Bài tiểu luận quản trị nguồn nhân lực

Chia sẻ: hanamy

"Nhân sự là tài sản quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp, vì thế cả trong và sau khủng hoảng, chúng ta có thể giảm chi phí lao động nhưng hạn chế tới mức thấp nhất việc cắt giảm nhân sự” giáo sư ChrisBrewster nói. Trong nêǹ kinh tế thị trường hiêṇ nay, trước sự biêń đôṇ g mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, tính chât́ khôć liêṭ của sự cạnh tranh và nhu câù đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cao của nhân viên, tât́ cả những vâń đề này đã và đang là sức ép lớn đôí với doanh nghiêp̣ ....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài tiểu luận quản trị nguồn nhân lực

Bài tiểu luận quản trị
nguồn nhân lực
Contents
A. LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................ 3
B. NỘI DUNG ...................................................................................................................... 4
1. GDP:.............................................................................................................................. 4
2) Lạm phát:.......................................................................................................................... 6
3) Thất nghiệp: ...................................................................................................................... 8
4. Thu nhập bình quân đầu người: ....................................................................................... 12
5. Tỷ giá hối đoái ................................................................................................................ 14
Tỷ giá hối đoái khó có thể biến động trong thời gian từ nay đến cuối năm và dự báo chỉ xoay
quanh mức gần 17.000 VND/USD. ..................................................................................... 14
6. Chỉ số tiêu dùng .............................................................................................................. 19
C. KẾT BÀI ........................................................................................................................ 26
A. LỜI MỞ ĐẦU



"Nhân sự là tài sản quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp, vì thế cả trong và sau
khủng hoảng, chúng ta có thể giảm chi phí lao động nhưng hạn chế tới mức thấp nhất
việc cắt giảm nhân sự” giáo sư ChrisBrewster nói. Trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, trước sự biến động mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, tính chất khốc liệt của
sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cao của nhân viên, tất cả
những vấn đề này đã và đang là sức ép lớn đối với doanh nghiệp. Trong đó, vấn đề
quản trị nguồn nhân lực là một trong các yếu tố mang tính chất sống còn. Quản lý
nguồn nhân lực chính là giúp cho bản thân bạn và doanh nghiệp của bạn đi đến
thành công. Đúng vậy:
Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức DN, vận hành DN và quyết định sự
thành bại của DN. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu
được của DN nên QTNS là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức
DN. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu DN không
quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi
con người. Xét về mặt kinh tế, QTNS giúp cho các DN khai thác các khả năng tiềm
tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của DN về nguồn nhân lực.
Về mặt xã hội, QTNS thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao
động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối
quan hệ lợi ích giữa tổ chức, DN và người lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng của QTNS trong các DN như vậy nên hiện nay
các DN đều chú trọng đến vấn đề này.
Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con
người” của bạn- bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên,
khách hàng, nhà cung cấp và người cho vay như thế nào?
Cung cách quản lý, môi trường làm việc mà bạn đem lại cho nhân viên của mình
và cách truyền đạt những giá trị và mục đích sẽ quyết định sự thành công của bạn
cũng như thành công của doanh nghiệp.
B. NỘI DUNG

Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:

1. GDP:

Tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6 năm 2007, GDP của Việt Nam
tăng 22%. Sau khi đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền, GDP của Việt
Nam đã “rơi” xuống mức 6,23% trong năm 2008.
- Năm 2008, ước tính dân số nước ta là 86,16 triệu người và thu nhập bình quân đầu
người lần đầu tiên đạt 1.024 USD thì Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi ngưỡng nước
nghèo nhưng đây là cột mốc quan trọng trong tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó
khăn. Xét đến số liệu GDP quý 2/2009, dự báo tăng trưởng GDP năm 2009 ở mức
dưới 5%. Đà hồi phục sẽ tiếp tục cho đến cuối năm và số liệu GDP ở thời điểm cuối
năm. Năm 2010, tăng trưởng GDP có thể đạt 6,5%.
Dự đoán mức tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể chỉ đạt 0,3% trong năm 2009
thấp hơn khoảng 5% so với con số tăng trưởng GDP thấp nhất từng được ghi nhận vào
thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tại Đông Á cách đây hơn một thập kỷ.
Tại sao nền kinh tế Việt Nam yếu hơn?
Đầu tiên là do xuất khẩu: Việt Nam đã rất thành công trong việc phát triển các ngành
công nghiệp phục vụ xuất khẩu, nhưng trong năm nay nhu cầu đối với các mặt hàng
xuất khẩu đã giảm mạnh. Việc xuất khẩu của các nước khu vực châu Á đã “rơi” xuống
mức đáng báo động do người tiêu dùng ở Mỹ, châu Âu và các thị trường khác cắt
giảm chi tiêu.

Thứ hai là do tiêu dùng : Với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng (vì những vấn đề phát sinh
trong các khu vực sản xuất hàng xuất khẩu) và thu nhập bị giảm do lạm phát cao trong
năm 2008, tiêu dùng cá nhân sẽ bi cắt giảm.

Thứ ba là vì đầu tư : Đầu tư phát triển mạnh trong những năm qua nhờ dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài ồ ạt chảy vào Việt Nam. Tuy nhiên với khủng hoảng tín dụng
và sự suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, dòng vốn này sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Các
công ty nước ngoài có nhiều tiền mặt sẽ hết sức thận trọng, trong khi những công ty
thiếu tiền mặt sẽ phải xoay sở để huy động vốn.

Công tác QTNNL: Với 49% GDP, 27% tổng đầu tư và 27% công nghiệp sản xuất.
Khu vực tư nhân đã tạo ra rất nhiều việc làm và những cơ hội mới; giúp chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, phát triển nhiều công nghiệp chế tạo và ngành nghề mới. Tuy nhiên, hiện
nay phát triển khu vực tư nhân đang phải đối mặt với nhiều thách thức về môi trường
kinh doanh, đồng thời gặp khó khăn trong việc tiếp cận những nguồn lực cần thiết như
sử dụng đất; vay vốn trung và dài hạn; công nghệ và đào tạo... Đòi hỏi những người
điều hành các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải có kỹ năng về quản trị doanh nghiệp.
Quản trị và quản lý khác nhau ở tính chất công việc. Người quản trị là người đặt ra các
mục tiêu, định hướng, chiến lược để hành động, còn người quản lý là người giám sát,
thực hiện các hoạt động trong doanh nghiệp, sao cho doanh nghiệp đạt được những
mục tiêu đó. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay ít quan tâm đến
công tác quản trị doanh nghiệp, quản trị công ty, mà tập trung giải quyết các vấn đề về
quản lý, cho nên không đưa ra được cái nhìn tổng thể về chiến lược phát triển doanh
nghiệp, hoặc có cái nhìn sai lầm do bị chính những công việc quản lý thường ngày chi
phối – cả về thời gian và cách suy nghĩ.
Ở các doanh nghiệp nhỏ, thường kết hợp công việc quản trị - quản lý nhằm tiết kiệm
chi phí. Khi đó, người quản trị cũng phải lo các công việc quản lý hàng ngày, tình
trạng này dễ dẫn đến sự nhầm lẫn hoặc thiếu tập trung trong công việc, nếu nhà quản
trị không có ý thức rõ ràng về trách nhiệm và sự tách bạch trong tính chất công việc.

Các DN Việt Nam cần khắc phục thành công những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc
khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới hiện nay, tiếp tục hướng tới ổn định và phát
triển.

Các DN Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo lại nguồn nhân lực, đặc biệt là đào
tạo nguồn nhân lực cao…chú trọng nâng cao trình độ tiếng Anh, vì sau thời kỳ khủng
hoảng, cơ cấu kinh tế thế giới thay đổi, giá trị gia tăng sẽ cao hơn. Nguồn nhân lực ở
trình độ cao hơn sẽ sẵn sàng cho giai đoạn phát triển mới.
2) Lạm phát:

Lạm phát năm 2007 đã ở mức hai chữ số (12,63%), lạm phát năm 2008 là 22,3%, Với
giá các mặt hàng sơ chế đang giảm, lạm phát chung được dự báo là sẽ giảm xuống
mức một con số vào cuối năm 2009, tỷ lệ lạm phát quý I/2009 đạt gần 14,5% so với
28.3% cùng kỳ năm ngoái. Lạm phát thường được ưu tiên trong chính sách quản lý
kinh tế của các chính phủ vì những hậu quả của chúng để lại hậu quả rất xấu cho nền
kinh tế, sau đó là thất nghiệp, lãi suất, năng suất, thâm hụt ngân sách chính phủ, thâm
hụt ngoại thương… Lạm phát vừa phải thường có tác dụng tích cực, vì nó gây ra cho
tâm lý người người tiêu dùng cần mua sớm nếu không mua thì hàng hóa sẽ còn tăng
cao nữa từ đó hàng hóa sẽ được lưu thông tốt hơn song tới một mức độ nào đó thì nó
lại mất tác dụng và gây ra hậu quả cho nền kinh tế.




Lạm phát ở Việt Nam, Philippines, Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia

Nguyên nhân lạm phát: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong
đó "lạm phát do cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính.

-Lạm phát do cầu kéo: Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi
trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về
một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của
các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại
hàng hoá trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu
kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá
hay dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này
là”quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hoá”.

-Lạm phát do chi phí đẩy: Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả
nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế... Khi giá cả của
một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn
cũng tăng lên. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá
thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.

-Lạm phát do cơ cấu: Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho
người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền
công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành
kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh từ đó.

-Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi
lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc
quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm),
thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng
cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

-Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung,
hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị
trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do
tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.

-Lạm phát do nhập khẩu.Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó
trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội
lên.

-Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ
vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do
ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền
trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.

Nhân sự là tài sản quan trọng nhưng lạm phát trong nước ngày càng tăng nên vấn đề
đặt ra cho các DN là củng cố nguồn nhân lực, Đào tạo chuyên môn cho đội ngũ nhân
viên, xây dựng mối quan hệ đồng thuận giữa người sử dụng lao động và người lao
động.

Trong thời kỳ lạm phát tăng cao, đồng lương được trả sẽ trở nên ít đi nếu so sánh với
mức tăng giá. Việc NQT phải làm như thế nào để thuyết phục nhân viên chấp nhận
mức lương và duy trì đội ngũ nhân lực?

Nếu NQT trả cho nhân viên với giá thấp hơn thị trường sẽ làm cho các nhân viên chán
nản và cảm thấy bị lừa gạt. Khi nhận được đề nghị tăng lương từ nhân viên, NQT cần
thể hiện tinh thần hợp tác, cởi mở và đừng nên áp đặt họ.

Do đó DN cần giúp các nhân viên có quyết định đúng đắn và công bằng đối với sự
nghiệp của họ, họ sẽ tôn trọng việc làm đó và ra sức cống hiến vì mục tiêu của tổ
chức.

Nếu nhân viên muốn nâng cao trình độ hoặc nếu biết họ thích công việc này thì hãy
khuyến khích họ nhận thêm công việc vì đó là cơ hội để họ học hỏi, phát triển và
trưởng thành. Dù bạn không được trả thêm tiền nhưng cơ hội đó cũng đem lại cho họ
nhiều lợi ích khác ngoài phần thưởng tài chính.

Ngoài ra, cần xây dựng chính sách ưu đãi đối với nhân lực chất lượng cao để tạo động
lực thu hút nhân tài trong và ngoài nước như cung cấp nhà ở, hỗ trợ dịch vụ bảo hiểm,
chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao, tạo môi trường làm việc thuận lợi, hỗ trợ phương
tiện truyền thông và đi lại, tín dụng cho nhân viên, du lịch và đào tạo tại nước ngoài
cho nhân viên..."

3) Thất nghiệp:
Khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng. Như
vậy, nhiều khả năng trong thời gian tới, tỷ lệ lao động có tay nghề sẽ giảm đáng kể so
với hiện nay. Khi tình hình kinh tế hồi phục, các doanh nghiệp sẽ không những phải
tuyển lao động, mà còn phải tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc để bắt đầu lại việc đào
tạo lao động. Và như vậy, thời gian để hồi phục sản xuất của các doanh nghiệp sẽ bị
chậm lại đáng kể do hạn chế về nguồn nhân lực.

Đến giờ con số thất nghiệp cụ thể chưa có. Cách đây mấy tuần, Bộ đã có văn bản chỉ
đạo các Sở yêu cầu doanh nghiệp khảo sát, báo cáo tình trạng thất nghiệp do tác động
của khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Nhìn chung, tại thời điểm này, mức độ thất nghiệp của ta chưa phải trầm trọng. Thất
nghiệp ở Việt Nam không diễn ra ồ ạt như các nước mà trễ hơn một chút, khoảng đầu
năm sau.

Riêng xuất khẩu lao động, có tình trạng lao động phải chấm dứt hợp đồng trước thời
hạn do khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng không nhiều. Hiện tại Đài Loan chỉ
khoảng 200 người sắp phải về nước trước thời hạn, Cộng hòa Czech vài trăm người và
nước này có cái hay là đã chuyển chủ cho lao động. Malaysia cũng có, nhưng ít hơn.

Theo bản báo cáo mới đây của bà Nguyễn Thị Hải Vân, phó cục trưởng Cục Việc làm,
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nói rằng theo dự đoán của Bộ Lao động thì
khoảng 300,000 công nhân sẽ mất việc trong nửa đầu năm 2009, và khoảng hơn
100,000 công nhân nữa sẽ bị giảm biên chế trong nửa cuối năm 2009. Một quan chức
khác còn cho biết tỷ lệ thất nghiệp trong năm nay sẽ tăng cao gấp 5 lần so với con số
80 ngàn công nhân mất việc làm trong năm 2008, năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp ở Việt
Nam sẽ tăng gấp 5 lần.

Nguyên nhân tỷ lệ thất nghiệp cao ở khu vực thành thị là do thị trường lao động phát
triển sâu rộng đòi hỏi chất lượng lao động cao, trong khi đó không ít ngành nghề đào
tạo lại không phù hợp với yêu cầu của thị trường. Cùng đó, lao động không nghề có tỷ
trọng lớn nên càng ngày càng khó có cơ hội tìm việc làm.
Cách giải thích hiển nhiên nhất của nạn thất nghiệp tăng cao là nghành cầu (Demand)
suy giảm. Bất cứ một biến số nào trong nghành cầu như năng xuất giới hạn của đầu tư,
xu hướng tiêu thụ. có thể mang đến ảnh hưởng liên hệ. Nạn thất nghiệp, không giống
như lạm phát, không đòi hỏi sự thay đổi liên tục trong các biến số. Chẳng hạn, nếu chi
phí của chính phủ giảm và dừng lại ở mức thấp thì nạn thất nghiệp tăng và đôi khi sẽ
dừng lại ở mức cao.

Những đột biến ở nghành cung (Supply) cũng có thể là nguyên nhân của nạn thất
nghiệp. Chẳng hạn, nếu mức sản xuất giảm, các công ty sẽ giảm bớt công nhân hoặc
cắt giảm lương thợ. Việc suy giảm kéo dài cách trầm trọng trong nghành sản xuất
hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên nếu sản xuất tăng chậm hơn dự định khi hợp đồng lương
bổng đã được ký kết và rồi lợi tức thực được tăng qúa nhanh thì nguy cơ thất nghiệp
sẽ đến. Trường hợp giá cả nhập cảng tăng cũng đưa đến tình trạng tương tự. Ðể bảo vệ
lợi tức thật sự của mình khi giá cả tăng, công nhân thường đòi hỏi tăng lương. Tuy
nhiên nếu sản xuất không tăng, chủ nhân thường tìm cách cắt giảm nhân công để giá
thành lao động không thay đổi. Nói cách khác, giới chủ nhân có thể sẽ tăng cho một
số nhân công nhưng sẽ cắt giảm một số khác để bù vào chi phí nhân sự. Ở Hoa Kỳ
những dữ kiện bên nghành cung thường không đem lại ảnh hưởng nhiều trên nạn thất
nghiệp vì hoạt động công đoàn không đủ mạnh và công đoàn thường chỉ nhắm vào
lương bổng thành tiền (wage) mà không nhắm vào lợi tức thật (real income). Ở Âu
Châu, công nhân nhắm đến lợi tức thật và sinh hoạt công đoàn mạnh mẽ hơn nên sức
ép trên giới chủ nhân thường đem lại nhiều khả quan hơn.

Trên một quan điểm nào đó, giới thất nghiệp thường bị chỉ trích là đòi hỏi quá đáng về
lương bổng! Nếu giả sử rằng lương bổng của người công nhân nào đó hoàn toàn có
tính cách linh động thì có lẽ khi người công nhân đó thất nghiệp, anh ta sẽ sẵn sàng
chấp nhận bất cứ công việc nào với bất cứ số lương nào khả dĩ đem lại cho họ công ăn
việc làm. Trên một quan điểm khác, người ta cho rằng những người thất nghiệp hầu
như là do tự nguyện, vì có rất nhiều người cũng thất nghiệp nhưng họ đã chấp nhận
một công ăn việc làm với số lương có thể kém hơn khả dĩ có thể đưa họ ra khỏi sự
nghèo đói. Ða số các nhà kinh tế cho rằng người thất nghiệp không nên nói họ không
thể tìm ra công việc nhưng chỉ nên nói họ không tìm được việc nhiều tiền như họ vẫn
thường có. Rất tiếc hoàn cảnh xã hội đổi thay hàng ngày, vì thế để có một công việc
như những ngày trong quá khứ thường vô vọng. Và tên họ dĩ nhiên đã không được
nằm trong bản báo cáo thất nghiệp! Nhiều tổ chức xã hội, các tổ chức công đoàn đã
triển khai các chương trình chăm lo cho người nghèo, đặt biệt là công nhân ở các khu
công nghiệp, không có điều kiện về quê ăn tết. Những việc làm tình nghĩa đó rất cần
thiết, chia sẻ được một phần khó khăn cho công nhân nghèo và động viên tinh thần
cho họ trong ngày lễ Tết. Nhưng việc chia sẻ đó cũng chỉ là nhất thời, không thể giúp
người nghèo ổn định cuộc sống.

Vừa qua tại nhiều hội thảo về kích cầu đầu tư, các chuyên gia kinh tế đều đặc biệt lưu
ý là phải chi nguồn tiền kích cầu cho các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả để đảm bảo
sản xuất và ổn định việc làm cho người lao động. Mong rằng đề xuất của các chuyên
gia kinh tế và thực tế về bức tranh thất nghiệp hiện nay sẽ là những dữ liệu để các nhà
quản lý điều hành xử lý, đưa ra các quyết định nhanh chóng và chính xác về kích cầu.

Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động hướng nghiệp thông thường để đáp ứng nhu cầu
việc làm, còn có nhiều chương trình thúc đẩy các cơ quan đoàn thể hãy điều hành
nhân sự và tuyển dụng nhiều hơn như một cách hỗ trợ cho sinh viên và những người
thất nghiệp.

Chính phủ cũng ra sức mở cửa cho vay mềm để khuyến khích các doanh nghiệp tiếp
tục đi vào hoạt động, đồng thời hoàn trả học phí cho những ai chấp nhận về làm ở các
vùng nông thôn.

Thế nhưng điều đó chỉ là “chống chế” vì tăng trưởng kinh tế lúc này cũng đang “rên
xiết”. Do dó, đối với giới trẻ năm nay, con đường đi tìm việc làm (nhất là những việc
như mơ) sẽ đầy chông gai, gập ghềnh. NQT cần hỗ trợ người thất nghiệp trang bị
những kỹ năng và kiến thức cần thiết, để họ có thể nắm bắt cơ hội mới khi kinh tế thế
giới phục hồi. Các DN Việt Nam cần biến thời kỳ khó khăn hiện nay thành cơ hội để
đào tạo công nhân và tái đào tạo nguồn nhân lực, nhằm giúp họ đáp ứng được những
yêu cầu mới của các nhà đầu tư nước ngoài, khi có một làn sóng đầu tư mới vào Việt
Nam sau khủng hoảng.
4. Thu nhập bình quân đầu người:

Trong bối cảnh biến động giá khôn lường, thiên tai nhưng hầu hết các chỉ tiêu cơ bản
về kinh tế, xã hội chúng ta đều đạt và vượt. Theo đó, trong năm 2007 có 23 chỉ tiêu
phát triển kinh tế xã hội đạt và vượt kế hoạch. Trong dó, GDP tăng 8,5% (KH là 8,2
đến 8,5%), GDP bình quân đầu người đạt 723 USD . Năm 2008, mức tăng trưởng
GDP đạt 6,23%, thấp hơn chỉ tiêu đã được điều chỉnh xuống 7%. Với tăng trưởng như
thế, thu nhập bình quân đầu người lần đầu tiên đạt 1.024 USD. So với mức thu nhập
bình quân đầu người năm 2007 là 833 USD thì đây là con số ấn tượng.

Năm qua cũng đánh dấu một năm vượt khó với hầu hết các chỉ số kinh tế xã hội đạt và
vượt mục tiêu đề ra. Tổng thu ngân sách trong năm tăng hơn 26%, bằng 123,8% dự
toán năm. Tổng chi ước tăng 22,3%. Bội chi ngân sách chỉ bằng 97,5% mức dự toán
đã được Quốc hội thông qua đầu năm. Trong tổng mức tăng trưởng GDP 6,23% thì
khu vực nông-lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; công nghiệp và xây dựng tăng
6,33%; dịch vụ 7,2%. Cơ cấu kinh tế tính theo giá thực tế năm 2008: Khu vực nông
lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm
39,91%; dịch vụ chiếm 38,1%.

Theo Thủ tướng, năm 2008 là năm bản lề của thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm, nên mục tiêu chung nhất của năm tới là hoàn thành cơ bản các mục tiêu
đặt ra cho kế hoạch. Tức là các chỉ tiêu đề ra đến năm 2010 mới hoàn thành thì cơ bản
phải hoàn thành trong năm 2008, đển năm 2009 hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm.
Đây là lần đầu tiên Việt Nam phấn đấu sớm đạt được mục tiêu, điều đó cũng đồng
nghĩa là Việt Nam có thể sẽ thoát ra khỏi tình trạng nước kém phát triển trước một
năm.Thu nhập bình quân đầu người vượt 1.000 USD năm 2008, năm 2009 thu nhập
bình quân có thể đạt 1.100 USD/người.

Người đứng đầu Chính phủ nêu ra hai chỉ số quan trọng để nói lên thực chất của sự
phát triển. Thứ nhất là thu nhập bình quân tính trên đầu người từ 835 USD của năm
2007 tăng lên 960 USD vào năm 2008 (đạt hơn 90% so với kế hoạch) và đạt khoảng
1.100 USD vào năm 2009. “Như vậy, so với kế hoạch 5 năm là 1.050 - 1.100
USD/người vào 2010 thì chúng ta hoàn thành kế hoạch trước một năm”, Thủ tướng
phát biểu: “Các DN cần có hệ thống QTNS với những chính sách về tuyển dụng, đào
tạo, trả lương, khen thưởng, đánh giá mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay
của DN”.

Về chính sách tuyển dụng, DN cần phải chuẩn bị kỹ, thực hiện tốt quá trình tuyển
chọn các ứng cử viên nhằm tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu
chuẩn thích hợp cho các vị trí và các chức danh cần người trong DN. DN có thể trực
tiếp tuyển dụng các nguồn từ bên ngoài và trong nội bộ DN hoặc có thể áp dụng các
giải pháp thay thế tuyển dụng. Các giải pháp thay thế tuyển dụng thường được áp
dụng là: Giờ phụ trội, hợp đồng thuê gia công, thuê lao động thời vụ, thuê lao động
của DN khác. Mỗi giải pháp tuyển dụng có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì
vậy, DN cần phải xem xét khi áp dụng các giải pháp này phải phù hợp với điều kiện
của DN.
-Về đào tạo và phát triển nhân sự: Dựa trên những mục tiêu và để thực hiện các mục
tiêu của DN, DN cần phải đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, giúp họ hoàn thành
tốt nhất công việc được giao và nâng cao trình độ bản thân. Sau khi phân tích và xác
định nhu cầu đào taọ công nhân kỹ thuật và phát triển năng lực cho các nhà quản trị
DN thì vấn đề tiếp theo là xác định các hình thức đào tạo với các chương trình, nội
dung và phương pháp đào tạo thích hợp. Đây là vấn đề quan trọng, đòi hỏi bộ phận
QTNS DN phải hết sức thận trọng vì tất cả các chi phí đào tạo đều tính vào chi phí sản
xuất kinh doanh của DN và phải được hoàn lại. DN có thể áp dụng một trong các hình
thức đào tạo với các chương trình và phương pháp đào tạo phổ biến như: đào tạo tại
nơi làm việc, đào tạo ngoài nơi làm, tại các trường, các lớp đào tạo, huấn luyện nâng
cao tay nghề và nâng cao năng lực cho quản trị gia, đào tạo tại các trường đại học.

-Về đánh giá năng lực thực hiện công việc và thù lao cho người lao động: Các nhà
QTNS phải kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao
động để đưa ra mức thù lao hợp lý theo quy định của Luật Lao động và chính sách
tiền lương mà Nhà nước ban hành; tổ chức huấn luyện những người làm công tác
đánh giá. Hiệu quả của công tác đánh giá năng lực thực hiện công việc phụ thuộc
nhiều vào những người làm công tác đánh giá. Do đó những người này phải được
huấn luyện kỹ năng và nghệ thuật đánh giá để đảm bảo hiệu quả của đánh giá...

5. Tỷ giá hối đoái

Tại Việt Nam, tuần qua, tỷ giá niêm yết mua, bán VND/USD của các ngân hàng
thương mại ở sát mức trần cho phép, phổ biến quanh mức 17.814-17.817 đồng/USD.
Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá.




Tỷ giá hối đoái khó có thể biến động trong thời gian từ nay đến cuối năm và dự báo
chỉ xoay quanh mức gần 17.000 VND/USD.

Chỉ sau hai tuần biến động nhẹ, tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do giao dịch trong
ngày cuối tuần bắt đầu có chiều hướng giảm dần, hoạt động mua - bán cũng trầm lắng
hẳn. Tỷ giá hối đoái chào mua sáng ngày 31/10 tại TP.HCM chỉ còn 16.860
VND/USD, giảm hơn 140 VND/USD.

Tỷ giá hối đoái ngày 21/9/2009: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của Đồng Việt Nam với Đô la
Mỹ, áp dụng cho ngày 21/9/2009.
1 Đô la Mỹ
16.988,00 Đồng Việt Nam
=
Mười sáu nghìn chín trăm tám mươi tám Đồng
Bằng chữ
Việt Nam
Số văn bản 458/TB-NHNN
Ngày ban
18/09/2009
hành

Thực tế, thời gian gần đây, tỷ giá hối đoái giao dịch trên thị trường ngoại tệ luôn đứng
ở mức cao so với tỷ giá niêm yết tại hệ thống ngân hàng thương mại. Chẳng hạn, trong
ngày 30/7, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do là 18.530 - 18.550, trong khi tỷ giá
niêm yết tại hệ thống ngân hàng thương mại là 17.810 (kịch trần so với biên độ cho
phép).

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra không ít biện pháp chấn chỉnh, nhằm bình ổn
thị trường ngoại hối, nhưng xem ra khó có thể chấm dứt ngay tình trạng trên.

Đầu giờ sáng nay (24/2), tỷ giá USD trên thị trường tự do đã được đẩy lên 17.670
VND/USD (mua vào) và 17.720 VND/USD (bán ra). Đến chiều cùng ngày, giá USD
vẫn tiếp tục nhích lên ở mức 17.680 đồng (mua vào) và 17.730 đồng (bán ra). Như
vậy, so với ngày 23/2, giá USD trên thị trường tự do tăng 80 đồng mỗi USD.


Trong khi đó, trên thị trường liên ngân hàng, giá USD vẫn ổn định. Giá USD do
NHNN công bố ngày 24/2 là 16.971 VND/USD, giảm 1 VND/USD so với ngày 23/2.
Tại Vietcombank, giá mua và bán USD cùng niêm yết ở mức 17.480 VND/USD, giảm
1 VND/USD.


Đánh giá diễn biến về thị trường, một chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng, người
dân không nên lưu trữ ngoại tệ để ngăn chặn các hành vi đầu cơ.

Tỷ giá hối đoái sẽ dao động trong khoảng 17.300-18.500 đồng/USD. Đây là dự báo
mới nhất được Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội thuộc Bộ KH-ĐT công
bố.
Trong khi đó, diễn biến tỷ giá USD trên thị trường tự do trong nước những ngày gần
đây liên tục tăng lên. Trên thị trường ngân hàng, giá USD cũng điều chỉnh giảm. Giá
USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 18/2/2009 là 16.978 VND/USD, giảm 2
VND/USD so với hôm trước.
Thực tế cho thấy, thâm hụt thương mại lớn thường xuất phát từ hai nguyên nhân chủ
yếu:

Một là , đồng nội tệ lên giá dẫn dến khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.
Hai là, luồng vốn nước ngoài đổ vào nhiều, cung tiền tăng nhanh kéo theo cầu hàng
hoá tăng trong khi cung hàng hoá trong nước không đáp ứng được dẫn đến áp lực
buộc phải nhập khẩu. Để xác định được nguyên nhân chính, cần phải có sự xem xét
thấu đáo đối với tỷ giá hối đoái.
Trong bối cảnh tỷ giá hối đoái VND/USD và lãi suất có những biến động bất lợi cho
xuất khẩu, để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đề ra, cần phải có những
giải pháp kịp thời nhằm tháo gỡ và chia sẻ những khó khăn với các doanh nghiệp xuất
khẩu.
- Trước hết, về tỷ giá hối đoái: Trong điều kiện thâm hụt thương mại đang rất lớn, việc
nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái cần được cân nhắc thận trọng, tránh để VND tăng giá
quá mức vì điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu nhưng lại kích
thích nhập khẩu.

Mặt khác, cũng cần thấy rằng khi thắt chặt tiền tệ thì lãi suất VND sẽ tăng và do đó,
VND sẽ tăng giá. Chỉ nên xem biên độ tỷ giá hối đoái là khung điều hành của NHNN,
và là dấu hiệu can thiệp của NHNN đối với thị trường hối đoái. Đồng thời, cần cho
phép tất cả các NHTM mua- bán ngoại tệ tự do theo nhu cầu kinh doanh như mô hình
thí điểm tại EXIMBANK hiện nay;

- Thứ hai là, cần giám sát chặt chẽ tín dụng thương mại, vay nợ nước ngoài để nhập
khẩu hàng hoá, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp thương mại, kể cả các khoản
tín dụng phi chính thức, cho vay mua hàng trả chậm,… nhằm hạn chế các kênh nhập
khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng lên rất nhanh.
- Thứ ba là, cần nghiên cứu áp dụng hình thức đánh thuế đối với các khoản lợi tức từ
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ngắn hạn (dưới 1 năm) với các mức thuế suất khác
nhau theo từng kỳ hạn.

Trong trường hợp này, thuế suất được xem là bộ lọc nhằm khuyến khích những luồng
vốn tốt, đầu tư lâu dài và hạn chế các hoạt động đầu cơ ngắn hạn; đồng thời ngăn ngừa
rủi ro đào thoát luồng vốn đột ngột. Mức thuế ban đầu chỉ nên ở mức vừa đủ để có
hiệu lực điều tiết và tăng dần trong dài hạn tuỳ theo diễn biến của thị trường.

- Thứ tư là, cần tăng cường các biện pháp kiểm soát nhập khẩu qua biên giới. Khối
lượng hàng tiêu dùng nhập khẩu qua biên giới đã tăng lên nhanh chóng trong những
năm qua.

Trong phiên thảo luận đầu tiên tại diễn đàn “Lựa chọn tài chính cho sự phát triển”,
Việt Nam tập trung vào các giải pháp tài chính chủ yếu: tiếp tục thực hiện chính sách
tài chính-tiền tệ thắt chặt; tăng cường kiểm tra, giám sát hệ thống ngân hàng và các
định chế tài chính để tránh rủi ro hệ thống; tập trung nâng cao tín dụng bất động sản;
đẩy mạnh cải cách hành chính…

Ngoài việc tập trung thảo luận những mục tiêu trọng tâm Chính phủ đề ra trong thời
gian tới như trên, diễn đàn lần này cũng đã bàn về các vấn đề xây dựng cơ bản và đào
tạo nguồn nhân lực.
Nếu sống trong một thế giới lý tưởng, bạn có thể thuê được những nhân viên có đủ
năng lực và kỹ năng để đáp ứng ngay nhu cầu của tổ chức. Nhưng trong thị trường lao
động cạnh tranh ngày nay, nhu cầu có được những nhân viên có đủ kỹ năng vượt quá
khả năng cung cấp. Đó là lúc cần có sự đào tạo.
Việc đào tạo không chỉ trang bị cho nhân viên những kỹ năng nghề nghiệp mà điều
này cũng chỉ ra rằng bạn đang đầu tư vào họ và tạo điều kiện để họ sát cánh với tổ
chức. Nhân viên cũng sẽ cảm thấy được khuyến khích và có động lực hơn.
“Đào tạo nhân lực có kỹ năng cũng đang là một trong những ưu tiên hàng đầu của
Chính phủ Việt Nam hiện nay. Chiến lược này nhằm thu hút đầu tư nước ngoài trong
các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Với lợi thế về nguồn lao động
trẻ, rẻ, cần cù, chịu khó lao động, học vấn phổ thông tương đối tốt, Chính phủ đang
chỉ đạo quyết liệt công tác đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội, mà chủ yếu là nhân
lực, cho các doanh nghiệp”. Để tổ chức thành công một chương trình đào tạo lãnh đạo
các tổ chức cần lưu ý những điểm sau:
* Xem đào tạo là sự đầu tư
Lí do khiến việc đào tạo thường được xem là không bắt buộc ở nhiều tổ chức là vì
người ta nghĩ đó là chi phí hơn là một sự đầu tư. Đúng là việc đào tạo có thể phải bỏ
ra chi phí trước mắt, nhưng nó là một sự đầu tư lâu dài trong sự phát triển nguồn nhân
lực của tổ chức.
* Xác định nhu cầu
Vì chúng ta không có thời gian hoặc kinh phí vô tận cho việc tổ chức một chương
trình đào tạo, do đó, việc xác định nên tập trung vào chương trình đào tạo nào là rất
quan trọng. Xác định những kỹ năng nào là thích hợp nhất với nhu cầu hiện tại và
tương lai của tổ chức, và sẽ mang lại lợi nhuận lớn nhất. Hãy tự hỏi: "Chương trình
đào tạo như thế nào sẽ thực sự có lợi cho tổ chức?"
* Xây dựng một văn hoá học tập
Trong nền kinh tế cạnh tranh ngày nay, nếu một tổ chức không học tập, nó sẽ tụt hậu.
Một tổ chức học tập khi con người trong đó học tập. Truyền đạt mong ước của bạn
rằng nhân viên nên tiến hành các bước cần thiết để mài giũa những kỹ năng và duy trì
vị trí hàng đầu trong nghề nghiệp hoặc lĩnh vực của mình. Hãy chắc chắn rằng bạn hỗ
trợ những nỗ lực này bằng cách tạo điều kiện để họ hoàn thành mục tiêu.
* Tập hợp ý kiến
Khi bạn lên danh sách những kỹ năng hoặc lĩnh vực ưu tiên cần đào tạo để đáp ứng
nhu cầu của tổ chức, tập hợp các ý kiến của nhân viên xem cách đào tạo như thế nào,
thời gian bao lâu, được tổ chức ra sao
* Bắt đầu với một nhóm nhỏ
Trước khi tổ chức chương trình đào tạo cho hàng loạt nhân viên, hãy thử tập với một
nhóm nhỏ và hỏi ý kiến nhận xét phản hồi. Những thông tin phản hồi này sẽ thể hiện
những điểm yếu trong chương trình đào tạo và giúp bạn điều chỉnh cho phù hợp.
* Lựa chọn người hướng dẫn và tài liệu
Người bạn chọn để tổ chức một chương trình đào tạo sẽ tạo ra sự khác biệt cho dù đó
là một người huấn luyện chuyên nghiệp hay đó chỉ là một thành viên trong tổ chức có
kiến thức và hiểu biết. Có được những tài liệu đào tạo tốt cũng rất quan trọng - sau
khoá đào tạo, những tài liệu này sẽ trở thành những nguồn tư liệu tham khảo rất giá
trị cho nhân viên.
* Tìm một địa điểm phù hợp
Lựa chọn một vị trí đào tạo thuận lợi nhất cho việc học tập. Chọn một nơi yên tĩnh và
thuận tiện cho việc ghi chép, lật giở tài liệu... Hãy nhớ rằng địa điểm đào tạo đó phải
được trang bị các thiết bị cần thiết như máy tính, máy chiếu nếu cần để trình bày bài
giảng dễ dàng hơn.
*Làm rõ các mối liên hệ
Một số nhân viên có thể cảm thấy việc đào tạo mà họ đang tham gia không liên quan
gì đến công việc của họ. Do đó, làm cho họ hiểu sự liên hệ ngay giữa việc đào tạo và
công việc của họ ngay từ đầu là rất quan trọng. Nhân viên sẽ không cảm thấy việc đào
tạo này đang lãng phí thời gian vô ích. Nhân viên cũng nên xem việc đào tạo như một
sự bổ sung quan trọng vào hồ sơ lí lịch của mình. Nhớ là sẽ khen thưởng những người
đạt được thành tích tốt sau khi kết thúc chương trình đào tạo.
* Không giới hạn việc đào tạo
Đừng giới hạn việc đào tạo chỉ dành cho nhân viên mới. Các chương trình đào tạo có
kế hoạch sẽ duy trì và nâng cao các cấp độ kỹ năng của tất cả nhân viên, cũng như
khuyến khích họ phát triển một cách chuyên nghiệp.
* Đánh giá kết quả
Nếu không có những kết quả có thể đánh giá được, sẽ không thể xem việc đào tạo này
là gì khác ngoài việc phải bỏ ra chi phí. Hãy xác định xem bạn đã giành được những
lợi ích đầu tư như thế nào. Bạn sẽ gây quỹ cho việc đào tạo trong tương lai nếu bạn
chứng tỏ rằng việc đào tạo lần này mang lại kết quả.

6. Chỉ số tiêu dùng

Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu như giá
cả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế. Chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ và cho biết liệu
nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảm phát hay không. Bên cạnh dấu hiệu khả quan về
tốc độ tăng trưởng GDP 2009 ước đạt 5 - 5,2% (vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra) thì nguy
cơ mặt bằng giá tăng đang hiện hữu nếu chúng ta không có những biện pháp điều
hành linh hoạt về tài chính, tiền tệ…
CPI được hình thành từ các thông tin chi tiêu của hàng nghìn hộ gia đình trên toàn
quốc. Thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của các đối
tượng lựa chọn để nghiên cứu. Rổ hàng hoá dịch vụ được sử dụng để tính bao gồm
hơn 200 danh mục, thuộc 8 nhóm: thực phẩm và đồ uống, nhà đất, may mặc, vận tải,
chăm sóc sức khoẻ, giải trí, giáo dục và truyền thông, và một số loại hàng hoá dịch vụ
khác. Giá cả của khoảng 800.000 hàng hoá dịch vụ trong rổ tính được thu thập hàng
tháng từ hàng ngàn các cửa hàng bán lẻ, các nhà cung cấp dịch vụ, các công ty cho
thuê nhà đất và các phòng khám sức khỏe.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 đột ngột tăng mạnh. Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số
giá tiêu dùng tháng 9 tăng 0,62% so với tháng 8, tăng 2,42% so với tháng 9 năm ngoái
và tăng 4,11% so với tháng 12 năm ngoái.

Như vậy, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 đã đột ngột tăng mạnh sau nhiều tháng liên tiếp
tăng chậm, đưa chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng qua tăng 7,64 % so với cùng kỳ năm
ngoái.

Nguyên nhân là nhu cầu chi tiêu của người dân tăng mạnh trong dịp nghỉ lễ Quốc
khánh 2/9, Rằm tháng 7 và ngày khai giảng, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, bước vào năm học mới 2009-2010, hầu hết
các trường và cơ sở dạy nghề đồng loạt điều chỉnh học phí, tăng trên 20% lên mức
trần theo khung giá quy định nên nhóm giáo dục tăng rõ rệt. Ngoài ra, việc tín dụng
tăng trưởng rõ rệt, giá bất động sản tại các thành phố lớn đều tăng trên 20% đã khiến
nhóm nhà ở tăng cao.
CPI và thị trường

Thay đổi của giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các
chứng khoán có lãi suất cố định. Nếu giá cả tăng, các khoản lãi cố định sẽ có giá trị
thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán. Lạm phát cũng
sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì chúng là các khoản tiền
trả cố định. Những người hưởng lương hưu sẽ phải nhìn đồng tiền của họ "biến mất"
dần dần vì giảm sức mua theo thời gian.

Biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty. Người ta thường kì vọng
mức độ lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, tuy nhiên nếu giá cả của các
yếu tố đầu vào tăng quá nhanh các nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi nhuận. Mặt khác giảm
phát chắc chắn sẽ dẫn tới giảm mức cầu của người tiêu dùng. Trong trường hợp này
các nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán được hàng, tuy nhiên giá cả các yếu tố đầu
vào có thể không giảm một lượng tương ứng. Vì thế biên lợi nhuận của nhà sản xuất
cũng sẽ bị ảnh hưởng. Cái quan trọng nhất hiện nay là phải đảm bảo cung cầu hàng
hóa, nhất là những hàng hóa thiết yếu. Nếu trong nước sản xuất không đủ thì phải tăng
cường nhập khẩu để đáp ứng cầu. Một giải pháp quan trọng khác nữa là kiểm soát tiền
tệ thông qua lãi suất ngân hàng. Ngoài ra, còn có biện pháp điều chỉnh về thuế. Tinh
thần của Chính phủ là chỉ đạo quyết liệt để làm sao kìm chế mức tăng chỉ số giá cả
thấp hơn tốc độ phát triển kinh tế.




% Chỉ số giá tháng 9 năm 2009 so với Bình quân 9
tháng đầu năm
2009 so với 9
tháng đầu năm
2008
Kỳ gốc năm 2005 Tháng 9 Tháng 12 năm Tháng 9 năm 2009
năm 2008 2008
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 152,07 102,42 104,11 100,62 107,64
I, Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 175,95 101,79 102,42 100,05 110,35
Trong đó: 1- Lương thực 188,07 91,33 98,41 99,15 106,34
2- Thực phẩm 167,52 103,96 102,23 100,17 109,79
3, Ăn uống ngoài gia đình 186,44 110,28 107,92 100,77 117,92
II, Đồ uống và thuốc lá 138,06 108,31 105,91 100,75 110,25
III, May mặc, mũ nón, giầy dép 134,30 107,30 104,58 100,67 109,72
IV, Nhà ở và vật liệu xây dựng (*) 151,09 100,71 109,60 100,87 102,09
V, Thiết bị và đồ dùng gia đình 132,92 106,31 104,22 100,37 109,61
VI, Dược phẩm, y tế 126,93 103,79 102,55 100,19 107,06
VII, Phương tiện đi lại, bưu điện 131,12 93,82 106,27 102,37 96,24
Trong đó: Bưu chính viễn thông 74,33 88,89 94,78 99,97 90,18
VIII, Giáo dục 121,28 106,18 105,14 104,33 105,59
IX, Văn hoá, thể thao, giải trí 119,15 103,33 101,98 100,25 106,83
X, Đồ dùng và dịch vụ khác 145,95 111,22 109,03 100,48 111,43
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 252,53 126,06 128,65 102,04 111,17
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 114,45 109,52 106,12 99,77 109,08
Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2009 tăng 0,24%
so với tháng trước đó.Như vậy, đây là tháng thứ hai liên tiếp, tốc độ tăng của chỉ số
giá tiêu dùng thấp hơn tháng trước đó (tháng 4 tăng 0,35%, tháng 5 tăng 0,44%; tháng
6 tăng 0,55%; tháng 7 tăng 0,52%).Ở các mốc so sánh khác, diễn biến chỉ số giá tháng
này đều tỏ ra “lạc quan” hơn so với những gì nó thể hiện từ đầu quý 2/2009. So với
tháng 12/2008, CPI tháng 8/2009 tăng 3,47%; so với cùng kỳ năm trước tăng 1,97%.
CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2009 so với cùng giai đoạn của năm 2008 tăng
8,31%.Theo một số chuyên gia trong ngành, có hai nguyên nhân chủ yếu đẩy CPI
tháng này tăng so với tháng trước:

Thứ nhất là do tác động của tăng giá xăng dầu vào ngày 9/8, gián tiếp tăng chi phí vận
tải.

Thứ hai, chu kỳ tính CPI tháng này rơi vào khoảng thời gian chuẩn bị cho năm học
mới của học sinh, sinh viên.Dưới tác động của tăng giá xăng dầu, chỉ số giá nhóm
phương tiện đi lại, bưu điện đã dẫn đầu đà tăng trong tháng này, khi đạt mức 1,31%.
Nhưng đây cũng là nhóm duy nhất tăng trên 1%.

Chịu tác động gián tiếp từ chi phí vận tải tăng, nhưng các nhóm còn lại có mức tăng
thấp hơn. Riêng nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có thêm tác động từ tăng giá gas, sắt
thép… đứng thứ hai về tốc độ tăng giá khi đạt 0,93%.

Việc tăng sức mua các mặt hàng phục vụ khai giảng cũng đẩy chỉ số giá một số nhóm
hàng tăng, dù biên độ là không lớn. Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép
tháng này đã tăng 0,52%. Giá sách giáo khoa và thiết bị, đồ dùng học tập tăng tại một
số thành phố cũng đẩy nhóm giáo dục tăng nhẹ, 0,15%.

Ngược với xu hướng giá của 9 nhóm hàng hóa dịch vụ khác, lực kìm hãm đà tăng của
chỉ số giá tháng này lại đến từ nhóm hàng “chủ lực” - hàng ăn và dịch vụ ăn uống.

So với tháng trước, CPI nhóm này đã giảm 0,08% với sự “đóng góp” của chỉ số giá
mặt hàng lương thực giảm 0,42%, thực phẩm giảm 0,09%. Riêng ăn uống ngoài gia
đình tăng 0,35%.
Với diễn biến chỉ số giá tháng 8 này, nhận định gần đây của một số chuyên gia về khả
năng lạm phát tăng không quá 7% trong năm nay tiếp tục được củng cố. Không có
cách gi hơn chúng ta phải vạch ra những biện pháp để kiềm chế sự tăng giá. Theo ông
Nguyễn Tiến Thỏa- Cục trưởng Cục quản lý giá, Bộ Tài Chính: Có tới 8 biện pháp kể
cả vĩ mô và vi mô để kiềm chế tăng giá, trong đó biện pháp đầu tiên không bao giờ
được quên là đảm bảo cân đối vĩ mô, cung cầu ổn định. Ví dụ đàn gia súc gia cầm
đang bị suy giảm, cung thấp hơn cầu thì chúng ta phải tìm nguồn thay thế như: Nhà
nước khuyến khích nhập khẩu, thực hiện các chính sách khuyến khích sự phát triển
của gia súc, gia cầm sạch...

Bên cạnh đó là chính sách tiền tệ. Chúng ta phải kiểm soát ngay tác động của việc
tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng kể từ đầu tháng 6. Nếu lượng ngoại hối
tiếp tục tăng thì cần xử lý linh hoạt, tránh việc kiềm chế tăng trưởng kinh tế.

Việc cân đối ngân sách cũng cần đặc biệt quan tâm, một số mặt hàng quan trọng tác
động lớn đến sản xuất và sinh hoạt cần cân nhắc điều chỉnh giá hợp lý. Chẳng hạn
than, dầu đều phải tạm thời lùi việc tăng giá, xăng cũng có kiềm chế nhất định...; nước
sạch, điện, cước vận tải hành khách công cộng...tạm thời không điều chỉnh...

Về vi mô, các hiệp hội, doanh nghiệp phải tự tính toán để tiết kiệm đầu vào, hạ giá
thành sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, các đơn vị kinh doanh thép,
gas báo cáo về hoạt động kinh doanh và nếu phát hiện thấy dấu hiệu bất hợp lý thì sẽ
kịp thời điều chỉnh.
Trong nền kinh tế thị trường với xu hướng hội nhập hiện nay, mối quan tâm hàng đầu
của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp là duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh cuả sản
phẩm, duy trì và mở rộng thị phần. Để thực hiện được các việc này thành công, thì
người điều hành doanh nghiệp phải giỏi về quản trị doanh nghiệp, nhà quản trị doanh
nghiệp phải thực hiện nhiệm vụ là xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, phải
nhạy bén với tín hiệu cuả thị trường, phải kiểm soát được rủi ro, phải xác định được
mô hình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp và điều
hành mọi người thực hiện để đạt được mục tiêu chiến lược cuả doanh nghiệp.
Bill Gate đã từng nói: Một người giỏi không phải là một người tự mình làm mà phải
biết lèo lái cho mọi người cùng làm dưới sự hướng dẫn cuả mình.
Để có được những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp giỏi thì việc hiển nhiên là phải đaò
tạo và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải học, mà không phải chỉ học một lần mà
phải dành thời gian để bổ sung, cập nhật kiến thức vì nền kinh tế cuả ta đang hội nhập
và luôn đổi mới.
Có thực trạng là những cơ sở đào tạo sẵn sàng tổ chức lớp học, nhưng nhà lãnh đạo
doanh nghiệp ít dự học, cũng như ít cử người dự học. Có thể do họ ít người nên chủ
yếu dành thời gian cho công việc hàng ngày, có thể do họ tiếc tiền học phí, có thể do
họ chưa thấy được tầm quan trọng cuả quản trị doanh nghiệp. Do đó, hình thức để
việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp là các
hội thảo về quản trị doanh nghiệp, vừa có tính lý luận vừa mang tính thực tiễn để thu
hút các doanh nghiệp tham gia, về kinh phí có thể đề nghị các cấp có thẩm quyền hỗ
trợ hoặc đề nghị tài trợ, tại diễn đàn nên gợi ý cho các đơn vị là các cơ sở đào tạo hoặc
các cơ quan quản lý doanh nghiệp tổ chức các hội thảo này cho địa phương cuả mình,
thiết nghĩ các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để tăng cường năng lực quản trị doanh
nghiệp cuả mình. Quản lý nhân viên (QLNV) là một lãnh vực về quản lý khá phức
tạp. Ban/Phòng Nhân viên không những phải luôn luôn nắm vững tình hình biến đổi
liên tục về số người xí nghiệp sử dụng, mà còn phải luôn luôn giải quyết các vấn đề
tuyển chọn, huấn luyện, điều động, thăng thưởng, kỹ luật, lương bổng, quyền lợi của
nhân viên xí nghiệp
Trong lãnh vực QLNV, huấn luyện là một bộ phận rất quan trọng. Với đà phát triển
của khoa học kỹ thuật hiện nay nói chung, và của IT đặc biệt nói riêng, việc huấn
luyện nhân viên một cách thường xuyên đã trở thành một quy luật cho tất cả các xí
nghiệp. Không những nhân viên của xí nghiệp cần phải luôn luôn được trang bị kiến
thức mới về chuyên môn mà họ còn cần phải được cập nhật không ngừng về những
đòi hỏi mới và ngày càng nhiều của hệ thống pháp luật liên quan đến ngành hoạt động
của xí nghiệp, nhất là những quy định về môi trường, và sức khoẻ và an toàn lao động
(environment, and occupational health and safety).
C. KẾT BÀI



Để đạt được mục tiêu và thực hiện các kế hoạch chiến lược bạn cần phải liên kết chặt
chẽ các chính sách nhân sự và các thủ tục với mục tiêu kinh doanh. Chẳng hạn bạn
cần biết rõ khi nào và tại sao phải tuyển dụng nhân viên, bạn mong đợi những gì ở họ,
bạn sẽ khen thưởng hoặc kỷ luật nhân viên thế nào để họ phải đạt được các mục đích
chiến lược kinh doanh.
Bạn, với tư cách là chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa (giám đốc hoặc lãnh đạo ban quản
lý) có trách nhiệm không ngừng chỉ rõ và truyền đạt những mục tiêu kinh doanh cho
tất cả các nhân viên trong doanh nghiệp. Bạn cũng phải tạo điều kiện để cán bộ
chuyên môn và nhân viên làm việc vì những mục tiêu này bằng cách xây dựng những
hệ thống trong công ty: quy tắc làm việc, hệ thống lương bổng, phương pháp đánh giá
hiệu quả làm việc, biện pháp khen thưởng và kỷ luật.
"Nhân sự là chìa khóa thành công của mọi doanh nghiệp". Nhưng để quản lý có hiệu
quả nguồn nhân lực thật không đơn giản, điều đó đòi hỏi nghệ thuật của người lãnh
đạo. Với những giải pháp nêu trên, cùng với khả năng cố gắng, kinh nghiệm và sự học
hỏi, không ngừng tiếp cận tri thức mới của các nhà QTNS. Hy vọng rằng công tác
QTNS trong các DN ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ có những kết quả đáng ghi
nhận.




.

Top Download Quản Trị Kinh Doanh

Xem thêm »

Tài Liệu Quản trị kinh doanh Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản