Báo cáo 4174/BC-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Chia sẻ: Uyên Sơn Phạm | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:8

0
81
lượt xem
6
download

Báo cáo 4174/BC-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo 4174/BC-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tổng hợp trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo 4174/BC-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  1. BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------------- Số: 4174/BC-BKH --------------------- Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2009 BÁO CÁO TỔNG HỢP TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TẠI KỲ HỌP THỨ 5, QUỐC HỘI KHÓA XII --------------------- Kính gửi: Các vị Đại biểu Quốc hội Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin báo cáo các vị Đại biểu Quốc hội nội dung các việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã và đang thực hiện từ sau phiên chất vấn tại kỳ họp thứ 3 của Quốc hội và trả lời chất vấn của các vị Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 5. I. Những nội dung công việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã và đang thực hiện từ kỳ chất vấn gần đây (kỳ họp thứ 3, Quốc hội XII) đến nay: 1. Tham mưu cho Chính phủ đề ra các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế: Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động nghiên cứu, báo cáo Chính phủ về tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đến nền kinh tế nước ta và đề xuất các giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội ; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội với 5 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; (2) Thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng: (3) Chính sách tài chính và tiền tệ: (4) Bảo đảm an sinh xã hội: và (5) Tăng cường công tác điều hành, tổ chức thực hiện chính sách. Để triển khai thực hiện Nghị quyết 30 nói trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 30/2008/NQ-CP, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 12/2009/QĐ-TTg ngày 19/01/2009, phân công cụ thể từng nội dung công việc cho các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện. Tổ chức theo dõi, bán cáo Chính phủ về tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết trong các phiên họp thường kỳ của Chính phủ. Trên cơ sở báo cáo tổng hợp của 20 đoàn công tác do 20 thành viên Chính phủ làm trưởng đoàn đi kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết 30 tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổng hợp báo cáo, trình Chính phủ về kết quả của việc thực hiện Nghị quyết 30/2008/NQ-CP tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và đề xuất phân công cho các bộ, ngành xử lý và hướng dẫn thực hiện. 2 . Hoàn thiện pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản : Nhằm đảm bảo tính thống nhất, tránh những mâu thuẫn giữa Luật dầu tư và các luật liên quan khác trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì nghiên cứu, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản. Dự thảo Luật tập trung vào ào vấn đề liên quan đến quy trình, thủ tục đầu tư XDCB, trong đó đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều vướng mắc nhất trong 6 luật là: Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai và Luật Nhà ở. Tại kỳ họp này, Chính phủ đang trình Quốc hội dự thảo Luật để các đại biểu Quốc hội xem xét, thông qua. 3 . Vấn đề về cơ cấu lại nền kinh tế .
  2. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng đề án tái cấu trúc nền kinh tế. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang triển khai thực hiện nhiệm vụ này để báo cáo trình Chính phủ . Bên cạnh đó, hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chuẩn bị xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2010, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 gắn với định hướng tái cấu trúc nền kinh tế thời kỳ hậu suy giảm kinh tế. 4 . Về công tác dự báo : Để tăng cường công tác dự báo, theo sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng đề án dự báo kinh tế xã hội, đồng thời với việc xây dựng đề án đổi mới công tác thống kê để trình Chính phủ thông qua vào đầu năm 2010. II .Về những nội dung trả lời chất vấn của các vị Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII. Trong Kỳ họp này, tính đến ngày 8/6/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được 10 nội dung chất vấn Bộ trưởng Bố Kế hoạch và Đầu tư và 3 nội dung chất vấn Thủ tướng Chính phủ của các vị Đại biểu Quốc hội được Thủ tướng Chính phủ phân công trả lời Đại biểu Quốc hội. Tất cả các nội dung chất vấn của các Đại biểu Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản trả lời gửi trực tiếp đến Đại biểu Quốc hội và Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội.Một số vấn đề được nhiều vị Đại biểu Quốc hội quan tâm, chất vấn Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII tập trung vào các nhóm vấn đề sau đây: 1. Về những căn cứ để trình Quốc hội điều chỉnh một số chỉ tiêu kế hoạch năm 2009. (Đại biểu Vũ Thị Thu Hà, Đoàn đại biểu Quôc hội tỉnh Hưng Yên; Đại biểu Trần Du Lịch, Đoàn đại biêủ Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh; Đại biểu Lê Thị Dung, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang) (1). Về điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009: Trước hết, là căn cứ vào tình hình kinh tế trong nước 5 tháng đầu năm: GDP Quý I tăng 3,1%. Xét theo ngành và lĩnh vực: sản xuất công nghiệp tăng liên tục với tốc độ tăng trưởng của các tháng sau cao hơn (tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp tháng1 giảm 4,4%, tháng 2 tăng 14,9%, tháng 3 tăng 2,4%, tháng 4 tăng 5,4% và tháng 5 tăng 6,8%). Đặc biệt, trong ngành xây dựng, với xu hướng thị trường bất động sản đang phục hồi trở lại khá rõ nét. Tốc độ tăng giá trị gia tăng trong ngành xây dựng từ âm 0,4% trong năm 2008 tăng lên 6,8% trong Quý I năm 2009 và có khả năng tăng cao hơn trong các quý sau. Sản xuất nông nghiệp phát triển thuận lợi với vụ lúa đông xuân ở phía Nam tăng cao hơn năm 2008; chăn nuôi và thủy sản phát triển mạnh; dịch bệnh được khống chế. Lĩnh vực dịch vụ phát triển tốt. Giá trị gia tăng dịch vụ Quý I tăng 5,4%; đặc biệt nhờ các biện pháp đẩy mạnh kích cầu tiêu dùng, hoạt động của thị trường trong nước khá sôi động với tốc độ tăng trưởng 5 tháng đầu năm là 21%. Đây là yếu tố quan trọng thúc đầy tăng trưởng trong điều kiện xuất khẩu đang gặp khó khăn. Với những xu hướng chuyển biến tích cực như trên và tác động của gói kích cầu trong các tháng tới, dự báo tăng trưởng kinh tế trong quý II có thể cao hơn quý I/2009, đạt khoảng 3,8 - 4,2%, các quý III, quý IV sẽ tăng cao hơn tương ứng khoảng 5,6-6,5% và 6,8-7,4%. Trên từng lĩnh vực, dự báo trong năm 2009 khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 2-2,8%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 3,5-5%; khu vực dịch vụ tăng khoảng 7,5-7,7%. Trên cơ sở đó, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2009 tăng khoảng 4,7%-5,5%. Tuy nhiên, để chủ động trong điều hành, đề nghị Quốc hội thông qua chỉ tiêu điều chỉnh tốc độ tăng trưởng GDP năm nay khoảng 5%. (2) Về điều chỉnh chỉ tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2009:
  3. Xuất khẩu sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng, do thương mại toàn cầu có thể giảm tới 11%, mức giảm lớn nhất trong 7 thập kỷ qua. Trong những tháng tới xuất khẩu của nước ta sẽ tiếp tục gặp khó khăn. Các đối tác lớn và truyền thống của thị trường xuất khẩu nước ta hạn chế ký tiếp các đơn hàng đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu. Nhưng gần đây có một số yếu tố thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, như việc mở lại thị trường thủy sản lớn là Nga và Braxin; giá một số mặt hàng có kim ngạch lớn và có lợi thế như dầu thô và nông sản, thủy sản đang có xu hướng tăng. Riêng giá dầu thô từ mức khoảng 30 Usd/thùng, nay đã tăng lên gần 70 USD/thùng. Với các yếu tố trên và kết quả xuất khẩu của 5 tháng đầu năm, dự báo tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt khoảng 3-5% so với năm 2008. Trên cơ sở phân tích như trên, đề nghị Quốc hội cho điều chỉnh tăng trưởng xuất khẩu xuống khoảng 3%. (3) Về điều chỉnh chỉ số giá tiêu dùng:: Hiện nay kinh tế thế giới đang trong tình trạng suy thoái sâu và giá cả biến động ở mức thấp. Tuy nhiên, những diễn biến về tăng chỉ tiêu của các Chính phủ thông qua các gói "kích" cầu lớn, đặc biệt là gói kích thích kinh tế của Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc,... sẽ có tác động nhất định đến mặt bằng giá. Đối với nước ta, chỉ số giá 5 tháng đầu năm tăng 2,12%. Tuy nhiên với việc thực hiện các chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng và những ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới sau khi Chính phủ các nước đã chỉ ra các khoản tài chính khổng lồ để kích thích nền kinh tế,... có thể ảnh hưởng đến giá cả trong nước. Vì vậy, cần thiết phải có biện pháp đề phòng những tác động tăng giá thế giới và diễn biến phức tạp . Tuy nhiên nhờ việc can thiệp của Chính phủ và các tổ chức quốc tế, tình hình giá cả thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng trở lại, nhất là đối với giá dầu thô, nông sản và một số hàng hóa quan trọng, thiết yếu khác. Ở trong nước, chỉ số giá 5 tháng đầu năm tăng 2,12%. Trong thời gian tới, với những tác động của giá cả đầu vào, nhất là giá thế giới và nhu cầu có khả năng thanh toán tăng do phát triển sản xuất và thu nhập của dân cư dự báo ...Tốc độ tăng giá của các tháng còn lại sẽ cao hơn so với bình quân 5 tháng đầu năm. Từ sự phân tích trên và để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất phát triển và bảo đảm đời sống nhân dân, trình Quốc hội cho phép giữ tốc độ tăng giá như đã trình Quốc hội điều chỉnh từ dưới 15% xuống dưới 10%. (4) Về phát hành bổ sung vốn Trái phiếu Chính (TPCP) năm 2009: Tình hình suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đầu tư phát triển. Xu hướng giảm đầu tư ở tất cả các khu vực, các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Để thực hiện các mục tiêu kích cầu đầu tư, ngăn chặn suy giảm kinh tế, cần thực hiện nhiều giải pháp chính sách để huy động các nguồn vốn, bao gồm việc ứng trước kế hoạch đầu tư NSNN của các năm sau, bổ sung tăng thêm nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, tín dụng đào tạo lại cho người lao động bị mất việc làm,... Ngoài ra, việc bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ năm 2009, 20.000 tỷ đồng nhằm bổ sung thêm nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm đưa công trình vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Từ đó, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh phát triển. Đồng thời, việc bổ sung vốn TPCP cũng sẽ góp phần khắc phục tình trạng ứ đọng vật liệu và thúc đẩy sản xuất vật liệu xây dựng phát triển. Về đối tượng, đề nghị Quốc hội cho phép bổ sung thêm xây dựng và nhà ở cho học sinh, sinh viên để giảm bớt khó khăn về nhà ở, qua đó góp phần tạo thêm điều kiện cho học sinh, sinh viên học tập tốt hơn. 2. Vấn đề về sử dụng hiệu quả gói kích cầu nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng kinh tế. (Đại biểu Vũ Quang Hải, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên; Đại biểu Trần Du Lịch, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố hồ Chí Minh; Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang; Đại biểu Vũ Thị Thu Hà, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên)
  4. Việc Chính phủ đưa ra gói kích cầu (kích thích kinh tế) khoảng 145 nghìn tỷ đồng trưởng đương 8 tỷ USD) nhằm mục tiêu ngăn chặn suy giảm tinh tế, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội. Việc thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các giải pháp kích cầu mang lại những kết quả bước đầu. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng 3,1% trong quý I và là một trong 12 nước trên thế giới có tốc độ tăng trưởng dương. Trong các tháng 4,5 nền kinh tế tiếp tục có chuyển biến tích cực; ngành công nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng trưởng ngày càng cao hơn (tháng 1 giảm 4,4%, tháng 2 tăng 14,9%, tháng 3 tăng 2,4%, tháng 4 tăng 5,4% và tháng 5 tăng 6,8%). Ngành xây dựng từ chỗ tăng trưởng âm 0,4% năm 2008, sang quý I năm 2009 tăng 6,8%. Nông nghiệp phát triển ổn định; sản lượng lúa đông xuân ở phía Nam tăng cao hơn năm trước. Hoạt động của thị trường trong nước khá sôi động với tổng mức doanh số bán lẻ và kinh doanh dịch vụ 5 tháng đầu năm tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu tháng 5 cũng tăng so với tháng 4,... Các cân đối và chỉ số kinh tế vĩ mô tương đối ổn định; chỉ số lạm phất ở mức thấp. Việc thực hiện gói kích cầu cũng góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tiếp tục hướng vào các mục tiêu về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc, các vùng miền núi, vùng sâu, vừng xa; tích cực hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tại 61 huyện nghèo; hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,... Đi đôi với việc triển khai thực hiện chính sách, Chính phủ còn tăng cường công tác kiềm ra, giám sát, cử 20 đoàn công tác do các Bộ trưởng làm trưởng đoàn về các địa phương kiểm tra, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ; tăng cường công tác phân tích và dự báo kinh tế, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện gói kích cầu. 3. Về tiến độ giải ngân, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ: (Đại biểu Phạm Lễ Chi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh; Đại biểu Lê Thị Dung, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang) Trong thời gian qua, tiến độ giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP) đạt mức độ thấp, tập trung chủ yếu bởi mốt số nguyên nhân sau: Thủ tục đầu tư của các công trình và dự án chưa hoàn chỉnh nên mất nhiều thời gian đề hoàn thiện. Công tác giải phóng mặt bằng chậm, nhiều công trình có vốn nhưng không giải ngân được dó không có mặt bằng để thi công. Công tác đấu thầu còn nhiều bất cập, năng lực nhà thầu còn chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cũng như tiến độ thi công. Năng lực tư vấn cũng còn nhiều bất cập. Nhiều công trình phải điều chỉnh thiết kế quy hoạch và tổng dự toán cho nên mất nhiều thời gian. Chính phủ cùng các Bộ ngành, địa phương nỗ lực trong việc đề ra nhiều giải pháp nhằm thảo gỡ các khó khăn vướng mắc liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó có vấn đề về việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Những biện pháp này phần nào đã mang lại hiệu quả tích cực, đẩy nhanh tốc độ giải ngân vào các tháng cuối năm 2008. Trong những tháng đầu năm 2009, tiến độ giải ngân vốn TPCP còn thấp, nhất là khối địa phương do đang phải tập trung giải ngân hết số vốn của năm trước. Tuy nhiên, sự chỉ đạo tập trung quyết liệt của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các ngành, cáo cấp, dự kiến đến hết năm 2009, sẽ phấn đấu giải ngân đạt kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ được giao. Trong thời gian tới, để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn TPCP, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau đây: - Các bộ ngành và các cấp chính quyền địa phương, trong phạm vi trách nhiệm của mình, cần phải rà soát các qui định về thủ tục đầu tư và các vấn đề có liên quan để loại bỏ các qui định không cần thiết, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của từng cấp, khắc phục những tồn tại, chồng chéo, không thống nhất giữa các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản. - Chủ động làm tốt khâu chuẩn bị dự án, từ khâu quy hoạch đến việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt, thiết kế kỹ thuật,.... khác phục tình trạng vốn chờ công trình như trong thời gian vừa qua. Các bộ, ngành địa phương phải bố trí đủ kinh phí để bảo đảm cho việc chuẩn bị các dự án.
  5. - Chú trọng khâu giải phóng mặt bằng, đền bù và tái định cư cho người dân đang sinh sống trong vùng dự án đầu tư, đảm bảo sự thống nhất, công bằng và kiên quyết trong việc thực hiện luật pháp và chính sách đền bù, tái định cư cho người dân. - Trên cơ sở tổng mức vốn và danh mục dự án được Thủ tướng Chính phủ giao, các bộ, địa phương phải bố trí, phân bổ vốn theo đúng các nguyên tắc đã được quy định, tuyệt đối không bố trí vốn cho các dự án chưa có đủ các thủ tục đầu tư theo qui định của pháp luật. - Tăng cường các biện pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư. Đối với các dự án không triển khai được hoặc triển khai chậm sẽ kiên quyết thực hiện điều chuyển vốn cho các dự án khác, hoặc cho các bộ, ngành và địa phương khác. - Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm, bảo đảm việc sử dụng nguồn vốn TPCP đúng mục tiêu, tiết kiệm và hiệu quả. Đặc biệt, sau khi Luật sửa đổi các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản được Quốc hội thông qua phải khẩn trương triển khai thực hiện nhằm đơn giản hóa thủ tục trong đầu tư xây dựng cơ bản. 4. Vấn đề về đầu tư phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): (Đại biểu Lê Thị Dung, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang) 1. Vùng ĐBSCL là vùng có nhiều lợi thế và tiềm năng, nhưng phát triển còn chậm; chủ yếu do là vùng thuần nông, thiên nhiên ưu đãi về phát triển nông nghiệp, nhưng bên cạnh đó tồn tại những mặt không thuận lợi so với các vùng khác như nhiều sông rạch chằng chịt, giao thông đường bộ kém thuận lợi. Do vậy, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tập trung đầu tư vốn bằng nhiều hình thức như: Kêu gọi vốn ODA, FDI, vốn hỗ trợ có mục tiêu từ nguồn ngân sách Trung ương và nguồn Trái phiếu Chính phủ xây dựng trường học, bệnh viện tuyến huyện và các công trình quan trọng giao thông và thủy lợi. Đối với lĩnh vực giao thông, thực hiện Quyết định số 344/2005/QĐ-TTg ngày 26/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển gian thông vận tải vùng ĐBSCL đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Bộ Giao thông Vận tải đã tập trung đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm về đường bộ, đường sông, đường biển và cảng hàng không. Để khắc phục triệt để các mặt hạn chế của ĐBSCL cần phải có nguồn vốn lớn và phải đầu tư liên tục nhiều năm, không thể trong thời gian ngắn mà khắc phục được. Từ đó, Chính phủ đã có Quyết định số 171/2006/QĐ-TTg ngày 24/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ đầu tư cho lĩnh vực gian thông, thủy lợi trên địa bàn Vùng DBSCL với tổng số vốn lên tới 21.300 tỷ đồng/110.000 tỷ đồng cả nước; Giai đoạn từ năm 2004-2010 dành khoảng 15.546 tỷ đồng tập trung đầu tư cho một số dự án quan trọng như Đường cao tốc Sài Gòn - Trung Lương (7.692 tỷ đồng); Cầu Cần Thơ (4.842 tỷ đồng); Cầu Rạch Miễu (570 tỷ đồng); Mở rộng Quốc lộ I đoạn Sài Gòn - Trung Lương (1.842 tỷ đồng); mở rộng Quốc lộ I đoạn Trung Lương- Mỹ Thuận (600 tỷ đồng),... Bên cạnh đó, tiếp tục tập trung vốn cho nâng cấp, mở rộng các tuyến Quốc lộ và các tuyến đường ngang quan trọng, hệ thống giao thông địa phương (tỉnh lộ, huyện lộ, đường đến trung tâm các xã, đường ra biên giới,...), hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thuỷ từ TP. HCM xuống Cà Mau và Kiên Giang, đang tập trung đẩy nhanh tiến độ xây đựng các công trình trọng điểm như: Cảng hàng không Trà Nóc (Cần Thơ), cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu, chuẩn bị các điều kiện để xây mới cảng đường thuỷ An Thới, cảng hàng không Dương Tơ (Phú Quốc), làm đường giao thông xuống trung tâm các xã chưa có đường ô tô v.v... Theo tinh thần Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị về "Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL thời kỳ 2001 - 2010" Đối với lĩnh vực thủy lợi: Thực hiện Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch thủy lợi vùng ĐBSCL đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ưu tiên xây dựng các công trình thủy lợi quan trọng, nhằm sử dụng và khai thác hợp lý, hiệu quả nguồn nước sông Mê Kông, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và phòng chống thiên tai. Để thực hiện Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 171/2006/QĐ-TTg ngày 24/6/2006 đầu tư cho thủy lợi vùng ĐBSCL là 1.300 tỷ đồng/9.000 tỷ đồng đầu tư thủy lợi cả nước, nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng
  6. thủy sản. Như vậy, Nhà nước đã tập trung một lượng vốn khá lớn nhằm tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL. Đối với lĩnh vực giáo dục: Tập trung đầu tư và đẩy nhanh tiến độ xây đựng kết cấu cơ sở hạ tầng lớn cho các trường học. Tổng vốn đầu tư giai đoạn 2006-2007 cho ĐBSCL là 985,195 tỷ đồng; năm 2008 là 614,2 tỷ đồng/3.775,6 tỷ đồng cả nước; kế hoạch năm 2009 là 499 tỷ đồng/3.000 tỷ đồng cả nước..... Đối với lĩnh vực y tế: Tổng vốn đầu tư cho cả nước giai đoạn 2006-2010 là: 14.000 tỷ đồng, riêng ĐBSCL năm 2008 được bố trí 1.007 tỷ đồng/3.750 tỷ đồng cả nước, đã giao kế hoạch năm 2009 cho ĐBSCL là 645 tỷ đồng/3.000 tỷ đồng cả nước,… Trong thời gian qua, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm rất lớn nhằm giúp cho Đồng Bằng Sông Cửu Long phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng sống của người dân, tạo động lực phát triển cho cả Vùng. Các Quyết định số 99/QĐ-TTg; Quyết định số 344/2005/QĐ-TTg; Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg; Quyết định 26/2008/QĐ-TTg thay cho Quyết định số 173/QĐ-TTg; 74/2008/QĐ-TTg, Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 20/3/2009,... của Thủ tướng Chính phủ thể hiện sự quan tâm rất lớn của Chính phủ trong việc tập trung đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng vùng ĐBSCL. Ngoài việc Nhà nước dành một khối lượng vốn lớn từ nguồn Ngân sách Nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vùng ĐBSCL, Chính phủ Việt Nam khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư, phát triển vùng ĐBSCL 5. Về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng (Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang) Trong những tháng đầu năm 2009, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đăng ký. Nhưng tính chung toàn bộ vốn đầu tư nước ngoài đến hết tháng 5/2009 thì 53.2% vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài lại tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Riêng trong 5 tháng đầu năm 2009, vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp mới và tăng thêm là 6,68 tỷ USD, bằng 23,7% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó, lĩnh vực dịch vụ lưu trú (khách sạn, biệt thự, căn hộ, nhà khách….) chiếm 66,9% tổng vốn đăng ký, lĩnh vực kinh doanh bất động sản chiếm 21,7% tổng vốn đăng ký. Nếu chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2009, lĩnh vực bất động sản và khách sạn chiếm 88,6% tổng vốn đăng ký nhưng tính lũy kế đến tháng 5/2009, lĩnh vực kinh doanh bất động sản chiếm 20,2%; lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 6,9% tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất tới thời điểm này vẫn là công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 53 ,2% tổng vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam. Đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Tính đến tháng 5/2009, có 476 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với 2,9 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm gần 2% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam. Như vậy, xét về quy mô vốn cam kết, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là còn thấp so với yêu cầu. Theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan khác xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2009-2015 tại Tờ trình số 444/TTr-BNN-HĐQT ngày 02/03/2009. Theo đó, nhiều giải pháp đã được đề ra với mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây, con mới có năng suất, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường; sử dụng công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị và mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm.... Trong chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia năm 2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã bố trí nguồn kinh phí xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang chủ trì triển khai, dự kiến trong Quý III/2009.
  7. 6. Về tình hình thông báo kế hoạch vốn cho một số công trình, dự án ở địa phương. + Về kế hoạch hàng năm: Theo chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao đối với lĩnh vực đầu tư phát triển và phân bổ ngân sách nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển. Theo đó, hàng năm xây dựng tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo ngành, lĩnh vực; tổng mức và cân đối vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước theo ngành, lĩnh vực (bao gồm cơ cấu đầu tư của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương); tổng mức vốn dự trữ nhà nước, tổng mức vốn góp cổ phần và liên doanh của nhà nước, vốn bổ sung cho các doanh nghiệp công ích, tổng mức vốn trái phiếu Chính phủ và công trái theo ngành, lĩnh vực, tổng mức vốn chương trình mục tiêu quốc gia,... Đối với kế hoạch năm 2009, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1675/2008/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2008 về giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 và Quyết định số 1676/2008/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2008 về giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2009. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Quyết định số 260/QĐ-BKH ngày 19/11/2008 về việc giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước năm 2009. Căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã tích cực triển khai thực hiện việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho các đơn vị cơ sở triển khai thực hiện. Nhìn chung, việc phân khai kế hoạch của các bộ, ngành và địa phương được triển khai thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Các Bộ, ngành, địa phương đã triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển năm 2009, tập trong bố trí vốn cho các dự án chuyển tiếp, hoàn thành trong năm 2009 để phát huy hiệu quả của dự án, hạn chế khởi công các dự án mới. + Về quá trình phân bổ nguồn trái phiếu Chính phủ. Thực hiện Quyết định 171/2006/QĐ-TTg ngày 24/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát hành và sử dụng trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thông báo nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003- 2010 cho các Bộ, cơ quan và địa phương, thông báo tổng số vốn và danh mục dự án, không thông báo mức vốn của từng dự án. Đối với kế hoạch vốn TPCP năm 2009 đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 350/QĐ-TTg ngày 16/3/2009. Trong quá trình triển khai giao kế hoạch vốn hàng năm cũng như nguồn TPCP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đúng với các luật định hiện hành. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tiến độ giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP) đạt mức độ thấp, do một số nguyên nhân sau: Thủ tục đầu tư của các công trình và dự án chưa hoàn chỉnh nên mất nhiều thời gian để hoàn thiện. Công tác giải phóng mặt bằng chậm, nhiều công trình có vốn nhưng không giải ngân được do không có mặt bằng để thi công. Công tác đấu thầu còn nhiều bất cập, năng lực nhà thầu còn chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cũng như tiến độ thi công. Năng lực tư vấn cũng còn nhiều bất cập. Nhiều công trình phải điều chỉnh thiết kế quy hoạch và tổng dự toán cho nên mất nhiều thời gian. Hiện nay, Chính phủ cùng các Bộ ngành, địa phương đang nỗ lực trong việc đề ra nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó có vấn đề về việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Sự chỉ đạo tập trung quyết liệt của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, dự kiến đến hết năm 2009, sẽ phấn đấu giải ngân đạt kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ được giao. Đặc biệt, sau khi Luật sửa đổi các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản được Quốc hội thông qua phải khẩn trương triển khai thực hiện nhằm đơn giản hóa thủ tục trong đầu tư xây dựng cơ bản, đẩy nhanh tốc độ giải ngân các nguồn vốn của Nhà nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương rà soát lại việc triển khai kế hoạch đầu tư phát triển năm 2009 để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Đồng
  8. thời, hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương theo dõi, đánh giá tính hình thực hiện kế hoạch của Bộ, ngành, địa phương. 7. Một số vấn đề cụ thể khác như vấn đề về giải quyết việc làm và tỷ lệ thất nghiệp (Đại biểu Trần Du Lịch, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh), vấn đề về dân di cư tự do, nạn phá rừng và các giải pháp tháo gỡ (Đại biểu Võ Văn Đủ, Đoàn đại biểu Quốc hột tỉnh Đắk Nông; Đại biểu Lương Phan Cừ, Đoàn đại biếu Quốc hội tỉnh Đắk Nông, Đại biểu Điểu Điều, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Phước),.... Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản trả lời trực tiếp gửi tới các Đại biểu Quốc hội hoặc chuyển đến các Bộ liên quan. Trên đây là báo cáo tổng hợp giải trình các câu hỏi chất vấn của các đại biểu Quốc hội, trình Quốc hội xem xét. Xin trân trọng cảm ơn các vị Đại biểu Quốc hội./. Nơi nhận BỘ TRƯỞNG - Các đại biểu Quốc hội - Các đồng chí lãnh đạo Bộ; - Văn phòng Chính phủ; - Lưu VT, Vụ TH. Võ Hồng Phúc
Đồng bộ tài khoản