Bán phá giá

Chia sẻ: Mai Trung Thanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

1
456
lượt xem
245
download

Bán phá giá

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bán phá giá là gì? Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bán phá giá

  1. BÁN PHÁ GIÁ I. TÌM HIỂU VỀ BÁN PHÁ GIÁ 1. Bán phá giá là gì? Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường. 2. Tại sao có hiện tượng bán phá giá? Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá của nhà sản xuất, xuất khẩu. Nhiều trường hợp việc bán phá giá có mục đích không lành mạnh nhằm đạt được những lợi ích nhất định như: - bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường từ đó chiếm thế độc quyền; - bán giá thấp tại thị trường nước nhập khẩu để chiếm lĩnh thị phần; - bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh...Đôi khi việc bán phá giá là việc không mong muốn do nhà sản xuất, xuất khẩu không thể bán được hàng, cung vượt cầu, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hư hại ... nên đành bán tháo hàng hoá để thu hồi một phần vốn. Theo quy định của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) và pháp luật các nước về vấn đề chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt mà không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá. 3. Có phải mọi trường hợp bán phá giá đều có thể bị áp đặt thuế chống bán phá giá không? Bán phá giá (vào thị trường nước ngoài) thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năng cạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu.
  2. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì có thể mua hàng với giá rẻ hơn; nếu hàng bị bán phá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên liệu rẻ có thể là yếu tố góp phần tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó; giá giảm có thể là động lực thúc đẩy ngành sản xuất trong nước tự đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh... Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị lên án và phải chịu thuế chống bán phá giá. Theo quy định của WTO, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện cụ thể. II. DỰ THẢO HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ ĐÀM PHÁN QUY TẮC, VÒNG ĐÀM PHÁN DOHA Vòng đàm phán Doha bắt đầu được khởi động từ năm 2001 theo quyết định của Hội nghị các bộ trưởng kinh tế các nước thành viên WTO tại Doha (Quatar). Một trong những nội dung chính của Vòng Doha là đàm phán sửa đổi quy định của Hiệp định chống bán phá giá (ADA) và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (CVD) (Gọi tắt là đàm phán Quy tắc – Rules Negotiations). Từ đó đến nay, Đàm phán Quy tắc đã diễn ra rất nhiều phiên với hàng trăm đề xuất cụ thể của các nước thành viên. Gần đây nhất, phiên đàm phán (rules) tại WTO liên quan đến nội dung dự thảo Hiệp định chống bán phá giá đã diễn ra ngày26-27/10/2009, tại Geneve.Hiệp định chống bán phá giá là một trong những Hiệp định quan trọng của WTO, vì vậy, các nước đều tham gia tích cực vào việc góp ý cho dự thảo để tránh việc sử dụng Hiệp định này làm công cụ bảo hộ sản xuất nội địa, ngăn cản tự do hóa thương mại. Tại phiên đàm phán tháng 10/2009, các nước đã tập trung thảo luận những vấn đề sau: 1. Sản phẩm thuộc diện xem xét (product under con- sideration) Định nghĩa về cụm từ “sản phẩm thuộc diện xem xét điều tra chống bán phá giá” được nêu trong Bản dự thảo ngày 30/11/2007, trong đó đã nêu ra khá nhiều các yếu tố để xác định xem liệu hàng hóa đó có phải là sản phẩm thuộc diện xem xét hay không
  3. Trong khi nhiều nước cho rằng một điều khoản riêng về vấn đề này sẽ hữu ích, lại có những quan ngại rằng một điều khoản như thế có thể không cần thiết, sẽ tạo thêm nhiều vấn đề hơn so với số vấn đề có thể giải quyết được, cũng như những cách diễn giải về các vụ việc tiếp theo. Các quan điểm còn có nhiều khác biệt về việc xác định sản phẩm thuộc diện xem xét rộng đến đâu, vai trò của các đặc điểm về vật lý và thị trường trong việc xác định sản phẩm thuộc diện xem xét, và khi nào và bằng cách nào để xác định sản phẩm thuộc diện xem xét. Trong vụ việc chống phá giá, định nghĩa thuật ngữ trên là rất quan trọng, có tính quyết định đến mức độ, tính chất và phạm vi của toàn bộ vụ việc. Trước hết, cần phải xác định được phạm vi của sản phẩm thuộc diện xem xét điều tra chống phá giá, căn cứ trên đó sẽ xác định “sản phẩm tương tự” với sản phẩm thuộc diện xem xét nêu trên; tiếp theo là xác định ngành sản xuất nội địa và xác định tư cách khởi kiện của họ trong vụ việc chống phá giá. Phạm vi của sản phẩm thuộc diện xem xét điều tra càng rộng, càng dễ dàng hơn cho bên khởi kiện chứng minh được lượng hàng hóa nhập khẩu bị phá giá tăng nhiều và có nguy cơ cao gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa, số lượng hàng nhập khẩu bị điều tra càng nhiều. Bên cạnh đó, với phạm vi sản phẩm thuộc diện xem xét rộng thì cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho ngành sản xuất nội địa quy tụ thêm được các nhà sản xuất khác và đảm bảo yêu cầu của luật định về “tư cách khởi kiện” (standing). Tại phiên đàm phán này, đa số các nước đều cho rằng đây là vấn đề quan trọng, là khái niệm cơ bản, tạo ra nền tảng cho các bước khác (trong việc tính toán thiệt hại và biên độ phá giá) nên cần đặt ra các tiêu chí rõ ràng, cụ thể, chính xác hơn (về đặc tính vật lý và thị trường) để định nghĩa, thông qua đó có thể xác định sản phẩm tương tự, quy mô của sản phẩm. Các nước cho rằng nội dung hiện tại của Dự thảo là rộng, dễ bị lạm dụng. 2. Yêu cầu thông tin gửi đến các bên liên kết (infor- mation requests- affiliated parties) Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về khái niệm “các bên liên kết” (af- filiated parties) Một số nước (Thái Lan, Trung Quốc, Brazil..) ủng hộ đề xuất sửa đổi vì sửa đổi này theo hướng đỡ bất lợi cho các nhà xuất khẩu, đảm bảo rằng các bên
  4. liên quan sẽ không bị coi là không hợp tác nếu họ không thể cung cấp thông tin từ các bên liên kết mà họ không kiểm soát. Các nước khác quan ngại rằng việc quy định bằng văn bản như vậy sẽ khuyến khích việc không hợp tác, và họ được cảnh báo về khái niệm hẹp của từ kiểm soát (control) trong trường hợp này sẽ được đưa ra một cách không phù hợp. Bên cạnh đó, các nước cũng nêu một số câu hỏi: làm thế nào cơ quan điều tra xác định được là các bên đã làm hết sức để cung cấp thông tin, làm thế nào để các bên liên quan chứng minh là họ có kiểm soát hay không kiểm soát đối với bên liên kết, định nghĩa thế nào là “hết sức nỗ lực” (best efforts), Đây là một vấn đề khó, vì vậy, một số nước (EC, New Zealand…) yêu cầu phải thảo luận kỹ hơn tại các phiên đàm phán tới. 3. Tư cách nộp đơn đề nghị điều tra bán phá giá (standing) Theo tài liệu TN/RL/GEN/103 từ Na uy, theo các Điều 4.1(i) và 5.4 của Hiệp định AD, một tỷ lệ lớn các nhà sản xuất trong nước có thể bị loại khỏi ngành sản xuất trong nước khi đánh giá liệu ngành sản xuất ủng hộ việc khởi xướng điều tra. Theo đó, một cuộc điều tra có thể được khởi xướng dù được ủng hộ bởi những nhà sản xuất đại diện chỉ một phần tổng sản lượng của sản phẩm tương tự của ngành sản xuất trong nước. Na uy đề xuất thay đổi Điều 5.4 để yêu cầu rằng các nhà sản xuất chiếm ít nhất 50% tổng sản lượng trong nước phải ủng hộ đơn đề nghị điều tra. Chi Lê (TN/RL/GEN/75) đề xuất sửa đổi Điều 5.4 để đảm bảo rằng đơn khởi kiện nhận được sự ủng hộ đáng kể từ ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, theo quan điểm của Ai Cập (TN/RL/GEN/119), nên giữ nguyên các yêu cầu về vị thế khởi kiện như được quy định tại Điều 5.4. Các nước còn có ý kiến khác nhau về vấn đề này. Một số nước (EC, Ấn Độ, Argentina, Mexico…) cho rằng phải xét đến đặc điểm của các ngành công nghiệp phân tán (fragmented industries) rất khó để tập hợp ý kiến của các nhà sản xuất. Một số nước thì cho rằng quy định sửa đổi sẽ tốn kém, gây khó khăn trong việc tập hợp ý kiến ủng hộ nhất là đối với nước lớn có nhiều nhà sản xuất. 4. Các vấn đề khác từ Điều 5.5 đến hết Điều 9
  5. Đa số các thành viên ủng hộ dự thảo vì sửa đổi theo hướng cụ thể hơn, thuận lợi hơn cho nước bị điều tra phá giá, tăng cường tính minh bạch, rõ ràng, dự đoán trước, giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của các bên có liên quan, làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền vì thế hạn chế quyền tự quyết của các cơ quan có thẩm quyền. Tại phiên đàm phán lần này, Việt Nam cùng với Thái Lan, Ấn Độ tiếp tục nhấn mạnh quan điểm đã thể hiện tại tài liệu TN/RL/GEN/157/Rev.1 ngày 27/5/2008 liên quan đến quy định tại Điều 9.3 Hiệp định AD (Rà soát mức thuế chống bán phá giá), đề nghị sửa lại lời văn ở Điều này nhằm đảm bảo phần tiền thu vượt quá biên độ phá giá sẽ được hoàn trả cho nhà nhập khẩu. Nhật Bản, Đài Loan, Nam Phi cũng ủng hộ đề xuất này. Đối với quy định về việc mở rộng diện được quyền yêu cầu hoàn tiền (bao gồm cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu), một số thành viên (Úc, EC, Nam Phi, Canada) đề xuất phải có quy định cụ thể hơn về cơ chế thực hiện vì thường các nhà nhập khẩu sẽ là người yêu cầu hoàn tiền. Đối với quy định về việc hưởng lãi suất đối với khoản tiền đặt cọc, một số thành viên (EC, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ) bày tỏ quan ngại về vấn đề quy định pháp luật cụ thể liên quan đến cơ chế trả lãi suất, tính theo lãi suất nào, khoảng thời gian tính v.v… Các thành viên này cho rằng đây là vấn đề khó, vì vậy cần thảo luận thêm. III. TỔNG HỢP VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI 1. Gia tăng số vụ điều tra chống bán phá giá trong năm 2008 Hoạt động đều tra chống bán phá giá (CBPG) gia tăng mạnh mẽ trong năm 2008 so với năm 2007 Số liệu các cuộc điều tra CBPG trong các năm Năm Số vụ Năm Số vụ 1995 157 2002 312 1996 225 2003 232 1997 243 2004 214 1998 257 2005 200 1999 356 2006 202 2000 292 2007 164 2001 366 2008 208
  6. Nhìn lại hoạt động đều tra CBPG trong một khoảng thời gian dài như biểu đồ dưới cho thấy rằng các số vụ điều tra CBPG toàn cầu diễn ra theo chu kỳ với số vụ thấp trong các giai đoạn đầu thập kỷ 80, các năm 1987-89, năm 1995 và gần đây nhất là năm 2007. Bảng sau cho thấy, số lượng trung bình các cuộc điều tra CBPG trong từng khoảng thời gian. Nó cho thấy rằng con số 208 vụ điều tra trong năm 2008 là dưới mức trung bình 243 vụ điều tra trong khoản thời gian 2000-2008 Số liệu trung bình các vụ CBPG 1980-89 139 1990-99 237 2000-08 243 Số liệu trung bình các vụ CBPG theo WTO 1995-2007 245 Qua các số liệu phân tích trên cho thấy sự tác động của khủng hoảng kinh tế sẽ là tiền đề cho việc gia tăng các vụ điều tra CBPG. Sự gia tăng này chưa thể xảy ra ngay nhưng điều này cũng thật dễ hiểu vì thông thường sẽ có sự giám sút về số vụ điều tra trước khi xuất hiện hiện tượng kinh tế giảm sút được thể hiện trong các chỉ số. Tuy nhiên sự tổn hại về kinh tế không nên nhất thiết đổ lỗi cho các mặt hàng nhập khẩu phá giá. Thực tế là trong thời kỳ kinh tế phát triển tốt, các công ty thường ít có động cơ đưa ra các đơn kiện CBPG. Vì vậy, thời kỳ kinh tế càng khó khăn càng khiến các ngành đang phải đối
  7. mặt với hàng giá rẻ từ nước ngoài có xu hướng sử dụng công cụ CBPG nhiều hơn. 2. Thổ Nhĩ Kỳ gia tăng nhiều nhất các vụ điều tra CBPG Các quốc gia tiến hành nhiều nhất các cuộc điều tra CBPG trong năm 2008 được thể hiện ở bảng dưới. Ấn Độ dẫn đầu trong các vụ việc, tiếp sau là Bra-xin, Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina. Các vụ CBPG năm 2008 Quốc Quốc gia/ Số gia/ Số Khu vụ Khu vụ ực vẤn Độ 54 vực Úc 6 Bra-xin 23 Colombia 6 Thổ Nhĩ Kỳ 22 Hàn Quốc 5 Argentina 19 Canada 3 Châu Âu 19 Pakistan 3 Mỹ 16 Chile 1 Trung Quốc 14 Israel 1 Indonesia 7 Mexico 1 Ukraine 7 Nam Phi 1 So sánh số các nước áp dụng công cụ CBPG giá năm 2008 với số liệu trung bình của khoảng thời gian 1995-2008 theo bảng dưới: Ấn Độ vẫn là lớn nhất cho đến nay về số lượng các vụ điều tra CBPG, tiếp theo là Mỹ đứng thứ 2 và Châu Âu đứng thứ 3:
  8. Số vụ CBPG giai đoạn 1995-2008 Quốc Quốc gia/ gia/ Số khu Số Khu vụ vực vụ ực vẤn Độ 564 Bra-xin 170 Mỹ 418 Trung 151 Châu Âu 391 Quốc Canada 145 Argentina 241 Thổ Nhỹ 137 Nam Phi 206 Kỳ Quốc Hàn 108 Australia 197 Mexico 95 3. Những xu hướng khác nhau giữa các nhóm nước sử dụng công cụ Chống bán phá giá Có một sự khác biệt rõ rệt giữa xu hướng trong 4 nhóm nước áp dụng công cụ CBPG năm 2008 so với nhóm nước truyền thống như Mỹ và các nước thuộc cộng đồng kinh tế Châu Âu. Trong khi đó, thị trường Ấn Độ phản ánh mức tăng đều đặn trong 4 năm trở lại đây. Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina cũng cho thấy hoạt động CBPG năm 2008 đạt mức cao nhất trong 4 năm trở lại đây. Điều này cho thấy xu hướng trái ngược với các nước trong khu vực EU và Hoa Kỳ. Số lượng các vụ điều tra của EC tăng trong năm 2008 so với 2007, nhưng vẫn ở mức thấp thứ 2 tính từ khi thành lập WTO vào năm 1995. Tại Mỹ, hoạt động CBPG cũng giảm đáng kể trong năm 2008. Đáng chú ý, trong năm 2008, các nước trong cộng đồng kinh tế Châu Âu và Hoa Kỳ có tỷ lệ thấp khởi kiện CBPG thấp nhất trong các vụ kiện toàn cầu kể từ khi WTO được thành lập. 4. Trung Quốc vẫn là nước bị khởi kiện chính trong năm 2008 Trung Quốc vẫn là nước bị điều tra CBPG lớn nhất trong năm 2008, chiếm 35% tổng số vụ điều tra trên toàn thế giới.
  9. Số liệu các vụ CBPG trong năm 2008 Quốc gia Số Quốc gia Số Trung Quốc vụ 73 Mỹ vụ 8 Thái Lan 13 Ấn Độ 6 Đài Loan - 10 Ecuador 4 TQ Indonesia 10 Ả rập Xê út 4 Hàn Quốc 9 Thổ Nhĩ Kỳ 4 Malaysia 9 Thống kê này được so sánh với giai đoạn 1995-2008, thể hiện trong bảng dưới đây: Các số liệu về CBPG giai đoạn 1995-2008 Các vụ Các vụ Quốc gia Quốc gia điều tra điều tra Trung Quốc 677 Malaysia 90 Hàn Quốc 252 Đức 83 Hoa Kỳ 189 EC 69 Đài Loan - TQ 187 Ukraine 61 Indonesia 145 Nam Phi 58 Nhật Bản 144 Italy 46 Thái Lan 142 Singapore 44 Ấn Độ 137 Tây Ban Nha 44 Nga 109 Thổ Nhĩ Kỳ 44 Braxin 97 Anh 44 Tỷ lệ các vụ điều tra về Trung Quốc vẫn ở mức cao như trong biểu đồ dưới đây:
  10. Trong năm 2008, các vụ điều tra CBPG đối với EC tăng không đáng kể. Theo phần thống kê nổi bật của báo cáo GTP gần đây, tỷ lệ các vụ điều tra CBPG đối với hàng hóa của EC ở mức thấp mặc dù trước đây EC là tiêu điểm chính. Xu hướng này được thể hiện trong biểu đồ dưới đây, bao gồm cả sự so sánh với Mỹ. Cũng lưu ý rằng, trong những năm gần đây số lượng các thành viên trong EU tăng đáng kể từ 15 lên đến 27. Điều này cũng dẫn đến số lượng các vụ điều tra CBPG tại EU tăng lên. 5. Gia tăng các vụ điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng giày dép và dệt may. Các lĩnh vực chủ yếu được điều tra trong năm 2008 được thể hiện ở bảng sau: Các lĩnh vực điều tra chống bán phá giá chủ yếu trong năm 2008 Lĩnh vực Phần trăm Kim loại và đồ dùng kim loại 31% (bao gồm cả thép) Hóa chất và các sản phẩm liên 25% quan Hàng dệt may và giày dép 19% Máy móc và hàng cơ khí 12% Giấy và gỗ 8% Các ngành hàng khác 5% Tổng số 100% Điểm đáng chú ý nhất trong dữ liệu của năm 2008 là hàng dệt may và giày dép có sự khác biệt với những năm trước đó. Đây là những điểm dễ dàng
  11. nhận thấy khi so với dữ liệu trong giai đoạn 1995-2008. Các lĩnh vực điều tra chủ yếu trong giai đoạn 1995-2008 Lĩnh vực Phần trăm Hóa chất và các sản phẩm liên 33% quan Kim loại và các sản phẩm kim loại 28% Máy móc và thiết bị cơ khí 11% Dệt may và giầy dép 9% Giấy và gỗ 6% Nông nghiệp và thực phẩm 5% Các ngành khác 8% Tổng số 100% Sự gia tăng các vụ điều tra CBPG trong ngành dệt may và giày dép được minh họa trong biểu đồ đây: (tính theo %) Khoảng 2/3 các vụ điều tra chống bán phá giá dẫn đến việc áp dụng các biện pháp cụ thể Biểu đồ dưới đây thể hiện xu hướng các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng.
  12. Trong giai đoạn này, đã có 3427 vụ điều tra CBPG được tiến hành và trong đó có 2190 biện pháp CBPG đã được thông qua. Trung bình có khoảng 64% các vụ điều tra của CBPG dẫn đến áp dụng các biện pháp này. IV. TÁC ĐỘNG HAI CHIỀU CỦA BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Biện pháp chống bán phá giá ngày nay được đề cập rất nhiều trên các diễn đàn thương mại quốc tế lớn, Tôi xin trích đăng bài viết của Hylke Vandenbussche, Giáo sư kinh tế, trường Đại học Louvain, Bỉ do Quỳnh Giao lược dịch. Biện pháp chống bán phá giá đã trở thành một hình thức bảo hộ thương mại quan trọng đối với mỗi một quốc gia. Tác động của hình thức bảo hộ này đối với năng suất của các doanh nghiệp khác nhau là rất khác nhau. Nếu như hình thức bảo hộ này cho phép các doanh nghiệp nội địa có năng suất ban đầu thấp tiến hành tái cơ cấu và cải thiện tình hình kinh doanh thì mặt khác việc áp dụng biện pháp này lại có xu hướng gây tổn hại đến các doanh nghiệp nội địa có năng suất cao và các nhà xuất khẩu. Hai mươi năm qua, trong khi cả thế giới chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ của việc áp dụng các hàng rào thuế quan thì bảo hộ thương mại vẫn còn tồn tại đâu đó dù dưới một hình thức khác. Giảm việc sử dụng các biện pháp thuế quan đi đôi với việc gia tăng đáng kể số lượng các biện pháp chống bán phá giá đã trở thành một công cụ bảo hộ thương mại được sử dụng thường xuyên nhất. Kể từ năm 2003, số lượng các biện pháp chống bán phá giá có xu hướng
  13. giảm, tuy nhiên, từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu bắt đầu diễn ra thì các biện pháp chống bán phá giá và các cuộc điều tra chống bán phá giá đã tăng lên nhanh chóng và xu hướng này dường như sẽ vẫn tiếp diễn. (Xem biểu đồ dưới đây) Mục tiêu của các hiệp định của WTO là nhằm đẩy mạnh thương mại tự do bằng cách giảm việc sử dụng các rào cản thương mại giữa các nước thành viên, tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, ví dụ như có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp thương mại không công bằng. Nếu một doanh nghiệp xuất khẩu một sản phẩm với mức giá thấp hơn so với mức giá thông thường của sản phẩm đó trên thị trường nội địa thì doanh nghiệp đó bị coi là đã bán phá giá hàng hóa. Liệu đây có phải là cạnh tranh không lành mạnh hay không? Các hiệp định của WTO không đề cập đến vấn đề này mà tập trung vào việc bằng cách nào mà chính phủ các nước có thể hoặc không thể phản ứng lại với các hành vi phá giá đó – các hiệp định này quy định các hành vi chống bán phá giá và thường gọi là “Hiệp định chống bán phá giá”. Tuy nhiên các quy định về chống bán phá giá hiện nay lại chưa phân biệt thương mại công bằng và thương mại không công bằng. Khi các
  14. nhà sản xuất nước ngoài có khả năng sản xuất hàng hóa với chi phí rẻ hơn thì giá cả của những hàng hóa đó chắc chắn sẽ thấp hơn, đặc biệt là khi họ xuất khẩu những hàng hóa đó sang một thị trường lớn như Hoa Kỳ hay EU – những thị trường mà họ phải đối mặt với một mức độ cạnh tranh cao hơn so với ở thị trường nội địa. Những cái được cho là thương mại không công bằng có thể là một dấu hiệu của lợi thế cạnh tranh quốc tế. Do vậy chính những công ty hoạt động với hiệu quả thấp hơn mới quan tâm tới việc yêu cầu và hưởng sự bảo hộ nhằm tránh được áp lực cạnh tranh quốc tế. Điều này cho thấy các doanh nghiệp Châu Âu yêu cầu và được bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá (kéo dài chỉ trong 5 năm) thực sự là những doanh nghiệp kém hiệu quả. Tuy nhiên, họ không thể tiến hành tái cơ cấu và nâng cao mức độ hiệu quả do vậy họ cũng không thể rút ngắn khoảng cách về mức độ hiệu quả so với những doanh nghiệp không bao giờ được bảo hộ từ các biện pháp chống bán phá giá. Hơn nữa, điều này chỉ ra rằng trong nhóm các doanh nghiệp được bảo hộ, những doanh nghiệp đi sau có lợi nhất trong khi những doanh nghiệp đi trước (tức là những doanh nghiệp có mức hiệu quả ban đầu cao) lại phải chịu tác động từ việc bảo hộ. Điều này được giải thích thông qua bản chất của chuỗi dây chuyền cung ứng và hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp đi trước so với các doanh nghiệp đi sau. 1. Biện pháp chống bán phá giá bảo vệ các doanh nghiệp nội địa hoạt động không hiệu quả. So sánh nhóm các doanh nghiệp áp dụng và được bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá và các doanh nghiệp không bao giờ áp dụng và được hưởng bảo hộ từ biện pháp này trong hai khoảng thời gian tương đương nhau, một khoảng trước khi bảo hộ và một khoảng thời gian trong đó các doanh nghiệp áp dụng và nhận được biện pháp bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá (thường là 5 năm) thì rõ ràng là các doanh nghiệp không bao giờ áp dụng và do vậy cũng không bao giờ nhận biện pháp bảo hộ này có đạt mức trung bình hiệu quả cao nhất. Ngược lại, các doanh nghiệp nhận được bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá lại có xụ hướng có hiệu quả thấp hơn trong giai đoạn trước khi bảo hộ. Do vậy, điều này khẳng định rằng chính những doanh nghiệp kém hiệu quả nhất thường liên quan tới các vụ kiện chống bán phá giá.
  15. Hơn nữa, cả doanh nghiệp được bảo hộ và doanh nghiệp không được bảo hộ đều tăng năng suất trong suốt giai đoạn bảo hộ nhưng dường như tính trung bình thì các doanh nghiệp được bảo hộ có mức tăng năng suất cao hơn. Tuy nhiên, việc tăng năng suất này không bao giờ đủ để rút ngắn khoảng cách năng suất so với các doanh nghiệp được bảo hộ. Kết quả này một mặt cho thấy các doanh nghiệp hiệu quả thấp dường như bắt đầu thực hiện tái cơ cấu để có thể đối mặt với cạnh tranh toàn cầu tốt hơn khi không còn bảo hộ, mặt khác những nỗ lực thực hiện tái cơ cấu này có lẽ là không bao giờ đủ khi mà khoảng cách năng suất không bao giờ có thể được rút ngắn. Nếu không có bảo hộ, một vài doanh nghiệp nhận sự bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá có thể sẽ phải rút khỏi thị trường. Các nguồn lực được giải phóng từ sự rút lui này có thể sẽ được phân bổ lại hướng đến các khu vực hiệu quả hơn trong nền kinh tế và điều này sẽ làm cho năng suất tăng trở lại. 2. Biện pháp chống bán phá giá: tốt đối các doanh nghiệp hoạt động không tốt nhưng lại không tốt đối với các doanh nghiệp hoạt động tốt. Một đặc điểm đăc trưng của biện pháp chống bán phá giá là nó áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp Châu Âu sản xuất các sản phẩm đang bị điều tra ngay cả khi một vài doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm này không yêu cầu áp dụng biện pháp bảo hộ này. Hơn nữa, không phải tất cả các doanh nghiệp được bảo hộ đều có năng suất sản xuất ban đầu giống nhau. Việc phân bổ năng suất ban đầu của các doanh nghiêp được bảo hộ nghiêng theo nghĩa là đa số các doanh nghiệp được bảo hộ có mức năng suất tương đối thấp trước khi được bảo hộ. Vấn đề là liệu việc bảo hộ thông qua biện pháp chống bán phá giá có ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp được bảo hộ theo một cách tương tự nhau hay không, hay là liệu các doanh nghiệp có phản ứng khác nhau đối với bảo hộ thương mại hay không. Tính toán những điều kiện ban đầu này trong khung phân tích về suy thoái cho thấy có một sự khác biệt đáng kể giữa các doanh nghiệp trong phản ứng đối với bảo hộ thông qua biện pháp chống bán phá giá. Trong khi biện pháp bảo hộ này làm tăng năng suất của những công ty hoạt động kém hiệu quả thì nó lại làm giảm năng suât của những doanh nghiệp có hiệu quả cao. Kết quả này có thể cho ta thấy được việc bảo hộ là “tốt đối với các doanh nghiệp hoạt động không tốt và không tốt đối với các doanh nghiệp hoạt động
  16. tốt!”. Có nhiều giải thích khác nhau cho vấn đề này. Trước tiên là nguy cơ rút khỏi thị trường là cao hơn đối với các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả nhất và do vậy một khi họ nhận được sự bảo hộ tạm thời họ sẽ có động cơ hơn để tiến hành thực hiện tái cơ cấu trước khi phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên điều này không lý giải tại sao những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất lại phải rút khỏi thị trường khi phải đối mặt với bảo hộ. Một lý giải khác liên quan tới bản chất toàn cầu của các doanh nghiệp, tức là mức độ năng động của các doanh nghiệp trong thương mại quốc tế. Có một thực tế là thông thường những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất là những doanh nghiệp có thể rất năng động trên thị trường quốc tế do chi phí chìm (chi phí giao dịch) liên quan tới thương mại quốc tế. Cụ thể là, biện pháp chống bán phá giá có thể gây tác động nghịch đối với những nhà xuất khẩu thực hiện gia công ngoài đối với phần sản xuất của họ cho những nước là mục tiêu áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Việc gia công ngoài yêu cầu phải có một khoản chi phí cố định mà chỉ những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả mới có khả năng chi trả. Do các nhà xuất khẩu có xu hướng là hoạt động hiệu quả hơn so với những doanh nghiệp không xuất khẩu nên doanh nghiệp xuất khẩu có thể tham gia vào quá trình gia công ngoài nhiều hơn so với những doanh nghiệp không xuất khẩu. Tưởng tượng rằng một doanh nghiệp xuất khẩu Pháp tiến hành gia công láp ráp xe đạp ở Trung Quốc nhằm nhập khẩu những chiếc xe đạp này vào Pháp trong khi vẫn tiến hành các hoạt động kinh doanh như đóng nhãn hiệu, nhãn mác và các loại hình phân phối khác ở Pháp. Các nhà xuất khẩu Pháp tiến hành gia công sản phẩm xe đạp sẽ phải đối mặt với việc nhập khẩu xe đạp với giá đắt hơn do họ phải chịu một mức thuế chống bán phá giá áp dụng đối với xe đạp nhập khẩu từ Trung Quốc. Pháp luật chống bán phá giá hiện hành không tự động loại trừ việc gia công ngoài khỏi việc trả thuế nhập khẩu và không loại trừ ngay cả khi đa số giá trị gia tăng được tạo ra ở thị trường nội địa. Điều này đặt các nhà gia công ngoài vào một tình thế rất bất lợi so với các nhà sản xuất xe đạp nội địa không phải trả thuế nhập khẩu. Kết quả là điều này làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu các chủng loại hàng nội địa khác nhau mà không định giá sản phẩm thấp hơn trên thị trường xuất khẩu ngoài EU để không bị các nước khác áp
  17. dụng thông lệ bán phá giá. Hơn nữa, các nhà xuất khẩu có thể tiếp cận với một số lượng các thị trường nước ngoài ít hơn nếu việc bảo hộ thương mại trong nước gây ra những hành động trả đũa mà đổi lại nhờ đó các đối tác thương mại có thể bảo vệ chính họ. Theo bài báo mới đây của Konings and Vandenbussche (2009) thì việc xuất khẩu các sản phẩm nhận được sự bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá thực sự có xu hướng giảm trong suốt giai đoạn được bảo hộ, so với một nhóm các sản phẩm không nhận được sự bảo hộ. Các nhà sản xuất giày EU cho rằng họ bị ảnh hưởng xấu từ biện pháp chống bán phá giá kể từ khi họ tiến hành gia công lắp ráp giày của mình ở Trung Quốc mà đã làm họ phải chịu một mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm giày nhập khẩu ở Châu Âu mặc dù thực tế là trên 50% giá trị gia tăng của sản phẩm giày được tạo ra tại thị trường EU thông qua các hoạt động như nghiên cứu, thiết kế, công tác hậu cần, phát triển và quảng cáo và tạo ra sản phẩm giày là giày của Châu Âu chứ không phải giày của Trung Quốc. Thông thường những doanh nghiệp có hiệu quả kém nhất nhận được sự bảo hộ từ biện pháp chống bán phá giá và tạo điều kiện cho họ thực hiện tái cơ cấu. Tuy nhiên, họ không thể rút ngắn khoảng cách hiệu quả với những doanh nghiệp không nhận sự bảo hộ, điều này đưa ra một khác nhau đối với tính hiệu quả của biện pháp chống bán phá giá trong việc bảo hộ các doanh nghiệp nội địa. Thêm vào đó, tác động của biện pháp chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp nội địa phụ thuộc vào điều kiện ban đầu của các doanh nghiệp đối với năng suất và phụ thuộc vào vị thế xuất khẩu của những doanh nghiệp này. Việc không xét đến lợi ích của các nhà xuất khẩu khi quyết định bảo hộ một ngành công nghiệp cụ thể chắc chắn sẽ gây tác động bất lợi lâu dài mà cần phải được xem xét trước khi quyết định áp dụng biện pháp bảo hộ. V. CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM. Năm 2010 được xem là năm có thể mang lại những khởi sắc cho xuất khẩu Việt Nam khi kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi. Tuy nhiên, thách thức đặt ra với các doanh nghiệp xuất khẩu là phải vượt qua được các rào cản
  18. thương mại ở các thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp. 1. Nguy cơ bị kiện theo chùm Hiện tại, kinh tế thế giới mới đang trong giai đoạn hồi phục, nhu cầu tiêu dùng ở các thị trường xuất khẩu (XK) trọng điểm của Việt Nam cũng chưa đạt mức cũ. Do XK của nước ta chững lại nên nhiều người suy đoán là nguy cơ bị kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa XK cũng phần nào giảm. Trên thực tế, nguy cơ này không giảm do kinh tế gặp khó khăn nên việc duy trì sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của nước nhập khẩu (NK) cũng yếu đi. Chính vì thế, tuy không bị đe dọa bởi lượng hàng NK, nhưng các nước NK vẫn tính tới việc sử dụng nhiều hơn các công cụ “bảo hộ” có thể, trong đó có chống bán phá giá. Ở hai thị trường XK trọng điểm là Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, trong khi những vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp trước đây như đối với cá, tôm, túi nhựa… chưa có dấu hiệu kết thúc thì đã xuất hiện nhiều cảnh báo về các nguy cơ bị kiện mới có ảnh hưởng đến XK của nước ta. Bên cạnh đó, thời gian gần đây, nhiều nước NK khi tiến hành kiện chống bán phá giá thường kiện đồng thời nhiều nước XK mặt hàng đó thay vì chỉ nhắm vào nước XK chủ lực như trước đây. Hiện tượng “kiện cả chùm” này là một xu hướng bất lợi đối với nước ta. Trên thực tế, trong một số vụ kiện, Việt Nam không phải là đối tượng chính mà vụ kiện nhắm tới nhưng lại bị cho “kèm” vào danh sách các nước bị kiện. Điều này khiến cho Việt Nam dễ vướng phải những vụ kiện chống bán phá giá ngay cả đối với những mặt hàng không phải thế mạnh XK của nước ta. Hiện nay, các quy định về chống bán phá giá của các nước vẫn thực hiện theo các nguyên tắc được nêu tại Hiệp định về chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, Hiệp định này lại chứa đựng nhiều yếu tố bất lợi cho các nước như Việt Nam. Chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến khối lượng tối thiểu khi bị kiện, phương pháp quy về 0, kiện chống lẩn tránh thuế, cộng gộp thiệt hại... Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng: “Thông thường, khả năng bị kiện chống bán phá giá căn cứ vào tiêu chí giá thấp theo quy định tính toán của WTO. Và khi đã có dấu hiệu giá thấp, người ta không căn cứ vào
  19. lý do vì sao giá thấp, như nó được trợ cấp hay nhờ cải tiến công nghệ, hoặc do quản trị doanh nghiệp tốt, tiết kiệm chi phí… Những yếu tố có thể cải thiện giá thành đều không nằm trong quy định này”. 2. Chủ động phòng tránh Trong thời gian qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng song dường như khả năng chủ động phòng tránh, đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Bởi vậy, bên cạnh các giải pháp để tăng cường sức cạnh tranh, doanh nghiệp XK cần có những chuẩn bị tối thiểu cho khả năng bị kiện chống bán phá giá. Tiến sĩ Peter John Koenig, luật sư cao cấp của Công ty Luật Hoa Kỳ Squire Sanders gợi ý: “Thứ nhất các doanh nghiệp nên có hệ thống sổ sách kế toán rõ ràng và minh bạch, để khi bị tiến hành điều tra, chúng ta có thể cung cấp số liệu một cách rõ ràng. Thứ hai, nên thành lập nhiều nhà máy ở nhiều thị trường, nhiều địa phương khác nhau để bảo vệ mình khi các nhà sản xuất nội địa tiến hành điều tra”. Theo TS. Nguyễn Thị Thu Trang (Hội đồng tư vấn về phòng vệ thương mại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI), nhiều DN vẫn nghĩ rằng, các nước nhập khẩu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với DN khác, chứ không liên quan tới mình, nên không có những biện pháp tích cực. Trong khi đó, xu hướng áp thuế chống bán phá giá thường theo một nhóm sản phẩm xuất khẩu. “Vì vậy, DN thường bất ngờ hoặc gặp khó khăn khi sản phẩm của mình cũng bị áp thuế”, bà Trang nói. Thống kê của VCCI cho thấy, trong năm 2009, hàng hóa Việt Nam bị điều tra trong 7 vụ phòng vệ thương mại ở 6 thị trường. Trong đó, điều tra chống bán phá giá 5 vụ, 1 vụ điều tra chống trợ cấp và 1 vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ. “Điều đáng chú ý là lần đầu tiên hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với một vụ kiện chống trợ cấp (vụ Hoa Kỳ điều tra chống trợ cấp đối với túi nhựa PE Việt Nam). Đây là thách thức lớn bởi hàng hóa Việt Nam không còn được miễn trừ khỏi các vụ kiện chống trợ cấp ở Hoa Kỳ. Hơn nữa, Việt Nam chưa có kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện chống trợ cấp, chưa từng có cơ
  20. chế để đối phó với vụ kiện mà Chính phủ là một bên của vụ kiện”, bà Trang nêu vấn đề mới phát sinh trong quá trình tham gia thương mại quốc tế của các DN hiện nay. Còn theo lãnh đạo Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), phương án đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm mà cơ quan chức năng khuyến cáo các DN trước đây vẫn cần được DN áp dụng trong thời điểm này, nhằm tránh những khả năng bị kiện của các nước nhập khẩu. “DN xuất khẩu của Việt Nam cần phối hợp tích cực với những nhà nhập khẩu của các thị trường. Việc cung cấp thông tin thường xuyên của đối tác nhập khẩu sẽ giúp các DN vừa biết được dung lượng của thị trường, vừa biết được thị phần của hàng có xuất xứ từ Việt Nam để tránh được những vụ kiện của nước nhập khẩu”, bà Nguyễn Chi Mai, Trưởng ban chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ (Cục Quản lý cạnh tranh) khuyến cáo DN. Đánh giá của các chuyên gia nước ngoài cho thấy, DN Việt Nam có lợi thế hơn DN ở một số nước khác trong việc ứng phó với những vụ kiện. Đó là do quy mô nhỏ và vừa, nên DN có khả năng liên kết để cung cấp thông tin hữu ích. DN các nước khác (đơn cử như Trung Quốc) khó làm điều này hơn bởi quy mô DN lớn, có khả năng cung cấp các đơn hàng lớn, nên việc liên kết giữa các DN trong cùng một ngành hạn chế hơn. DN Việt Nam cần khai thác lợi thế này. Theo thông tin từ Cục Quản lý cạnh tranh, trong tháng 5 hoặc tháng 6/2010, đơn vị này sẽ đưa vào vận hành thí điểm bản tin cảnh báo các mặt hàng có nguy cơ bị kiện cao như dệt may, đồ gỗ, da giày... ở một số thị trường trọng điểm Khi đã vướng vào các vụ kiện, nhất là những vụ phát sinh ở thị trường XK trọng điểm, các doanh nghiệp sản xuất, XK mặt hàng liên quan có thể sẽ phải chịu những thiệt hại rất lớn. Vì vậy, việc quan tâm đến các yếu tố có thể tác động đến khả năng bị kiện chống bán phá giá là rất cần thiết nhằm phòng tránh các vụ kiện và có biện pháp sẵn sàng đối phó nếu xảy ra.../.
Đồng bộ tài khoản