì chẳng hạn, thì thỏa thuận cho vay đem lại nhiều rui ro cho ngân hàng, bởi những hàng hóa đó có thể bị công ty vay tiền đem bán xong mà ngân hàng không hay biết cho tới khi đã quá trễ. Do đó, ngân hàng cho vay có thể yêu cầu công ty chuyển những hàng hóa của họ gửi vào mọt kho chứa hàng công cộng, trước khi chấp nhận cho vay. Theo hình thức thỏa thuận cho vay này, công ty vay tiền không được phép bán bất cứ một phần nào thuộc những hàng hóa đã được gửi vào kho công cộng nếu không được sự chấp thuận bằng văn bản của ngân hàng. Ngân hàng chỉ đồng ý cấp giấy phép bán những hàng hóa thế chấp này khi họ được đảm bảo rằng, công ty vay tiền sẽ thanh toán món nợ một cách nhanh chóng ngay khi nhận được tiền bán những hàng hóa đó. Nhược điểm: mất khoản chi phí cho việc thuê kho hàng bến bãi, thuê nhân viên và không được phép bán bất cứ một phần hàng hóa nào khi chưa thanh toán tiền cho ngân hàng, điều đó gây bất lợi cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp cần bán hàng cho khách để thu hồi vốn 3.3. Vay ký thác bằng chứng từ lưu kho hàng cồng kềnh Loại thỏa thuận này tương tự như thoản thuận vay có thể bằng ký hóa phiếu hàng di chuyển được, chỉ khác là những tài sản trên của công ty vay tiền được thay thế bằng một hóa đơn lưu kho nội bộ của công ty. Thông thường ngân hàng chỉ chấp thuận loại cho vay này đối với những hàng hóa quá cồng kềnh, không thuận tiện khi chuyển vào kho công cộng…Những loại hàng hóa này có thể là gỗ chưa xẻ, ván ép, hay sắt thép… Nhược điểm: như vay thế chấp bằng ký hóa phiếu hàng di chuyển được 3.4. Để đương Theo thỏa thuận này, công ty đi vay lập một bảng danh mục tất cả các loại tài sản của họ, mà không có bất cứ sự chỉ dẫn rõ ràng loại nào được dùng làm tài sản thế chấp và chỉ xét cho vay dựa trên những tài sản thuộc danh sách đã chọn trong khoảng thời gian đã định. Vật thế chấp theo hình thức cho vay này vẫn được quyền quản lý của người vay tiền và ngân hàng chỉ giữ giấy phép sở hữu chúng. Tuy nhiên, từ khi cho vay dưới hình thức để đương trở thành phổ biến và ngân hàng nhận thấy rất khó giám sát loại giao dịch tín dụng này nên họ thường tránh
  6. không tài trợ với số lượng lớn. Một lý do nữa khiến các ngân hàng chỉ cho vay một số lượng nhỏ đối với hình thức này là do chi phí và sự phiền phức liên quan đến việc phát mãi tài sản thế chấp khi công ty vay tiền không trả được nợ. Nhược điểm: doanh nghiệp chỉ vay được lượng vốn nhỏ so với lượng tài sản hiện có. 3.5. Lãnh nợ hay bảo lãnh của bên thứ ba Một công ty cũng có thể vay được những khoản tiền ngắn hạn nếu được những cổ đông chính hay một bên thứ ba khác có tư cách tín dụng tốt đảm bảo với ngân hàng là đồng ý làm người bảo đảm cho món nợ. Những người bảo lãnh này sẽ viết một cam kết gửi ngân hàng, khẳng định trách nhiệm trả món nợ thay cho người vay trong trường hợp người này bị mất khả năng chi trả. Sự bảo lãnh này có thể là riêng biệt hay bảo lãnh nối tiếp. Nếu là bảo lãnh riêng biệt thì nó chỉ bảo đảm cho một món nợ duy nhất, còn nếu là bảo lãnh nối tiếp thì nó bao trùm lên hàng loạt giao dịch vay mượn. Ngoài ra, bảo lãnh có thể là bảo lãnh toàn phần hay bảo lãnh từng phần đối với khoản tiền vay. Nhược điểm: doanh nghiệp chỉ vay được lượng vốn nhỏ so với lượng tài sản hiện có. Tóm lại, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng hình thức vay nợ bằng hàng hóa của chính doanh nghiệp. Nhưng hình thức vay này có nhược điểm chung là doanh nghiệp khó vay được lượng vốn lớn, thời hạn vay ngắn, thủ tục rườm rà… 4.Chiết khấu thương phiếu  Khái niệm : Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu gồm có 2 loại là hối phiếu và lệnh phiếu.  Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.  Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.  Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại được thực hiện dưới hình thức khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của thương phiếu. Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá thương phiếu so với số tiền khách hàng nhận được gọi là lãi chiết khấu và phí hoa hồng Chiết khấu thương phiếu vừa giống như hành vi mua bán chứng khoán ở chỗ chuyển quyền đòi nợ ở con nợ đồng thời vừa giống tín dụng ở chỗ nó không
  7. đơn thuần là hành vi mua bán vì nếu ngân hàng không đòi được nợ thì sẽ có quyền đòi nợ ở người xin chiết khấu. Như vậy, chiết khấu thương phiếu là một đồng được phép truy đòi. Do vậy, thực chất chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn.  Đối tượng thường gặp : Các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, họ có thể sử dụng thương phiếu để chiết khấu trên thị trường tiền tệ. Doanh nghiệp có thể đem chiết khấu các hối phiếu xuất khẩu trả tiền trước và hối phiếu xuất khẩu có thời hạn tại bộ phận tái chiết khấu thuộc ngân hàng để nhận được những khoản tiền vốn ngắn hạn.bằng cách này công ty có thể tạo được nguồn vốn ngắn hạn với mức chi phí thấp hơn hình thức vay ngắn hạn khác, bởi mức lãi suất chiết khấu theo kế hoạch tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước thường thấp hơn so với lãi suất cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại. Đối với nhà xuất khẩu ,số tiền thu được do đem các thương phiếu đi chiết khấu có thể tính theo công thức sau: P = F-( Fx r x n) /360 p: Số tiền thu được F: Gía trị ghi trên thương phiếu(mệnh giá) r: Lãi suất chiết khấu(năm) n: Số ngày chiêt khấu  Tại sao doanh nghiệp nên sử dụng dịch vụ này?  Nhận được tiền trước khi thanh toán dưới phương thức Nhờ thu chứng từ.  Cải thiện dòng vốn của doanh nghiệp.  Cho phép doanh nghiệp tái đầu tư sản xuất ngay lập tức.  Những lợi ích khác  Giảm thiểu ảnh hưởng của phương thức Nhờ thu chứng từ xuất khẩu.  Doanh nghiệp có thể đưa ra nhiều lựa chọn thanh toán cho đối tác mà không bị ảnh hưởng xấu tới dòng vốn của mình.  Là hình thức tài trợ được sử dụng nhiều khi Nhờ thu chứng từ được hỗ trợ bởi Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.  Điều kiện chiết khấu của một thương phiếu: Một thương phiếu muốn được chấp nhận để chiết khấu cần phải đảm bảo những điều kiện sau:  Phát hành và lưu thông hợp pháp.  Các yếu tố trên thương phiếu phải đầy đủ, rõ ràng; không cạo sửa, tẩy xoá.  Thương phiếu phải còn hiệu lực
  8. Ưu điểm:  Đối với doanh nghiệp:  Đảm bảo nguồn vốn kết hợp kinh doanh bình thường: Thương phiếu không phải là tiền vì cần phải chờ tới ngày đáo hạn người thụ hưởng mới nhận được tiền, trong khi đó tiền bán chịu chính là doanh thu của doanh nghiệp cho nên nó cần phải quay vòng nhanh để doanh nghiệp trang trải chi phí và hoạt động bình thường. Khi doanh nghiệp cần vốn mà tờ thương phiếu lại chưa đến hạn thanh toán thì doanh nghiệp có thể nhờ ngân hàng chiết khấu tờ thương phiếu đó để có tiền sử dụng vào sản xuất.  Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp: Vì giờ đây với nghiệp vụ CKTP của ngân hàng doanh nghiệp sẵn lòng bán chịu hơn do có thể chiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn tờ thương phiếu khi cần tiền, chứ không cần giữ mãi tờ thương phiếu đó.  Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ: Có điều này là do khi ngân hàng chiết khấu thương phiếu thì người thanh toán thương phiếu mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi cấp tín dụng, mặc dù chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mang thương phiếu đi chiết khấu. Cho nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạt động hiệu quả thì sẽ dễ dàng được ngân hàng chấp nhận chiết khấu. Ví dụ như: Nếu một công ty ABC (rất nhỏ, chưa danh tiếng) bán chịu một lô hàng cho công ty lớn như công ty sữa Vinamilk và lập một hối phiếu, sau đó Vinamilk ký bảo đảm lên hối phiếu đó. Thì khi công ty ABC mang hối phiếu đó đến ngân hàng để chiết khấu, có thể dựa vào danh tiếng, năng lực hoạt động tốt của Vinamilk thì ngân hàng dễ chấp nhận tờ hối phiếu đó hơn. Và nhờ đó ABC dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn lý tưởng bậc nhất trong nền kinh tế là từ ngân hàng mà không tốn quá nhiều chi phí và thời gian (còn tại sao nói nguồn vốn ngân hàng là nguồn vốn lý tưởng trong nền kinh tế thì chắc là các bạn biết rồi). Nhược điểm:  Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo.  Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụng thương mại, khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu.
  9.  Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau. Nhận xét: doanh nghiệp muốn có cơ cấu vốn tối ưu nên sử dụng hình thức chiết khấu thương phiếu,vì chi phí sử dụng nguồn tài trợ là thấp nhất trong điều kiện an toan về tài chính
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản