Bài thu hoạch: Tuần sinh hoạt công dân - Học sinh sinh viên

Chia sẻ: Tranphu Tranphu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
450
lượt xem
45
download

Bài thu hoạch: Tuần sinh hoạt công dân - Học sinh sinh viên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong các Quy chế, quy định về công tác HSSV, chúng ta được học về quyền và nghĩa vụ của HSSV: Mỗi HS - SV trước hết là một công dân có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trong các đạo luật hiện hành. Mời bạn đọc tham khảo tài liệu để nắm rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của HSSV.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thu hoạch: Tuần sinh hoạt công dân - Học sinh sinh viên

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN KHOA NGOẠI NGỮ LỚP: CỬ NHÂN ANH VĂN K11 HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN HỒNG DIỆP BÀI THU HOẠCH “TUẦN SINH HOẠT CÔNG DÂN – HỌC SINH SINH VIÊN” Câu hỏi: Anh (chị) hãy nêu những suy nghĩ của mình về các nội dung được học tập trong “Tuần sinh hoạt công dân - học sinh sinh viên(HSSV)”. Theo anh chị nên tổ chức hoạt động này như thế nào cho phù hợp và đạt kết quả cao. Bài làm: Một sự thay đổi lớn lao, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời và sự nghiệp c ủa em đã xảy ra khi em nhận được giấy báo nhập học của trường đại học Tây Nguyên. Bước vào trường Đại học Tây Nguyên, chúng em được tiếp xúc và sinh hoạt trong một môi trường hoàn toàn mới.Niềm vui đậu đại học vẫn đang còn làm em như còn trong gi ấc m ơ thì lại trong em hiện hữu một nỗi lo, sự bở ngở trong em trong nh ững ngày b ắt đ ầu nh ập học vì không biết những sự thay đổi trong việc học tập và nghiên c ứu sẽ thay đ ổi nh ư th ế nào so với những năm tháng học tập ở thời học phổ thông thế nhưng những lo l ắng đó đã ngay lập tức được xua tan khi em bước vào những buổi học đầu tiên tại gi ảng đ ường đại học đó chính là tuần sinh hoạt học sinh sinh viên năm học 2010-2011”. Nội dung chủ yếu của tuần sinh hoạt này được hướng đến việc: học tập, quán triệt nội dung nghị quyết các hội nghị Trung ương Đảng khóa X, các quyết định của Trung ương về công tác vận động thanh niên và xây dựng đội ngũ trí thức được thông qua tại Hội nghị Trung ương 7 vừa qua. Ngoài ra, chúng ta còn được triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và học tập các chuyên đ ề về “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, học tập tác phẩm “sửa đổi lối làm việc” của Bác Hồ; các Quy chế, quy định về công tác HSSV của Bộ GD - ĐT và nhà tr ường; đ ồng thời sinh hoạt các nội dung về giáo dục an toàn giao thông, giáo dục giới tính và phòng chống tệ nạn mại dâm, phòng chống HIV/AIDS, pháp luật về phòng chống ma túy, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội; thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới, của đ ất n ước và của địa phương thời gian qua. Cũng trong tuần sinh hoạt này, chúng ta được truyền tải những thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới, của đất nước, thuận lợi và thách thức đối với thế hệ trẻ khi đất nước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Trong các Quy chế, quy định về công tác HSSV, chúng ta được học về quyền và nghĩa vụ của HSSV: Mỗi HS - SV trước hết là một công dân có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1
  2. và trong các đạo luật hiện hành. Trong các trường đào tạo công dân học sinh, sinh viên còn có các quyền và nghĩa vụ sau: Quyền của học sinh, sinh viên: 1. Được nhận vào học đúng ngành nghề đă đăng ký dự tuyển nếu: - Đủ điều kiện dự thi. - Đủ các điều kiện xét tuyển do hội đồng tuyển sinh trường quy định cho mỗi khoá tuyển sinh và từng ngành nghề. 2. Nếu trường có chỉ tiêu tuyển sinh đi học nước ngoài theo các Hiệp đ ịnh Nhà nước, sinh viên, học sinh có nguyện vọng và có đủ các điều kiện quy định, được quyền đăng ký vào diện dự tuyển đi học nước ngoài theo quy chế tuy ển sinh đi học nước ngoài hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 3. Được sử dụng thư viện, các trang thiết bị và phương tiện phục vụ học tập, thí nghiệm, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ theo quy định của trường. 4. HS - SV, sau khi đăng ký chính thức và được trường đang học cho phép, thì được khuyến khích học tập theo chương trình cá nhân, học vượt thời hạn quy đ ịnh, cùng một lúc ở nhiều ngành trong một trường và nhiều trường, thi lấy nhiều bằng, học thêm ngoại ngữ, tham gia nghiên cứu khoa học, thi học sinh, sinh viên giỏi. 5. Trong thời gian học tập, HS - SV hệ chính quy được hưởng quyền l ợi vật chất và tinh thần theo chế độ chính sách hiện hành của Nhà nước như: tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời bình (đối với HS - SV nam), đ ược cấp học b ổng khuyến khích, nếu đạt được tiêu chuẩn quy định. HS - SV thuộc diện chính sách xã hội được hưởng trợ cấp xã hội và miễn giảm học phí. HS -SV nghèo vượt khó học tập có thể được xem xét miễn giảm học phí, được trợ cấp khó khăn tuỳ theo đi ều kiện của trường, HS-SV đạt loại giỏi, ngoài học bổng khuyến khích do ngân sách Nhà nước cấp, còn được hưởng các loại học bổng khuyến khích tài năng khác do các tổ chức, các cá nhân tài trợ cho trường. 6. HS - SV được nhà trường phổ biến nội quy, quy chế về học tập, thực tập, về chế độ chính sách của nhà Nước có liên quan đến HS - SV; được đóng góp ý kiến với Hiệu trưởng về mục tiêu, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo, đ ược đ ề đạt nguyện vọng và khiếu nại lên Hiệu trưởng giải quyết các vấn đề có liên quan đến cá nhân và tập thể HS - SV như học tập, môi trường đào tạo, ăn, ở, sinh hoạt và các mặt trong đời sống tinh thần. 7. HS - SV được chăm lo, bảo vệ sức khỏe theo chế độ hiện hành c ủa Nhà nước. 8. HS - SV được quyền cử đại diện vào các Hội đồng trường, Hội đồng khen thưởng và kỷ luật, Hội đồng xét học bổng và các hội đồng khác của trường có liên quan đến HS - SV. HS - SV được khuyến khích và tạo điều kiện hoạt động trong các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, tham gia các tổ chức tự quản của HS - SV, các hoạt động xã hội có liên quan ở trong và ngoài trường, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao lành mạnh, phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường. 2
  3. 9. HS - SV được nhà trường giúp đỡ để tìm việc làm khi ra trường (giới thiệu nhu cầu xã hội, cơ sở cần tuyển lao động, cấp giấy giới thiệu, hồ sơ để HS-SV tự tìm việc làm). HS - SV đạt loại khá, giỏi mà trong quá trình học tập ở trường không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên được nhà trường ưu tiên trong giới thiệu tìm việc làm. 10. Khi tốt nghiệp đạt loại giỏi, nếu có nguyện vọng, HS - SV được nhà trường xem xét học chuyển tiếp ở các cấp, bậc học cao hơn theo quy chế tuyển sinh hiện hành của các cấp, bậc học. 11. HS - SV hàng năm được nghỉ học, nghỉ tết, nghỉ lễ theo quy định. 12. HS - SV được quyền xin thôi học hoặc nghỉ học có thời hạn ( trong khuôn khổ quy chế học tập, thi, kiểm tra) vì lý do cá nhân (hoàn cảnh gia đình khó khăn, sức khoẻ, đi học tự túc ở nước ngoài…). Trong các trường hợp này HS - SV phải tự làm đơn trình Hiệu trưởng xem xét quyết định. 13. Trong phạm vi một trường nếu quy trình, chương trình và nội dung đào t ạo cho phép, được chuyển đổi ngành học với điều kiện: - Đã học xong năm thứ nhất, xong năm đầu của giai đoạn II tại những tr ường tuyển theo ngành và đào tạo theo 2 giai đoạn và đủ diểm xét tuyển quy đ ịnh đ ối với thi sinh dự thi vào ngành đó trong kỳ thi tuyển sinh vào giai đoạn I và giai đoạn II. - Đã học xong năm thứ nhất hoặc học ở các trường không thi tuyển theo ngành hoặc chưa thực hiện quy trình đào tạo 2 giai đoạn. - Có đơn xin thay đổi ngành học với các lý do chính dáng và được Hiệu trưởng chấp nhận. 14. HS - SV được chuyển trường nếu đủ các điều kiện sau: a. Điều kiện chuyển trường: - Trong thời gian học tập, gia đình HS - SV chuyển hộ khẩu thường trú, chuyển công tác, chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh tới gần trường định chuy ển đ ến, hoặc có hoàn cảnh khó khăn đột xuất, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để có điều kiện tiếp tục đảm bảo việc học tập. - Trường cho chuyển và tiếp nhận trong cùng khối ngành học. - Có hộ khẩu thường trú khi đăng ký dự thi nằm trong vùng tuyển của trường tiếp nhận. - Trong năm xin chuyển trường HS - SV không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên. - Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường đang học và trường sẽ chuyển đến. b. Không được phép chuyển trường nếu: - Là học sinh tại các trường THCN đang học trong học kỳ đầu tiên và sinh viên đang học năm thứ nhất, năm đầu giai đoạn II hoặc cuối của khoá học. - Xin chuyển tới trường mà bản thân đã dự thi nhưng không trúng tuyển. c. Hồ sơ chuyển trường theo mẫu quy định thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo kèm theo bản quy chế này. 3
  4. d. HS - SV chỉ được trường cấp giấy chuyển trường sau khi xuất trì nh đ ủ các giấy tờ xác nhận đã làm xong các thủ tục thanh toán với ký túc xá, thư viện… Năm đầu tiên khi chuyển đến học trường mới, ngay cả những người trong diện được cấp học bổng ở trường cũ đều không được cấp học bổng. HS - SV thuộc diện chính sách xã hội và HS - SV có hoàn cảnh gia đình khó khăn có quyền đề nghị nhà trường mới chuyển đến xem xét trợ cấp khó khăn và giảm học phí. Từ những năm tiếp theo, căn cứ vào kết quả học tập rèn luyện và chính sách xã hội, HS - SV diện chuyển trường sẽ được xem xét cấp học bổng hoặc trợ cấp xã hội theo quy định hiện hành. e. Lưu học sinh (LHS) đang học tập ở nước ngoài muốn trở về học tiếp các trường trong nước phải được Đại sứ quán (Bộ phận công tác LHS) ở nước ngoài giới thiệu về Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ HS - SV). Việc tiếp nhận lưu học sinh về học tiếp các trường đại học, cao đẳng, THCN trong nước được qui định như sau: - Những lưu học sinh đã qua kỳ thi tuyển quốc gia, được các trường giới thiệu và được Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyển chọn gửi đi học, không thuộc diện bị đình chỉ học tập đưa về nước, nộp đủ hồ sơ LHS và giấy giới thiệu của Đ ại sứ quán (bộ phận công tác LHS) sẽ được xem xét nhận vào học tiếp tại các trường đã dự thi hoặc các trường đại học cùng khối ngành trong nước. Chế độ học bổng, học phí đối với LHS thuộc diện này thực hiện như các trường hợp HS - SV trong nước chuyển trường. - Những người đi học nước ngoài theo chế độ tự túc, do Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định và đạt đểm xét tuyển qua các kỳ thi tuy ển sinh vào một trong các trường đại học, cao đẳng, khi về nước có đủ hồ sơ LHS và giấy giới thiệu của Đại sứ quán ta tại nước ngoài, có thể được xem xét vào học tiếp hệ chính qui, nếu trong thời gian học tập ở nước ngoài có phẩm chất đạo đức tốt và có kết quả học tập loại khá trở lên. Nếu đủ điều kiện tiếp nhận vào học hệ chính quy, HS - SV thuộc diện này trong suốt cả thời gian học tập ở trường không thuộc diện chuyển đổi học bổng. - Trường chỉ xem xét tiếp nhận khi có giấy giới thiệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ HS - SV). 15. Kết thúc giai đoạn I, sinh viên các trường đại học, cao đẳng đào tạo theo 2 giai đoạn đủ điều kiện được cấp chứng chỉ đại học đại cương. Kết thúc khoá học, HS - SV đủ điều kiện được công nhận tốt nghiệp, được nhà trường cấp ngay bằng tốt nghiệp. 16. HS - SV từ 3 đến 6 tháng sau khi tốt nghiệp chưa được phân công công tác hoặc chưa có nơi nhận làm việc được nhà trường cung cấp đầy đủ các giấy tờ cần thiết (bằng tốt nghiệp, hồ sơ HS - SV, giấy giới thiệu tìm việc làm và giấy giới thiệu về nơi cư trú chính thức…). Khi HS - SV tìm dược việc và nơi tiếp nhận yêu cầu nhà trường làm thủ tục và cung cấp bổ sung các hồ sơ thì nhà trường đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đó. 17. Tuỳ theo khả năng thực tế của trường, nếu đủ các điều kiện qui đ ịnh, HS - SV được xem xét tiếp nhận vào ký túc xá. HS - SV diện chính sách xã hội ở xa (khu vực I, khu vực II) sẽ được nhà trường ưu tiên sắp xếp vào ký túc xá. 4
  5. Nghĩa vụ của HS - SV Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy chế và nội quy hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan chủ quản và của trường. 1. Trong học tập rèn luyện HS - SV phải: - Nộp đầy đủ các loại giấy tờ cần thiết theo qui định nghi trong giấy triệu tập khi đến trường. - Có mặt trong thời hạn qui định nghi trong giấy triệu tập đến trường. - Thực hiện đầy đủ qui định về việc khám sức khoẻ khi mới vào trường và khám sức khoẻ định kỳ trong thời gian học tập theo qui định của Thông tư Liên Bộ Y tế - Đại học THCN và DN (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo). - Thực hiện đầy đủ qui chế và nội qui về học tập, thực tập. Không được tự ý nghỉ học, nghỉ thực tập, khi chưa được phép của trường. Nghiêm cấm mọi hành vi gian lận trong học tập, thi cử: quay cóp, mang tài liệu vào phòng thi, xin điểm; thi, thực tập, trực hộ người khác hoặc nhờ nguời khác thi, thực tập, trực hộ nhờ hoặc làm hộ bài tập lớn, đồ án, luận văn tốt nghiệp. - Lễ phép đối với thầy cô giáo, cán bộ quản lý và nhân viên phục v ụ trong trường. - Nghiêm chỉnh chấp hành luật nghĩa vụ quân sự, nhất là khi có lệnh điều động tham dự huấn luyện sĩ quan dự bị trong quá trình học tập ở trường hoặc phục vụ trong các lực lượng vũ trang sau khi tốt nghiệp. - Giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường. Nếu làm mất mát, hư hỏng phải bồi thường thiệt hại. - Đóng học phí đầy đủ trong thời hạn qui định của nhà trường, nếu thuộc diện đóng học phí. - Tham gia đóng góp lao động công ích xây dựng nhà trường. - Khi có nhu cầu phân công công tác, HS - SV tốt nghiệp đều phải nghiêm chỉnh chấp hành sự phân công đến làm việc tại nơi quy định trong một thời gian nhất định. Nếu không chấp hành phải bồi thường hoàn toàn kinh phí đào tạo cho trường, (trừ phần học phí đã đóng góp trong quá trình đào tạo). Những người trả lại đầy đủ kinh phí đào tạo có thể tìm nơi làm việc theo ý muốn, ngay cả khi có nhu cầu phân công công tác. Những người đang học tại các trường đào tạo có nguyện vọng xin đi cư trú nước ngoài phải bồi hoàn kinh phí đào tạo cho trường. 2. Trong sinh hoạt và tham gia các hoạt động xã hội: - HS - SV nội trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy ký túc xá, thực hiện đầy đủ những cam kết được ghi trong hợp đồng với bộ phận quản lý ký túc xá. Đóng lệ phí ký túc xá đầy đủ và đúng hạn. - Nghiêm cấm HS - SV tàng trữ vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy, các loại hoá chất độc hại khác và hàng lậu. 5
  6. - Nghiêm cấm HS - SV đánh bạc, tiêm chích, hút thuốc phiện, say rượu, lưu hành văn hoá phẩm đồi trụy và các biểu hiện vi phạm đạo đức khác. -HS - SV không được tự ý thành lập hoặc tham gia hoạt động trong các hội, các tổ chức chính trị và cả các hoạt động mang tính chất chính trị khác khi chưa đ ược phép của Hiệu trưởng và các cơ quan có thẩm quyền theo luật định. - HS - SV không được làm điều gì ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong trường, ngoài xã hội và trong các ký túc xá. Thực hiện nếp sống văn minh lành mạnh. + Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật t ự, an toàn, phòng ch ống t ội ph ạm và các tệ nạn xã hội: Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn n ơi tr ường đóng, khu vực có HSSV ngoại trú xây dựng kế ho ạch đảm b ảo an ninh chính tr ị, tr ật t ự và an toàn cho HSSV, giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến HSSV. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến HSSV; h ướng dẫn HSSV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế. Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã h ội cho HSSV. + Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngo ại trú theo quy đ ịnh c ủa Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chúng ta còn được học về việc khen thưởng và kỉ luật đối với HSSV: Nội dung và hình thức khen thưởng. Học sinh, sinh viên, tập thể HS - SV có thành tích trong học tập và rèn luy ện được khen thưởng. Việc khen thưởng được tiến hành thường xuyên và định kỳ. 1. Việc khen thưởng thường xuyên được tiến hành đối với cá nhân và tập thể HS - SV có thành tích trong từng mặt cần biểu dương khuyến khích kịp thời như đạt giải trong các cuộc thi HS - SV giỏi, thi tay nghề, thi thợ giỏi, có công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, đóng góp có hiệu quả trong công tác Đảng, Đoàn, Hội sinh viên, trong các hoạt động thanh niên xung kích giữ gìn an ninh trật tự, các hoạt động trong các lớp khoa trong ký túc xá, trong hoạt động xã hội, từ thiện, văn nghệ, có hành vi đẹp được công luận nêu gương: (cứu người bị nạn; dũng cảm bắt kẻ gian; cứu tài sản của Nhà nước hoặc của công dân; chống tiêu cực, tham nhũng…) Nội dung, mức khen thưởng thường xuyên do Hiệu trưởng quy định. Nhà trường vận dụng khung điểm thưởng nêu tại điều 2-A-1 của Qui định về phân loại và xếp hạng HS - SV các trường đại học và cao đẳng ban hành theo Quyết định số 108/QĐ ngày 10.8.1989 của Bộ Đại học, THCN và Dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định mức điểm thưởng cụ thể cho phù hợp với điều kiện của trường và thông báo công khai cho HS - SV toàn trường biết. 2. Việc khen thưởng định kỳ được tiến hành vào cuối mỗi một hoặc hai học kỳ với các hình thức: 6
  7. - Tặng danh hiệu HS - SV ưu tú cho những người đạt điểm trung bình trung mở rộng từ 9 trở lên và không có điểm thi hoặc kiểm tra dưới 5, không bị kỷ luật từ khiển trách trở lên. - Tặng danh hiệu HS - SV xuất sắc cho những người đạt điểm trung bình chung mở rộng từ 8 đến cận 9, không có điểm thi hoặc điểm kiểm tra dưới 5, không bị kỷ luật từ khiển trách trở lên. - Tặng danh hiệu HS - SV khá cho những người đạt điểm trung bình chung mở rộng từ 7 đến cận 8, không có điểm thi hoặc điểm kiểm tra dưới 5, không bị kỷ luật từ khiển trách trở lên. (lấy điểm thi và kiểm tra lần thứ nhất). - Danh hiệu lớp HS - SV "Học tập tốt, rèn luyện tốt" tặng cho các lớp có t ỷ l ệ HS - SV đạt loại khá từ 25% trở lên, trong đó có 10% HS - SV đ ạt lo ại danh hi ệu xuất sắc và ưu tú, không có HS - SV học yếu (điểm trung bình chung mở rộng dưới 5) và bị kỷ luật cao hơn mức cảnh cáo. Nội dung và hình thức kỷ luật. 1. Những HS - SV mắc khuyết điểm, tuỳ theo tính chất mức độ, tác hại của hành vi sai phạm và thái độ nhận khuyết điểm, phải chịu các hình thức kỷ luật sau: - Khiển trách: áp dụng đối với HS - SV có khuyết điểm mức độ nhẹ, có tính chất nhất thời hoặc không cố ý phạm phải. - Cảnh cáo: áp dụng đối với HS - SV phạm khuyết điểm đă bị khiển trách nhưng không sửa chữa: phạm khuyết điểm thông thường nhưng gây ảnh hưởng xấu hoặc phạm khuyết điểm lần đầu nhưng tương đối nghiêm trọng. - Đình chỉ học tập có thời hạn (2 hoặc 4 kỳ học): áp dụng đối với những HS - SV phạm khuyết điểm nhiều lần đã bị cảnh cáo từ 1 đến 2 lần) nay tái phạm hoặc phạm khuyết điểm lần đầu tuy nghiêm trọng nhưng chưa tới mức thôi học, cần có thời gian rèn luyện, thử thách nếu có tiến bộ xét cho học tiếp. - Buộc thôi học áp dụng đối với HS - SV phạm khuyết điểm đã giáo dục nhiều lần mà không chịu sửa chữa hoặc phạm khuyết điểm nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu đến nhà trường và xã hội, nhìn chung không đủ điều kiện để tiếp tục đào tạo. - Nội dung vi phạm và khung xử lý kỷ luật tương ứng các trường vận dụng theo bản quy định kèm theo Quy chế này. 2. Những HS - SV vi phạm pháp luật, quy chế, nội quy ngoài việc phải chịu các hình thức kỷ luật còn bị phạt điểm rèn luyện. Nhà trường vận dụng khung điểm phạt nêu tại các điều 2b-1 của quy định về phân loại và xếp hạng HS - SV các trường đại học và cao đẳng ban hành theo Quyết định số 108/QĐ ngày 10 tháng 8 năm 19889 của Bộ Đại học, THCN và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy đ ịnh mức điểm phạt cụ thể cho phù hợp với điều kiện của trường và thông báo công khai cho HS - SV toàn trường biết. Về công tác vận động thanh niên và xây dựng đội ngũ trí thức được thông qua tại Hội nghị Trung ương 7 vừa qua: 7
  8. Sau hơn 20 năm đổi mới và phát triển đất nước, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VII), tình hình thanh niên và công tác thanh niên đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Một trong những thành tựu c ủa công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là xây dựng một thế hệ thanh niên thời kỳ mới có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ và tư duy phát triển năng động; tiếp nối truyền thống hào hùng của dân tộc, của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, tình nguyện vì cộng đồng; sống có trách nhiệm, có ý chí vươn lên, mong muốn được cống hiến và trưởng thành, làm giàu chính đáng, góp phần đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Tuy nhiên, trong thanh niên và phong trào thanh niên vẫn còn không ít hạn chế, thiếu sót và khuyết điểm. Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, thanh niên nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội mới và cả những thách thức mới. Tương lai của thanh niên gắn liền với vận mệnh và tương lai của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên lúc này chẳng những là trách nhiệm và tình cảm của Đảng, của thế hệ đi trước đối với thanh niên, mà còn nhằm bồi dưỡng thế hệ chủ nhân của hiện tại và tương lai đất nước, lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, đội ngũ trí thức nước ta đã có bước phát triển nhanh về số lượng và chuyển biến tích cực về chất lượng; đã có những đóng góp quan tr ọng vào sự phát triển của đất nước, dân tộc. Đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, trí thức Việt Nam đã góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đ ạt đ ược những thành tựu đáng trân trọng trên nhiều lĩnh vực. Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước ta; đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; tạo ra những công trình có giá trị về tư tưởng, nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới. Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc, có những đóng góp tích cực trong nhiều lĩnh vực, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ trí thức chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Số chuyên gia đầu ngành còn thiếu, đội ngũ kế cận hẫng hụt. Trong nước chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh. Hoạt động nghiên cứu khoa học còn nhiều mặt thiếu gắn bó mật thiết với thực tiễn. Các thành tựu nghiên cứu và ứng dụng đạt được rất đáng trân trọng, song so với tầm thế giới và khu vực còn khoảng cách khá 8
  9. xa. Công tác xây dựng đội ngũ trí thức có nhiều kết quả, nhưng cũng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế và trong nước, trí thức ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và đang đứng trước những đòi hỏi cao và yêu cầu mới, cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt. Đảng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo đối với trí thức. Chúng ta phấn đấu để đến năm 2020, xây dựng được đội ngũ trí thức có chất lượng cao, số lượng đông đảo và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức trong khu vực và thế giới. Gắn bó vững chắc giữa Đảng với trí thức, giữa trí thức với Đảng, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông - trí. Trong những năm trước mắt, chúng ta phải vừa hoàn thiện các cơ chế, chính sách đã ban hành, xây dựng cơ chế, chính sách mới nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức hiện có, vừa xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2020 đáp ứng nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong hơn 20 năm đổi mới, tình hình nông nghiệp, nông thôn và đời sống của nông dân đã có những bước tiến bộ khá toàn diện và to lớn: Nông nghiệp tiếp tục phát triển với nh ịp đ ộ khá cao theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, an ninh l ương th ực quốc gia được bảo đảm; xuất khẩu nông - lâm - thuỷ sản tăng nhanh. Tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi, công nghiệp chế biến được tiếp tục phát triển, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Kết cấu hạ tầng kinh t ế - xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là giao thông, thuỷ lợi, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; xoá đói, giảm nghèo đ ạt thành tựu to l ớn. Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở nông thôn được tăng cường, dân chủ cơ sở được phát huy, an ninh, trật tự được giữ vững. Vị thế chính trị của giai cấp nông dân được nâng cao, cùng với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức tạo nên nền tảng chính trị vững chắc. Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển, vẫn tồn tại nhiều khó khăn, yếu kém, khuyết điểm. Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các nguồn lực; chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu giải phóng nguồn lực, thúc đẩy phát triển phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu, môi trường ngày càng ô nhiễm, khả năng thích ứng, đối phó với thiên tai còn hạn chế. Đ ời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn thấp, chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng doãng ra; số hộ nghèo còn lớn; phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc. 9
  10. Trước thực tế nói trên cũng như trước thời cơ và thách thức đối với nông nghiệp nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng những vấn đề mang tính toàn cầu, như biến đổi khí hậu, khan hiếm năng lượng, gia tăng nhu cầu v ề lương thực và thực phẩm trên thế giới, chúng ta càng thấy rõ hơn ý nghĩa to l ớn và yêu cầu bức thiết của vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đo ạn mới. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là nhiệm vụ chiến lược của Đảng ta. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục giữ vị trí quan trọng: Nông nghiệp là cơ sở, nông thôn là địa bàn, nông dân là lực l ượng đông đảo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định chính trị - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ ất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải hỗ trợ mạnh mẽ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, hiện đại hoá nông nghiệp là khâu then chốt. Giải quyết vấn đ ề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải dựa trên cơ sở phát huy cơ chế kinh tế thị trường đ ịnh hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện địa lý của từng vùng của nước ta; giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là đất đai, lao động, rừng và biển, phát huy sức mạnh hội nhập quốc tế, đồng thời tăng mạnh sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước, kết hợp ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, phải huy động sức mạnh của cả nước, đồng thời phải khởi động tinh thần yêu nước, phát huy nỗ l ực to l ớn trong c ư dân nông thôn; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đ ời sống văn hoá phong phú làm động lực cho quá trình phát triển. Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2008 trình Ban Chấp hành Trung ương lần này để Trung ương thảo luận và đóng góp thêm ý kiến đánh giá một cách toàn diện và chính xác cả về những kết quả đã đạt được, những tồn tại và yếu kém về các mặt, từ chủ trương đến việc chỉ đạo, điều hành, quản lý, dự báo và xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là các vấn đề mới nảy sinh từ cuối năm 2007 và trong nửa đầu năm nay; xác định rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là các nguyên nhân chủ quan. Qua đó, làm rõ trách nhiệm của từng tập thể, từng bộ, ngành, địa phương, đơn vị, tạo sự nhất trí và quyết tâm cao trong toàn hệ thống chính trị, trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả cao những giải pháp do Đảng, Nhà nước đề ra, nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị để tiếp tục phát triển bền vững. Trước mắt, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế-xã hội trong 6 tháng cuối năm và những năm tiếp theo. Qua “Tuần sinh hoạt công dân – HSSV” chúng ta được triển khai về “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Qua đó ta biết: “Tấm gương đạo đ ức Hồ Chí Minh” là: 10
  11. - Tấm gương của ý chí và nghị lực to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt đạo đức cách mạng. - Tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết long, hết sức phục vụ nhân dân. - Tấm gương của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu và hết mực vì con người. - Tấm gương cần- kiệm- liêm- chính, chí- công- vô- tư, đờI riêng trong sang, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Bác Hồ- vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, tấm gương sáng của Người, ch úng ta hãy noi theo. Ngày nay việc tham ô, tham nhũng đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm. Học tập các chuyên đề về “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Tham ô là lợi dụng quyền hành hoặc chức trách để ăn cắp của công; lãng phí là làm tốn kém hao tổn một cách vô ích. Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi, sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công - của Nhà nước và của tập thể. Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ Xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống nhân dân ta. Bác cho rằng, tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có h ại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng. Lãng phí và tham ô tuy có khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đ ến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì cũng có tội. Đứng về phía cán bộ mà nói tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư; Đục khoét của nhân dân; Ăn bớt của bộ đội; Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình. Hay nói cách khác, tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp mà ai cũng phải thù ghét, phải từ bỏ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì lãng phí bao gồm nhiều mặt: Lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiên c ủa nhân dân, của đất nước. Lãng phí có thể do nhiều nguyên nhân: về trình độ non kém, thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm gây tốn kém hàng chục, hàng trăm tỉ đồng công quỹ của Nhà nước hoặc do chủ ý “ném ti ền qua cửa sổ”; coi của công là “của chùa”; ăn uống, biếu xén, tiêu xài xa hoa lãng phí. Chống tham ô, lãng phí là vấn đề luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và đã trở thành một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên nhân sâu xa dẫn đến căn bệnh tham ô, lãng phí, đó là chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, nảy sinh ra các bệnh nguy hiểm như lười biếng, ngại gian khổ, khó khăn, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa... Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tích tổ chức, tích kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, 11
  12. không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm. Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra tệ nạn tham ô, lãng phí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Có tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu. Tham ô, lãng phí và b ệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, bộ đội và Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng và nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta, làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta, phá hoại đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính... Nó là một thứ giặc trong lòng, “giặc nội xâm”... Vì vậy: “Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị”. Tham ô, lãng phí còn do trình độ hiểu biết, trình độ văn hóa và trình độ tổ chức quản lý nhà nước yếu kém. Vấn đề này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở từ lâu. Mỗi người đảng viên, cán bộ từ trên xuống dưới đừng tưởng mình ở cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh nhân dân, cứ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh”. Họ tự cho mình cái gì cũng giỏi. Họ xa rời quần chúng và chỉ muốn làm thầy quần chúng. Nói chuyện với cán bộ, đảng viên, Bác nhắc nhở mọi người phải ghi nhớ và làm theo câu nói của Lê-nin là “học, học nữa, học mãi”. Cán bộ ở cấp càng cao càng phải học nhiều, học văn hóa, học chuyên môn, học đạo đức, học cách cư xử và cách sống làm người... Do trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật thấp, thiếu hiểu biết thực tiễn, quen chỉ đạo, giáo huấn chung chung lại không chịu rèn luyện tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên đã rơi vào tình trạng tham ô, lãng phí, suy thoái phẩm chất đạo đức... gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước. Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng. Đó là, “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng...” Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là phải thực hiện cho được lời Bác dạy về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, triệt tận gốc bệnh tham ô, lãng phí. Về các giải pháp kiềm chế lạm phát của nhà nước ta trong tình hình kinh tế- xã hội hiện nay: 1- Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, Chính phủ chủ trương kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. 2- Cắt giảm đầu tư công và chi thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cống giảm tỉ lệ thâm hụt ngân sách, kiên quyết cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện và tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành. 3- Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp- nông nghiệp, khắc phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực- thực phẩm. 12
  13. 4- Bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu các loại hàng hoá thiết yếu. 5- Triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, Chính phủ kêu gọi mọi doanh nghiệp và mọi nhà triệt để tiết kiệm. 6- Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành Pháp luật của nhà nước về giá, kiên quyết không để xảy ra các tình trạng lạm dụng các biến động trên thị trường để đầu cơ nông giá. Ngăn chặn tình trạng buôn l ậu qua biên giới. 7- Thực hiện tốt các chính sách về an ninh xã hôị, nhất là đốivới đối tượng hưởng lương và chính sách xã hội đối với đồng bào vùng thiên tai dịch bệnh cần có chính sách hỗ trợ để phát triển sản xuất ổn định. 8- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền chống tin đồn nhảm, tăng giá đột phát. Việt Nam vững bước tự tin trên con đường hội nhập và phát triển Kế tục tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách phù hợp về chủ trương, đường lối cũng như biện pháp tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra thế và lực mới cho đất nước. Chúng ta hiện đang chứng kiến xu thế phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là quá trình gắn kết nền kinh tế c ủa một n ước v ới nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào tiến trình phân công lao động quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, cuốn hút mọi quốc gia, dân tộc và có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế - chính trị thế giới. Ngay sau khi đất nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những tư tưởng, chủ trương về mở cửa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã không có điều kiện triển khai một cách đ ầy đủ tư tưởng về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Người. Kế tục tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình triển khai công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách phù hợp về ch ủ trương, đường lối cũng như biện pháp tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, tranh thủ có hiệu quả các nguồn lực và sự ủng hộ của quốc tế, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra thế và lực mới cho đất nước, vị thế quốc tế thuận lợi ch ưa từng có. Bên cạnh đó, ngày càng hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới và khu vực, chúng ta đồng thời phải đối phó, vượt qua không ít khó khăn, quan tâm xử lý nhiều vấn đề để tiến trình hội nhập của đất nước phát triển vững chắc và hiệu quả. Muốn thực hiện thành công, chúng ta cần chăm lo xây dựng đ ội ngũ cán b ộ ngoại giao cho ngày nay và cho tương lai, đáp ứng được những yêu cầu mới đặt ra. Đó phải là đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp của Đảng, với lợi ích của dân tộc, năng động, sáng tạo và hiệu quả. Bởi xét cho cùng, con người là yếu tố 13
  14. then chốt, quyết định nhất đến thành - bại của Ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong “Tuần sinh hoạt công dân – HSSV” chúng ta học tập được rất nhiều điều bổ ích, giúp chúng ta mở rộng thêm kiến thức của mình về xã hội, về đất nước ta trong tình hình hiện nay. Là công dân – HSSV, mỗi chúng ta phải chấp hành tốt những nội quy, quy chế của nhà trường, pháp luật của nhà nước để trở thành những công dân tốt, có ích cho sự phát triển đi lên của nước ta trong thời kỳ hội nhập. Tổ chức tuần sinh hoạt công dân thật sự là một kiến thức quan trọng cho các sinh viên mới vào trường như em,không những giúp em thêm được nhiều kiến thức bổ ích về nhà nước,biên giới hải đảo,chính sách của đảng và nhà nước mà còn giúp chúng em vững trãi về cuộc sống trong những năm học tập tại trường. Một tuần sinh hoạt công dân tốt là 1 tuần sinh hoạt có sự giúp đỡ của các thầy cô,sự nghiêm túc lắng nghe của chúng em,sự trao đổi xuyên suốt quá trình học. Thật sự tuần sinh hoạt công dân là một món quà vô giá cho những tân sinh viên như em mà nhà trường đã giành tặng. Em sẽ cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ công dân,nhiệm vụ của một sinh viên để những kiến thức được học trong tuần sinh hoạt công dân không chở nên uổng phí,phấn đấu chở thành một công dân tốt của xã hội,góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn, văn minh hơn. 14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản