BẰNG CHỨNG VỀ THUYẾT TRÔI DẠT LỤC ĐỊA VÀ TÁCH GIÃN ĐÁY ĐẠI DƯƠNG

Chia sẻ: Lala Titi | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:23

0
548
lượt xem
121
download

BẰNG CHỨNG VỀ THUYẾT TRÔI DẠT LỤC ĐỊA VÀ TÁCH GIÃN ĐÁY ĐẠI DƯƠNG

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trôi dạt lục địa là sự chuyển động tương đối của các lục địa trên Trái Đất. Lý thuyết trôi dạt lục địa được Alfred Wegener đưa ra lần đầu tiên năm 1912 và tồn tại cho đến khi nó được thay thế bởi lý thuyết kiến tạo mảng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BẰNG CHỨNG VỀ THUYẾT TRÔI DẠT LỤC ĐỊA VÀ TÁCH GIÃN ĐÁY ĐẠI DƯƠNG

  1. Nhóm 3 BẰNG CHỨNG VỀ THUYẾT TRÔI DẠT LỤC ĐỊA VÀ TÁCH GIÃN ĐÁY ĐẠI DƯƠNG
  2. NỘI DUNG • Các bằng chứng về trôi dạt lục địa • Các bằng chứng về tách giãn đáy đại dương
  3. Kiến tạo mảng
  4. Thuyết trôi dạt lục địa • Trôi dạt lục địa là sự chuyển động tương đối của các lục địa trên Trái Đất. Lý thuyết trôi dạt lục địa được Alfred Wegener đưa ra lần đầu tiên năm 1912 và tồn tại cho đến khi nó được thay thế bởi lý thuyết kiến tạo mảng.
  5. Các bằng chứng về trôi dạt lục địa 1. Dựa vào kết quả đo đạc: Người ta thấy rằng, các lục địa trôi với tốc độ khác nhau. Nairm (1967) sau khi tính toán cho thấy trong khoảng thời gian 200 triệu năm (từ Cacbon muộn đến đầu Palêogen), Châu Âu và Bắc Mỹ đã rời xa nhau khoảng 4.500km với tốc độ trung bình 1cm/năm.
  6. 2. Hình dạng của các lục địa: Đường bờ của lục địa Nam Mỹ và Châu Phi khá khớp nhau. Và nếu xem xét cấu trúc chính của các lục địa thì những vùng này rất có khả năng đã từng ráp lại với nhau.
  7. 3. Cấu trúc địa chất và tuổi của đá - Cấu trúc địa chất: Những dãy núi cổ hiện nay chấm dứt một cách đột ngột tại ranh giới lục địa. Nếu ráp các lục địa lại với nhau thì cấu trúc của chúng trùng khớp → Các lục địa tách ra từ một khối thống nhất. VD: Dãy núi Cape ở Nam Phi là một phần đứt rời của dãy Sierra de la Ventina của Argentina và của dãy Great Dividing ở bờ đông châu Úc.
  8. ­ Tuổi của đá: Herley đã nghiên  cứu tuổi của đá phun trào và đá  biến chất Tiền Cambri ở Tây Phi  và phần lồi phía Đông của Nam  Mỹ và thấy rằng nếu ráp 2 lục  địa này lại với nhau thì sẽ có  được một vùng đá tiền Cambri ở  các mức tuổi khác nhau  → Đá có tuổi Cambri ở C.Phi cùng  thuộc một thành tạo liên tục  với đá có cùng tuổi ở Nam Mỹ. 
  9. 4. Dấu hiệu của đá evapôrit: - Đá evapôrit là đá trầm tích được hình thành từ hiện tượng kết tủa của các → Về sau, nếu như các lục địa bị tan hợp chất hòa tan trong môi trường vỡ và trôi dạt về vị trí mới ta có thể nước do hiện tượng bốc hơi → là bằng dựa vào các tích tụ evapôrit lập lại bản chứng của khí hậu khô. đồ để biết được các mảng đã di - Dựa vàonhư thế nào. chuyển các tích tụ evapôrit cổ cho thấy có một vành đai khí hậu khô trong quá khứ địa chất.
  10. 5. Dấu hiệu cổ từ: Khi kết tinh vào một thời điểm  nào đó, các khóang vật của đá  bị nhiễm từ của Trái đất và giữ  lại lâu dài. Vì vậy, thông qua  các khoáng vật nhiễm từ hình  thành ở một thời kỳ địa chất  nhất định chúng ta có thể khôi  phục lại từ trường,cực từ cũng  như vĩ độ lúc bấy giờ. 
  11. • Nghiên cứu cổ từ cho thấy, các đá cổ nằm ở vị độ khác xa với vĩ độ trước kia của nó → chứng tỏ các mảng dịch chuyển. VD: Một mẫu đá tuổi Triat ở Anh có độ từ khuynh là 30o (tức là vào thời kỳ Triat nó nằm ở vĩ độ 30) nhưng vị trí phân bố mẫu này hiện nay lại có độ từ khuynh là 65o. → Như vậy nước Anh đã dịch chuyển dần lên phía Bắc.
  12. 6. Dấu hiệu hóa  thạch
  13. Các bằng chứng về tách giãn đáy đại dương 1. Sự hình thành và tồn tại của dải dị thường Khi đáy biển được lập bản đồ ngày càng nhiều hơn, người ta thấy xuất hiện các mẫu từ giống như vằn của ngựa vằn ở sống núi giữa đại dương.
  14. Các dải đá nhiễm từ Các nhau xen ẽ khác dải ở càngkxa nhau chạy songi sống núi thì tuổ song ở cả ơn, phía càng già hhai ở của sống ốnggiữa ngay tại s núi núi đại tuươtrẻ hơột cả i thì d ổi ng: m n dả có cực từ bình thường và xen với một dải có cực từ bị đảo ngược.
  15. • Điều này chỉ có thể giải thích bằng hiện tượng tách giãn đáy đại dương: - Vật chất của Manti theo đới tách giãn tràn ra 2 bên và bị từ hóa theo hướng của trường địa từ lúc bấy giờ. - Số vật chất tràn lên sau sẽ đẩy số vật chất có trước ra 2 bên nên các dải dị thường càng ở xa càng có tuổi cổ. - Và do TĐ có nhiều lần thay đổi hướng từ trường làm cho các dải xen kẽ nhau có cực từ bị đảo ngược.
  16. 2. Đặc trưng trầm tích ở đáy đại dương và dãy đảo núi lửa: Từ 1968 – 1970, tàu thám hiểm của Mỹ đã khoan vào các đáy của TBD và ĐTD, ÂĐD tại nhiều nơi khác nhau và rút ra kết luận: - Các trầm tích phân bố ở giữa các sống núi đều mỏng hơn và có tuổi trẻ hơn. - Các trầm tích có tính đối xứng qua sống núi đại dương, càng xa tuổi càng cổ dần. → Chứng tỏ đáy đại dương tách giãn
  17. Tuổi của vỏ đại dương, trung tâm màu đỏ có tuổi trẻ nhất
  18. 3. Phát hiện sự hút chìm: - Một hệ quả của sự tách giãn đáy đại dương là sự hình thành lớp vỏ mới dọc theo sống núi giữa đại dương → giả thuyết "Trái Đất giãn nở”. nhưng kích thước của TĐ vẫn không thay đổi. + Giải thích của Hess: Nếu vỏ TĐ mở rộng dọc theo các sống núi giữa đại dương thì nó phải bị chìm ở đâu đó. - Ông cho rằng vỏ đại dương mới tiếp tục tách giãn ngày càng xa sống núi. Nhiều triệu năm sau, lớp vỏ đại dương chìm vào rãnh đại dương - một vực hẹp và sâu dọc theo rãnh của bồn địa Thái Bình Dương.
  19. VD: ĐTD đang mở rộng trong khi TBD đang co lại. Trong khi vỏ đại dương cổ bị hút xuống ở các rãnh, thì macma mới dâng lên và phun trào dọc theo các sống núi tách giãn để tạo thành lớp vỏ mới. Bồn địa đại dương có vai trò như là "lò tái chế" với sự tạo ra vỏ mới và phá hủy thạch quyển đại dương cổ một cách liên tục. Như vậy, nó đã giải thích tại sao Trái Đất không lớn hơn, tại sao có rất ít trầm tích lắng tụ trên đáy đại dương, và tại sao các đá trong đại dương trẻ hơn các đá trên lục địa.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản