Bài thuyết trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chia sẻ: lily_baby

Nguyên lý là những luận điểm về học thuyết lý luận mà tính chân lý của chúng là hiển nhiên không cần chứng minh được xác định trong tư duy của con người có chức năng lý giải mọi sự vật hiện tượng. Mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài thuyết trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin
Nhóm III
Câu hỏi thảo luận
• Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
+ Nguyên lý về sự phát triển.
• Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng
+ Cái chung, cái riêng.
+ Nguyên nhân, kết quả.
+ Tất nhiên, ngẫu nhiên.
+Nội dung, hình thức.
+Bản chất, hiện tượng.
+ Khả năng, hiện thực
Khái niệm về nguyên lý và mối liên hệ
• Nguyên lý là những luận điểm về học thuyết lý luận
mà tính chân lý của chúng là hiển nhiên không cần
chứng minh được xác định trong tư duy của con
người có chức năng lý giải mọi sự vật hiện tượng.
• Mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và
chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng,
hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện
tượng trong thế giới.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Mọi sự vật hiện tượng tồn tại trong nhiều mối
liên hệ ràng buộc lại với nhau. Mối liên hệ này
phải là mối liên hệ phổ biến khách quan để sự
vật và hiện tượng luôn phát triển, không cô lập.
Mối liên hệ phổ biến khách quan chi phối tổng
quát mọi sự vận động của sự vật, hịên tượng.
Tính chất của mối liên hệ phổ biến
Tính khách quan


Mối liên hệ phổ biến không phải là sự sáng tạo của
con người mà nó là sự phản ánh của thế giới khách
quan. Mối liên hệ quyết định sự tồn tại của sự vật
và nó ở ngay bản thân của sự vật, tức là sự vật tồn
tại không theo ý muốn chủ quan của con người mà
nó bị quy định vốn có của nó (ngay ở bản thân nó).
Ví dụ
Tính phổ biến
Không có bất cứ sự vật, hiện tượng, quá trình
nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện
tượng hay quá trình khác. Đồng thời, cũng
không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không
phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những
yếu tố cấu thành trong mối liên hệ bên trong của
nó.
Ví dụ
Tính đa dạng, phong phú
• Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau
đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị
trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển
của nó.
• Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng
trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những
giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát
triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai
trò khác nhau.
Ví dụ
• Mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài.
• Mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu.
• Mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp.
• Mối liên hệ bản chất, mối liên hệ không bản
chất.
• Mối liên hệ tất yếu, mối liên hệ ngẫu nhiên.
Ý nghĩa phương pháp luận

• Quan điểm toàn diện: Khi nhìn nhận một vấn đề phải có
quan điểm toàn diện. phân biệt từng mối quan hệ mà có
cách giải quyết cho đúng.
• Quan điểm lịch sử - cụ thể:
- Chống cái nhìn chiết trung, phiến diện xem vị trí mọi mối
liên hệ là như nhau.
- Chống quan điểm ngụy biện, chỉ thổi phòng những mối
liên hệ không cơ bản để biện minh cho một vấn đế nào
đó.
Ví dụ
Biện hộ cho việc giết người là do
bị người đó hành hung. Theo luật
Hình sự thì đây chỉ là tình tiết
giảm nhẹ. Người phạm tội vẫn
phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nguyên lý về sự phát triển
• Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển
dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo
khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ
cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
• Phát triển bao gồm: phát triển trong tự nhiên là
thích nghi cơ thể với môi trường, trong xã hội là
nâng cao năng lực tự nhiên, trong tư duy là hoàn
thiện khả năng nhận thức của con người.
Tính chất của mối liên hệ về sự phát triển
Tính khách quan
• Biểu hiện trong nguồn gốc của sự
vận động và phát triển
• Là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự
vật hiện tượng: Là quá trình giải
quyết mâu thuẫn của sự vật hiện
tượng đó.
Tính phổ biến
Thể hiện ở các quá trình phát triển
diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên,
xã hội và tư duy: Trong mọi sự vật,
hiện tượng mọi quá trình mọi giai
đoạn của sự vật hiện tượng đó.
Tính đa dạng phong phú
• Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật
hiện tượng nhưng mỗi sự vật hiện tượng lại có
những quá trình phát triển không hoàn toàn giống
nhau.
• Nó tồn tại ở những không gian, thời gian khác
nhau thì sẽ phát triển khác nhau và nó chịu nhiều
sự tác động của các sự vật hiện tượng quá trình
khác và của các yếu tố điều kiện lịch sử để làm
thay đổi chiều hướng phát triển của chúng.
Ý nghĩa phương pháp luận
Chúng ta cần chú trọng đến điều kiện, khả
năng, tình hình thực tế của đối tượng để nhận
ra xu hướng thay đổi có thể xảy ra đối với đối
tượng. Thông qua hoạt động thực tiễn, chúng ta
cần xây dựng nhiều biện pháp thích hợp để
biến đổi đối tượng, phát huy những mặt tốt, hạn
chế những mặt xấu của đối tượng, hướng đối
tượng vận động theo qui luật phù hợp với lợi
ích.
Ví dụ
Sự trưởng thanh cua con người cả sinh lý lẫn tâm
̀ ̉
ly. ́
+Tinh khach quan thể hiên ở chỗ sự phat triên
́ ́ ̣ ́ ̉
ây là tự nó diên ra ngay từ khi đứa bé sinh ra thậm
́ ̃
chí là ngay trong bung me. ̣ ̣
+Tinh phổ biên: quá trinh diên ra ở tất cả mọi
́ ́ ̀ ̃
người. Ai cũng đêu có quá trinh trưởng thanh.
̀ ̀ ̀
+Tính phong phú đa dang ở chô, ko ai cung lớn
̣ ̃ ̀
lên giông nhau, có nguời beo, có người gầy, có
́ ́
người nhân thức đc nhiều tri thức có người lai nhân
̣ ̣ ̣
thức kem hơn. ́
Cái chung, cái riêng, cái đơn nhất
• Phạm trù "cái chung" được dùng để chỉ những mặt,
những thuộc tính chung không chỉ có ở một số kết
cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong
nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
• Phạm trù "cái riêng" dùng để chỉ một sự vật, một hiện
tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
• Phạm trù “cái đơn nhất ” để chỉ những nét, những
mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một sự vật, một kết
cấu vật chất nhất định, không lặp lại ở sự vật, hiện
tượng, kết cấu vật chất khác.
Quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái
riêng và cái đơn nhất
• Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái
riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình.
• Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung.
• Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung; cái
chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng.
• Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau
trong quá trình phát triển của sự vật.
Ý nghĩa phương pháp luận
• Cần nhận thức cái chung để vận dụng vào
thực tiễn khi giải quyết mỗi cái riêng để
tránh mắc phải sai lầm.
• Cần cụ thể hoá cái chung trong mỗi hoàn
cảnh cụ thể; khắc phục bệnh giáo điều,
siêu hình, máy móc, cục bộ trong giải quyết
các trường hợp cụ thể.
• Cần vận dụng thích hợp sự chuyển hoá
giữa cái đơn nhất và cái chung theo mục
đích nhất định trong hoạt động thực tiễn và
nhận thức.
Ví dụ
Thủ đô Hà Nội là một “cái riêng”,
ngoài các đặc điểm chung giống các
thành phố khác của Việt Nam, còn có
những nét riêng như phố cổ, có Hồ
Gươm, có những nét văn hóa truyền
thống mà chỉ có ở Hà Nội mới có, đó
là cái đơn nhất.
Nguyên nhân và kết quả
• Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản
ánh mối quan hệ sản sinh ra nhau giữa
các sự vật, hiện tượng trong hiện thực
khách quan.
• Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động
lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra
một biến đổi nhất định nào đó.
• Kết quả là những biến đổi xuất hiện do
tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một
sự vật hoặc giữa các sư vật với nhau gây
ra.
Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và
kết quả
• Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn
luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện
sau khi nguyên nhân đã xuất hiện.
• Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn
phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra
• Nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng
chiều trong một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng
chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất
hiện nhanh hơn. Ngược lại nếu những nguyên nhân tác
động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở
tác dụng của nhau, thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau.
Điều đó sẽ ngăn cản sự xuất hiện của kết quả.
Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và
kết quả
• Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất
hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên
nhân
• Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong
mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối quan
hệ khác lại là kết quả và ngược lại
Ý nghĩa phương pháp luận
• Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên
nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện
những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
• Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên
nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả
cần có cách nhìn toàn diện và cụ thể khi giải quyết vấn đề trong
thực tiễn.
• Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân. Vì vậy trong hoạt động
thực tiễn chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã
đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác
dụng, nhằm đạt mục đích
Ví dụ
Không phải nguồn điện là nguyên
nhân làm bóng đèn phát sáng mà
chỉ là tương tác của dòng điện với
dây dẫn (Trong trường hợp này,
với dây tóc của bóng đèn) mới
thực sự là nguyên nhân làm cho
bóng đèn phát sáng.
Tất nhiên, ngẫu nhiên
• Tất nhiên là cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong
của kết cấu vật chất quyết định và trong điều kiện nhất
định nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác được.
• Ngẫu nhiên là cái không do mối liên hệ bản chất, bên
trong kết cấu vật chất, bên trong sự vật quyết định mà
do các nhân tố bên ngoài, do sự ngẫu hợp nhiều hoàn
cảnh bên ngoài quyết định. Do đó nó có thể xuất hiện,
có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này,
hoặc có thể xuất hiện như thế khác.
Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên
• Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất
định đối với sự phát triển của sự vật.
• Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng
không tồn tại biệt lập dưới dạng thuần tuý cũng như
không có cái ngẫu nhiên thuần túy.
• Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái
cũ mà thay đổi cùng với sự thay đổi của sự vật và
trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể
chuyển hoá thành ngẫu nhiên và ngược lại
Ý nghĩa phương pháp luận
• Vì cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra
theo quy luật nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn
với bản chất nội tại của sự vật nó có thể xảy ra, có thể không. trong
hoạt động thực tiễn, ngoài phương án chính, người ta thấy có
phương án hành động dự phòng để chủ động đáp ứng những sự
biến ngẫu nhiên có thể xảy ra.
• Vì cái tất nhiên không tồn tại thuần tuý mà bộc lộ qua vô vàn cái
ngẫu nhiên. Do vậy muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông
qua việc nghiên cứu, phân tích so sánh rất nhiều cái ngẫu nhiên
• Cái ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển hoá thành
cái tất nhiên. Do vậy trong nhận thức cũng như trong hoạt động
thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ, bỏ qua cái ngẫu nhiên,
mặc dù nó không quyết định xu hướng phát triển của sự vật.
Nội dung và hình thức


• Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt,
những yếu tố, những quá trình tạo nên sự
vật.
• Hình thức là phương thức tồn tại và phát
triển của sự vật, là hệ thống các mối liên
hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố
của sự vật đó.
Quan hệ biện chứng giữa nội dung và
hình thức
• Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau
trong một thể thống nhất.
• Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng
không phải vì thế mà lúc nào nội dung và hình thức cũng
phù hợp với nhau.
• Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá
trình vận động phát triển của sự vật.
• Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình thức có tính
độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung
Ví dụ
Nội dung một tác phẩm văn học là toàn
bộ những sự kiện của cuộc sống hiện
thực mà tác phẩm phản ánh, còn hình
thức bên trong của tác phẩm đó là thể
loại, những phép thể hiện được tác giả
sử dụng trong tác phẩm như phương
pháp kết cấu bố cục, nghệ thuật xây
dựng hình tượng, các thủ pháp miêu tả,
tu từ….
Ý nghĩa phương pháp luận
• Trong nhận thức không được tách rời tuyệt đối hóa giữa
nội dung và hình thức, cần chống chủ nghĩa hình thức.
• Trong hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội cần phải chủ
động sử dụng nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng với
yêu cầu thực tiễn .
• Nội dung quyết định hình thức, do vậy để nhận thức và
cải tạo được sự vật, trước hết ta phải căn cứ vào nội
dung sau đó đối chiếu giữa nội dung và hình thức và
làm cho hình thức phù hợp với nội dung để thúc đẩy nội
dung phát triển.
Bản chất và hiện tượng
• Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt,
những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn
định bên trong sự vật, quy định sự vận
động và phát triển của sự vật.
• Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của
bản chất.
Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện
tượng
• Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng trước
hết thể hiện ở chỗ bản chất luôn luôn được bộc lộ
ra qua hiện tượng; còn hiện tượng nào cũng là sự
biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định.
• Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau,
nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập.
Do vậy không phải bản chất và hiện tượng phù hợp
nhau hoàn toàn mà luôn bao hàm cả sự mâu thuẫn
nhau.
Ví dụ
Bản chất của giai cấp tư sản của chế độ tư bản chủ
nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư. Bản chất này được bộc
lộ ra ở nhiều hiện tượng trong chủ nghĩa tư bản như
bần cùng hóa giai cấp vô sản, thất nghiệp, khủng
hoảng kinh tế theo chu kỳ, ô nhiễm môi trường, chiến
tranh. Khi không còn giai cấp tư sản, không còn chế độ
bóc lột giá trị thặng dư nữa thì những hiện tượng trên
cũng sẽ mất theo, con người sẽ làm chủ thực sự được
tự nhiên, xã hội và bản thân mình.
Ý nghĩa phương pháp luận


• Muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất
phát từ những sự vật, hiện tượng, quá trình thực tế.
• Nhận thức bản chất của sự vật là một quá trình phức tạp
đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến
bản chất sâu sắc hơn.
• Còn trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào bản chất
của sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo
sự vật không được dựa vào hiện tượng.
Khả năng và hiện thực

• Phạm trù hiện thực được dùng để phản
ánh những gì hiện có, hiện đang tồn tại
thực sự.
• Phạm trù khả năng được dùng để chỉ
những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ
tới khi có các điều kiện tương ứng.
Quan hệ biện chứng giữa khả năng và
hiện thực
• Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa
lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
• Ngoài những khả năng vốn sẵn có, trong những điều kiện
mới thì sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới,
đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự
thay đổi của điều kiện.
• Để khả năng biến thành hiện thực, thường cần không phải
chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện.
Ví dụ
Trước mắt ta có đủ gỗ, cưa, bào, đục, đinh... đó là
hiện thực. Từ đó nảy sinh khả năng xuất hiện một
cái bàn. Trong trường hợp này, cái bàn là chưa có,
chưa tồn tại trên thực tế nhưng khả năng xuất hiện
cái bàn thì tồn tại trên thực sự. Như vậy dấu hiệu
căn bản để phân biệt khả năng với hiện thực là ở
chỗ: khả năng là cái chưa có, còn hiện thực là cái
hiện đang có, đang tồn tại.
Ý nghĩa phương pháp luận
• Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện
chưa có, nên trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực,
không được dựa vào khả năng để định ra chủ trương, phương
hướng hành động của mình.
• Khả năng là cái chưa tồn tại thật sự nên khi tính đến khả năng
phải phân biệt được các loại khả năng gần, khả năng xa, khả
năng tất nhiên và ngẫu nhiên tạo được các điều kiện thích hợp
để biến khả năng thành hiện thực, thúc đẩy sự vật phát triển.
• Tuy nhiên cũng cần tránh hai thái cực sai lầm, một là: tuyệt đối
hóa vai trò nhân tố chủ quan; hai là: hạ thấp vai trò nhân tố chủ
quan trong việc biến khả năng thành hiện thực.
Danh sách nhóm III
• Đặng Văn Hiền • Phạm Thị Thanh Hòa
• Lý Thị Thu Hiền (Nhóm phó)
• Nguyễn Thị Hiền • Hoàng Thị Hồng
• Hồ Thị Hoa • Phạm Thị Minh Huệ
• Nguyễn Quỳnh Hoa • Nguyễn Ngọc Huyền
• Nguyễn Thị Hòa (Nhóm trưởng)
(Nhóm phó) • Đỗ Thị Thanh Hương
• Trần Thị Hương • Nguyễn Thị Thu
Hương
Cảm ơn các
bạn đã quan
tâm theo dõi
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản