Bài tiểu luận "Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam"

Chia sẻ: hoadainb90

Tham khảo luận văn - đề án 'bài tiểu luận "thực trạng bất bình đẳng giới ở việt nam"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bài tiểu luận "Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam"

Bài tiểu luận

Thực trạng bất bình đẳng giới ở
Việt Nam
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ......................................................................5
2. Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới ....................................6
Bảng 1. So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI ..................................7
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ...............................9
Bảng 2. Bảng số liệu: SRB ở Việt Nam, 2005 – 2009. .................................10
Bảng 4: Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp .........................12
Bảng 7: Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ trong các trường cao đẳng, đại học (%)
...................................................................................................................15
Bảng 11: Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học.......................16
Nguồn: Hội đồng chức danh giáo sư, Bộ Giáo dục-Đào tạo qua các năm ..16
Bảng 7: Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên có việc làm (%) ......................18
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ............................................20
KẾT LUẬN .................................................................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................25
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Theo số liệu thống kê của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFP), dân
số thế giới đã lên đến 6,5 tỉ người (năm 2005). Mỗi ngày có hơn 70.000 nữ
thanh thiếu niên kết hôn và khoảng 40.000 phụ nữ sinh con. Ở Việt Nam,
theo số liệu thống kê năm 2005, dân số đã lên tới hơn 82 triệu người, tăng
1,43% so với năm trước đó. Trong đó phụ nữ chiếm 51,8% dân số và 52%
lực lượng lao động. Tuy nhiên, sự mất bình đẳng nam - nữ trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng trong nhiều lĩnh vực vẫn đang là thực tế.

Ở nước ta hiện nay, tuy đã bước vào một thời đại mới, bước vào một
kỷ nguyên mới, nhưng hiện tượng phụ nữ bị đánh đập, bị lạm dụng… vẫn
đang diễn ra khá phổ biến. Vấn đề bất bình đẳng giới cũng như vấn đề giải
phóng phụ nữ được nhà nước ta, các ban ngành và toàn xã hội quan tâm sâu
sắc.

Đây không phải là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng cũng không phải là
vấn đề cũ kỹ và có lẽ sẽ không bao giờ là một vấn đề bị coi là “lỗi thời”. Khi
chọn đề tài này tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giới
ở Việt Nam hiện nay, và xin đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tình
trạng này.

2. Đối tưởng nghiên cứu của đề tài

Hiện nay với sự phát triển và hào nhập với kinh tế thế giới, kinh tế Việt
Nam đã có những bước phát triển vượt bậc từ đó đời sống an sinh xã hội
từng bước đi vào ổn định. Song bên cạnh đó bất bình đẳng giới vẫn tồn tại
trong xã hội Việt Nam.
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu về vấn đề này, mặt
khác như chúng ta c ũng nhận thấy, trên các phương tiện thông tin đại chúng
như đài, báo, truyền hình… luôn đăng tải các nghiên cứu, các cuộc khảo sát
cũng như nhiều thông tin về vấn đề bất bình đẳng giới. Rất nhiều ý kiến
khác nhau về thực trạng bất bình đẳng giới ở nước ta hiện nay, vì vậy tôi xin
đi sâu nghiên cứu về thực trạng bất bình đẳng giới của nước ta hiện nay từ
đó tìm nguyên nhân về hiện tượng bất bình đẳng giới và nêu một số giải
pháp nhằm hạn chế hiện tưởng bất bình đẳng giới ở Việt Nam.

3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Tôi viết muốn làm rõ khái niệm bình đẳng giới, bất bình đẳng giới, và
nghiên cứu thực trạng bất bình đẳng giới ở nước ta hiện nay nhằm đưa ra
những giải pháp góp phần làm giảm tình trạng này ở Việt Nam .

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài có sử dụng một số phương pháp như: phương pháp điều tra xã hội
học, nghiên cứu tài liệu và quan sát thực tế.

5. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời
gian từ năm 2005 đến năm 2010.

6. Kế cấu nội dung của đề tài

Chương 1. Cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản về bất bình đẳng giới.

Chương 2. Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian từ năm
2005 đến năm 2010.

Chương 3. Một số giải pháp hạn chế bất bình đẳng giới ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Một số khái niệm

Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ
vọng liên quan đến nam và nữ. Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trò
quyết định đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ
trong xã hội và trong nền kinh tế. Giới chỉ khác biệt về xã hội và quan hệ về
quyền lực giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới được hình
thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và
thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ rang
trong vui chơi, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn và thuận lợi của các giới tính.

Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 5 của Luật bình đẳng
giới thì: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được
tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát
triển của cộng đồng về thành quả của phát triển đó. Bình đẳng giới đề cập tới
sự bình đẳng về quyền, trách nhiệm và cơ hội của nam giới và nữ giới, trẻ
em gái và trẻ em trai. Theo Luật Bình đẳng giới, thì mọi người, dù là nam
giới hay phụ nữ, với tư cách là các cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần
được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sắn có của mình cũng như có quyền
thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung như:
- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ
hội...)
- Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn
lực.
- Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...
- Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển.

Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện
và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người đóng
góp và hướng thụ từ sự phát triển của gia đình của đất nước.

2. Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới

Bất bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được
đo bằng các chi tiêu khác nhau. Trong báo cáo phát triển con người của
chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã đưa ra 2 chỉ số:

- Chỉ số phát triển giới (GDI). Chỉ số này phản ánh những thành tựu
trong các khía cạnh tương tự như HDI (tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu
nhập) nhưng lại điều chỉnh các kết quả đó theo bất bình đẳng giới. Trong
mỗi nước, nếu giá trị của GDI càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giới
tính càng ít (trường hợp của Na Uy và Singapore-Bảng 4.9). Nếu thứ hạng
GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng và phát
triển con người giữa nam và nữ (Lucxămbua và Ai Cập Xê út). Ngược lại,
nếu thứ hạng GDI là cao hơn, cho thấy một sự phân phối bình đẳng hơn về
phát triển con người giữa nam và nữ.
Bảng 1. So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI
Một số nước chon lọc-năm 1999

HDI GDI
Tên nước Giá trị Xếp hạng Giá trị Xếp hạng

Na Uy 0.939 1 0.937 1

Xingapo 0.876 26 0.871 26

Lucxămbua 0.924 12 0.907 19

Ai Cập Xê Út 0.74 68 0.719 75


Thái Lan 0.757 66 0.757 58

Xrilanka 0.735 81 0.732 70

Việt Nam 0.682 101 0.680 89

Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2001- NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội 2001.

Xếp hạng theo HDI cho 162 nước, xếp hạng theo GDI cho 146 nước.

- Thước đo vị thế giới (GEM). Thước đo này tập trung xem xét cơ hội
của phụ nữ chứ không phải là khả năng (năng lực) của họ. Nó chỉ ra sự bất
bình đẳng giới trên 3 khía cạnh.

+ Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ
lệ có ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới.
+ Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ
lệ các vị trí lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các
vị trị trong nghành kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm.

+ Quyền đối với các nguồn kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính của phụ
nữ và nam giới (PPP-USD).

Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:

- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ
thuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển.

- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội
cho phụ nữ.

- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bặc về sự bất
bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc
sống và ở các nước trên thế giới.

Vì vậy bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục
tiêu của phát triển, đồng thời là một yếu tố để năng cao khả năng tăng trưởng
của quốc gia và xóa đói giảm nghèo.

Bằng chứng thực tế cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và phát triển của
các nước đang phát triển đang mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bình
đẳng giới trong dài hạn. Tuy nhiên, nếu chỉ có sự tăng trưởng thì sẽ không
tạo ra được kết quả mong muốn mà còn cần có một môi trường thể chế để
mang lại quyền hạn và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới, cần có
những giải pháp chính sách cho phụ nữ và nam giới, cần có những giải pháp
chính sách liên quan đến bất bình đẳng giới.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở

VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực do vậy là bất bình đẳng giới cũng tồn tại ở nhiều ngành nhiều lĩnh
vực. Để tìm hiểu hết thực trạng của bất bình đẳng giới là một điều hết sức
khó khăn nhưng nhìn sâu trong một số lĩnh vực thì chúng ta cũng có thể hiểu
thực trạng của bất bình đẳng giới đang tồn tại trong xã hội của Việt Nam
như thế nào. Sau đây là tìm hiểu về thực trạng bất bình đẳng giới một số
ngành:

1. Tỷ số giới tính khi sinh (SRB)

Tỷ lệ giới tính khi sinh được đo bằng số trẻ sơ sinh trai trên một trăm trẻ
sơ sinh gái được sinh ra. Tỷ lệ này được xem là bình thường khi có 105 đến
108 bé trai được sinh ra so với 100 bé gái, bởi vì tỷ lệ chết ở trẻ trai thường
cao hơn trẻ gái một chút do vậy khi đến tuổi trưởng thành số nam và nữ sẽ
cân bằng nhau. Tỷ số sinh khi sinh có thể coi là một trong các chỉ số để đo vị
thế của phụ nữ ở khía cạnh bất bình đẳng giới, tỷ số này càng cao rõ rang
nhận thấy đây là hậu quả của tư tưởng thích con trai hơn con gái và phá thai
có sự lựa chọn giới tính. Bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ suất này
chênh lệch khỏi mức sinh học bình thường điều này phản ánh những can
thiệp có chủ định ở các mức độ khác nhau đến sự mất cân bằng tư nhiên. Ở
Việt Nam tỷ số giới tính khi sinh tăng rất nhanh trong những năm gần đây
được thể hiện như sau:
Bảng 2. Bảng số liệu: SRB ở Việt Nam, 2005 – 2009.

Năm điều tra Nguồn Thời gian điều tra SRB

Điều tra dân số hàng năm
2005 1/4/2005 106.0

Điều tra dân số hàng năm
2006 1/4/2006 110.0

2007 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2007 111.6

2008 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2008 112.1

Điều tra dân số hàng năm
2009 1/4/2009 110.5
SRB nếu không có sự can thiệp lựa chọn giới tính thường từ 105 đến 108
trẻ trai trên trẻ gái. Trong ba năm từ 2005 đến 2009 tỷ suất giới tính của Việt
Nam gia tăng từ 106 theo điều tra biến động dân số 2005 đến 110.5 vào năm
2009. Kết quả nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội tại
một số địa phương ở khu vực phía Bắc và Duyên hải cho thấy, có tới 16
tỉnh, thành phố có tỷ lệ giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/100 nữ và 20
tỉnh có tỉ lệ 111 nam/100 nữ. Nhưng ngay từ kết quả Tổng điều tra
Dân số năm 1999 ở nước ta cũng đã có dấu hiệu mất cân đối giới tính, đặc
biệt ở một số tỉnh, thành phố có tỷ suất vượt quá ngưỡng tự nhiên. Điển hình
là Thái Bình: tỷ số 120 nam/100 nữ; Kiên Giang: 125 nam/100 nữ, An
Giang: 128 nam/100 nữ. Năm 2010 SRB ở nước ta đang ở vào mức cao,
tăng nhanh, liên tục trong 5 năm qua và có thể vượt ngưỡng 115 trẻ trai/100
trẻ gái trong vòng ba năm tới. Đặc biệt ở nhóm các địa phương vùng đồng
bằng Bắc bộ, nơi người dân khao khát sinh con trai và có phương tiện kỹ
thuật hỗ trợ, tỉ số giới tính khi sinh đã lên đến 130 trẻ trai/100 trẻ gái ở Hưng
Yên, 122 trẻ trai/100 trẻ gái ở Bắc Ninh, 120 trẻ trai/100 trẻ gái ở Hải
Dương. trai dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, nghèo nàn, con cái không
được học SRB ra tăng rất nhanh ở Việt Nam là sự chỉ báo về sự mất cân
bằng giới tính, kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực, tác động xấu đến chất lượng
sống của người dân: làm mất cân bằng nghiêm trọng cơ cấu dân số; các cơ
sở y tế, bói toán hành nghề ăn theo phục vụ nhu cầu sinh con theo ý muốn;
tình trạng nạo phá thai nhi khi kết quả siêu âm, chuẩn đoán cho biết là gái
gia tăng; xu hướng người chồng có quan hệ với những người phụ nữ khác để
tìm con trai, gây tan vỡ hạnh phúc gia đình ngày càng nhiều; mâu thuẫn, bất
hòa, cuộc sống nặng nề ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của nhiều gia
đình, con cái không được dạy dỗ chu đáo, có suy nghĩ lệch lạc, phát triển
không đồng đều, dễ xa vào tệ nạn xã hội; vì cố sinh con hành cũng như
hưởng các điều kiện sống cần thiết…Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong
xã hội chưa thực sự được đề cao, bất bình đẳng giới gia tăng.
2. Bất bình đẳng giới trong chính trị

Ngày nay người phụ nữ không chỉ lo việc bếp núc mà phải đi ra ngoài
làm việc, cuộc sống nâng cao thì cả chồng cả vợ mới có thể đủ khả năng
chăm sóc gia đình và nuôi nấng con cái. Tại công sở, người phụ nữ nếu mà
được những chức vụ cao, những chức vụ khá quan trọng, thì vấn đề bình
đẳng giới tự nhiên bị đặt ra như một rào chắn, hay một vấn đề mà người phụ
nữ đó phải phấn đấu để vượt qua. Để khẳng định được mình trong vị trí lãnh
đạo và quản lý thì thứ nhất bản thân những phụ nữ đó phải có năng lực, phải
có trình độ, được đồng nghiệp tín nhiệm. Thực tế hiện nay nhiều phụ nữ có
năng lực và có trình độ. Nam giới họ cũng khẳng định về năng lực và trình
độ đó. Tuy nhiên do quan niệm cho rằng phụ nữ lãnh đạo thì hiệu quả sẽ
không cao bằng nam giới, nên tỷ lệ phụ nữ có chức vụ cao vẫn còn hạn chế
được thể hiện dưới bảng các bảng số liệu sau đây:



Bảng 4: Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp
Các cấp Khoá 1999-2004 Khoá 2004-2011
Nữ Nam Nữ Nam
22,33 76,67 23,8 76,2
Tỉnh/thành
phố
20,12 79,88 23,2 76,8
Quận/huyện
16,56 83,44 20,1 79,9
Xã/phường


Nguồn: Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004.

Bảng 5: Tỷ lệ nữ chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp
(%)
Nhiệm kỳ 1999-2004 Nhiệm kỳ 2004-2011
Chức Cấp Cấp Cấp Cấp Cấp Cấp
danh tỉnh huyện xã tỉnh huyện xã
1,64 5,46 3,46 1,56 3,92 4,09
Chủ tịch
8,19 11,42 5,57 26,56 19,64 10,61
Phó chủ tịch


Bảng 6: Tỷ lệ nữ cán bộ trong UBND các cấp chia theo giới tính
(%)
Các cấp Nhiệm kỳ 1999-2004 Nhiệm kỳ 2004-2011
Nữ Nam Nữ Nam
Tỉnh/thành
6,4 93,6 8,61 91,39
phố
4,9 95,1 6,40 93,60
Quận/huyện
4,54 95,46 3,99 96,01
Xã/phường
Nguồn: Báo cáo tình hình bình đẳng giới trong quy hoạch, tuyển dụng,
bổ nhiệm cán bộ, công chức, Bộ nội vụ.




Tỷ lệ cán bộ, công chức của nước ta còn rất thấp so với nam giới, hiện
tỷ lệ nữ giới trong Quốc Hội Việt Nam nhiệm kỳ 12 này chiếm 25,8% với
127 đại biểu. Điều này phản ánh cơ hội phấn đấu trong công việc của phụ nữ
thấp hơn rất nhiều so với nam giới, từ tình hình thực tế đã cho thấy sự bất
bình đẳng vẫn còn tồn tại trong hoạt động chính trị. Nhưng so với các nước
khác ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, Việt Nam có tỷ lệ đại biểu nữ
trong Quốc hội cao nhất.
3. Bất bình đẳng giới trong giáo dục
Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung
bình của xã hội.Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng
thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và
đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai
có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất
lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và
kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế. Bình đẳng giới trong giáo dục có
ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai. Khi mức
độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ
nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ nữ trong gia
đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con
cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như
khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn
cho giáo dục đối với con cái. Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng
vai trò quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái. Về lâu
dài, các tác động này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện
và năng suất lao động trung bình của toàn xã hội sẽ được nâng lên.
Tại Việt Nam Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam
giới trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn. Ngân sách nhà
nước chi cho giáo dục qua các năm không ngừng tăng lên: năm 2002 chiếm
16,7%; năm 2005 chiếm 18%; năm 2008 chiếm 20% so với tổng ngân sách.
Mức chi cho giáo dục của Việt Nam cao ngang bằng với một số nước phát
triển. Kết quả của những ưu tiên này đã thu hẹp khoảng cách giới và việc
đầu tư vào con người đã góp phần làm cho Việt Nam đạt được chỉ số phát
triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) khá cao. Tỷ lệ phụ nữ
so với nam giới trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể. Chênh lệch về
tỷ lệ học sinh nam - nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp. Về cơ bản,
Việt Nam có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệt giới ở các cấp học trước
năm 2015. Có bốn loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho
người lớn, trong đó có phụ nữ. Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học
tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước. Nhận thức được thực trạng và
tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc biệt là vai trò của giáo dục đối với xã
hội, ngành Giáo dục & Đào tạo đã thực hiện tương đối tốt vấn đề bình đẳng
giới. Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Đặng Huỳnh Mai đã khẳng định
vai trò to lớn của giới nữ: “Chiếm hơn 70% đội ngũ toàn ngành, giới nữ
đóng vai trò đáng kể vào sự phát triển của sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo
nước nhà”. Một số cơ sở đào tạo lớn vốn có truyền thống nam giới lãnh đạo
như Đại học Bách khoa Hà Nội nay đã có nữ giới giữ vị trí Phó hiệu trưởng.
Nhiều nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, được công
nhận chức danh Phó Giáo sư. Đặc biệt, nhiều học sinh nữ, sinh viên nữ tự
khẳng định vai trò của giới mình bằng cách tích cực học tập và rèn luyện,
đạt kết quả xuất sắc. Trong các kỳ tuyển sinh vào cao đẳng, đại học nhiều
thủ khoa là học sinh nữ. Còn trong các kỳ thi tốt nghiệp, nhiều sinh viên nữ
nhận bằng cử nhân với thành tích xuất sắc: thủ khoa. Ở bậc đại học và cao
đẳng, tỷ lệ sinh viên, học sinh là nữ đang có xu hướng tăng dần đều qua các
năm 2004-2007 (47,79%, 48,49%, 53,32%), trong đó năm học 2006-2007 tỷ
lệ học sinh, sinh viên nữ còn cao hơn tỷ lệ nam học sinh, sinh viên (nữ
53,32%, nam 46,68) (Bảng 7).

Bảng 7: Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ trong các trường cao đẳng, đại học (%)


Bậc học 2004-2005 2005-2006 2006-2007
Các trường đại
46,95 47,23 54,99
học
Các trường cao
50,98 53,09 53,88
đẳng
Chung đại học
47,79 48,49 53,32
và cao đẳng
Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện bình đẳng giới
trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo cũng có những hạn chế như: việc tiếp cận
với giáo dục của trẻ em gái và phụ nữ dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng
xa còn nhiều khó khăn và trở ngại hơn so với các em trai và nam giới, vì phụ
nữ ở những gia đình nghèo và ở những dân tộc thiểu số ít được đi học,
thường phải bắt đầu làm việc từ khi còn ít tuổi, trong khi trẻ em trai có nhiều
cơ hội được đến trường hơn. So với trẻ em trai, trẻ em gái không được đến
trường hoặc phải chịu gánh nặng gấp ba: vừa làm việc nhà, vừa lo học tập ở
trường, vừa phụ giúp gia đình làm kinh tế mà không được trả công. Gánh
nặng kinh tế đặt lên vai phụ nữ ngay từ nhỏ vì thời gian lớn dành cho công
việc phụ giúp gia đình nên thời gian dành cho việc học phải giảm xuống.
Trên bình diện cả nước, khoảng cách bất bình đẳng giới giữa nam và
nữ đang dãn rộng hơn ở các bậc học sau đại học. Mặc dù tỷ lệ nữ có trình độ
sau đại học của Việt Nam đã cao hơn 30%, nhưng vẫn chỉ bằng 1/2 so với
nam giới. Đặc biệt, càng ở trình độ học vấn cao thì mức độ bất bình đẳng
giới lại càng lớn. Tỷ lệ phụ nữ đạt học vị tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, giáo sư
thấp hơn khoảng từ 5 – 18 lần so với nam giới. Năm 2007, tỷ lệ phụ nữ được
phong học hàm phó giáo sư chỉ chiếm 11,67%, trong khi tỷ lệ này của nam
giới là 88,33%. Đối với học hàm giáo sư, phụ nữ chỉ chiếm 5,1%, nam giới
chiếm 94,9%. Học vị tiến sĩ khoa học, nam giới chiếm 90,22%, phụ nữ
chiếm 9,78%; học vị tiến sĩ, nam giới chiếm 82,98% và phụ nữ chỉ chiếm
17,5% (xem bảng 8)
Bảng 11: Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học

Chức danh 1999 2004 2006
Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam
29,11 70,89 39,1 60,9 30,53 69,47
Thạc sĩ
13,04 86,96 17,50 82,50 9,76 90,2
Tiến sĩ khoa học
15,44 84,58 17,02 82,98
Tiến sĩ
4,3 95,70 3,10 96,90 5,10 94.90
Giáo sư

Nguồn: Hội đồng chức danh giáo sư, Bộ Giáo dục-Đào tạo qua các năm

Có thể nói rằng bình đẳng giới trong giáo dục có tầm quan trọng to lớn
đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, có một nhà giáo dục đã viết: Giáo
dục một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ nữ ta
được cả một thế hệ. Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát từ việc
bình đẳng giới trong giáo dục.
4. Bất bình đẳng giới trong kinh tế, lao động – việc làm.
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế
ở mức cao (83% so với nam giới 85%). Phụ nữ đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân; tham gia ngày càng nhiều hơn
trong khu vực phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành và lĩnh vực kinh tế có
yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao. Theo Điều tra lao động – việc làm ngày
18/2007 của Tổng cục thống kê, tỷ lệ lao động nữ đã chiếm 46% trong số
người làm công ăn lương từ các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh; số chủ cơ sở
sản xuất – kinh doanh là nữ chiếm 41,12%; tỷ lệ lao động nữ làm kinh tế hộ
gia đình chiếm 49,42%. Mặc dù các số liệu thống kê cũng chỉ ra có một tỷ lệ
lớn lao động nữ còn làm các công việc giản đơn (53,64%), nhưng tỷ lệ phụ
nữ đang tham gia vào các lĩnh vực vốn được coi là “truyền thống” (công
việc kỹ thuật, quản lý) của nam giới cũng đang dần tăng lên (xem bảng 6 của
Phụ lục). Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên làm công việc khai khoáng chỉ
chiếm 31,1%, trong khi đó nam giới chiếm 68,9%; tham gia hoạt động khoa
học và công nghệ thì nữ chiếm 34% và nam chiếm 66%; quản lý nhà nước
về an ninh, quốc phòng, bảo đảm xã hội thì nữ chiếm 24,7% và nam chiếm
75%. Tuy vậy, có một số công việc vốn được coi là “truyền thống” của phụ
nữ thì tỷ lệ nữ tham gia vẫn còn rất cao. Chẳng hạn, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi
trở lên làm việc trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng chiếm 71,6%, trong khi
nam giới chỉ chiếm 28,4%; giáo dục đào tạo, nữ chiếm 69,2% và nam chiếm
30,8%; y tế và cứu trợ xã hội, nữ chiếm 59,6%, nam chiếm 40,4% .
Bảng 7: Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên có việc làm (%)
Chia theo ngành kinh tế quốc dân Nữ Nam
Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 51,6 48,4
Khai khoáng 31,1 68,9
Công nghiệp chế biến, chế tạo 51,7 48,3
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi 27,4 72,6
nước…
Thương nghiệp, sửa chữa động cơ, xe máy…. 61,5 38,5
Khách sạn, nhà hàng 71,6 28,4
Tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm 52,5 47,5
Hoạt động khoa học, công nghệ 34,0 66,0
Kinh doanh tài sản, dịch vụ hành chính, tư vấn hỗ trợ 42,2 57,8
Quản lý nhà nước về an ninh quốc phòng, bảo đảm xã 24,7 75,3
hội…
Giáo dục và đào tạo 69,2 30,8
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 59,6 40,4
Hoạt động văn hoá thể thao 48,8 51,2
Phục vụ cá nhân, làm thuê công việc gia đình… 45,5 54,5
Làm việc trong các tổ chức quốc tế 51,4 48,2
Tổng số 49,4 50,6
Nguồn: Điều tra lao động – việc làm ngày 1/8/2007 của Tổng cục
thống kê

Nhìn chung, phân bố cơ cấu nam, nữ trong các ngành nghề cho thấy,
nam giới vẫn thường chiếm tỷ lệ cao hơn ở những nhóm việc như công
nhân, lãnh đạo, dịch vụ cá nhân, công việc chuyên môn kỹ thuật và lực
lượng vũ trang. Phụ nữ thường chiếm tỷ lệ cao ở một số nhóm nghề khác
như nông nghiệp, buôn bán nhỏ, nhân viên văn phòng. Mặc dù chưa có số
liệu thống kê chính thức, phụ nữ cũng tham gia rất nhiều vào lực lượng lao
động trong khu vực kinh tế phi chính thức, ước tính khoảng 70% đến 80%.
Về chuyên môn và kỹ năng, tỉ lệ phụ nữ được đào tạo ở tất cả các hình thức
đều thấp hơn nam giới, trong khi tỉ lệ phụ nữ tự học lại cao hơn hẳn nam
giới. Về lương, ba ngành nghề thủy sản, dệt may và da giày có lương gần
thấp nhất lại là ba nghề có số lao động nữ tập trung đông nhất. Tính trên
bình diện chung, lương phụ nữ chỉ bằng 85% lương nam giới, trong đó phụ
nữ làm việc ở nhóm công nghiệp có mức lương bằng 82% lương nam giới,
dịch vụ bằng 75%, thương mại bằng 80%.Về vị thế nghề nghiệp, phụ nữ
được đề nghị tuyển dụng nhiều ở nhóm việc nhân viên, còn nam giới được
đề nghị vào vị trí lãnh đạo nhiều hơn hẳn nữ giới.

Tuy nhiên, điều kiện lao động, thu nhập và an sinh xã hội (bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế) đối với lao động nữ làm việc trong khu vực này còn rất
nhiều hạn chế. Vị thế việc làm của lao động nữ cũng có sự thay đổi tích cực.
Trong 10 năm từ 1997 đến 2007, nhóm lao động làm công ăn lương tăng rất
mạnh trong cơ cấu phân bố lao động, từ 18,6% (1997) lên tới 30% (2007),
trong đó lao động nam chiếm 59,8% và lao động nữ chiếm 40,2% (2007).
Nếu so sánh với năm 2005 thì có sự thay đổi rõ rệt. Năm 2005, tỷ trọng lao
động làm công ăn lương chiếm 25,6%, trong đó lao động nam chiếm 78,7%
và lao động nữ chiếm 21,3%. Tỷ trọng lao động nữ trong số người làm công
ăn lương tăng mạnh (19%), thể hiện sự thay đổi theo hướng giảm sự bất bình
đẳng giới về việc làm có thu nhập ổn định giữa nam và nữ. Đây là một chỉ số
quan trọng để đánh giá tình hình bình đẳng giới của Việt Nam có nhiều tiến
bộ. Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu
vực thành thị cũng có xu hướng giảm nhẹ, từ 4,82% năm 2006, xuống còn
4,64% năm 2007, ước tính năm 2008 là 4,65%, tương ứng với tỷ lệ thất
nghiệp của lao động nữ ở khu vực thành thị là 5,25%; 5,10% và 5,10%.
Nhìn chung, kết quả này đều thực hiện đạt chỉ tiêu phấn đấu đề ra trong
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010.



CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

1. Nguyên nhân dẫn tới bất bình đẳng giới ở Việt Nam.

Thứ nhất, trọng nam khinh nữ là một tư tưởng trong đó coi nam giới là
quan trọng hơn phụ nữ; tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới. Mặc dù hiện nay
quyền phụ nữ được công nhận nhưng tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn
ở một số nước, đặc biệt là gắn liền với các tư tưởng tôn giáo và biểu hiện
dưới nhiều cấp độ khác nhau. Trải qua thời kỳ chi phối lâu dài của học
thuyết Nho giáo, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam là làm sao
phải có con trai để nối dõi dòng tộc, áp lực về con cái, về con nối dõi cứ
truyền từ đời này qua đời khác dần dần ngấm vào tâm khảm nhiều người và
cứ thế tư tưởng trọng nam, khinh nữ ngày càng có chiều hướng gia tăng.

Tư tưởng trọng nam khinh nữ ở nước ta được lý giải dựa trên ảnh hưởng
của tư tưởng Nho giáo và nhận thức của người dân về thực tiễn cuộc sống:
Người đàn ông có trách nhiệm nối dõng dòng họ, sẽ trông nom chăm sóc mồ
mả tổ tiên; không có con trai là một điều bất kính với tổ tiên dòng họ. Nam
giới là nguồn lao động chính, kế thừa tài sản của gia đình và có trách nhiệm
chăm sóc cha mẹ lúc về già. Khi hệ thống phúc lợi xã hội đối với người già
còn chưa phát triển, nhất là tại các vùng nông thôn, nơi 74% dân số đang
sinh sống, con cái chăm sóc cha mẹ già vẫn là hết sức quan trọng. Người già
vẫn đa phần phải dựa vào sự hỗ trợ trong gia đình. Những suy nghĩ, cách
hành xử, sự dạy dỗ có liên quan đến phân biệt, định kiến giới của ông, bà,
cha, mẹ, anh, chị chính là những yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành
quan niệm về giới của mỗi thành viên trong gia đình. Do đó, nếu trong gia
đình có những định kiến giới thì những định kiến này sẽ được lặp lại ở các
thế hệ tiếp theo. Mặt khác, chúng ta đã duy trì được mức sinh thấp kéo dài
liên tục trong nhiều năm. Nhưng từ đó cũng xuất hiện mẫu thuẫn, các gia
đình muốn chỉ có 1-2 con thì trong đó phải có con trai. Vì thế mới có chuyện
cố tình đẻ con trai cho bằng được. Một số ngành nghề đòi hỏi phải có nam
giới, như việc đi biển, con gái thì không thể làm được. Nhưng nguyên nhân
trực tiếp chính là mong muốn có con trai của các gia đình.

Thứ hai, nguyên nhân quan trọng nhất cản trở phân chia bình đẳng công
việc trong gia đình ở Việt Nam là quan niệm xã hội: “Công việc nội trợ là
thiên chức của Phụ nữ’. Không những thế, xã hội còn đánh giá thấp ý nghĩa
của các công việc gia đình làm cho nam giới thiếu động lực trong việc chia
sẻ công việc gia đình với phụ nữ. Vấn đề giải phóng phụ nữ trong gia đình
chưa được đặt một cách tương xứng với yêu cầu đổi mới kinh tế, xã hội,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Phụ nữ phải phụ thuộc, yếu đuối, thụ
động, nam giới là độc lập, mạnh mẽ có năng lực và là người ra quyết
định.Chồng có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng. Nam là trụ cột trong
gia đình, có quyền quyết định những việc lớn quan trọng trong gia đình, nữ
có trách nhiệm nuôi dạy con cái, nội trợ trong nhà. Nam giỏi việc xã hội, nữ
phải giỏi việc nhà.

Thứ ba, nguyên nhân căn bản dẫn tới hiện tượng bất bình đẳng giới là
nhận thức xã hội về vấn đề này chưa thấu đáo, đặc biệt là nhận thức của một
bộ phận cán bộ, công chức, lãnh đạo, quản lý và nhân dân. Mặt nhận thức
của nhân dân còn hạn chế, công tác tuyên truyền bình đẳng giới còn nhiều
hạn chế, chưa thiết thực, chưa phù hợp và chưa đi sát vào dân, nên hiệu quả
nâng cao nhận thức của nhân dân còn hạn chế. Mặt khác, trong Báo cáo về
mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam qua các bằng chứng từ Tổng
điều tra dân số và nhà ở năm 2009, trình độ học vấn của người mẹ quan hệ
tương hỗ chặt chẽ với tỷ số giới tính khi sinh - người phụ nữ càng có học
thức cao thì càng có khả năng và điều kiện lựa chọn sinh con trai. Cụ thể,
nhóm các bà mẹ có trình độ tiểu học và thấp hơn có tỉ lệ đẻ con trai là
107/100 (số nam/nữ), trong khi nhóm trung học phổ thông và học nghề là
111 và con số này ở nhóm chị em có trình độ cao đẳng trở lên là gần 114.
Nhóm phụ nữ có học thức cao thường cũng là nhóm giàu nhất, có mức sinh
thấp, đồng thời cũng có nhiều điều kiện tiếp cận thông tin, công nghệ để lựa
chọn giới tính của con, nên có tỷ lệ đẻ con trai cao hơn trong khi nhóm dân
số nghèo nhất thường có tỷ số giới tính nam - nữ gần với mức bình thường
nhất là 105, trong khi với nhóm dân số giàu thì con số này lên đến 112.

2. Giải pháp khắc phục hạn chế bất bình đẳng giới.

Chính phủ cần sớm nghiên cứu, ban hành chiến lược, chính sách và
mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ
các văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với các nguyên tắc bình
đẳng giới. Chính phủ quan tâm chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan soạn thảo
thực hiện nghiêm túc việc phân tích giới, báo cáo đánh giá tác động c ủa văn
bản quy phạm pháp luật đối với nam và nữ trong quá trình xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật.

Cần sớm tiến hành việc phân bổ kinh phí cho các hoạt động về bình
đẳng giới. Tiếp tục tiến hành lồng ghép giới, đánh giá tác động giới trong
các chính sách, chương trình, đề án về an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo,
đào tạo nghề nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong quá trình tổ chức thực
hiện. Sớm xây dựng và ban hành bộ chỉ số bình đẳng giới trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội để tiến hành thống kê, theo dõi hàng năm nhằm đánh giá
sát thực trạng bình đẳng giới, tạo cơ sở cho việc xây dựng chính sách, pháp
luật.

Để phụ nữ có quyền bình đẳng hơn, cần chú trọng các giải pháp như tạo
thêm việc làm có thu nhập cho phụ nữ, đảm bảo di cư an toàn và đầu tư vào
y tế, giáo dục chất lượng cao.

Cần tăng cường công tác tuyên truyền về giới tính, nhằm nâng cao nhận
thức cho các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên hình thức tuyên truyền cần phải
thiết thực, phù hợp, nội dung phong phú, hấp dẫn nhằm thay đổi hành vi của
người dân.

Với vai trò là người bà, người mẹ, người vợ, người chị, người em gái
trong gia đình, phụ nữ cần tạo điều kiện cho các thành viên nâng cao nhận
thức, hiểu biết và tham gia các họat động về bình đẳng giới; phân công hợp
lý, hướng dẫn và động viên các thành viên nam trong gia đình chia sẻ công
việc gia đình; đối xử công bằng đối với các thành viên nam, nữ.

Với vai trò là công dân, phụ nữ và hội viên phụ nữ cần xóa bỏ tâm lý tự
ti, an phận, cam chịu và định kiến giới; có ý chí tự cường, tự lập, tự nâng cao
trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, nâng cao nhận thức, hiểu biết về
bình đẳng giới; tích cực tham gia các họat động vì bình đẳng giới của các
cấp Hội phụ nữ, Ban vì sự tiến bộ phụ nữ và các cơ quan, tổ chức, tuyên
truyền, phổ biến kiến thức và hướng dẫn thực hiện những hành vi đúng về
bình đẳng giới; lên án, ngăn chặn những hành vi phân biệt đối xử về giới;
giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của các
cơ quan, tổ chức và công dân.
Nhiều trẻ em gái và phụ nữ cảm thấy nâng cao được tính tự trọng và có
thêm sự lựa chọn trong cuộc sống nếu họ làm ra thu nhập từ công việc làm
của họ. Vì thế nếu đầu tư sớm cho các em gái được ăn học, các em sẽ được
giải phóng và tự giải phóng.

KẾT LUẬN

Bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu đã
khẳng định trongcác văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong Hiến pháp
và đã được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp
lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các
lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội. Bình đẳng giới có mối quan hệ
mật thiết với nạn đói nghèo và không chỉ riêng vấn đề đói nghèo của phụ nữ.
Bất bình đẳng vừa là nguyên nhân của tình trạng đói nghèo, lạc hậu, vừa là
rào cản chính đối với phát triển bền vững, và cuối cùng gây tác động tiêu
cực tới mọi thành viên trong xã hội và các thiệt hại khác. Xã hội có mức
bình đẳng giới càng cao thì thành quả tăng trưởng kinh tế càng phục vụ tốt
cho công tác giảm nghèo vì xã hội đó cớ sự công bằng ai cũng có quyền và
cơ hội để phát triển và hưởng thụ sự phát triển của xã hội. Vì thế bình đẳng
giới có vai trò rất quan trọng để phát triển bền khi nghiên cứu “ Thực trạng
bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian từ 2005 đến 2010” tôi
muốn nêu lên được thực trạng bất bình đẳng giới từ đó muốn mọi người có
cách nhìn đúng đắn về quyền bình đẳng và bảo vệ quyền đó của phụ nữ,
cũng như mỗi chúng ta sẽ xóa bớt khoảng cách bất bình đẳng giới vì một xã
hội phát triển hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Kinh tế phát triển. Trường kinh tế quốc dân/ Nhà xuất bản Lao
động- xã hội Hà Nội năm 2005.

2. Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam. Quỹ dân
số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam.

3. Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam/ Bằng chứng từ tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009/ Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam.

4. Tận dụng cơ hội dân số vàng ở Việt Nam. Cơ hội, thách thức và các gọi ý
chính sách/ Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam.

5. Thực trạng dân số Việt Nam 2008/ Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt
Nam.

6. Một số tài liệu trên các trang web sau:

- Thongtinphapluatdansu.wordpress.com.

- Vietbao.vn.

- Vietnamnet.vn.

- Baomoi.com.

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản