Báo cáo: Biến đổi cơ cấu gia đình

Chia sẻ: tuhuy

Tài liệu chuyên ngành môn xã hội học gia đình. Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu được định nghĩa là sự thay đổi trạng thái khí hậu có thể xác định thông qua những giá trị thay đổi của giá trị trung bình và/hoặc sự biến thiên của...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo: Biến đổi cơ cấu gia đình

Biến đổi cơ cấu gia đình
1. Khái niệm cơ cấu gia đình
2. Qui mô gia đình
3. Số thế hệ trong gia đình
4. Quan hệ vợ chồng trong gia đình
5. Quan hệ cha mẹ với con cái
Khái niệm cơ cấu gia đình
• Cơ cấu gia đình là những thành tố tạo nên một
gia đình và quan hệ qua lại giữa chúng với nhau.
Nói một cách khác cơ cấu gia đình là số lượng,
thành phần và mối quan hệ giữa các thành viên
và các thế hệ trong gia đình.
• Cơ cấu gia đình chỉ quy mô gia đinh, kiểu loại gia
đình, mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình.
• Cơ cấu gia đình còn chỉ toàn bộ mối quan hệ
qua lại giữa các thành viên trong gia đình: quan
hệ ruột thịt, quan hệ tinh thần-đạo đức, quan hệ
uy quyền.
2. Quy mô gia đình
• Quy mô gia đình chỉ độ lớn của gia đình.
• Đó là một đơn vị đo lường để thấy được số
lượng các thành viên cùng chung sống trong một
gia đình.
• Khi nói đến qui mô gia đình người ta thường đề
cập cụ thể đến số lượng thành viên của gia đình
trong đố số lượng con cái và những thành viên
khác cùng chung sống.
• Qui mô gia đình là một hàm số của số con trong
gia đình (phản ánh mức độ sinh đẻ) và những
người đã trưởng thành cùng ở chung.
Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ
• Một tài liệu lịch sử khi đưa ra những số liệu về nhân
khẩu của một số quận ở miền Bắc Việt Nam, cho biết
về qui mô hộ gia đình đã tương đối nhỏ: Quận Giao Chỉ
có 8,07 khẩu/hộ; quận Cửu Chân có 4,64 khẩu/hộ và
quận Nhật Nam có 4,64/hộ. Đầu thế kỷ XV, thống kế
các phủ huyện cho biết nước ta có 120.412 hộ với
500.264 khẩu, trung bình mỗi hộ có 4,15 khẩu.
• Sau cách mặng tháng Tám, đặc biệt những năm sau
1975, Việt Nam có điều kiện để tiến hành các cuộc điều
tra dân số và các nghiên cứu về gia đình trên qui mô
rộng, số người trung bình trong gia đình theo chiều
hướng giảm rõ rệt. Từ các cuộc tổng điều tra dân số từ
1974 cho thấy: ở miền Bắc năm 1974: 5,2 người ; năm
1979: 5,0 người và năm 1989: 4,87 người.
Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ

• Kết quả của Tổng điều tra dân số 1989 và Khảo sát
mức sống dân cư Việt Nam 1992-1993: Số người trung
bình trong một hộ :1979 5.2; 1989: 4.6; 1993: 4,3.
• Dựa trên kết quả khảo sát lịch sử đời sống ở Việt Nam,
năm 1991 thì thấy trên toàn bộ , qui mô hộ gia đình khá
khiêm tốn, dao động trong khoảng từ 4,4 người trong
thành phố ở mìên Bắc đến 6,0 người trong thành phố ở
miền Nam. Cả ở đô thị và nông thôn, hộ gia đình ở miền
Nam lớn hơn ở miền Bắc.
• Kết quả điều tra kinh tế-xã hội hộ gia đình của Tổng
cục Thống kê hàng năm ( 1994-1997) trên 7 vùng sinh
thái ở Việt Nam cũng cho thấy xu hướng này ngày càng
được khẳng định: năm 1994: 5.09; năm 1995:4,99; năm
1996: 4,91 và năm 1997: 4,85.
Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ
• Theo kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, khu
vực Đồng bằng sông Hồng có qui mô hộ trung bình thấp nhất ( 4,1
ngưòi/hộ), vùng Tây bắc có qui mô hộ trung bình cao nhất (5,2
nguời/hộ). Tiếp theo là Tây Nguyên (5 người/hộ), Đông nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long (4,8 người/hộ),Đông Bắc, Bắc Trung bộ
và Duyên hải Nam Trung bộ (4,6 người/hộ).
• Dự án “ Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người
phụ nữ trong gia đình thời kỳ CNH-HĐH đất nước” do Trung tâm
nghiên cứu Khoa học về gia đình và Phụ nữ thực hiện từ năm
1998 đến năm 2000 ở khu vực miền Bắc cho thấy rõ điều này:
số người trung bình trong hộ ở thành phố: 4,3; ở đồng bằng: 4.5 và
ở trung du-miền núi: 4,7.
• Theo số liệu của Tổng cục Thống kê qua phân tích điều tra cơ bản
tình hình trẻ em-phụ nữ năm 2001 tại 10 huyện trọng điểm vùng
núi, vùng sâu, vùng xa cả 3 miền Bắc, Trung , Nam thì số hộ gia
đình từ 1 đến 3 người chiếm 9,5%, hộ từ 5 người trở lên chiếm
70,21%, hộ từ 7 người trở lên chiếm 33, 34 %.
• Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006: bình quân nhân khẩu của hộ
gia đình ở thành thị thấp hơn không đáng kế so với nông thôn: 4.3
so với 4.4. So sánh giữa nhóm họ giàu và hộ nghèo cho thấy bình
quân nhân khẩu của hộ giàu thấp hơn đáng kê so với nhóm hộ
nghèo: 4 so với 5.1.
Nguyên nhân của sự biến đổi qui mô gia đình

• Thú nhất, Quá trình tách hộ diễn ra liên
tục ngay từ trong xã hội Việt Nam truyền
thống và được đẩy mạnh dần tốc độ cho
đến những năm sau 1975 và cho đến nay.
Những đặc trưng của quá trình này cũng
khác nhau trong những giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội. Có thể kể ra đây
những lý do dẫn đến việc tách hộ
Quá trinh tách hộ
• Theo tập tục hôn nhân gia đình của nguời Việt: con cái khi lấy chồng lấy vợ thì ra
ở riêng nếu gia đình cha mẹ có điều kiện về nhà và đất ở. Đặc trưng này được biểu
hiện trong suốt thời kỳ gia đình Việt Nam hình thành và ổn định ( từ thế kỷ 15) đến
nay
• Trong chế độ hợp tác xã: toàn bộ kế hoạch sản xuất và phân phối thu nhập do ban
quản trị lo, các xã viên tuân theo sự điều hành chung. Do đó, mọi người trong gia
đình kể cả chủ hộ không phải lo lắng gì tới quá trinh sản xuất kinh doanh.
• Cơ chế khoán sản phẩm: việc hỗ trợ thành đơn vị tự chủ trong sản xuất kinh
doanh không dẫn đến sự quần tụ trong hộ lớn mà dấn tới “mi ni hoá hộ”.
• Chính sách khoán đất, ruộng cho nguời lao động (nông dân): Nghị định 30/HĐBT
của Hội đồng bộ trưởng ( ngày 23/3/1989) trong đó có 2 nội dung quan trọng đối với
người nông dân: Một là, đất sản xuất được giao cho nông dân với 3 thời hạn giao
khác nhau: giao tạm thời, giao có thời gian và giao ổn định lâu dài; Hai là , hộ được
giao đất mới để làm nhà ở phải có các điều kiện sau: Có hộ khẩu thường trú ở nơi
xin đất và trong gia đình có thêm một cặp vợ chồng. Do vậy, tren thực tế, nhiều hộ
gia đình trước đây có 2 cặp vợ chồng chung sống đã có điều kiện tách hộ.
• Một nghiên cứu xã hội học về ảnh hưởng của Luật đất đai (1993) và các văn bản
dưới Luật đến quá trình tách hộ và cơ cấu gia đình tại một địa bàn nghiên cứu
( Đào Xá, thị xã Hải Dương) cho thấy “ sau khi tách hộ, các kiểu loại 1 và 2 thế hệ
tăng lên, còn các kiểu loại 3-4 thế hệ giảm xuống” (Mai Văn Hai và Nguyễn Phan
Lâm, 2001: 22)
• Tách hộ đến vùng khác cư trú cho phù hợp với cách thức tổ chức cuộc sống gia
đình: có thể di chuyển gia đình đến một vùng đất mới để làm ăn ( thường gọi là đi
vùng kinh tế mới) hay do sự di chuyển nơi làm việc của những trụ cột trong gia đình
( vợ hoặc chồng).
Quy mô gia đình Việt Nam vẫn còn lớn so với các nước phát
triển.

• Quy mô gia đình trung bình của VN năm 1999 là 4.6
người, tương đương với quy mô trung bình gia đình ở
Thái Lan năm 1990 là 4.62 người.
• Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan, quy mô trung
bình hộ gia đình Thái Lan thay đổi theo các năm như
sau: năm 1985: 4.98; năm 1990: 4.62; năm 1995: 4.27;
năm 2000: 3.96; năm 2005: 3.7.(UBBV&CSTEVN,2000)
• Hiện nay ở nhiều nước công nghiệp phát triển, quy mô
gia đình trung bình dao động từ 2,2 đến 3 người. Năm
1994, số người bình quân trong gia đình Mỹ là 2.2
người, Nhật bản là 2.96 người, Australia là 3.1 người
( Dự báo thế kỷ 21.1998)
Thứ hai, do sự thành công của cuộc vận động sinh đẻ
có kế hoạch ở Việt Nam

• Số con TB của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
giảm từ 3.8 con năm 1989 xuống khoảng 2.3 con
năm 2003.
• Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm tương ứng từ
2% xuống còn 1.47%.
• Tỷ lệ sinh con thứ ba của các gia đình liên tục
giảm qua các năm: theo số liệu thống kê của
HN, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên: năm 1995: 8%;
năm 1998 6.5%; năm 1999: 5,85%; năm 2000:
5.55%; năm 2000: 5.20%.
Nguyên nhân của sự biến đổi qui mô gia đình
• Thứ ba, do mức sống của các hộ gia đình được nâng
lên rõ rệt, thúc đẩy việc tách hộ để có nơi ở riêng cho
tiện sinh hoạt và độc lập trong sinh hoạt
• Thứ tư, xu hướng kết hôn muộn khiến các cặp vợ chồng
không sinh nhiều con cái
• Thứ năm, những người trong độ tuổi kết hôn ngày càng
không phải phụ thuộc nhiều vào cha mẹ ( về kinh tế)
nên có xu hướng khi đã kết hôn là ra ở riêng ngay. Điều
này cũng làm cho quy mô gia đình nhỏ đi chủ yếu là do
bớt thành viên gia đình ( mà không phải là thêm thành
viên gia đình do người con lấy vợ/chồng và sinh con
nhưng vẫn ở với gia đình cha mẹ).
• Thứ sáu, những nguyên nhân khác: sự gia tăng của hiện
tượng ly hôn, sống độc thân, không muốn sinh con và
sinh con ngoài giá thú
Ý nghĩa của thay đổi quy mô gia đình
• Sự thu nhỏ quy mô gia đình tạo điều kiện thúc đẩy sự bình đẳng và
dân chủ trong đời sống vợ chồng, tình cảm riêng tư của vợ chồng
được coi trọng.
• Việc giảm quy mô gia đình về cơ bản đồng nghĩa với giảm mức sinh.
• Việc giảm quy mô gia đình cũng đặt ra những vấn đề đối với đời sống
vật chất, tinh thần và chăm sóc sức khỏe người già, phát triển nhân
cách trẻ em và sự bền vững của gia đình:
+ Nguy cơ đặt người già vào hoàn cảnh cô đơn và khó khăn về kinh tế,
nhất là ở khu vực nông thôn, nơi vấn đề bảo hiểm xã hội đối với người
già còn ít phổ biến.
+ Gây khó khăn cho các bậc cha mẹ trong việc kiểm soát giáo dục và
chăm sóc trẻ em vì thiếu sự hỗ trợ từ phía những người thân và họ
hàng.
+ Một số trẻ em sống trong những gia đình thiếu bố hoặc thiếu mẹ, do bố
mẹ ly hôn, ly thân hoặc sinh con ngoài giá thú phải chịu những thiệt
thòi về điều kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe và sự thiếu hụt trong phát
triển nhân cách.
+ Sự nới lỏng cơ cấu gia đình truyền thống và đề cao tự do cá nhân trong
những gia đình quy mô nhỏ là một trong những nhân tố tạo nên tính
không ổn định của đời sống gia đình.
3. Số thế hệ trong gia đình
• Theo kết quả điều tra năm 1998-2000 của TTNCGĐ và
PN: gia đình 1 thế hệ chiếm 3.3%, hai thế hệ: 78%; 3
thế hệ: 18.2% và 4 thế hệ: 0.5%.
• Theo Điều tra gia đình năm 2006:
+ Hiện nay loại hộ gia đình 2 thế hệ khá phổ biến: với
63.4%. Loại hộ này có xu hướng phổ biến hơn ở các
khu vực Đông Bắc (67.2%), Tây Bắc (70.3%) và Tây
Nguyên (76.4%).
+ Tỷ lệ hộ chỉ có 1 thế hệ không nhiều, với 9.9%. Vùng có
tỷ lệ hộ 1 thế hệ cao nhất là Đồng bằng sông Hồng
(14.5%), thấp nhất là Tây Bắc (3.2%). Hộ gia đình 1 thế
hệ rơi vào dân tộc Kinh nhiều nhất (10.8%).
+ Loại hộ gia đình 2 thế hệ có tỷ lệ ở nông thôn cao hơn
thành thị. Hộ gia đinh 3 thế hệ ở nông thôn thấp hơn
thành thị, đặc biệt là khu vực nội thành 4 thành phố lớn
(29.2% hộ gia đinh 3 thế hệ):
Phân bố số thế hệ trong hộ gia đình theo thành thị-nông thôn




Số thế hệ Thành thị Nông thôn
Hộ 1 thế hệ 8.8 10.3
Hộ 2 thế hệ 60.6 64.5
Hộ 3 thế hệ 25.0 22.4
4. Tỷ lệ phụ thuộc

• Tỷ lệ phụ thuộc được tính là số người từ 0-14 tuổi và từ
60 tuổi trở lên tính bình quân trên số người từ 15 đến 59
tuổi. Tỷ lệ này càng cao thì gánh nặng về kinh tế của
lao động trong hộ càng lớn.
• Kết quả điều tra Gia đình VN cho thấy: tỷ lệ phụ thuộc
chung là 0.5, trong đó tỷ lệ phụ thuộc của trẻ (từ 0-14
tuổi) là 0.3.
• Với tỷ lệ phụ thuộc này, VN đã đạt cơ cấu dân số vàng
(2 lao động nuôi 1 người phụ thuộc).
• Nếu duy trì được bền vững mức sinh thấp thì chúng ta
có thể giữ được tỷ lệ phụ thuộc này trong nhiều năm tới,
và điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
của đất nước.
Tỷ lệ phụ thuộc
• Tỷ lệ phụ thuộc ở thành thị thấp hơn ở nông thôn (0.4 so
với 0.5) do số trẻ em trong hộ ở thành thị ít hơn ở nông
thôn. Ba vùng nghèo là Tây Bắc, Bắc Trung bộ và Tây
nguyên có tỷ lệ phụ thuộc cao hơn mức bình quân chung.
• Các hộ nghèo có tỷ lệ phụ thuộc cao hơn nhóm hộ giàu
(0.8 so với 0.4). Nguyên nhân là số trẻ em từ 0-4 tuổi ở
nhóm hộ nghèo nhiều gấp 5 lần nhóm hộ giàu, số trẻ em
từ 5-9 tuổi gấp 2,3 lần, số trẻ em từ 10-14 tuổi gấp 2,2
lần.
• Ngược lại số người trong độ tuổi lao động của nhóm hộ
giàu nhiều hơn nhóm hộ nghèo: Số người 20-24 tuổi của
nhóm hộ giàu gấp 1,4 lần hộ nghèo, số người 25-29 tuổi
gấp 1,6 lần.
• Tỷ lệ phụ thuộc ở gia đình của chủ hộ không có bằng
cấp cao hơn so với chủ hộ có trình độ đại học trở lên
(0,7-0,9 so với 0.4).
5. Quan hệ vợ chồng.


1. Vai trò của người chủ hộ
2. Sở hữu tài sản
3. Phân công lao động
4. Quyền quyết định công việc
5. Mức độ hài lòng về hôn nhân
Vai trò của người chủ hộ



• Người đứng tên chủ hộ có phải là chủ gia
đình trên thực tế không? Người chủ gia
đình đòi hỏi phải có những phẩm chất gì?
Trong gia đình hiện nay ai là người chủ
gia đình?
Chủ hộ


• Theo kết quả KSMS 2004, tỷ lệ chủ hộ là nam chiếm
74.34%, nữ là chủ hộ chiếm 25,66%. Ở khu vực thành
thị: nam chủ hộ chiếm 60,98%, nữ chủ hộ chiếm
39.02%. Ở khu vực nông thôn: nam chủ hộ 78.84%; nữ
chủ hộ 21,16%.
• Căn cứ vào số liệu trên, nếu chủ hộ đồng thời là chủ gia
đình thì nhìn chung đa số nam giới làm chủ gia đình. Ở
khu vực thành thị, tỷ lệ phụ nữ làm chủ gia đình cao
hơn so với nông thôn.
• Trong các hộ gia đình có phụ nữ làm chủ hộ bao gồm
hai loại chính: những người không có chồng (67%) do ly
dị, góa, sống ly thân hay chồng vắng nhà.
Chủ hộ


• Qua phân tích số liệu của KSMS 1992-1993,
Dasai đã đưa ra nhận định: “ trong thực tế,
những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ không
thua kém về kinh tế so với những gia đình do
nam giới làm chủ hộ” và “ bất luận chủ hộ là
nam hay nữ, phụ nữ đều phải làm các công việc
nội trợ nhiều gấp đôi nam giới. Vì thế thậm chí
khi người phụ nữ có nhiều khả năng độc lập kinh
tế và có quyền quyết định nhiều hơn thì họ vẫn
có ít thời gian nghỉ ngơi hơn”
Quan niệm về người chủ gia đình của người từ 18-60 tuổi và từ
61 tuổi trở lên


Quan niệm về nguời chủ gia đình Những Những người
người từ 18- từ 61 tuổi trở
60 tuổi lên
Gương mẫu, có trách nhiệm 89.1 88.6

Có thu nhập cao nhất trong gia đình 14.3 8.7

Người lớn tuổi nhất trong gia đình 9.6 16.4

Có khả năng đưa ra các quyết định 78.5 68.1

Có uy tín xã hội 12.6 13.6

Quan niệm khác 2.9 3.9
Quan niệm về người chủ gia đình



• Các số liệu trên cho thấy, trong thực tế,
chủ hộ xét theo sổ hộ khẩu không hoàn
toàn đồng nhất với người chủ gia đình xét
về mặt văn hóa, hay là người có quyền
quyết định trong gia đình.
• Các số liệu cũng trả lời được câu hỏi chủ
gia đình là người như thế nào, cần có
phẩm chất gì.
Các ý kiến ủng hộ người đàn ông làm chủ gia đình


• “ Dù mình có giỏi bao nhiêu thì vẫn dưới sự lãnh đạo
của chồng. Mặc dù chồng có điều chưa đúng thì mình
góp ý bàn với chồng và thuyết phục được. Chồng vẫn là
người quyết định những việc chính trong gia đình” (Nữ,
viên chức, Đắc Lắc)
• “ Vì người đàn ông là người chủ gia đình. Đàn bà là
cảnh đến làm dâu phải phụ thuộc.” (Nữ, nông dân, Lạng
Sơn)
• “ Trong nhà em thì em là lao động chính, em lo cho cả
gia đình em. Còn bà xã em thì chỉ làm việc nhà hoặc là
những công việc nhẹ, thủ công, để cho nó không có thời
giờ trống. Nói chung em là chủ gia đình” (Nam, công
nhân, TPHCM).
Phụ nữ làm chủ gia đình tốt hơn nam giới

• “ Trước đây người phụ nữ chỉ ở trong nhà nên họ không
có cơ hội thể hiện những khả năng này. Ngày nay họ có
điều kiện mở mang tầm mắt, học hỏi được nhiều hơn, vì
vậy họ hoàn toàn có thể đóng vai trò người chủ gia
đình” (Nữ, nông dân, kinh tế TB, Trà Vinh)
• “ Theo chúng tôi, nếu mà phụ nữ làm chủ gia đình thì
chúng tôi tin rằng kinh tế chúng tôi sẽ được đi lên.
Chúng tôi là những người cơm áo gạo tiền, tính toán thu
chi rất là cặn kẽ. Vợ như là tủ sắt trong tường. Nếu như
chúng tôi được làm chủ gia đình, được giữ vị trí quan
trọng thì chúng tôi tin rằng kinh tế chúng tôi sẽ được đi
lên. Quản lý được kinh tế cũng như là cái cách nuôi con,
nó tế nhị hơn, chớ đàn ông hay thượng cẳng chân hạ
cẳng tay…Còn chúng tôi thì nhẹ nhàng, tình cảm, có kết
quả lắm.” (Nữ, cán bộ phường, TP Hải Phong)
Cả hai vợ chồng đều làm chủ gia đình
• “ Bây giờ tôi nói thật là trình độ nó gần như nhau, nhận
thức nó như nhau, cho nên bây giờ quyền làm chủ trong
gia đình nó không thuộc về một người nào đâu, có khi cả
hai vợ chồng cùng thuận mới được cơ. Cho nên bây giờ nó
tiến bộ hơn trước như vậy cả hai vợ chồng cùng quyết
định. Chỉ trừ những ông chồng vũ phu, còn những ông
chồng mà hiểu biết thì bao giờ cũng tôn trọng ý kiến của
vợ. Mà các bà vợ cũng đừng có quang quác, cứ quác quác
thì các ông cũng không chịu được, cho nên người ta bảo là
thuận vợ thuận chồng “ (Nam, NCT, Hải Phòng)
• “ Coi như là vợ chồng đồng ý với nhau là chuyện không có
chi mà thất bại, nếu thất bại thì không đổ thừa ai được.
Nếu chỉ có một mình thất bại thì đồ thừa chồng, cái đó
ông quyết định ông làm, ông chịu. Có bàn bạc thì vợ
chồng cùng chịu. Khi hai vợ chồng bàn bạc cái ý nó phải
sáng hơn ròi. “ (Nam, Trà Vinh)
Ai là người đóng góp nhiều công sức, làm ra nhiều tiền của,
người đó là chủ gia đình.


• “ Khi người ta làm ra tiền thì tiếng nói của người
ta sẽ ngang bằng với người chồng…Cách đây
15-20 năm người phụ nữ rất thiệt thòi, tiếng nói
của họ trong gia đình không có giá trị, họ không
được quyết định các công việc lớn trong gia đình.
Người phụ nữ bây giờ người ta có quyền tham
gia quyết định các công việc trong gia đình
ngang bằng với người chồng, họ cũng làm chủ
gia đình” (Nữ, cán bộ phường, Hải phòng)
2. Sở hữu tài sản

• Theo quy định của Hiến pháp và những bộ luật có liên
quan đến các quy định về quyền sở hữu tài sản như Bộ
Luật Dân sự (1995), Luật Hôn nhân và Gia đình (2000),
Luật Đất đai (2003) và những quy định hướng dẫn việc
thực hiện các luật này, thì phụ nữ và nam giới, vợ và
chồng có quyền bình đẳng về tài sản và của cải chung.
• Chẳng hạn, đối với nhà ở, đất đai và một số tài sản lớn
khác, theo quy định của nhà nước khi đứng tên đăng ký
quyền sở hữu và quyền sử dụng cần phải có tên của vợ
và chồng để bảo đảm quyền bình đẳng vợ chồng trong
gia đình.
• Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn những tài sản này hiện
nay đều do người chồng đứng tên.
Người đứng tên tài sản của gia đình đối với cặp vợ chồng 18-60
tuổi


Loại tài sản Vợ đứng Chồng Vợ và chồng
tên đứng tên đứng tên
Nhà ở, đất ở 10.9 81.4 7.8

Đất canh tác/ đất đồi rừng 8.6 86.3 5.1

Cơ sở sản xuất kinh doanh 41.1 52.1 6.5

Ô tô 21.6 76.4 2.0

Xe máy 9.5 80.5 10.0

Ghe/thuyền máy 2.8 91.7 5.5
Bình luận
• Việc người chồng đứng tên phần lớn các tài sản có giá
trị của gia đình bắt nguồn từ bản chất của chế độ hôn
nhân theo dòng cha trong XHVN truyền thống (ngoại trừ
một số dân tộc như Êđê, Khơme…). Truyền thống này
vẫn tiếp tục được duy trì trong gia đình VN hiện đại, đặc
biệt là ở nông thôn, miền núi.
• Việc nắm giữ tài sản gia đình đã giải thích lý do vì sao
người chồng có tiếng nói và quyền quyết định cao hơn
người vợ đối với những công việc quan trọng của gia
đình như sản xuất kinh doanh, mua bán nhà đất, mua
bán đồ dùng đắt tiền, vay vốn và sử dụng vốn vay.
• Việc nắm giữ tài sản gia đình của người chồng tiếp tục
được củng cố bởi truyền thống phân công lao động theo
giới, trong đó người đản ông đảm nhận chính những
công việc tạo ra sản phẩm tiền mặt cho gia đình, trong
khi người phụ nữ đảm nhận chính những công việc
không được trả công như nội trợ, chăm sóc.

Bình luận

• Việc không đứng tên các giấy tờ sở hữu tài sản lớn của
gia đình có thể dẫn đến những khó khăn cho người phụ
nữ khi cần thế chấp tài sản để vay vốn phát triển sản
xuất kinh doanh.
• Nó cũng là cơ sở để duy trì tư tưởng gia trưởng của
người đàn ông và là một trong những nguyên nhân dẫn
tới bạo lực của chồng đối với vợ trong gia đình.
• Những tác động của biến đổi kinh tế xã hội và chính
sách pháp luật của nhà nước đang làm thay đổi truyền
thống về quyền sở hữu tài sản gia đình. Các kết quả
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng đứng
tên các giấy tờ quyền sở hữu tài sản ở khu vực đô thị và
nhóm hộ giàu có xu hướng tăng lên so với khu vực nông
thôn và nhóm hộ nghèo.
3. Phân công lao động giữa vợ và chồng


• Trong xã hội hiện đại, phân công lao động theo
giới là một trong những hình thức phân công lao
động bên cạnh các hình thức phân công lao
động khác, một mặt, đó là sự tiếp nối của thói
quen truyền thống, mặt khác, là lợi thế giới tính
trong một số lĩnh vực nhất định của sản xuất và
hoạt động xã hội.
• Kết quả điều tra định lượng và nghiên cứu định
tính về phân công lao động theo giới trong gia
đình, phản ánh tính đa dạng, mâu thuẫn và xu
hướng biến đổi của các mô hình phân công lao
động theo giới trong gia đình VN hiện nay.
Phân công lao động giữa vợ và chồng

• Người phụ nữ/người vợ được quan niệm là phù hợp hơn
với các công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em, giữ tiền,
chăm sóc người già/người ốm.
• Người đàn ông/người chồng được quan niệm là phù hợp
với hơn với các công việc sản xuất kinh doanh, tiếp
khách lạ, thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền.
• Đàn ông làm việc nặng, đàn bà làm việc nhẹ gần như là
một sự phân công lao động “tự phát” trong gia đình, là
sự tiếp tục của phân công lao động theo giới trong gia
đình truyền thống trong điều kiện lao động kỹ thuật và
cơ giới vẫn chưa phổ biến ở các vùng nông thôn, miền
núi và sản phẩm lao động vẫn phụ thuộc rất lớn vào
điều kiện tự nhiên.
Phân công lao động giữa vợ và chồng

• Xu hướng phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn vào
những công việc vốn chỉ dành riêng cho nam giới;
ngược lại nam giới cũng chia sẻ một số công việc được
coi là của phụ nữ.
• Quan niệm về sự phân công lao động giữa hai giới
không khác biệt nhiều giữa khu vực thành thị và nông
thôn nhưng có xu hướng tăng bình đẳng giới ở thành thị.
• “ Phân công công việc nội trợ có lẽ là một trong những
lĩnh vực bất bình đẳng nhất giữa nam và nữ…và vai trò
truyền thống về giới vấn chưa được thay đổi bao nhiêu”
(Dasai Jaikishan. Việt Nam qua lăng kính giới. 1995)
Người đóng góp nhiều tiền nhất cho kinh tế gia đình



Khu vực Vợ Chồng Người khác

Thành phố 33.8 56.9 9.3

Đồng bằng 27.6 66.2 6.7

Trung du, miền núi 39.0 54.4 6.4
Người đóng góp nhiều công sức nhất cho kinh
tế gia đình

Khu vực Vợ Chồng Người
khác
Thành phố 65.1 30.2 4.7

Đồng bằng 65.8 30.6 3.6

Trung du, miền núi 62.1 31.4 6.5
4. Quyền quyết định công việc

• Trong 8 loại công việc cần quyết định, chỉ có một công việc là “chi
tiêu hàng ngày” có tỷ lệ người vợ quyết định cuối cùng cao hơn tỷ
lệ người chồng quyết định và cả hai vợ chồng cùng quyết định.
• Người vợ là người quyết định chính những công việc nhỏ hàng
ngày chỉ liên quan đến các khoản tài chính nhỏ. Còn người chồng
là người quyết định chính những công việc quan trọng hơn và có
liên quan đến những khoản tài chính lớn hơn.
• Quyền quyết định công việc giữa vợ và chồng thay đổi theo khu
vực (thành thị, nông thôn), vùng lãnh thổ, nhóm thu nhập.
• Tuy nhiên đã có sự thay đổi về mô hình quyết định các việc lớn
trong gia đình theo hướng bình đẳng hơn giữa vợ và chồng.
• Sự tham gia ngày càng sâu rộng của phụ nữ vào các hoạt động
sản xuất và hoạt động bên ngoài gia đình, tác động của luật pháp,
chính sách, các chương trình xã hội hướng tới bình đẳng giới…là
những nhân tố quan trọng làm thay đổi khuôn mẫu về quyền quyết
định trong gia đình Việt Nam.
5.Mức độ hài lòng về hôn nhân

• Theo điều tra Gia đình VN năm 2006, tính chung có khoảng
92.5% số người ở độ tuổi 18-60 tuổi là hài lòng với cuộc hôn
nhân của mình.
• Tỷ lệ này dường như hơi cao so với cách nghĩ thông thường
của nhiều người.
• Có một số người cho rằng, chỉ cần sống với nhau đến bây giờ
mà không ly dị thì cũng đã là điều đáng mừng. Còn thì “bát
đũa có khi xô nữa là vợ chồng”.
• Khi đánh giá về sự hài lòng trong hôn nhân nhiều người nhấn
mạnh hơn đến tính quá trình của hôn nhân và có cách nghĩ
thoáng hơn về quan hệ vợ chồng, cũng như đòi hỏi của họ về
vấn đề khác biệt vợ chồng trong hôn nhân là không cao.
• Không thể vì một tỷ lệ cao người được hỏi đánh giá hài lòng
về đời sống hôn nhân mà không quan tâm đến vấn đề này để
giúp các gia đình có cuốc sống hạnh phúc hơn.
Lý do không hài lòng về cuộc hôn nhân hiện nay của cặp vợ
chồng



Lý do Chồng Vợ


Bất hòa về ứng xử 70.6 40.5

Khó khăn về kinh tế 29.4 46.1

Mâu thuẫn trong nuôi dạy con 11.8 10.1

Vợ/chồng không chung thủy 0.0 12.4

Không hòa hợp về sinh lý 17.7 6.7
6. Quan niệm về quan hệ tình dục trước và ngoài hôn nhân



1. Quan niệm về chung sống không kết
hôn:
+ Tỷ lệ chấp nhận hiện tượng này tương
đối thấp, đặc biệt là nhóm vị thành niên
(15-17 tuổi).
+ Ở những nhóm tuổi lớn hơn, tỷ lệ chấp
nhận hiện tượng này cũng nhiều hơn.
Tỷ lệ chấp nhận hiện tượng “nam nữ chưa kết hôn có
quan hệ tình dục”

15-17 tuổi 18-60 tuổi > 61 tuổi


Nam giới chưa có vợ có thể 4.3 5.0 2.0
QHTD

Nữ giới chưa có chồng có thể 2.7 2.9 1.3
QHTD

Nam giới có thể QHTD với người 22.9 21.7 14.8
chắc chắn lấy làm vợ

Nữ giới có thể QHTD với người 20.6 18.9 13.4
chắc chắn lấy làm chồng
Tỷ lệ chấp nhận hiện Quan hệ tình dục ngoài
hôn nhân
15-17 tuổi 18-60 tuổi > 61 tuổi


Phụ nữ không có chồng con 6.2 8.5 9.3


Nếu xa vợ lâu ngày, người chồng 1.8 4.3 1.9
có thể có QHTD với người phụ
nữ khác
Nếu xa vợ lâu ngày, người chồng 0.8 1.5 0.7
có thể có QHTD với người phụ
nữ khác
6. Quan hệ giữa cha mẹ với con cái



1. Mối quan tâm của cha mẹ đối với con
cái
2. Thời gian chăm sóc con
3. Cách giáo dục con
4. Cách đối xử và mong muốn của cha mẹ
đối với con trai và con gái
Quan tâm của cha mẹ đối với con cái

+ Mức độ cha mẹ quan tâm đến việc học tập của con cái
khá cao, song sự quan tâm của cha mẹ bị tác động
bởi yếu tố khu vực sống, vùng, miền và dân tộc.
+ Không có sự khác biệt về sự quan tâm theo giới tính của
chủ hộ, có nghĩa là cả cha và mẹ đều có sự quan tâm
đến việc học tập của con như nhau.
+ Cha mẹ ở thành thị quan tâm đến việc học tập của con
cao hơn so với nông thôn.
+ Tây Bắc là vùng luôn có tỷ lệ cha mẹ quan tâm thấp hơn
so với các vùng còn lại.
+ Người HMông là dân tộc có tỷ lệ cha mẹ quan tâm tới
việc học của con cái thấp nhất.
+ Nhóm cha mẹ có học vấn và nhóm hộ có thu nhập càng
cao thì mức độ quan tâm đến việc học của con càng
nhiều.
Quan tâm của cha mẹ đối với con cái
+ Tỷ lệ cha mẹ tham gia quyết định việc học như học thêm,
thời ẻgian học tập ở nhà, chọn trường lớp, mức độ
thường xuyên biết về thời gian và kết quả học tập của
con đối với nhóm trẻ 7-14 tuổi cao hơn so với nhóm 15-17
tuổi.
+ Trẻ em sống ở vùng thành thị, gia đình có thu nhập càng
cao thì tỷ lệ được cha mẹ quan tâm đến việc học thêm và
chọn trường lớp càng nhiều.
+ Tỷ lệ cha mẹ thừa nhận họ có tham gia quyết đinh hoàn
toàn quan hệ bạn bè của trẻ rất thấp. Song phần lớn cha
mẹ đều cho rằng họ biết về bạn thân của con và nơi con
cái thường đến chơi.
+ Sự quan tâm của cha mẹ đến các hoạt động khác của con
như đi tham quan, du lịch, thể hiện chủ yếu ở các hộ có
thu nhập khá và cao. Cha mẹ ở thành thị tạo điều kiện
cho con cái đi tham quan du lịch cao hơn so với cha mẹ ở
nông thôn.
Thời gian chăm sóc con

• Người mẹ chủ yếu dành thời gian từ 3 giờ trở lên
để chăm sóc con trong khi phần lớn người cha
dành thời gian dưới 1 giờ.
• Vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ người cha và người
mẹ không có thời gian chăm sóc con cái.
• Những người mẹ ở nông thôn dành thời gian
chăm sóc con cái ít hơn đáng kể so với người mẹ
ở thành thị.
• Những người chồng, người vợ có học vấn càng
cao thì tỷ lệ dành thời gian chăm sóc con càng
lớn.
Cách giáo dục con
• Các biện pháp xử lý khi con mắc lỗi chủ yếu là được
cha mẹ nhắc nhở, phân tích đúng sai, tiếp đến là quát
mắng, đánh đòn.
• Rất ít các bậc cha mẹ liên hệ với nhà trường khi con
mắc lỗi hoặc làm ngơ lỗi của trẻ và một số ít cảm thấy
đau khổ, bất lực.
• Việc nhắc nhở, phân tích đúng sai không có khác biệt
theo nhóm học vấn của cha mẹ.
• Ở tất cả các biện pháp mà cha mẹ áp dụng, hầu như
không có sự phân biệt giới tính của trẻ.
• Cha mẹ ở nhóm thu nhập cao thì càng có xu hướng áp
dụng biện pháp nhắc nhở đối với con cái.
• Đa số VTN cho rằng cách giải quyết của cha mẹ đối với
lỗi mà các em mắc phải là hoàn toàn đúng.
Cách đối xử và mong muốn của cha mẹ đối với con
trai và con gái


• Về phương pháp động viên của cha mẹ khi con làm
điều tốt, chủ yếu là khen ngợi, việc cho đi chơi, tham
quan du lịch và thưởng tiền, quà chiếm tỷ lệ rất thấp.
• Mức độ được khen ngợi, động viên của trẻ ở nông thôn
và thành thị gần như tương đương song ở các loại hình
cư xử khác ở nông thôn thấp hơn đáng kể.
• Cha mẹ ở nông thôn coi thành tích của VTN là bình
thường, không có biểu hiện khen ngợi cao hơn đáng kể
so với thành thị.
• Hình thức thưởng quà, thưởng tiền hoặc cho đi
chơi/tham quan của hộ thu nhập khá và cao cao gấp 2-5
lần so với hộ thu nhập thấp.
Cách đối xử và mong muốn của cha mẹ đối với con
trai và con gái

• Vẫn còn hiện tượng ưu tiên cho con trai khi phân
chia tài sản. Hộ gia đình ở nông thôn ưu tiên con trai
cao gấp 2 lần so với thành thị.
• Quan niệm phân chia tài sản ưu tiên cho con trai, đặc
biệt là con trai trưởng đã thay đổi qua các lứa tuổi. Số
người từ 61 tuổi trở lên muốn chia tài sản ưu tiên cho
con trai chiếm tỷ lệ cao nhất, trong khi quan niệm chia
đều cho các con chỉ chiếm khoảng 1/3.
• Quan niệm chia đều tài sản cho các con có xu hướng
tăng theo trình độ học vấn và thu nhập.
• Quan niệm phân chia tài sản ưu tiên cho con trai ở nông
thôn, ở những hộ nghèo và những người có trình độ học
vấn thấp chiếm tỷ lệ cao hơn ở cả ý kiến của hai nhóm
tuổi 18-60 và 61 tuổi trở lên.
Cách đối xử và mong muốn của cha mẹ đối với con
trai và con gái
• Hiện nay cha mẹ chủ yếu lo lắng con cái trong độ
tuổi VTN (15-17):
+ sa vào tệ nạn xã hội ( hơn 1/3 đối với con trai và 1/5 đối
với con gái);
+ không đủ khả năng học cao ( khoảng 1.5 đối với cả con
trai và con gái)
+ không có việc làm (hơn 1/10 đối với cả con trai và con gái)
+ Đối với con gái, cha mẹ đặc biệt lo con có quan hệ tình
dục trước hôn nhân.
+ Các lo lắng như: không được học vì thiếu tiền, con không
khỏe mạnh, hoặc không có lo lắng chiếm tỷ lệ dưới 10%.
+ Không có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính, dân tộc và học
vấn của cha mẹ về những lo lắng đối với cả con trai và
con gái.
Cách đối xử và mong muốn của cha mẹ đối với con
trai và con gái

• Mong muốn của cha mẹ đối với con trai và con gái:
+ chủ yếu là có nghề nghiệp ổn định, có cuộc sống gia
đình hạnh phúc, có trình độ học vấn cao.
+ Không có khác biệt nhiều về mong muốn của cha mẹ
với con trai và con gái , tuy nhiên điểm đáng chú ý là tỷ
lệ cha mẹ mong con gái có cuộc sống hạnh phúc cao
hơn đáng kể so với con trai.
+ Cha mẹ ở thành thị mong muốn con trai và con gái có
nghề nghiệp ổn định , trình độ học vấn cao, có địa vị xã
hội và có sức khỏe cao hơn nông thôn.
+ Cha mẹ ở nông thôn lại mong muốn con cái có cuộc
sống gia đình hạnh phúc và làm ăn giỏi, có tư cách đạo
đức tốt cao hơn.
+ Tỷ lệ cha mẹ không có mong muốn gì đối với con cái ở
nông thôn cao hơn thành thị.
Cách đối xử và mong muốn của cha mẹ đối với con
trai và con gái

• Quan niệm về mô hình sống chung với cha mẹ:
+ Quan niệm truyền thống về con cái sau khi lập gia đình
sống chung với cha mẹ khi cha mẹ còn khỏe mạnh
giảm qua các thế hệ.
+ Quan niệm này còn giảm ở khu vực thành thị.
+ Người cao tuổi ở nông thôn ủng hộ quan niệm sống
chung chiếm tỷ lệ cao hơn ở khu vực thành thị.
+ Lý do sống chung để cha mẹ và con cái giúp đỡ lẫn
nhau được hầu hết mọi người tán thành.
+ Trật tự tôn ti trong gia đình truyền thống vẫn được số
đông tán thành.
7. Người cao tuổi trong gia đình
• Người cao tuổi là người từ 61 tuổi trở lên (Điều tra Gia đình 2006).
• Số hộ gia đình có người cao tuổi chiếm 32.6% tổng số hộ và tập trung
đông hơn ở thành thị.
• Tại thành thị, có 35,7% hộ gia đình có người cao tuổi, đặc biệt tại nội
thành 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TPHCM tỷ lệ
này là 40.8%.
• Ở nông thôn, có tới 31.4% số hộ có người cao tuổi.
• Trong số hộ có người cao tuổi, phần lớn là một người cao tuổi sống
cùng con cháu, chiếm 20.8%, tỷ lệ hộ có người cao tuổi là 11.4% và
ba người cao tuổi sống cùng con cháu chiếm 0.4%.
• Hộ gia đình có người cao tuổi phân bố không đều ở các vùng miền,
cao nhất tại vùng Bắc Trung bộ 36.3%, tiếp đến Đông Nam Bộ 34.7%.
Đồng bằng sông Hồng 34.2%, Duyên hải Nam Trung bộ 33.0%, Đồng
bằng sông Cửu long 31.2%, Đông Bắc 29.1%, Tât băc 22.8%, thấp
nhất là Tây Nguyên 22.1%.
• Tỷ lệ có người cao tuổi trong nhóm hộ nghèo cao hơn đáng kết so với
trong nhốm hộ giàu, 35.4% so với 28.7%.
Nguồn sống và mức sống
• Số liệu cho thấy có 39.3% cho biết nguồn sống chính
của họ là do con cháu chu cấp, 30% từ lao động của
bản thân, 25.9% từ lương hưu hoặc trợ cấp, 1.6% từ các
nguồn của cải được tích lũy từ trước và 3.2% từ các
nguồn khác.
• Giữa người cao tuổi ở thành thị và nông thôn có sự khác
biệt đáng kể. Lương hưu hoặc trợ cấp là nguồn sống
chính của 35.6% người cao tuổi ở thành phố, trong khi
21.9% người cao tuổi ở nông thôn được hưởng chế độ
này. Ngược lại, tự lao động để kiếm sống là cách của
35.2% người cao tuổi ở nông thôn, trong khi chỉ có
17.5% người cao tuổi ở thành phố phải tự kiếm sống.
• Nguồn do con cháu chu cấp hầu như không có sự khác
biệt giữa thành thị và nông thôn. Đối với người cao tuổi
thì sự trợ giúp của con cháu dường như không phụ
thuộc vào đời sống kinh tế ở từng vùng.
Nguồn sống và mức sống
• Nguồn sống của người cao tuổi khá đa dạng. 39.3% cho
biết nguồn sống chính của họ là do con cháu chu cấp;
30% từ lao động của bản thân; 25.9% từ lương hưu
hoặc trợ cấp và ngoài ra là từ các nguồn khác. Lương
hưu hoặc trợ cấp là nguồn sống chính của người cao
tuổi ở thành phố, trong khi tự lao động kiếm sống là
nguồn chính của người cao tuổi ở nông thôn.
• Nguồn do con cháu chu cấp hầu như không có sự khác
biệt giữa thành thị và nông thôn. Như vậy, dù các nguồn
lương hưu và tích lũy ở thành thị là cao hơn so với nông
thôn thì việc con cháu chu cấp vẫn đóng vai trò quan
trọng đối với người cao tuổi.
• Có sự khác biệt rất rõ giữa nam và nữ về nguồn sống
chính. So với nam, phụ nữ cao tuổi phải dựa vào sự chu
cấp của con cháu nhiều hơn.
Cách sắp xếp cuộc sống

• Hơn 50% người cao tuổi sống chung với con
cháu, thể hiện rõ hơn ở người cao tuổi ở nông
thôn, là phụ nữ ở hoặc ở các nhóm thu nhập
thấp hơn. Người cao tuổi muốn sống chung chủ
yếu vù để cha mẹ và con cái có thể giúp đỡ lẫn
nhau, vì muốn duy trì đạo lý gia đình, cũng như vì
sự vui vầy bên con cháu v.v.
• Xu hướng chung là muốn sống với con trai. Việc
sống với con nào trong thực tế có thể bị chi phối
bởi những lý do cụ thể hơn, trong đó lý do “giúp
đỡ lẫn nhau” có ý nghĩa lớn nhất.
Đời sống tinh thần, tình cảm
• Việc con cái đã tách hộ thăm hỏi cha mẹ là tập
quán phổ biến ở nước ta.
• Không phải chỉ con cháu là chỗ dựa của cha mẹ
mà bản thân cha mẹ cũng là chố dựa cho con
cháu trong cuộc sống hàng ngày. Người cao tuổi
coi việc hỗ trợ con cháu là niềm vui và trách
nhiệm cà qua đó, được cảm nhận là mình còn có
ích cho con cháu. Đối với con cháu, sự hỗ trợ
này có ý nghĩa quan trọng, bao gồm sự giúp đỡ
vật chất và đặc biệt là việc dạy dỗ con cháu,
giúp trông coi nhà cửa v.v...
Đời sống tinh thần, tình cảm


• Có tới 16.5% cha mẹ có điều kiện giúp đỡ tiền và
hiện vật cho người không phải là thành viên của
hộ ( trị giá trên 100 nghìn đồng). Trên 90% người
cao tuổi cho biết họ hỗ trợ con cháu mình ít nhất
một trong các hoạt động sau: về kinh tế (góp
phần tạo ra thu nhập và cấp vốn cho con cháu
làm ăn); về kinh nghiệm (quyết định các các việc
quan trọng của gia đình hay chia sẻ kinh nghiệm
làm ăn ứng xử xã hội và dạy dỗ con cháu); và về
chăm sóc gia đình ( nội trợ và chăm sóc cháu
nhỏ)
Đời sống tinh thần, tình cảm

• Việc trò chuyện, chia sẻ vui buồn trong cuộc sống đối
với người cao tuổi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
• Nhiều người cho rằng bây giờ con cháu lo toan cho bố
mẹ về vật chất đầy đủ hơn, như về ăn mặc, còn việc
trực tiếp trò chuyện, hỏi han thì ít hơn trước.
• Những khi vui, buồn, 37.5% người cao tuổi cho biết họ
thường trò chuyện,tâm sự với vợ hoặc chồng của mình,
24.8% tâm sự, trò chuyện với con và 12.5% tâm sự với
bạn bè, hàng xóm. Giữa người cao tuổi ở thành thị và
nông thôn hầu như không có sự khác biệt trong việc trò
chuyện, chia sẻ vui buồn.
• Phụ nữ thường nói chuyện với con, trong khi nam giới
chủ yếu tâm sự với vợ của mình. Đáng chú ý là so với
nam giới mỗi khi có chuyện vui, buồn, phụ nữ thường ít
chia sẻ, tâm sự hơn.
Khó khăn và mong muốn

• Phần lớn người cao tuổi (64%) cho biết hiện gặp
khó khăn trong cuộc sống, trong đó 46% vì sức
khỏe, 34% không đủ tiền sinh hoạt,17.8% không
đủ điều tiền chữa bệnh và 1.8% con cháu không
quan tâm, không tôn trọng và một số khó khăn
khác.
• Tỷ lệ người cao tuổi ở nông thôn cho biết không
đủ tiền sinh hoạt và chữa bệnh cao hơn so với ở
thành thị.
• Tỷ lệ phụ nữ cao tuổi gặp khó khăn do sức khỏe
và do thiếu thốn trong đời sống cao hơn so với
nam giới.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản