BÁO CÁO "HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH, CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI"

Chia sẻ: nhaquantritaiba

Tham khảo luận văn - đề án 'báo cáo "hoạt động thanh tra của ngân hàng nhà nước đối với ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: BÁO CÁO "HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH, CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI"

HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH,
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
NƯỚC NGOÀI
MỤCLỤC



CHƯƠNG 1: SỰCẦNTHIẾTHOẠTĐỘNGTHANHTRACỦANGÂNHÀNG
NHÀNƯỚCĐỐIVỚINGÂNHÀNGLIÊNDOANH,
CHINHÁNHNGÂNHÀNGNƯỚCNGOÀI ............................................................. 5
1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng liên doanh,Chi nhánh Ngâ n
hàng nước ngoài ............................................................................................ 5
1.1.1. Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng và hoạt động quản lý Nhà
nước đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam ................................ 5
1.1.2. Sự phát triển của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài ở nước ta.......................................................................................... 8
1.1.3. Những đặc điểm chủ yếu của Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại nước ta ................................................... 9
1.2. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài .......... 12
1.3. Căn cứ pháp lý và các phương pháp thanh tra, giá m sát Ngân hàng liên
doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam ............................ 18
1.3.1. Căn cứ pháp lýđể thanh tra, giá m sát Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam .............................................. 18
1.3.2. Phương pháp thanh tra, giá m sát của Ngân hàng Nhà nước đối với
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam ... 20
CHƯƠNG 2: HOẠTĐỘNGTHANHTRACỦATHANHTRA NGÂNHÀNG
NHÀNƯỚCĐỐIVỚINGÂNHÀNGLIÊNDOANH,
CHINHÁNHNGÂNHÀNGNƯỚCNGOÀITẠI VIỆT NAM ................................ 30
2.1. Chức năng, nhiệ m vụ và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Ngân hàng ....... 30
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Ngân hàng ...................................... 33
2.2. Thực trạng hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đố i
với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ...................... 35
2.2.1. Thực trạng Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam ............................................................................................ 35
2.2.2. Thực trạng hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ............ 42
2.2.2.1. Đối với phương pháp giám sát từ xa:..................................... 43
2.2.2.2. Đối với phương pháp thanh tra tại chỗ:.................................. 45
2.3. Đánh giá thực trạng thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đối
với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam ............................................................................................................ 48
2.3.1. Kết quảđạt được ............................................................................ 48
2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân ....................................................... 51
2.3.2.1. Những tồn tại trong hoạt động giám sát từ xa......................... 51
2.3.2.2. Những tồn tại trong hoạt động thanh tra giám sát tại chỗ ...... 52
2.3.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại .............................................. 54
CHƯƠNG 3:
GIẢIPHÁPĐỔIMỚIHOẠTĐỘNGTHANHTRACỦANGÂNHÀNGNHÀNƯỚC
ĐỐIVỚINGÂNHÀNGLIÊNDOANH,
CHINHÁNHNGÂNHÀNGNƯỚCNGOÀITẠIVIỆTNAM .................................. 57
3.1. Yêu cầu của việc tăng cường quản lý và thanh tra đối với Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ..................................................... 57
3.2. Giải pháp đổi mới hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối vớ i
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam ....... 61
3.2.1. Sắp xếp lại tổ chức và chú trọng đào tạo cán bộ là m công tác thanh
tra đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ....... 61
3.2.2. Tiến hành phân cấp quản lýđối với Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài ................................................................... 62
3.2.3. Phối hợp với Thanh tra Ngân hàng các nước và các ngân hàng tại
nước ngoài nguyên xứ có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam để tăng cường
giá m sát và thanh tra hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam ........................................................ 62
3.2.4. Tiếp tục hoàn thiện các phương thức thanh tra .............................. 63
3.2.4.1. Đổi mới và hoàn thiện phương thức giám sát từ xa................. 64
3.2.4.2. Hoàn thiện phương thức thanh toán tại chỗ ............................ 67
3.2.5. Giải pháp bổ trợ nhằ m nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra đối
với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài .................. 70
3.3. Một số kiến nghị .................................................................................. 70
3.3.1. Với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam .............................................. 70
3.3.2. Với Chính phủ và Thanh tra Nhà nước .......................................... 72
3.3.3. Với các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam ............................................................................................ 72
CHƯƠNG 1
SỰCẦNTHIẾTHOẠTĐỘNGTHANHTRACỦANGÂNHÀNG
NHÀNƯỚCĐỐIVỚINGÂNHÀNGLIÊNDOANH,
CHINHÁNHNGÂNHÀNGNƯỚCNGOÀI

1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng liên doanh,Chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài

1.1.1. Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng và hoạt động quản lý Nhà
nước đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng trên thế giới gắn liền với sự phát
triển của trình độ sản xuất và tiến bộ của xã hội loài người. Đến những nă m
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các Ngân hàng thương mại trên thế giới nhất làở
Mỹ và các nước Tây Âu đã phát triển mạnh, cùng giai đoạn lịch sửđóđã xuất
hiện ngân hàng phát hành - đó là Ngân hàng Trung ương là m nhiệm vụ phát
hành tiền, nhận tiền gửi và cho vay đối với các Ngân hàng thương mại. Đến
thời kỳ này, hệ thống Ngân hàng hai cấp trong nền kinh tế thị trường đãđược
xác lập và phát triển thành hệ thống Ngân hàng hiện đại. Các Ngân hàng đã
vàđang có những bước phát triển và hoàn thiện, thể hiện tính đa dạng và phong
phú về thể chế; sự phân hoá thành những ngân hàng lớn và nhỏ trong sự cạnh
tranh quyết liệt của cơ chế thị trường; chất lượng hoạt động nghiệp vụ không
ngừng được nâng cao trở thành công nghệ ngân hàng hiện đại như ngày nay.
Sự mở rộng về quy mô và không ngừng được nâng lên về chất lượng của
các Ngân hàng thương mại cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương
và xu hướng toàn cầu hoá hoạt động ngân hàng, làm cho hoạt động của các
Ngân hàng thương mại không chỉ bị giới hạn trong mỗi quốc gia mà nóđược
phát triển mở rộng sang nhiều nước khác. Lúc này, sự chu chuyển vốn từ nơi
thừa đến nơi thiếu cũng vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và mang tính quốc tế.
Mặt khác, mục tiêu của các Ngân hàng thương mại là tìm kiế m lợi
nhuận, sự tìm kiếm này không chỉở trong nước mà còn được thực hiện cảở
nước ngoài. Khi các Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động của mình ra
nước ngoài thì không chỉ là nhằ m tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn, mà còn đả m
bảo cho sự tồn tại, phát triển bền vững của mình trong sự cạnh tranh ngày càng
gat gắt của thị trường.
Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên các Ngân hàng thương mại nhiề u
khi coi nhẹ việc tuân thủ luật pháp và các quy chế an toàn, có trường hợp không
phục vụ cho định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước. Mặt khác, kinh doanh
tiền tệ là loại kinh doanh gặp nhiều rủi ro nhất trong các loại kinh doanh.
Những rủi ro chủ yếu trong kinh doanh tiền tệ mà các Ngân hàng thương mại
thường gặp phải là:
- Rủi ro lãi suất,
- Rủi ro hối đoái và tỷ giá,
- Rủi ro hệ thống,
- Rủi ro môi trường,
- Rủi ro cơ chế v.v...
Ở nước ta, thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, Đảng ta yêu cầu "chuyển
mạnh hoạt động của Ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hộ i
chủ nghĩa " [10]. Theo Nghịđịnh số 53/HĐBT ngày 26/03/1998 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ), vào giữa năm 1988 chúng ta đã chuyển hệ thống
ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp, đó là Ngân hàng Nhà
nước và các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng.
Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thực hiện chức năng kinh
doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật, mục tiêu
chính của các Ngân hàng thương mại là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh; nhưng phải tuân thủ nghiê m túc luật pháp và các quy chế. Mặt khác,
kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro nhưđã phân tích ở
trên. Vì vậy, để hạn chế những vi phạm của các Ngân hàng thương mại, giúp
các Ngân hàng thương mại tránh được rủi ro đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà
nước thông qua một cơ quan chức năng, đó là Ngân hàng Trung ương (ở nước
ta là Ngân hàng Nhà nước) và thường được giao chủ yếu cho Thanh tra Ngân
hàng. Điều này được quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng, đó là: "Các tổ
chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải chịu sự thanh
tra của Thanh tra Ngân hàng theo quy định của pháp luật " [5].
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngâ n
hàng Trung ương của nước ta, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ
và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ
chức tín dụng và ngân hàng là m dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước bao gồm:
" - Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước;
- Xây dựng dựán chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình
Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng chiến lược
phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Việt Nam;
- Xây dựng các dựán luật, pháp lệnh và các dựán khác về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng theo thẩm quyền;
- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng,
trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt
động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp thuận chia,
tách, hợp nhất, sát nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lý các
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm
quyền;
- Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy
định của Chính phủ;
- Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế;
- Quản lý hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động kinh doanh vàng;
- Ký kết, tham gia các điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng theo quy định của pháp luật;
- Đại diện cho Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiề n
tệ và ngân hàng quốc tế trong những trường hợp được Chủ tịch nước, Chính
phủ uỷ quyền;
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu, ứng
dụng khoa học và công nghệ ngân hàng" [5].

Trong các chức năng trên, chức năng kiểm tra, thanh tra được giao chủ
yếu cho Thanh tra Ngân hàng và tổ chức, nhiệ m vụ, quyền hạn của Thanh tra
Ngân hàng cũng được quy định cụ thể trong Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật
các Tổ chức tín dụng.

Vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, do chủ trương "đổi mới" quả n
lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, kinh tế trong nước được kích thích và phát
triển thông qua việc xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, Nhà nước thừa nhận vai
trò của kinh tế hàng hoá với chủ trương "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiề u
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước". Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý, Đảng và
Nhà nước ta cũng thực hiện "mở cửa" nền kinh tế nước ta với tất cả các nước,
tạo cơ sở cho hoạt động đầu tư nước ngoài vào nước ta. Theo đó, nhiều ngâ n
hàng nước ngoài đã xin phép Nhà nước đểđầu tư vào nước ta dưới hình thức
liên doanh (Ngân hàng liên doanh) hoặc thành lập chi nhánh 100% vốn nước
ngoài (Chi nhánh ngân hàng nước ngoài).

1.1.2. Sự phát triển của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài ở nước ta

Sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là m cho nhu cầu về vốn ngày càng tăng, nguồn vốn trong
nước không đủđểđáp ứng. Do đó, cùng với việc hình thành ngân hàng hai cấp
và chủ trương "mở cửa" của Đảng và Nhà nước, các ngân hàng nước ngoài đã
dần có mặt hoạt động tại nước ta.

Ngay từ những nă m cuối thập niên 80, nhiều ngân hàng nước ngoài của
các nước đãđến tìm hiểu thị trường Việt Nam đềđầu tư. Năm 1989, ngân hàng
nước ngoài đầu tiên được Nhà nước ta cấp giấy phép đặt văn phòng đại diện.
Đến nă m 1990, Ngân hàng nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động
tại Việt Nam dưới hình thức liên doanh theo Luật đầu tư nước ngoài.

Từ khi Ngân hàng nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động tạ i
nước ta năm 1990, hiện nay (tháng 12/2006) trên đất nước ta đã có 6 Ngân hàng
liên doanh, 37 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 60 văn phòng đại diện của
Tổ chức Tín dụng nước ngoài đang hoạt động cùng với các Tổ chức Tín dụng
trong nước càng làm cho hoạt động tài chính - tiền tệ nước ta phong phú, đa
dạng và sôi động hơn.

1.1.3. Những đặc điểm chủ yếu của Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại nước ta

Theo Luật "Các Tổ chức Tín dụng" được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 15/6/2004,
theo khoản 4, Điều 20 "Tổ chức Tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được
thành lập theo luật pháp nước ngoài". Tại Chương VII, Luật này về "Tổ chức
tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại
Việt Nam" quy định hình thức hoạt động của Tổ chức tín dụng nước ngoà i
(Điều 105) gồ m:

- Tổ chức tín dụng liên doanh;
- Tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài;
- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
- Tổ chức tín dụng nước ngoài được đặt văn phòng đại diện tại Việt
Nam. Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài không được thực
hiện các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Với những quy định trong Luật "Các tổ chức tín dụng" trên đây và Luật
"Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam", đặcđiể m của Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là:

+ Được thành lập theo luật pháp nước ngoài;
+ Đối với Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là doanh
nghiệp thuộc sở hữu của nhàđầu tư nước ngoài, do nhàđầu tư nước ngoài thành
lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệ m về kết quả kinh doanh;

Ngoài hai đặc điểm theo quy định của Luật, Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài còn một sốđặc điểm tác động đến hoạt động thanh
tra của Ngân hàng Nhà nước, đó là:

+ Tổng giá m đốc các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài là người mang quốc tịch nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp
với Ngân hàng Nhà nước thường là tiếng Anh. Chữ viết dùng trong các tài liệ u
giao dịch của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài chủ
yếu là tiếng Anh, một số tài liệu sử dụng chữ viết của nước nguyên xứ.

+ Có nhiều quy định giới hạn hoạt động của các Chi nhánh Ngân hàng
nước ngoài nhằ m hỗ trợ cho hoạt động của các Ngân hàng trong nước, như:
Không được huy động tiết kiệm từ dân cư; vốn huy động từ các tổ chức và cá
nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng với Ngân hàng không được vượt
30% vốn tự có .v.v...

+ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không được quy định là một pháp
nhân Việt Nam.
+ Các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam thường đặt trụ sởở những nơi có hoạt động "kinh tế thị trường" phát triển
như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu nhằm thu được lợi nhuận cao,
điều này được thể hiện rõ qua biểu đồ 1.1

Biểu đồ1.1:Sự phát triển về số lượng Ngân hàng liên doanh vàChi
nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1990 – 2006

Đơn vị: Ngân hàng

TT Chỉ tiêu 1990 1993 1995 1997 1999 2001 2004 2006

1 Miền Bắc 0 5 9 13 14 16 20 21



2 Miền Nam 1 7 13 15 16 18 23 25




25

20

15
MiÒn B¾c
MiÒn Nam
10

5

0
1990 1995 1999 2004
(Nguồn: Báo cáo Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1990-2006)
+ Trong quá trình hoạt động tại Việt Nam, các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài vừa phải tuân thủ luật pháp, quy chế của Việt
Nam; đồng thời phải tuân thủ luật pháp của nước nguyên xứ. Như vậy, nó
bịđiều chỉnh bởi hai hệ thống pháp luật.

+ Hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài không chỉ giới hạn trong phạ m vi lãnh thổ, mà hoạt động của nó có quan
hệ với nhiều nước (hiện tại là quan hệ vay, gửi tiền và thanh toán; trong tương
lai sẽ còn được mở rộng hơn khi hoạt động của thị trường chứng khoán phát
triển và mở rộng).

1.2. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân
hàng Nhà nước đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài

a- Những ảnh hưởng từ hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoàiđối với Việt Nam hiện nay

Như trên đãđánh giá, hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài ở nước ta cùng các ngân hàng trong nước đã làm cho
hoạt động của thị trường tài chính tiền tệ nước ta phong phú, đa dạng hơn. Mặt
khác, hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
cũng có những ảnh hưởng rất lớn đối với các hoạt động kinh tế nói chung và
các ngân hàng của Việt Nam nói riêng, đó là:

+ Đối với các hoạt động kinh tế của Việt Nam: Với tổng tài sản gần 35
nghìn tỷđồng, dư nợ cho vay 20 nghìn tỷđồng năm 2006 (bảng số 2.2), hoạt
động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã góp phần
đáng kể vào việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế của nước ta, tạo động lực cho
sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì việc đầu tư của các
ngân hàng này sẽ vì mục tiêu lợi nhuận mà xem nhẹ mục tiêu phát triển cân đối
nền kinh tế.

+ Đối với các ngân hàng của Việt Nam: do có sức mạnh về vốn, công
nghệ vàđiều kiện cạnh tranh trong hoạt động theo cơ chế thị trường, các Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thường có nhiều lợi thế hơ n
so với các ngân hàng trong nước nhưđối với nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh và
thực hiện các dịch vụ v.v... Do đó, nếu không có sự quản lý sẽ tạo ra sự cạnh
tranh không lành mạnh, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ chèn ép các
ngân hàng trong nước, làm cho hệ thống các ngân hàng trong nước suy giả m do
không đủ sức để cạnh tranh.

b- Đối với bản thân các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài

Ngoài số vốn được cấp đểđược hoạt động theo Luật định, các Ngân hàng
liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam (gọi tắt là ngân hàng
nước ngoài) còn hoạt động bằng số vốn huy động từ các tổ chức kinh tế, cá
nhân trong và ngoài nước. Trong khi vốn được cấp thường chỉ chiếm tỷ trọng
trên dưới 20% tổng tài sản của một ngân hàng thìđểđảm bảo an toàn vàổn định
trong kinh doanh, Ngân hàng Nhà nước phải tổ chức quản lý và thực hiện giá m
sát hoạt động đầu tư của các ngân hàng nước ngoài nhằ m mục đích để các ngân
hàng này phải luôn trong trạng thái an toàn. Nóđược thể hiện:

- Thứ nhất,đảm bảo chắc chắn rằng Ngân hàng nước ngoài đó phải cóđ ủ
khả năng chi trả thường xuyên cho người gửi tiền, kể cả khi khách hàng rút tiền
ồạt. Đây là việc đảm bảo niề m tin, là tài sản vô cùng quý giáđối với mỗi ngâ n
hàng nước ngoài trong cơ chế thị trường. Bởi vì một khi niềm tin này bị giả m
sút, thì năng lực thu hút vốn của ngân hàng nước ngoài này bị giảm sút, do đó
sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, thậm chí có thể mất khả năng thanh toán và
dẫn đến phá sản.
Biện pháp đảm bảo để thoả mãn vấn đề này là phải quản lý tài sản ở
trạng thái động trong tổng số tiền dự trữ của mỗi đơn vị, nghĩa là là m sao để
mỗi ngân hàng nước ngoài luôn có một lượng vốn có thểđáp ứng được khả
năng chi trả cho người gửi tiền. Yêu cầu của việc quản lý này là sao cho ngân
hàng nước ngoài luôn luôn đảm bảo khả năng chi trả, nhưng lại không để lãng
phí vốn, nghĩa là giả m thấp tối đa rủi ro trong sử dụng vốn vào kinh doanh.
Việc đảm bảo khả năng chi trả của một ngân hàng nước ngoài không chỉđơ n
thuần làđề phòng việc rút tiền ồạt của khách hàng và giữ niề m tin với người gửi
tiền, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tài chính, đến thu nhập và
dẫn đến thua lỗ, phá sản của ngân hàng nước ngoài.
Nếu một ngân hàng nước ngoài quản lý tài sản không đủ mức cần thiết,
thìđể loại bỏ tình trạng thiếu hụt khả năng chi trả, ngân hàng nước ngoài đó có
thể thực hiện nhiều biện pháp khác như: có thể giảm số tiền cho vay tương ứng,
hoặc phải đôn đốc thu về một khoản vay chưa đến hạn; cũng có thể bán đi một
số tài sản mà mình đang nắm giữ (như trái phiếu, tín phiếu v.v...) và như vậy,
ngân hàng nước ngoài phải chịu phí tổn do những phương tiện mình đang quả n
lýở tình trạng ké m động, khi đó rủi ro kinh doanh xảy ra. Một biện pháp khác là
ngân hàng nước ngoài phải vay tái chiết khấu từ Ngân hàng Trung ương; trong
nghiệp vụ này, ngân hàng nước ngoài phải chịu phí tổn cao hơn, đó là lãi suất
tái chiết khấu. Nếu trường hợp này xảy ra nhiều lần thì Ngân hàng Trung ương
phải có biện pháp "khép cửa sổ chiết khấu" lại; và khi đó, ngân hàng nước
ngoài phải có biện pháp đối phó với tình trạng vỡ nợ của mình. Một biện pháp
khác là vay tiền các ngân hàng thương mại khác, thậ m chí từ các tổ chức kinh
tếđang có vốn tạm thời nhàn rỗi; nhưng việc này không phải lúc nào cũng dễ
dàng. Nếu tình trạng trên kéo dài sẽ dẫn đến giá trị tài sản sụt dưới mức nguồn,
làm cho ngân hàng nước ngoài không trảđược nợ, dẫn đến mất khả năng thanh
toán và sẽ bị phá sản.
Vì vậy việc quản lý tiền dự trữ là nghệ thuật trong điều hành hoạt động
kinh doanh của người quản lý ngân hàng nước ngoài trong nền kinh tế thị
trường, nó nhằm đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên xuất phát từ yêu cầu
tạo và giữ niềm tin trong kinh doanh ngân hàng. Việc theo dõi, báo động để
giúp cho ngân hàng nước ngoài thường xuyên đả m bảo khả năng chi trả là trách
nhiệ m của Ngân hàng Trung ương trong quản lý vĩ mô. Thực hiện trách nhiệ m
này, Ngân hàng Trung ương phải thông qua các hoạt động quản lý mà nóđược
thực hiện chủ yếu bởi hoạt động, giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ của Thanh
tra Ngân hàng, đặc biệt là việc giám sát thường xuyên vàđịnh kỳ. Đó là việc
phân tích các loại báo cáo do các chi nhánh ngân hàng nước ngoài gửi định
kỳđến Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước. Mục đích của việc này là nhằ m xem xét chất lượng tài sản, việc chấp
hành các quy chế quản lý nhằm phát hiện kịp thời sự biến động của các tài
khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản tiền dự trữ của bản thân ngân hàng
nước ngoài để dự báo, chỉđiểm vàứng cứu khi cần thiết.

- Thứ hai, là vấn đề quản lý tài sản của ngân hàng nước ngoài, tức làđả m
bảo chất lượng kinh doanh, yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ngâ n
hàng nước ngoài. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
để tạo ra thu nhập thì phải tổ chức sản xuất kinh doanh như thế nào để có sản
phẩ m hàng hoá tốt, giá thành hạ, được nhiều khách hàng tín nhiệ m, tiêu thụ và
thu hồi vốn nhanh. Đối với các ngân hàng nước ngoài thì cũng tương tự như
vậy, cóđiều "hàng hoá" của các ngân hàng là loại hàng hoáđặc biệt, nó thể hiệ n
ở chỗ:

+ Chỉ chuyển quyền sử dụng hàng hoá (tiền tệ) cho người vay trong một
thời gian nhất định theo phương thức tùy thuộc vào bên vay nó theo hợp đồng
giữa ngân hàng và khách hàng, do đó phải có biện pháp quản lý, theo dõi để thu
hồi lại một cách tốt nhất;
+ Vốn cho vay của các ngân hàng luôn thuộc quyền sử dụng của khách
hàng, nghĩa là nó nằm trong tay khách hàng và do khách hàng quản lý, sử dụng;
chỉ khi nào thu hồi cả gốc và lãi, kết thúc hoạt động của tài khoản cho vay hoặc
kết thúc một cam kết về thanh toán, chuyển tiền .v.v... thì hoàn thành chu kỳ
kinh doanh, nên rất khó tính hiệu quả. Do đó yêu cầu về chếđộ hạchtoán và tài
chính phải rõ ràng, nghiêm túc và thuận lợi.

+ Độ rủi ro cao và khả năng mất vốn luôn có thể xảy ra; việc này phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chất lượng hoạt động kinh doanh của
khách hàng là rất quan trọng. Do đó mối quan hệ khăng khít giữa ngân hàng với
khách hàng vay vốn là vấn đề cần quan tâm thường xuyên để tránh rủi ro trong
cho vay.

Từ những vấn đề trên cho thấy quan hệ với khách hàng và tiêu thụ hàng
hoá của ngân hàng không giống với các ngành kinh doanh khác.

Các ngân hàng nước ngoài thu lợi nhuận chủ yếu từ nghiệp vụ cho vay.
Ở Mỹ, 67% tài sản của các Ngân hàng làở nghiệp vụ cho vay và trong những
năm gần đây tạo ra hơn 60% thu nhập của các Ngân hàng. Đối với nước ta,
nghiệp vụ cho vay của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài cũng chiếm tỷ trọng rất lớn (khoảng 60% tổng tài sản) và tạo ra nguồ n
thu nhập chủ yếu cho các tổ chức tín dụng với tỷ trọng hơn 70% tổng thu nhập
(số liệu báo cáo của một số Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài có tổng tài sản trên 100 triệu USD năm 2003, 2004, 2005). Năm 1998,
1999, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, hoạt động cho vay của một số
ngân hàng có giả m và chuyển sang đầu tư bằng cách gửi tiền ở các ngân hàng
khác, là m cho tỷ trọng dư nợ cho vay và thu lãi từ nghiệp vụ cho vay có bị giả m
so với các năm trước.

Trong nghiệp vụ cho vay thì việc thu thập thông tin đối với khách hàng
vay là quan trọng nhất, phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn như: qua các tà i
liệu của người vay cung cấp, qua các thông tin phòng ngừa rủi ro (tình hình tài
chính và quan hệ kinh doanh) và các luồng thông tin khác. Việc tìm khách hàng
tin tưởng để cho vay phải rất thận trọng, nhưng cũng phải năng động và quyết
đoán, bởi vì nếu quá thận trọng sẽ mất đi những cơ hội cho vay mà chúng mang
lại lợi nhuận cao. Đó là sự sàng lọc nhằm thiết lập những mối quan hệ lâu dà i
với khách hàng và sự giám sát thích hợp trong quá trình cho vay. Nếu ngâ n
hàng nước ngoài làm tốt vấn đề này thì rủi ro sẽít hơn và lợi nhuận thu được sẽ
cao hơn.

- Thứ ba, có liên quan đến hai vấn đề là tổ chức huy động vốn và quản lý
tài chính của mỗi ngân hàng nước ngoài.

+ Việc huy động nguồn vốn sao cho chi phí phải thấp nhất, nhưng nguồ n
vốn huy động được phải ổn định, vững chắc, biểu hiện một chiến lược kinh
doanh tích cực và mang tính lâu dài. Vì vậy cơ cấu nguồn vốn là một trong
những tiêu chuẩn đểđánh giá một ngân hàng nước ngoài có vững mạnh và phát
triển hay không.

+ Vấn đề quản lý tài chính là phải đạt được mục tiêu thu lợi nhuận tối đa.
Từ mục tiêu này, mỗi ngân hàng nước ngoài phải có các biện pháp thích hợp
trong chỉđạo, điều hành; mặt khác, mỗi ngân hàng nước ngoài phải chấp hành
đầy đủ các quy định về chếđộ quản lý tài chính của Nhà nước, các nghĩa vụ với
Nhà nước, trích lập và sử dụng các nguồn lực tài chính đúng, có hiệu quả, cải
thiện đời sống người lao động v.v...

Sự có mặt của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
tại Việt Nam thể hiện sự phát triển hợp quy luật, mang tính lịch sử gắn liền với
nhu cầu phát triển của kinh tế trong nước và sự phát triển không ngừng của nề n
tài chính tiền tệ Việt Nam. Nóđã cùng các tổ chức tín dụng trong nước đáp ứng
nhu cầu về vốn cho hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế
nói chung nhằm phục vụđường lối "công nghiệp hoá, hiện đại hoá" đất nước
vàthúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế; tạo ra sự cạnh tranh trong hoạt động Ngâ n
hàng, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước.

Tuy nhiên, khi có mặt Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, hoạt động của nó phải tuân theo các quy định của luật pháp và phải phù
hợp với đường lối phát triển và xây dựng nền kinh tế thị trường có sựđiều tiết
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta. Sự cạnh tranh của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các ngân hàng
thương mại trong nước phải thể hiện sự lành mạnh, góp phần thúc đẩy sự phát
triển của các tổ chức tín dụng trong nước. Hoạt động của nó cũng phải an toàn
đểđảm bảo sự an toàn về tài sản cho người gửi tiền. Do đó, vấn đềđặt ra cho
Ngân hàng Nhà nước là phải có biện pháp và thực hiện giám sát, thanh tra đối
với hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam đểđạt được những mục tiêu trên.

Tóm lại, quản lý các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài thông qua hoạt động giám sát, thanh tra của ngân hàng Nhà nước là việc
làm rất cần thiết. Nó không chỉ làm cho các ngân hàng này luôn luôn trong tình
trạng vững vàng, ổn định và có xu thế phát triển, tạo được niềm tin cho những
người gửi tiền ở ngân hàng mình; đồng thời tuân thủđầy đủ, nghiêm túc quy
định của luật pháp. Mà quan trọng hơn là làm cho các ngân hàng này hoạt động
theo định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng
giữa các ngân hàng trong nước, kích thích sự phát triển của hệ thống tài chính -
tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung.

1.3.Căn cứ pháp lý và các phương pháp thanh tra, giám sát Ngâ n
hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

1.3.1. Căn cứ pháp lýđểthanh tra, giám sát Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Thanh tra và Giám sátđối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngâ n
hàng nước ngoài là một trong những hoạt động quan trọng của Ngân hàng Nhà
nước để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng đối với những ngân hàng này. Căn cứ pháp lýđể thanh tra, giám sát Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước hết là Luật Đầu tư
nước ngoài quy định về hình thức đầu tư, biện pháp bảo đảm đầu tư, quyền và
nghĩa vụ của nhàđầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
quản lý Nhà nước vềđầu tư nước ngoài; Luật Ngân hàng Nhà nước quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước đối với nền kinh tế,
đối với các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Luật
các tổ chức tín dụng quy định về tổ chức vàđiều hành của các tổ chức tín dụng,
về hoạt động của các tổ chức tín dụng, về kiể m soát đặc biệt, phá sản, giải thể,
thanh lý, quy định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tín
dụng và hoạt động ngân hàng của tổ chức khác, đặc biệt là Luật này có một
Chương riêng quy định về tổ chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của
tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Ngoài ra còn có các bộ
luật liên quan khác như Bộ Luật Dân sự, Lụât Doanh nghiệp v.v... cũng có
những quy phạm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại, trong đó
có các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tiếp theo đó là
các văn bản dưới luật như các Nghịđịnh của Chính phủ và các văn bản pháp
quy của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài những văn bản pháp luật, pháp quy điề u
chỉnh chung hoạt động các tổ chức tín dụng nhưđã nêu ở trên; đối với Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn có một số văn bản riêng
hoặc một phần cụ thể trong văn bản điều chỉnh hoạt động của chúng như
Nghịđịnh số 13/1999/NĐ-CP ngày 17/03/1999 của Chính phủ quy định về tổ
chức, hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ
chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam như về tổ chức điều hành, về nội dung
hoạt động; Quyết định số 296/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/08/1999 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước về giới hạn cho vay một khách hàng đối với các tổ
chức tín dụng, trong đó cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cho
vay một khách hàng với tổng dự nợ lớn nhất là 15% tính trên vốn tự có của
ngân hàng mẹ; Quyết định số 380/1997/QĐ-NHNN1 ngày 11/11/1997 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về trạng thái đồng Việt Nam đối vớ i
các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam,
trong khi đó các ngân hàng Việt Nam tính trạng thái đối với đồng đô la Mỹ;
quy định trong các giấy phép mở chi nhánh của các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài không được huy động tiền gửi tiết kiệm .v.v...

1.3.2. Phương pháp thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối
với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là
các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật
Các tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các luật khác có
liên quan. Thực hiện quản lý Nhà nước đối với các tổ chức này, Ngân hàng Nhà
nước sử dụng nhiều cơ quan chức năng của mình, trong đó có Thanh tra Ngâ n
hàng. Đối với Thanh tra Ngân hàng, việc thực hiện quản lýđối với các Ngâ n
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cũng sử dụng
hai phương thức chủ yếu là giá m sát từ xa và thanh tra tại chỗđã nêu ở trên. Hai
phương thức này được thực hiện tập trung bởi 2 phòng (bộ phận), phòng giá m
sát phân tích (thực hiện phương thức giám sát từ xa) và phòng thanh tra ngâ n
hàng nước ngoài (thực hiện thanh tra tại chỗ). Tuy nhiên do đặc thù của Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nên phương thức giám sát
từ xa và thanh tra tại chỗđối với những tổ chức này cũng có những điể m khác
đối với việc giám sát thanh tra các ngân hàng thương mại trong nước.

a- Phương thức giám sát từ xa

Giá m sát từ xa (hay thanh tra trên các báo cáo) là việc Ngân hàng Nhà
nước tổ chức phân tích, đánh giátình hình của TCTD dựa trên cơ sở các bảng
cân đối kế toán, các chỉ tiêu thống kêđịnh kỳ do TCTD gửi đến Ngân hàng Nhà
nước theo quy định, trên cơ sởđó giúp cho Ngân hàng nhà nước cóđược những
thông tin cần thiết về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của TCTD
trong khi chưa tiến hành được các cuộc thanh tra tại chỗ. Giám sát từ xa phục
vụ việc phát hiện nhanh vàđịnh kỳ những vấn đề cơ bản cần quan tâm để có
những cảnh báo cho TCTD những vấn đề cần thiết hoặc tiến hành thanh tra tạ i
chỗ.
Từ khi có Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam, các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, làđối
tượng giá m sát, thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước. Thông qua hệ
thống máy tính được nối mạng hàng tháng và Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Tỉnh, Thành phố
trên địa bàn, sau đó các dữ liệu này được truyền về Trung ương để khai thác,
phân tích, đánh giá. Các báo cáo bao gồm: Bảng cân đối tài khoản kế toán cấp
III và hơn 170 chỉ tiêu thống kê ngoài cân đối.
Việc quy định những chỉ tiêu Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân
hàng nước ngoài phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước được quy định tại quyết
định số 159/ QĐ - NHNN ngày 15/9/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước. Tuy nhiên phải đến tháng 5/1997, quy chế giám sát từ xa mới chính thức
được ban hành theo Quyết định số 137/QĐ - NHNN ngày 24/5/1997 của Thống
đốc vàđược áp dụng đối với các tổ chức tín dụng. Nội dung giá m sát từ xa đối
với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đãđược quy
định trong quy chế này, gồ m:
- Diễn biến về cơ cấu của vốn và tài sản
- Chất lượng tín dụng, bảo lãnh, hùn vốn, liên doanh vv…
- Việc đảm bảo khả năng thanh toán
- Tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh
- Việc thực hiện các quy chế an toàn của Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài những nội dung trong quy chế giám sát từ xa ban hành theo quyết
định của 137/QĐ - NHNNáp dụng đối với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam
nói chung trên đây. Đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng
nước ngoài, trong điều kiện quan hệ về vốn giữa chi nhánh tại Việt Nam với
Ngân hàng mẹ ( Hội sở chính) và các chi nhánh của tập đoàn trên phạm vi toàn
cầu, diễn ra thường xuyên, liên tục nên phải giám sát chặt chẽ số vốn gửi hoặc
đầu tư - cho vay ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt ở những thời điểm việc
đầu tư trong nước gặp khó khăn.
Nếu số vốn Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài lớn, chúng ta cần thu nhập thêm thông tin về những Ngân hàng,
Công ty ở nước ngoài đang sử dụng vốn của Chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
tại Việt Nam để có những kiến nghị phù hợp, nhằ m đả m bảo an toàn cho Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Trong mỗi chỉ tiêu giám sát đều được đối chiếu, đánh giá và so sánh vớ i
các giới hạn được Ngân hàng Nhà nước quy định cho Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại các quy chế liên doanh.
Kết quả giám sát được báo cáo cho ban lãnh đạo và gửi cho phòng thanh
tra các Ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng liên doanh để khai thác, phục vụ
hoạt động thanh tra tại chỗ.
Nội dung giám sát từ xa đối với các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được tiến hành như sau:
Một là, Tiến hành phân tổcơ cấu tài sản Nợ và tài sản Có
- Về cơ cấu tài sản Nợ: cơ cấu tài sản Nợ có chiều hướng tăng trưởng
làđiều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên việc đánh giá cơ cấu tài sản Nợ cần chúýđế n
các vấn đề như: vốn huy động thị trường, khả năng huy động vốn, uy tín của
các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên thị trường,
kiể m tra mối quan hệ giữa vốn và việc sử dụng vốn như giới hạn vốn ngắn hạn
để cho vay trung, dài hạn theo quy định.
- Đánh giá cơ cấu tài sản Có: là việc đánh giá những tài sản đem lại lợi
nhuận trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, gồ m: dư nợ cho vay có khả năng thu được lãi; tiền gửi ở
các ngân hàng khác; các khoản hùn vốn liên doanh; mua cổ phần…
- Giám sát đối với các khoản tín dụng, bảo lãnh lớn phát sinh trong 15
ngày có giá trị từ 5% vốn tự có của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài trở lên.
- Giám sát dư nợ tín dụng đối với khách hàng từ 5% vốn tự có của các
Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trở lên, gồm một số
chỉ tiêu sau: đối tượng khách hàng được cấp tín dụng, tổng dư nợ tín dụng, giá
trị tài sản thế chấp, cầm cố, loại cho vay.
Hai là, Giá m sát chất lượng tài sản Có.
Đánh giá diễn biến và cơ cấu hoạt động tín dụng nhưđánh giá về phân
loại; đánh giá chất lượng hoạt động cấp tín dụng. Đánh giá các hoạt động kinh
doanh khác của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài .
Ba là, Giám sát tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh
Thanh tra, giám sát trên tài khoản thu nhập và chi phí, khả năng sinh lời
được phân tích theo các nguồn thu, chi chủ yếu như:
- Phân loại các khoản mục thu, chi theo một số tiêu thức giữa khoản mục
thu nhập- chi phí.
- Đánh giá cơ cấu, diễn biến các khoản mục thu- chi.
- Tính toán một số tỷ lệ phản ánh kết quả kinh doanh.
Bốn là, Giá m sát Vốn tự có.
Giá m sát việc thực hiện quy định về các tỷ lệđểđảm bảo an toàn trong
hoạt động các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài gồ m:
- Xác định vốn điều lệ, quỹ bổ sung vốn điều lệ.
- Xác định tài sản Có rủi ro được tính theo quy định về các tỷ lệ bảo đảm
an toàn trong các hoạt động của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
- Xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
- Giá m sát việc chuyển nhượng cổ phần có ghi tên theo quy định.
- Giám sát về mức vốn pháp định của các Ngân hàng liên doanh và Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, vốn điều lệ ghi trên sổ sách kế toán tối thiểu phả i
bằng vốn pháp định do Chính Phủ quy định.
Năm là, Giá m sát một số chỉ số tài chính chủ yếu của các Ngân hàng liên
doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Xem xét phân tích đánh giá các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài một cách tổng thể dựa trên các chỉ số tài chính quan trọng; xác
định các Ngân hàng liên doanh vàChi nhánh ngân hàng nước ngoài theo nhó m,
theo giá trị tài sản…
b- Phương thức thanh tra tại chỗ
Thanh tra tại chỗ là phương pháp thanh tra truyền thống, là việc thanh tra
được tổ chức tại nơi làm việc của đối tượng thanh tra và tại các tổ chức kinh tế,
cá nhân là khách hàng của ngân hàng trên cơ sở kiểm tra, xem xét các văn bản,
thông tư chỉđạo, các chứng từ, tài liệu, sổ sách, hợp đồng… có liên quan đến
hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và công tác kế toán tài chính của đố i
tượng được thanh tra.
Đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
việc tiến hành thanh tra tại chỗ về cơ bản là giống thanh tra tại chỗđối với các
ngân hàng thương mại trong nước. Tuy nhiên do các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài có một số nét đặc thù (nêu tại điểm b phần 1.1.3
chương I), nên việc tiến hành thanh tra có phần khác với các ngân hàng thương
mại trong nước, nóđược thể hiện:

+ Đánh giá việc tuân thủ luật pháp của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng
xem xét, đánh giá việc tuân thủ những quy định của ngân hàng mẹ và luật pháp
của nước nguyên xứ.
+ Đánh giá mức độ an toàn đối với tài sản hoạt động tại Việt Nam vàđặc
biệt là những tài sản đưa ra đầu tưở nước ngoài.

+ Việc thu thập thông tin về ngân hàng khi tiến hành thanh tra trực tiếp
trên phạm vi rộng và phức tạp, nó không chỉ những thông tin về bản thân ngân
hàng nước ngoài tại Việt Nam, mà cả những thông tin về ngân hàng mẹ, các
ngân hàng khác ở các nước có quan hệ với ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

+ Phải có mối quan hệ chặt chẽ với Thanh tra Ngân hàng Trung ương của
các quốc gia có chi nhánh ngân hàng hoạt động tại Việt Nam để xử lý những
vấn đềliên quan đến ngân hàng mẹ của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam phát hiện qua thanh tra trực tiếp.

+ Phải thận trọng và thực hiện tốt những quy định vềđối ngoại để không
làm ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Nhà nước.

+ Xác định tư cách pháp lý của người lãnh đạo (Tổng Giám đốc, Giá m
đốc) có theo đúng các quy định của luật pháp Việt Nam không.

Mục tiêu của thanh tra tại chỗđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định là:

- Xác định sự chính xác của các tài liệu kế toán đã gửi đến Thanh tra
ngân hàng. Đánh giá sự phù hợp của hệ thống kế toán, đánh giá tình trạng tài
chính - khả năng chi trả, chất lượng hoạt động, nhằ m đảm bảo Ngân hàng được
thanh tra không gây phương hại đến lợi ích của người gửi tiền.

- Xem xét việc tuân thủ các điều khoản về nghĩa vụ với Ngân sách Nhà
nước, bởi vì sự vi phạm các vấn đề này có thể sẽ dẫn đến hậu quả về tài chính.
Đánh giá tình hình chấp hành luật pháp và quy định trong các hoạt động kinh
doanh tài chính của các tổ chức tín dụng nước ngoài trong một thời gian nhất
định.
- Xem xét việc thực hiện các quy định của ngân hàng mẹ và luật pháp
nước nguyên xứ của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
được thanh tra.

- Đánh giá, thẩm định năng lực, khả năng quản lý của Ban Tổng giá m
đốc và nhân viên; sự lành mạnh của ngân hàng; nghĩa là ngân hàng phải đ ủ
vốn, luôn đảm bảo khả năng thanh toán và có lãi đểđảm bảo sự lành mạnh về
tài chính. Đây là sự bảo đảm cao nhất cho chính ngân hàng và người gửi tiền và
nó là mối quan tâm nhất của Thanh tra ngân hàng.

- Giúp các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thấ y
được những ưu điểm, những thiếu sót và tồn tại để khắc phục nhằm đưa hoạt
động của mình đúng luật pháp, an toàn và có hiệu quả.

Việc thanh tra tại chỗđược thực hiện thông thường dưới hình thức tổ
chức các đoàn thanh tra, kiểm tra trực tiếp định kỳ tại các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong một thời gian nhất định (thường
là 1 tháng); ngoài ra còn tổ chức các cuộc thanh tra đột xuất với thời gian ngắ n
hơn.

c- Mối quan hệ giữa phương thức giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ

Thông qua các file cân đối kế toán hàng tháng, các ngân hàng thương
mại gửi tới ngân hàng Nhà nước, phòng phân tích giám sát tiến hành phân tích,
đánh giáđối với từng ngân hàng thương mại (trong đó có Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Đối với những ngân hàng thương mại có các
thông tin sai sót, có các chi tiết nghi vấn trong báo cáo, có những vấn đề vi
phạ m, cán bộ phân tích, giám sát nhắc nhở, chấn chỉnh hoặc yêu cầu ngân hàng
thương mại phải giải trình nếu có thông tin nghi vấn, chưa rõ ràng. Trong các
trường hợp cần thiết, cán bộ phân tích, giám sát thông báo cho bộ phận thanh
tra trực tiếp các ngân hàng thương mại để tổ chức thanh tra tại chỗđột xuất các
ngân hàng thương mại này. Kết quả phân tích giám sát được báo cáo ban lãnh
đạo Thanh tra và ban lãnh đạo ngân hàng Nhà nước để ra các quyết định quản
lý kịp thời. Đồng thời, kết quả phân tích giám sát được chuyển tới phòng thanh
tra trực tiếp các ngân hàng thương mại để phục vụ cho việc thanh tra tại chỗ.

Mặt khác, kết quả thanh tra tại chỗ là sự kiểm tra tính chính xác đối với
các báo cáo giám sát mà các ngân hàng thương mại gửi tới Thanh tra Ngân
hàng.

Mục tiêu và phương thức phối hợp giữa giám sát từ xa và thanh tra tạ i
chỗ về căn bản được tiến hành như trên. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, do
nhiều nguyên nhân khác nhau nên giữa hai bộ phận này chưa có sự phối hợp
chặt chẽ với nhau. Đôi khi các thông tin của bộ phận giám sát cung cấp chỉ có
giá trị tham khảo và các kết quả thanh tra tại chỗ không được phản hồi lại cho
giá m sát từ xa. Bên cạnh đó là việc nhìn nhận chưa đúng đắn về tầm quan trọng
của giám sát từ xa trong hoạt động của Thanh tra Ngân hàng.

Các ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo lụât pháp
của nước chính quốc, do đó các chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác nhau
được điều chỉnh bởi các hệ thống luật pháp của các nước khác nhau. Các quy
định về vốn, quy chế an toàn trong hoạt động, các giới hạn rủi ro, các quy định
về mặt tổ chức đối với mỗi ngân hàng ở các nước cũng không hoàn toàn giống
nhau; tuy vậy các quy định này đều đảm bảo một mục tiêu chung cho tất cả các
ngân hàng là hoạt động an toàn, hiệu quả vàđảm bảo tuân thủ pháp luật nước sở
tại.

Thực hiện chính sách mở cửa, các ngân hàng nước ngoài muốn mở Chi
nhánh ở Việt Nam thì phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện về mặt lụât pháp, vố n
và kỹ thuật. Khi đãđược cấp giấy phép và hoạt động tại Việt Nam, các quy
phạ m pháp lýđược dùng đểđiều chỉnh hoạt động của các Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài là Luật đầu tư nước ngoài, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ
chức tín dụng, Luật thuế, các bộ Luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng và
các văn bản dưới luật như: các Nghịđịnh của Chính phủ, các Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ, các văn bản liên Bộ hoặc các văn bản của Bộ trưởng các
Bộ, ngành thuộc Chính phủ; các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đối với các ngân hàng thương mại nói chung và các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài nói riêng, đặc biệt là các văn bản của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước.

Các văn bản luật và văn bản dưới luật nói trên đều nhằm mục đích điều
chỉnh hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sao cho chúng hoạt
động an toàn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo đúng định hướng của Nhà
nước, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng.

Với mục đích trên, hoạt động giá m sát, thanh tra của Ngân hàng Nhà
nước đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đạt được những yêu cầu,
mục tiêu nhất định, đó là:

+ Với hoạt động giám sát, thanh tra, Ngân hàng Nhà nước đánh giáđược
những ngân hàng nào tuân thủ tốt, ngân hàng nào tuân thủ chưa tốt luật pháp để
có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, nghiêm túc, phát hiện những vấn đề còn thiếu
đồng bộ, chưa chặt chẽ trong các văn bản quản lýđểđiều chỉnh, bổ sung sao cho
các quy định trong văn bản quản l ý của Nhà nước vừa chặt chẽ, đồng bộđể việc
quản lýđối với các ngân hàng tốt hơn.

+ Thông qua giám sát, thanh tra để phát hiện những ngân hàng vi phạm
các quy định của Nhà nước, chấn chỉnh kịp thời những vi phạ m của các ngâ n
hàng, nâng cao ý thức tuân thủ luật pháp của các ngân hàng.

Hiện nay Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành phân tích, giám sát định k ỳ
hàng tháng và thanh tra định kỳ hàng năm hoạt động của các Chi nhánh ngân
hàng ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh. Kết quả giá m sát, thanh tra
của Ngân hàng Nhà nước trong những năm qua đã phát hiện và chấn chỉnh kịp
thời một số vi phạm của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài như: vi phạ m về
tỷ giá mua bán ngoại tệ; vi phạm về lãi suất và phí cho vay .v.v... Một số ngân
hàng vi phạm đã bị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định cảnh cáo.

Tóm lại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng và hoạt động của các ngâ n
hàng thương mại là nhằm tìm kiế m nhiều lợi nhuận hơn đảm bảo cho sự tồn tại,
phát triển bền vững của chính các ngân hàng thương mại trong sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt của thị trường.

Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, chuyển hoạt động của
nền kinh tế từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị
trường (trong đó có hoạt động ngân hàng) và chính sách "mở cửa" để "hội
nhập" với kinh tế thế giới và khu vực đã tạo điều kiện để các ngân hàng nước
ngoài đầu tư vào nước ta dưới hình thức thành lập Ngân hàng liên doanh hoặc
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với những đặc điểm riêng khác với các ngân
hàng thương mại trong nước.

Với những lý do trên đòi hỏi chúng ta phải làm tốt chức năng quản lý
Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng với việc tăng cường công tác giá m
sát, thanh tra nhằ m đảm bảo tính tuân thủ luật pháp và sự an toàn cho hoạt động
của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
thông qua hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước với hai phương thức
giá m sát từ xa và thanh tra tại chỗ trên cơ sở các căn cứ pháp lý của Nhà nước.
Đó chính là sự cần thiết của hoạt động giám sát, thanh tra của Ngân hàng Nhà
nước đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở
nước ta.
Chương 2

HOẠTĐỘNGTHANHTRACỦATHANHTRANGÂNHÀNG
NHÀNƯỚCĐỐIVỚINGÂNHÀNGLIÊNDOANH,CHINHÁNHNGÂ
NHÀNGNƯỚCNGOÀITẠI VIỆT NAM

Hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước được quy định trong Luật
Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng, Pháp lệnh Thanh tra và các
văn bản pháp quy khác của Nhà nước. Nóđược thực hiện ở nhiều đơn vị của
Ngân hàng Nhà nước để giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong việc thực
hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng của Ngân hàng Trung ương.
Trong đó hoạt động chủ yếu được thực hiện bởi Thanh tra ngân hàng.

2.1. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Ngâ n
hàng

Ngân hàng nước ngoài đầu tiên có mặt tại Việt Nam năm 1990, do đóđề
tài này chỉ nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Thanh tra
Ngân hàng từ khi có các Pháp lệnh Ngân hàng và Pháp lệnh Thanh tra cho đến
nay.

2.1.1.Chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra Ngân hàng

Pháp lệnh Thanh tra và hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời cùng với việc
ban hành một loạt các văn bản pháp lý, pháp quy khác của Nhà nước đã khẳng
định rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác thanh tra trong hoạt động quản lý
Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động
kinh doanh tiền tệ, tín dụng, ngân hàng nói riêng. Bởi vì “Thanh tra là một chức
năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước” và hoạt động thanh tra nhằ m “…
góp phần tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, thực hiện nghiêm chỉnh chính
sách, pháp luật của Nhà nước”. Đối với Ngân hàng Nhà nước thì “Thanh tra
Ngân hàng Nhà nước là tổ chức thanh tra chuyên trách của Ngân hàng
Nhànước trong hệ thống Thanh tra Nhà nước, thực hiện quyền thanh tra trong
phạ m vi quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; chịu sự chỉđạo trực tiếp
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và sự chỉđạo của Thanh tra Nhà nước về
công tác tổ chức và nghiệp vụ thanh tra”. Như vậy, Thanh tra Ngân hàng Nhà
nước là một chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước về Ngân hàng.

Sau khi luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức tín
dụng ra đời phù hợp với hoàn cảnh mới của hoạt động ngân hàng, tổ chức và
hoạt động của Thanh tra Ngân hàng cũng cần phải được xác định lại cho phù
hợp với tình hình mới. Những nội dung về tổ chức và hoạt động của Thanh tra
Ngân hàng sau khi có hai luật về Ngân hàng bao gồm:

- Thanh tra Ngân hàng là Thanh tra Nhà nước chuyên ngành về ngâ n
hàng, được tổ chức thống nhất thuộc Ngân hàng Nhà nước. Thanh tra Ngân
hàng có con dấu riêng.

- Đối tượng của Thanh tra Ngân hàng bao gồ m: tổ chức và hoạt động của
tổ chức tín dụng; hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ chức tín
dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép; việc thực hiện các quy định của
pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của các cơ quan, tổ chức và cá
nhân.

- Mục đích hoạt động của Thanh tra Ngân hàng góp phần đả m bảo an
toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
gửi tiền, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

- Nội dung hoạt động của Thanh tra Ngân hàng gồm:

+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng,
việc thực hiện các hoạt động được quy định trong giấy phép hoạt động Ngân
hàng.

+ Kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, giám đốc chi nhánh Ngân
hàng Nhà nước Tỉnh, Thành phố và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong
việc thực hiện các biện pháp đảm bảo thi hành pháp luật về tiền tệ, và hoạt
động Ngân hàng;
+ Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy
định của Luật khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức và hoạt động Ngân hàng;
Tham mưu giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về công tác phòng ngừa
vàđấu tranh chống tham nhũng trong ngành Ngân hàng.

- Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra Ngân hàng:

+ Hoạt động của Thanh tra Ngân hàng phải tuân theo pháp luật, đảm bảo chính
xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời;

+ Hoạt động của Thanh tra Ngân hàng không chịu sự can thiệp trái pháp luật
của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.

- Nhiệ m vụ, quyền hạn của Thanh tra Ngân hàng:

+ Thực hiện việc giám sát thường xuyên và tiến hàng các cuộc thanh tra
trực tiếp về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng, hoạt động ngân hàng
của tổ chức khác, nhằm phát hiện ngăn chặn các vi phạ m; kiến nghị biện pháp
bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng.

+ Kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước áp dụng các biện pháp xử
lý: đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; đình chỉ một số hoạt
động Ngân hàng của tổ chức tín dụng và của tổ chức khác có hoạt động Ngân
hàng; thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động;

+ Xử phạt theo thẩm quyền và kiến nghị xử phạt vi phạ m hành chính
ngoài thẩ m quyền trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định
của pháp luật;

+ Đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tổ chức kiểm toá n
vào kiểm toán tổ chức tín dụng.

+ Được bảo lưu ý kiến, nếu thủ trưởng cơ quan Ngân hàng Nhà nước
cùng cấp không nhất trí với kết luận của Thanh tra Ngân hàng, đồng thời phả i
báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩ m quyền theo quy định pháp luật về thanh tra;
+ Thẩ m tra, xác minh, kết luận, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý các
khiếu nại, tố cáo liên quan đến ngành Ngân hàng; tham mưu cho Thống đốc
ngân hàng Nhà nước, chỉđạo, kiể m tra việc phòng ngừa vàđấu tranh chống
tham nhũng theo quy định của pháp luật trong ngành Ngân hàng.

+ Bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra cho cán bộ, công chức, thuộc hệ thống
Thanh tra Ngân hàng;

+ Quản lý, chỉđạo việc thực hiện chương trình, kế hoạch và nghiệp vụ
công tác thanh tra trong ngành Ngân hàng;

+ Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Pháp lệnh Thanh tra và các
nhiệ m vụ khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Ngân hàng

- Tổ chức của Thanh tra Ngân hàng: Thanh tra Ngân hàng được tổ chức
thành một hệ thống gồm:

+ Thanh tra Ngân hàng tại trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước,

+ Thanh tra Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.

Hiện nay, toàn hệ thống Thanh tra Ngân hàng có 759 cán bộ thanh tra,
trong đó:

- Thanh tra Ngân hàng Trung ương: 104 cán bộ, được tổ chức thành 9
phòng, trong đó có 5 phòng thanh tra tại chỗ các tổ chức tín dụng.

- Thanh tra chi nhánh: 655 cán bộ

Thanh tra Ngân hàng Trung ương chịu sựđiều hành trực tiếp của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức
năng thanh tra các ngân hàng thương mại trên phạm vi cả nước. Thanh tra Ngân
hàng ở các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước chịu sựđiều hành trực tiếp của
Giá m đốc Chinh nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, thực hiện chức
năng thanh tra trên địa bàn, đồng thời chịu sự quản lý chỉđạo về chương trình,
kế hoạch, nội dung, nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Trung ương.

- Các chức vụđiều hành hoạt động của Thanh tra Ngân hàng:
+ Điều hành hoạt động củaThanh tra NHNN là Chánh thanh tra; giúp
việc Chánh thanh tra có một số Phó chánh thanh tra. Chánh thanh tra do Thống
đốc NHNN bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi thống nhất ý kiến với Tổng thanh
tra; Phó Chánh thanh tra do Thống đốc NHNN bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề
nghị của Chánh thanh tra.

+ Điều hành hoạt động của Thanh tra chi nhánh NHNN là Chánh thanh
tra chi nhánh; giúp việc Chánh thanh tra chi nhánh có một số Phó Chánh thanh
tra chi nhánh. Chánh thanh tra chi nhánh do Giá m đốc NHNN chi nhánh tỉnh,
thành phốđề nghị, Chánh thanh tra trình Thống đốc NHNN bổ nhiệm, miễ n
nhiệ m. Các Phó chánh thanh tra chi nhánh do Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh,
thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm.

- Chỉđạo điều hành hoạt động của hệ thống Thanh tra ngân hàng thực
hiện theo cơ chế song trùng lãnh đạo:

+ Thống đốc NHNN chịu trách nhiệm chỉđạo, điều hành việc thực hiện
Thanh tra Ngân hàng trên phạm vi cả nước.

+ Tổng thanh tra chịu trách nhiệ m chỉđạo và hướng dẫn về tổ chức và
nghiệp vụ thanh tra.

+ Thanh tra chi nhánh NHNN chịu sựđiều hành trực tiếp của Giá m đốc
NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nhưng chịu chỉđạo, hướng dẫn nghiệp vụ
thanh tra của Chánh thanh tra.

Tổ chức bộ máy của Thanh tra ngân hàng được trình bày tại sơđồ sau:

Sơđồ 2.1: Tổ chức bộ máy của Thanh tra Ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thanh tra Chính phủ




NHNN chi nhánh tỉnh,
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
thành phố




Các phòng đơn vị
Thanh tra chi nhánh NHNN
thuộc Thanh tra
NHNN
Ghi chú: : Quan hệ chỉđạo : Quan hệ báo cáo

2.2. Thực trạng hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

2.2.1. Thực trạng Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam

Hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng được thực hiện bởi nhiều vụ, cục
chức năng của Ngân hàng Nhà nước, nhưng chủ yếu vẫn do Thanh tra Ngân
hàng Nhà nước thực hiện bằng hai phương thức: giám sát từ xa và thanh tra tại
chỗ.

Với hai phương thức trên, thực trạng hoạt động thanh tra của Ngâ n
hàng Nhà nước đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
là:

Ngay từ năm 1990, Ngân hàng Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tiên cho
Ngân hàng liên doanh Indovina (ngân hàng Công thương Việt Nam liên doanh
với Ngân hàng Suma của Indonesia) và vào năm 1992 Ngân hàng Nhà nước đã
cấp giấy phép đâut tiên cho Ngân hàng nước ngoài ANZ ( Australia & New
Zealand Banking Group) với vốn điều lệ là 20 triệu USD. Đến nay, đã có6
Ngân hàng liên doanh và 37 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đãđược cấp giấy
phép hoạt động tại Việt Nam cụ thể qua bảng 2.1:

Bảng 2.1: Các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

tại Việt Nam

* Các Ngân hàng liên doanh
STT Tên ngân hàng Số Giấy Phép Ngày tháng Địa chỉ Vốn điều lệ
(triệu USD)
cấp giấy phép

135/GP-SCCI 21/11/1990 39 Hàm Nghi, Q1, 20 triệu
INDOVINA BANK
1
TPHCM USD

Chi nhánh Bình Dương 07/NHNN- 11/09/2002 Lô 147, Khu CN Sóng
CNN thần, huyện Dĩ An, Bình
Dương

Chi nhánh Cần Thơ 14/NH-GPCN 17/04/1997 59A Phan Đình Phùng,
TP Cần Thơ

Chi nhánh Hà Nội 08/NH-GP 29/10/1992 88 Hai Bà Trưng, Hà Nội

Chi nhánh Hải Phòng 05/NH-GPCN 16/07/1994 30 Trần Phú, Hải Phòng

10/NH-GP 04/01/1993 3-5 Hồ Tùng Mậu, Q.1, 20 triệu
SHINHANVINA
2
TPHCM USD
BANK

Chi nhánh Hà nội 04/NH-GPCN 15/06/1994 360 Kim Mã, Hà nội

Việt Thái (Vinasiam)- 01/GP-NHNN 16/12/2004 31Phan Chu Trinh, Q.Hải 20 triệu
3
Châu, TP. Đà Nẵng USD
Chi nhánh Đà Nẵng

11/GP-NHNN 30/10/2006 85 Lý Thường Kiệt, 10 triệu
Việt-Nga
4
Quận Hoàn Kiếm, Hà USD
NộI

01/NH-GP 25/03/1992 53 Quang Trung, Hà Nội 20 triệu
VID PUBLIC BANK
5
USD

Chi nhánh Đà Nẵng 03/NH-GPCN 23/02/1994 2 Trần Phú, TP Đà Nẵng

Chi nhánh Bình Dương 14/NHNN- 28/05/2003 Đường DT 743, Khu CN
CNH Sóng thần 2, huyện
Thuận An, Bình Dương

Chi nhánh Hải Phòng 09/NH-GPCN 06/03/1996 56 Điện Biên Phủ, TP
Hải Phòng

Chi nhánh Hồ Chí Minh 01/NH-GPCN 26/12/1992 15A Bến Chương
Dương, Q.1, TP HCM

19/NH-GP 20/04/1995 2 Phó Đức Chính, Q.1, 15 triệu
VINASIAM
6
TPHCM USD

Chi nhánh Đồng Nai 01/GP-NHNN 30/01/2004 Số 93A Khu phố 8, Quốc
lộ I, TP.Biên Hoà, Đồng
Nai

Chi nhánh Hà nội 05/NHNN- 02/05/2002 61 Ngô Thì Nhậm, Hà
CNH nội

Chi nhánh Tp Hồ Chí 17/GP-NHNN 01/09/2003 20-18 Đường 3 tháng 2,
Minh Q10, Tp HCM


(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Indovina là ngân hàng liên doanh đầu tiên của Việt Nam giữa Ngân hàng Công
thương Việt Nam (Incombank) và Ngân hàng Cathay United (Đài Loan). Hiện
Indovina được đánh giá là ngân hàng có các chỉ số tài chính tốt nhất trong số
các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Tính đến giữa năm 2006, tổng tài sản của IVB đạt trên 5.000 tỷ đồng. Indovina
có mạng lưới hoạt động trên cả nước với khách hàng truyền thống là các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó IVB chủ trương hướng đến các
doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng cá nhân tiêu dùng.
Hiện nay, Indovina đang tiến hành chiến lược nâng cao năng lực bằng việc
nâng vốn điều lệ, mở rộng hệ thống giao dịch và đầu tư công nghệ hiện đại.
Trong năm nay, IVB sẽ cho ra đời sản phẩm thẻ ATM và tổ chức phát hành thẻ
tín dụng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thanh toán không dùng tiền
mặt. Hiện tại, Ngân hàng Indovina đang có vốn góp vào Quỹ đầu tư VF1

* Các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
STT Tên ngân hàng Số Giấy Phép Ngày tháng Địa chỉ Vốn điều
cấp giấy phép lệ
(triệu
USD)
ABN Amro Bank(Hà lan) 23/NHGP 14/09/1995 360 Kim Mã, Hà Nội 15 triệu
1
USD

ANZ (Australia & New 07/NH-GP 15/06/1992 14 Lê Thái Tổ, Hà Nội 20 triệu
2
Zealand Banking Group) USD
(úc)

ANZ (Australia & New 08/NH-GPCN 19/01/1996 TPHCM (CN phụ)
3
Zealand Banking Group)
(úc)

BANK OF CHINA (Trung 21/NH-GP 24/07/1995 115 Nguyễn Huệ, Q.1, 15
4
Quốc) TPHCM

BANK OF TOKYO 24/NH-GP 17/02/1996 5b Tôn Đức Thắng, 45
5
MISUBISHI UFJ (Nhật) Q.1, TPHCM

BANKOK BANK(Thái lan) 03/NH-GP 15/04/1992 35 Nguyễn Huệ, 15 triệu
6
Q.1,TPHCM USD

06/NH-GPCN 10/08/1994 Hà Nội (CN phụ) 56
Lý Thái Tổ

BNP (Banque Nationale de 05/NH-GP 05/06/1992 SaiGonTower, 29 Lê 15 triệu
7
Paris) (Pháp) Duẩn, Q.1, TPHCM USD

CALYON (Pháp) 04/NH-GP 27/05/1992 Hà Nội Tower, 49 Hai
8
Bà Trưng, Hà Nội (CN
phụ)

CALYON (Pháp) 02/NH-GP 01/04/1992 21-23 Nguyễn Thị 20 triệu
9
Minh Khai, TPHCM USD

Cathay United Bank (Đài 08/GP-NHNN 29/06/2005 Thị xã Tam Kỳ, tỉnh 15 triệu
10
Loan) Quảng Nam USD

Chinatrust Com.Bank (Đài 04/NH-GP 06/02/2002 1- 5 Lê Duẩn, Q1, 15 triệu
11
loan) TPHCM USD

CHINFON COM. BANK 11/NH-GP 09/04/1993 14 Láng Hạ, Hà Nội 30 triệu
12
(Đài loan) USD

07/NH-GPCN 24/12/1994 27 Tú Xương, Quận 3,
TPHCM (CN phụ)

CITY BANK (Mỹ) 13/NH-GP 19/12/1994 17 Ngô Quyền,Hà Nội 20 triệu
13
USD
CITY BANK (Mỹ) 35/NH-GPCN 22/12/1997 TPHCM(CN phụ)
14

DEUSTCHE BANK (Đức) 20/NH-GP 28/06/1995 Saigon Centre tầng 15 triệu
15
12,13,14,65 Lê Lợi, USD
Q.1, TPHCM

FENB (Mỹ) 03/NHNN-GP 20/05/2004 Số 2A-4A, Tôn Đức 15 triệu
16
Thắng, TP.HCM USD

First Commercial Bank (Đài 09/NHNN-GP 09/12/2002 88 Đồng Khởi, Q1, TP 15 triệu
17
loan) HCM USD

HONGKONG SHANGHAI 01/NHNN-GP 04/01/2005 23 Phan Chu Trinh, 15 triệu
18
BANKING Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội USD
CORPERATION (Anh)

HONGKONG SHANGHAI 15/NH-GP 22/03/1995 235 Đồng khởi,Q.1, 15 triệu
19
BANKING TPHCM USD
CORPERATION (Anh)

JP Morgan CHASE 09/NH-GP 27/07/1999 29 Lê Duẩn, Q.1, 15 triệu
20
bank(Mỹ) TPHCM USD

KOREA EXCHANGE 298/NH-GP 29/08/1998 360 Kim Mã Hà nội 15 triệu
21
BANK (KEB) (Hàn Quốc) USD

LAO-VIET BANK (Lào) 08/NHGP 14/04/2003 181 Hai Bà Trưng, Q1, 2,5 triệu
22
TPHCM (CN thứ 2) USD

LAO-VIET BANK (Lào) 05/NH-GP 23/03/2000 17 Hàn Thuyên, Hà 2,5 triệu
23
Nội USD

MAY BANK (Malaysia) 05/GP-NHNN 29/03/2005 Cao ốc SunWahTower 15 triệu
24
USD

MAY BANK (Malaysia) 22/NH-GP 15/08/1995 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội 15 triệu
25
USD

Mega International 25/NH-GP 03/05/1996 5b Tôn Đức Thắng, 15 triệu
26
Commercial Co., (Đài loan) Q.1, TPHCM USD

Mizuho Corporate 26/NH-GP 03/07/1996 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội 15 triệu
27
BANK(Nhật) USD

Mizuho Corporate 02/GP-NHNN 30/03/2006 Tầng 18, Sun Wah, 115
28
BANK(Nhật) Nguyễn Huệ, Q1,
TPHCM
NATEXIS (Pháp) 06/NH-GP 12/06/1992 11 Công trường Mê 15 triệu
29
Linh, Q1, TPHCM USD

OCBC (Singapore)(Keppel) 27/NH-GP 31/10/1996 SaiGonTower, 29 Lê 15 triệu
30
Duẩn, Q.1, TPHCM USD

SHINHAN BANK (Hàn 17/NH-GP 25/03/1995 41 Nguyễn Thị Minh 15 triệu
31
Quốc) Khai, Q.1, TPHCM USD

STANDARD 12/NH-GP 01/06/1994 49 Hai Bà Trưng, Hà 15 triệu
32
CHARTERED BANK Nội USD
(Anh)

Standard Chartered Bank 12/GP-NHNN 28/12/2005 Tầng 2, 15 triệu
33
(Anh)- Chi nhánh TP Hồ SaigonTradeCenter, USD
Chí Minh Q1, TPHCM

Sumitomo-Mitsui Banking 1855/GP- 20/12/2005 Toà nhà The Landmark 15 triệu
34
Corporation (Nhật NHNN T9, 5B Tôn Đức USD
Bản)(SMBC) Thắng, Q1, TP Hồ Chí
Minh

UNITED OVERSEAS 18/NH-GP 27/03/1995 17 Lê Duẩn, Q.1, 15
35
BANK (UOB)(Singapore) TPHCM

Woori Bank (Hàn Quốc)- 1854/GP- 20/12/2005 P808, lầu 18 toà nhà 15 triệu
36
Chi nhánh TP Hồ Chí Minh NHNN Sun Wah, 115 Nguyễn USD
Huệ, Q1, TP Hồ Chí
Minh

WOORI BANK(Hàn Quốc) 16/NH-GP 10/07/1997 360 Kim Mã, Hà Nội 15 triệu
37
(Hanvit cũ) USD



(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Quản lý Nhà nước của Ngân hàng Trung ương đối với các đơn vị nà y
được thực hiện ở nhiều vụ, cục chức năng như: Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Các
ngân hàng; Vụ Quản lý ngoại hối; Vụ Quản lý ngoại hối; Vụ Tín dụng, Thanh
tra Ngân hàng… Trong đó Thanh tra Ngân hàng làđơn vịđược giao giám sát,
thanh tra theo các quy định về thanh tra tại Pháp lệnh thanh tra; các quy định về
tiền tệ- tín dụng- ngân hàng tại các Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ
chức tín dụng và các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Ngay sau khi thực hiện chính sách mở cửa, trong lĩnh vực tài chính tiền
tệđã có nhiều ngân hàng lớn của một số nước xin phép đặt văn phòng đại diện
và mở chi nhánh ở nước ta. Trong đợt đầu (2000-2004) đã có 11 ngân hàng
nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép mở chi nhánh 100% vố n
nước ngoài hoặc liên doanh với số vốn ban đầu các ngân hàng này đưa vào Việt
Nam là135 triệu USD. Đến nay, số các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngâ n
hàng nước ngoài có mặt tại Việt Nam là 37 đơn vị với số vốn các ngân hàng
nước ngoài đưa vào Việt Nam (vốn điều lệ) là 490 triệu USD; vốn huy động
gần 2 tỷ USD và các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
đã dùng số vốn huy động và vốn điều lệđể cho vay các Công ty, doanh nghiệp
trong nước gần 1,5 tỷ, bảo lãnh và mở L/c trị giá hàng trăm triệu USD. Ngoài
việc tạo vốn vàđầu tư cho các doanh nghiệp ở Việt Nam có vốn để sản xuất
kinh doanh, việc các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
đưa máy móc, thiết bị và các phần mềm cùng kinh nghiệm hoạt động ngân hàng
đã góp phần phát triển công nghệ ngân hàng ở Việt Nam.

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động của Ngân hàng liên doanh,Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1992-2006

Đơn vị: tỷ VND

T chỉ 199 199 199 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
T tiêu 2 3 4


1 Tổng 963 330 606 1359 1964 2993 3144 3374 3743 4025 4374 4735 5035 5392 5591
tài 0 2 7 1 6 2 0 2 9 6 6 9 4 0
sản


2 Cho 55 827 281 5678 1171 1806 1888 2011 2306 2742 3129 3597 3765 3796 4752
vay 9 6 8 0 9 5 6 7 8 2 2 0
3 Huy 216 125 289 5006 8962 1185 1256 1436 1784 2058 2469 2731 3154 3024 3350
động 6 7 8 9 4 3 7 3 4 2 5 2


4 TSC 30 73 83 133 184 389 454 187 234 253 279 301 320 351 352
Đ


5 Vốn, 734 141 186 3795 4826 5970 7436 7557 7924 8253 8543 8958 7543 7355 7567
KQK 6 6
D



(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

2.2.2.Thực trạng hoạt động thanh tracủa Thanh tra Ngân hàng Nhà
nước đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Ngay khi chuẩn bị cho việc cấp giấy phép cho các ngân hàng nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức đào tạo đội ngũ công
chức có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ giỏi, am hiểu pháp luật; để vừa tiếp
thu được công nghệ mới của các tổ chức tín dụng lớn, hiện đại trên thế giới,
đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với tổ chức này.

Việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nướcđối với các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Ngân hàng Nhà nước được thể
hiện ngay từ khâu đầu tiên (do Vụ Các Ngân hàng thực hiện) là xem xét để cấp
giấy phép cho các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh (loại hình
100% vốn nước ngoài); hoặc liên doanh tại Viêt Nam.

Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong việc “mở cửa và hội nhập” thuộc
lĩnh vực tài chính, tín dụng với nước ngoài, nó vừa đảm bảo cho sự an toà n
trong hoạt động của các tổ chức tài chính tín dụng trong nước, vừa thực hiện
tốt chủ trương, chính sách của Đảng. Đó là việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài;
tiếp thu được công nghệ mới hiện đại…

Hiện nay, 37 ngân hàng nước ngoài đãđược Nhà nước cấp giấy phép đầu
tư vào nước ta thành lập Ngân hàng liên doanh hoặc Chi nhánh ngân hàng
100% vốn nước ngoài, kết quả hoạt động của các ngân hàng này đến nay về cơ
bản vẫn đảm bảo an toàn, hầu hết các ngân hàng đều cóý thức tuân thủ nghiê m
túc luật pháp và các quy chế.

Sau khi các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
được cấp giấy phép hoạt động, hoạt động quản lýđối với các ngân hàng này hầu
hết được tập trung tại Thanh tra Ngân hàng Nhà nước với hai phương thức hoạt
động là giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ nhưđối với các tổ chức tín dụng
trong nước.

2.2.2.1.Đối với phương pháp giám sát từ xa:

Trong số các tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt
Nam hiện nay, việc giám sát từ xa đãđược thực hiện đối với toàn bộ các Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngay sau khi khai trương hoạt động các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài phải gửi cân đối kế toán và các báo cáo theo quy
định tại quyết định số 159/QĐ-NH1 và quyết định số 137/QĐNH3 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước về thanh tra Ngân hàng để thực hiện phân tích giám
sát.

Hiện nay, Thanh tra Ngân hàng đều nhận đầy đủ các file cân đối kế toán
và các báo cáo truyền qua mạng vi tính hàng tháng, báo cáo phân loại chất
lượng tín dụng và cam kết hàng quý của 37 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và
6 Ngân hàng liên doanh. Trên cơ sở số liệu hoạt động của các tổ chức tín dụng
từ mạng truyền, Thanh tra Ngân hàng đã thực hiện giám sát, phân tích đểđánh
giá sự phát triển, mức độ an toàn về việc chấp hành các quy chế của từng Ngâ n
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và của toàn khối.
Kết quả giá m sát thanh tra hàng tháng được tổng hợp, báo cáo Ban lãnh
đạo Ngân hàng Nhà nước để chỉđạo và thực hiện chức năng quản lýđối với các
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Khi giám sát phân tích hoạt động của các ngân hàng, Thanh tra Ngâ n
hàng đã chấn chỉnh ngay đối với những Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngâ n
hàng nước ngoài có vi phạm các quy định về huy động vốn bằng tiền đồng của
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, gửi vốn ra nước ngoài; hoặc dư nợ cho vay
quá hạn tăng; phải trả thay các cam kết không chính xác hoặc áp dụng các tài
khoản trên báo cáo kế toán gửi Ngân hàng Nhà nước chưa đúng với số hiệu tài
khoản kế toán trong hệ thống kế toán ban hành theo Quyết định số
1146/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Những vi phạ m
và các tồn tại trên của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài sau khi giá m sát hàng tháng, Ngân hàng Nhà nước đã có công văn nhắc
nhở, chấn chỉnh đối với các ngân hàng.

Cùng với việc báo cáo Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, kết quả giá m
sát đồng thời được chuyển tới bộ phận thanh tra trực tiếp các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài để phục vụ cho hoạt động thanh tra tại
chỗ. Căn cứ vào kết quả giám sát phân tích đối với mỗi ngân hàng, bộ phậ n
thanh tra trực tiếp xem xét mức độ an toàn trong hoạt động và việc chấp hành
quy chế của mỗi ngân hàng để có sự lựa chọn thanh tra trực tiếp trước, sau tạ i
ngân hàng nào. Không chỉ có vậy, từ số liệu giá m sát, bộ phận thanh tra trực
tiếp còn sử dụng các số liệu về hoạt động của ngân hàng được chọn thanh tra
qua kết quả giá m sát từ xa để chuẩn bị cho cuộc thanh tra trực tiếp đạt kết quả
cao nhất.

Như vậy, với chương trình giám sát theo hệ thống các chỉ tiêu CAMEL,
cho đến nay việc giám sát phân tích hoạt động của Thanh tra Ngân hàng đối với
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đãđạt
được những kết quả nhất định. Đó là thông qua số liệu giám sát và phân tích,
Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động những vấn đề cơ
bản trong việc chấp hành quy chế, cơ chếcủa Ngân hàng Nhà nước tại mỗ i
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hàng tháng, giúp Ban
lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước sớm có thông tin đầy đủ về ngân hàng này để có
những quyết định đúng đắn trong quản lý, chỉđạo và xây dung điều chỉnh cơ
chế quản lýđối với chúng. Đồng thời là cơ sởđáng tin cậy để thanh tra tại chỗ có
thể lựa chọn đúng đối tượng vàđạt hiệu quả cao khi thực hiện thanh tra tại chỗ.

2.2.2.2.Đối với phương pháp thanh tra tại chỗ:

Từ nă m 1995 đến hết năm 2006, Thanh tra Ngân hàng đã thực hiện trên
140 lượt cuộc thanh tra tại chỗ các Ngân hàng liên doanh; Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài và các chi nhánh, chi nhánh phụ tại Việt Nam; ngoài ra còn tổ chức
hàng chục cuộc kiể m tra theo những nội dung khác nhau tại các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Với trên 140 lượt cuộc thanh tra tại chỗ tại các Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài nói trên, Thanh tra Ngân hàng đã phát hiện
kịp thời những vi phạ m của mỗi đơn vị, có trên 500 kiến nghị với ngân hàng
được thanh tra và một số kiến nghị với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về cơ
chế, chính sách quản lýđối với các đơn vị trong khối, đó là :

+ Trước hết, khi thanh tra tại chỗ tại đơn vị, Thanh tra N

gân hàng đặc biệt chúýđến sự an toàn tài sản trong hoạt động như cho vay, bảo
lãnh; mỗi khoản cho vay, cam kết của các ngân hàng cho khách hàng đều phải
đảm bảo an toàn, ít rủi ro.

Thông qua hồ sơ vay vốn, bảo lãnh của Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài cho khách hàng được lưu giữ tại đơn vị bị thanh
tra, Thanh tra Ngân hàng tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của
các hồ sơ vay vốn, bảo lãnh, chất lượng các khoản vay và bảo lãnh của khách
hàng. Thực tế qua thanh tra trực tiếp các đơn vị về nghiệp vụ này, Thanh tra
Ngân hàng đã có nhiều kiến nghị với những đơn vịđược thanh tra từng trường
hợp cụ thể vàđã giúp cho các đơn vị bị thanh tra tránh được những rủi ro có thể
xảy ra đối với một số khách hàng, đặc biệt đối với những khách hàng là ngườ i
không cư trú. Cùng với việc đánh giá mức độ an toàn trong nghiệp vụ cho vay,
Thanh tra Ngân hàng còn chú trọng đến các nghiệp vụ khác có thể gây ra rủi
rocho các ngân hàng bị thanh tra như khả năng thanh toán, huy động vốn, kinh
doanh ngoại hối… vàđã có những kiến nghị cụ thểđối với ngân hàng bị thanh
tra, kiểm tra.

Cho đến nay, mặc dù bịảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài
chính- tiền tệ, nhưng hoạtđộng của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài vẫn phát triển tương đối ổn định (riêng các Ngân hàng liên doanh
có chiều hướng chững lại và giả m sút), hầu hết độ an toàn tài sản của các ngâ n
hàng được đảm bảo. Tỷ lệ nợ quá hạn thường ở mức dưới 5% tổng dư nợ, nhiều
tổ chức tín dụng nước ngoài không cónợ quá hạn, cá biệt có một vài Ngân hàng
liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tỷ lệ nợ quá hạn trên 5% tổng
dư nợ, nhưng không kéo dài.

Kết quả trên cho thấy, ngoài sự cố gắng của mỗi Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thì kết quả thanh tra tại chỗ của Thanh tra
Ngân hàng qua các kiến nghịđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài được thanh tra đã góp phần đáng kểđả m bảo cho sự an toàn
của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong nghiệp
vụ cho vay, bảo lãnh.

+ Thứ hai, vấn đề cơ bản tiếp theo ngoài mứcđộ an toàn về tài sản của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thanh tra tại chỗ
của Thanh tra Ngân hàng còn nhằ m mục đích đánh giá việc chấp hành pháp
luật và các quy định của Ngân hàng Nhà nước tại các Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; phát hiện những vi phạm tại các đơn vị nà y
và xử lý nghiêm túc nếu đơn vị cốý vi phạm pháp luật và quy chế của Ngân
hàng Nhà nước.

- Không chỉ phát hiện vi phạ m và xử lý, qua thanh tra tại chỗ Thanh tra
Ngân hàng còn kiến nghị với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài khi phát hiện các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài chấp hành pháp luật và các quy định của Ngân hàng Nhà nước chưa
nghiêm túc; hoặc có sự vận dụng nhưng chưa gây hậu quả vàảnh hưởng tới hoạt
động của các tổ chức tín dụng khác nói riêng và nền kinh tế nói chung. Từ nă m
1995 đến hết năm 2006, thanh tra tại chỗ các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài của Thanh tra Ngân hàng đã có 623 kiến nghị với các
ngân hàng bị thanh tra, nội dung các kiến nghị tập trung vào phải thực hiệ n
nghiêm túc quy chế như chấp hành các quy định về cho vay; cho vay vượt vốn
đầu tư, áp dụng lãi suất và phí cho vay, cho vay đúng mục đích, kiể m soát sau
đối với khách hàng vay, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn, trích lập dự phòng đối
với số dư nợ quá hạn, không được cho vay ngoại tệđể thanh toán trong nước…
các quy định về quản lý ngoại hối như: thanh toán chuyển ngoại tệ chưa đủ
chứng từ, kiểm soát chứng từ chuyển ngoại tệ thanh toán chưa chặt chẽ, áp
dụng tỷ giá mua bán ngoại tệ vượt mức quy định của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước… các quy định về hạch toán kế toán như: hạch toán theo hệ thống kế
toán của Ngân hàng Nhà nước, mở sổ kế toán chi tiết… Kiến nghị với Thống
đốc xử lý cảnh cáo 31 lượt chi nhánh ngân hàng nước ngoài do vi phạm quy
chế, trong đó có 5 ngân hàng bị cảnh cáo 2 lần. Đồng thời, qua thanh tra tại
chỗ, Thanh tra Ngân hàng đã có 16 kiến nghị với Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước về những vấn đề thuộc cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước đối vớ i
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm nâng cao
hiệu lực quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của họ như: việc gửi tiề n
có kỳ hạn ở nước ngoài, trích lập quỹ dự phòng, huy động tiền đồng của Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, cho vay ngoại tệ giải ngân bằng tiền đồng, nhậ n
thế chấp bất động sản trong đó có quyền sử dụng đất, quy định về quản lý ngoại
hối thống nhất, tỷ giá mua bán ngoại tệ, mở tài khoản tiền gửi ngoại tệđể hạch
toán quỹ bảo lãnh.

Với nhứng quy định trong các văn bản pháp luật, thanh tra tại chỗ của
Thanh tra Ngân hàng xem xét việc chấp hành các quy định tại các điều liên
quan đến hoạt động của các tổ chức tín dụng nước ngoài như: Huy đông vố n
(Mục 1, Chương III Luật các tổ chức tín dụng); Hoạt động tín dụng (Mục 2,
Chương III Luật các tổ chức tín dụng); Dịch vụ thanh toán ngân quỹ; các hoạt
động khác; các hạn chếđểđảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
(mục 3,4,5, Chương III Luật các tổ chức tín dụng) và các quy định khác trong
Luật Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng và cá luật khác liên quan.
Ngoài ra còn xem xét việc chấp hành các quy định trong các văn bản pháp quy
điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tín dụng như các văn bản của Chính phủ,
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, của các Bộ, Ngành khác có liên quan…

2.3.Đánh giá thực trạng thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà
nướcđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam

2.3.1. Kết quảđạt được

Trong những năm qua, Thanh tra NHNN luôn thực hiện công tác giá m
sát từ xa đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Qua giám sát từ xa,
Thanh tra NHNN đã phát hiện và kiến nghị kịp thời những vấn đề cần quan tâm
trong hoạt động tín dụng, kế toán, việc chấp hành chếđộ thông tin báo cáo và
những vấn đề khác liên quan đến tình hình hoạt động của các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Thanh tra Ngân hàng tổ
chức thanh tra tại chỗđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài tại Việt Nam vàáp dụng các biện pháp chấn chỉnh hoặc xử lý vi
phạ m hành chính (nếu có). Kết quả giám sát từ xa là tài liệu hữu ích cho lãnh
đạo Thanh tra trong chỉđạo, điều hành, giúp bộ phận thanh tra tại chỗ nắ m được
những nét khái quát về tình hình hoạt động của đơn vị mình sắp thanh tra để
chuẩn bị cho cuộc thanh tra đạt kết quả cao nhất.

Hàng nă m, trên cơ sở nguồn lực hiện có, kết quả của giám sát từ xa, thực
hiện sự chỉđạo của lãnh đạo cấp trên theo yêu cầu quản lý, Thanh tra Ngâ n
hàng đã tiến hành hàng trăm cuộc thanh tra trên diện rộng và thanh tra chuyên
đềđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam và các kiến nghị trên các lĩnh vực công tác nguồn vốn, sử dụng vốn, kết
quả kinh doanh và quản trịđiều hành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ của các Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.




Biểu đồ 2.1: Kết quả các cuộc thanh tra tại chỗ do Thanh tra
Ngân hàng thực hiện đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài tại Việt Nam:
TT Chỉ 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
tiêu

1 Số lần 10 9 7 12 11 13 17 9 8 7 4 3
thanh
tra

2 Tổng 41 27 37 60 71 78 69 41 29 37 15 15
số
kiến
nghị

(Nguồn: Báo cáo công tác thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước)


80
70
60
50
Sè lÇn thanh tra
40
Tæng sè kiÕn nghÞ
30
20
10
0
1995 1997 1999 2001 2003 2005
Hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân hàng đối với các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam với hai phương thức
giá m sát từ xa và thanh tra tại chỗ cho đến nay đãđạt được những kết quả nhất
định nhưđánh giá trên.

Tuy nhiên, nó cũng còn những tồn tại cần được nghiên cứu, xem xét một
cách nghiêm túc để hiệu quả quản lýđối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đạt được cao hơn, đảm bảo sự bình đẳng trong cạnh
tranh và sự chấp hành nghiê m túc Luật pháp cũng như các quy chế của Ngân
hàng Nhà nước.

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

2.3.2.1. Những tồn tại trong hoạt động giám sát từ xa

+ Kết quả giám sát từ xa được thực hiện trên cơ sở số liệu hoạt động của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hàng tháng thể
hiện trên báo cáo cân đối tháng do các ngân hàng truyền file qua mạng vi tính
về Thanh tra Ngân hàng với thời gian nhanh, kết quả truyền chính xác. Nhưng
trong thực tế kết quả giám sát còn kém; có số liệu thiếu chính xác; báo cáo
giá m sát còn đơn điệu và việc thông báo cho các ngân hàng còn ít, chưa kịp
thời, chưa rõ ràng.

+ Việc phát hiện những vi phạm quy chế qua giám sát còn hạn chế; đặc
biệt những vi phạm các quy định về an toàn tài sản trong đầu tư cho vay và bảo
lãnh làm cho sựđánh giá mức độ an toàn tài sản đối với các hoạt động này từ
kết quả phân tích, giá m sát chưa cao.

Đối với các vi phạ m hạn chếđểđả m bảo an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng thông qua kết quả giám sát càng hạn chế hơn. Đó là:

- Theo Luật các tổ chức tín dụng, các hạn chếđểđảm bảo an toàn trong
hoạt động của tổ chức tín dụng được quy định từĐiều 77 đến Điều 82, Mục 5
Chương III Luật các Tổ chức tín dụng; thực tế kết quả giá m sát hiện nay cho
thấy, việc phát hiện vi phạ m các hạn chế chỉ thực hiện được một số quy định
trong mục này, chưa thể phát hiện hết các vi phạ m và các hạn chế, ví dụ kết quả
giá m sát chỉ phát hiện được các vi phạm về quy định dự phòng rủi ro [Điều 82]
nhưng cũng không phải hoàn toàn. Ngoài ra còn nhiều quy định khác trong
Luật và các văn bản dưới luật không thể xác định được Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có vi phạm hay không qua kết quả giá m sát từ
xa.

- Một số chỉ tiêu giám sát như tỷ lệ khả năng chi trả ngay của Ngân hàng
liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo Quyết định số381/2003/QĐ-
NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về các tỷ lệđả m
bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng không thể tính chính xác
trên số liệu giám sát vì nóđược tính trên số liệu tài khoản kế toán bậc III (câ n
đối kế toán các ngân hàng gửi đến Ngân hàng Nhà nước), trong khi đó việc lấ y
số liệu để tính chỉ tiêu này đòi hỏi chi tiết và phức tạp hơn.

+ Kết quả giám sát từxa theo các chỉ tiêu CAMEL chưa thực sựđạt được
mục tiêu đề ra là hạn chế những vi phạ m pháp luật, quy chế, và rủi ro trong
hoạt động của các ngân hàng; mà kết quả giám sát chủ yếu chỉ sử dụng như các
tài liệu để tham khảo khi xây dựng chính sách, cơ chế và phần nào hỗ trợ cho
hoạt động thanh tra tại chỗ.

2.3.2.2.Những tồn tại trong hoạt động thanh tra giám sát tại chỗ

Với trên 140 cuộc thanh tra và hàng chục cuộc kiểm tra tại chỗ các Ngâ n
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, nhưng do lực
lượng mỏng, trình độ còn hạn chế và bất cập, trong khi đó các nghiệp vụ của
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày càng nhiều
vàđược thực hiện bởi công nghệ ngân hàng hiện đại là m hạn chế không ít đến
hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra tại chỗ. Mặt khác, số lượng các ngâ n
hàng được thanh tra hàng nă m còn quáít, thời gian giữa hay kỳ thanh tra tại một
ngân hàng còn quá dài, do đó những vi phạm pháp luật, quy chế và những rủi ro
của các ngân hàng chậm được phát hiện, làm hạn chế rất lớn đến hiệu quả của
phương thức thanh tra tại chỗ. Cụ thể hoạt động thanh tra tại chỗ của Ngâ n
hàng Nhà nước còn một số vấn đề tồn tại đó là:
- Về tổ chức, chỉđạo, điều hành:

+ Đối với thanh tra định kỳ, hàng năm Thanh tra Ngân hàng chưa tiế n
hành thanh tra hết lượt các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, thường các cuộc thanh tra định kỳđược tiến hành 2 nă m một lần, cá biệt
có trường hợp tới 3 năm mới thực hiện thanh tra định kỳ tại một ngân hàng liê n
doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Điều này sẽ là m cho việc phát hiện
các vi phạm pháp luật của Nhà nước, cơ chế, quy chế của Ngân hàng Nhà nước
và uốn nắn, chấn chỉnh các sai phạm đó tại các tổ chức tín dụng không kịp thời.

+ Đối với kiể m tra đột xuất, Thanh tra Ngân hàng vẫn thường tổchức
kiể m tra đột xuất tại các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài về chấp hành quy định trong một số nghiệp vụ như tỷ giá mua bán ngoại
tệ, việc áp dụng mức lãi suất và phí cho vay, bảo lãnh của Ngân hàng Nhà
nước… đối với các vi phạm của các ngân hàng được phát hiện qua kiển tra,
việc xử lý vi phạ m của các ngân hàng được phát hiện qua kiểm tra, việc xử lý
vi phạm có trường hợp chưa linh hoạt, còn cứng nhắc làm ảnh hưởng đến hoạt
động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

+ Thanh tra trực tiếp đối với hoạt động đầu tư cho khách hàng tập trung
chủ yếu làđánh giá qua kiể m tra trực tiếp khách hàng vay hoặc nhận đầu tư còn
quáít, nên chưa toàn diện.

- Về hiệu quả, hiệu lực của thanh tra tại chỗ: Đối với những tồn tại trong
việc chấp hành quy chế của các ngân hàng đã phát hiện được, việc tiếp thu và
xử lý, khắc phục sau thanh tra tại các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định, đó là:

+Việc phát hiện những tồn tại trong quá trình thanh tra tại chỗđối với các
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài chậm được phát hiện
như việc chấp hành các quy định về hạn chếđảm bảo an toàn trong hoạt động
tín dụng, bảo lãnh; rủi ro trong cho vay, bảo lãnh của ngân hàng đối với khách
hàng vẫn xuất hiện; khi những tồn tại này được phát hiện thì chưa có biện pháp
kiên quyết đối với các ngân hàng được thanh tra để hạn chế rủi ro.

+ Đối với các ngân hàng được thanh tra, kiểm tra, một số vấn đề về chấp
hành cơ chế, quy chế bịđánh giá là tồn tại, có sai phạm nhưng chưa thực sự tiếp
thu, còn quanh co, cá biệt có trường hợp đổ lỗi cho cơ chế, quy chế dẫn đến
việc sửa chữa, chấn chỉnh chưa kịp thời.

+ Kết quả thanh tra chưa được thông báo tới Ngân hàng mẹ của chi
nhánh tại Việt Nam từ Ngân hàng Nhà nước mà chỉ do bản thân chi nhánh ngâ n
hàng nước ngoài tại nước ta báo cáo lại cũng làm hạn chế hiệu quả thanh tra.

2.3.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại

Những tồn tại trong hoạt động thanh tra đối với các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thanh tra Ngân hàng trên đây là
do những nguyên nhân sau:

- Lực lượng cán bộ thanh tra là m công việc giám sát, phân tích và thanh
tra tại chỗđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
vừa thiếu về số lượng lại bất cập về trình độ nghiệp vụ và lực lượng cán bộ
thanh tra đa số là cán bộ trẻ, nên thiếu kinh nghiệ m và chưa đủ uy tín trong quá
trình thanh tra, kiể m tra các ngân hàng nói chung và Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài nói riêng, kể cả với khách hàng. Mặt khác số
thanh tra viên làm trưởng đoàn thanh tra không đủ, nên giám sát phân tích và
thanh tra tại chỗ chưa đáp ứng được một cách đầy đủ.

- Thu nhập của cán bộ thanh tra thấp, điều kiện công tác khó khăn và
thường phải đi công tác xa gia đình, trong khi đó trách nhiệ m của người kiểm
tra gắn liền với những vi phạm của các ngân hàng nên nhiều cán bộ thanh tra
chưa yên tâm với nghề nghiệp, chưa toàn tâm toàn ý với việc phục vụ công tác
thanh tra, làm cho hiệu quả công tác giám sát, thanh tra của Thanh tra Ngâ n
hàng bị hạn chế.

- Có rất nhiều văn bản điều chỉnh hoạt động của các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, từ Luật Ngân hàng Nhà
nước, Luật các tổ chức tín dụng và các Luật khác liên quan; các văn bản dưới
luật như Nghịđịnh của Chính Phủ, các văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước và các Bộ, Ngành liên quan. Trong đó, các văn bản dưới Luật của Ngân
hàng Nhà nước và các Bộ, Ngành có liên quan còn nhiều trường hợp chưa rõ
ràng, thiếu đồng bộ làm cho việc áp dụng của các ngân hàng không đồng nhất;
căn cứđể các đoàn thanh tra kết luận vi phạm của ngân hàng không đầy đủ, chặt
chẽ, là m cho hiệu lực thanh tra bị hạn chế.

Ví dụ: Trường hợp thế chấp tài sản là bất động sản và quyền sử dụng đất
đối với ngân hàng liên doanh, trong khi theo luật định thì ngân hàng liên doanh
là một pháp nhân Việt Nam, nhưng lại bịđiều chỉnh như một chi nhánh ngân
hàng nước ngoài không phải là một pháp nhân Việt Nam, hoặc các quy định về
lãi suất, phí cho vay bảo lãnh, các quy định về quản lý ngoại hối…

Đối với thẩm quyền của Thanh tra Ngân hàng trong việc xử lý các vi
phạ m hành chính đối với lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng chậm được
ban hành. Do đó hạn chế quyền năng của Thanh tra Ngân hàng trong khâu xử
lý, khi phát hiện các vi phạm; việc xử lý các vi phạ m của các tổ chức tín dụng
thường bị chậ m và hạn chế tác dụng, làm cho hiệu lực của hoạt động thanh tra
không phát huy được.

- Các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài nói riêng chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa
nghiêm túc các quy định về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; hoạt động kiể m
soát nội bộ quá yếu; không đủ sức thực hiện nhiệm vụ, có nơi bị phụ thuộc vào
người điều hành, do đó không phát huy được tính chủđộng, sáng tạo trong kiể m
tra, kiểm soát; có tư tưởng trông chờ vào Thanh tra ngân hàng, nên việc khắc
phục chậm và không kiên quyết.

Tóm lại, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng nă m
2004 cùng một loạt luật liên quan khác và các văn bản hướng dẫn của Chính
phủ, của các cơ quan quản lý chức năng là những căn cứ pháp lý cao nhất tạo
điều kiện cho hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngâ n
hàng thương mại nói chung và các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước
đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài bên cạnh
những mặt làm được, thìvẫn còn những tồn tại và hạn chế nhất định. Điều nà y
đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả
hoạt động thanhtra của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng này; các
giải pháp cần tập trung vào là nội dung, phương pháp giám sát và thanh tra đối
với các ngân hàng này sao cho các ngân hàng này vừa bảo đảm thực hiện tốt
các quy định quản lý của Nhà nước Việt Nam, vừa hoạt động kinh doanh có
hiệu quả.
Chương 3

GIẢIPHÁPĐỔIMỚIHOẠTĐỘNGTHANHTRACỦANGÂ
NHÀNGNHÀNƯỚCĐỐIVỚINGÂNHÀNGLIÊNDOANH,
CHINHÁNHNGÂNHÀNGNƯỚCNGOÀITẠIVIỆTNAM

3.1. Yêu cầu của việc tăng cường quản lý và thanh tra đối với Ngâ n
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Các ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo pháp luật
của nước chính quốc, do đó các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác nhau
được điều chỉnh bởi các hệ thống pháp luật của các nước khác nhau. Các quy
định về vốn, quy chế an toàn trong hoạt động, các giới hạn rủi ro, các quy định
về tổ chức đối với mỗi ngân hàng ở các nước cũng không hoàn toàn giống
nhau; Tuy vậy các quy định này đều đả m bảo một mục tiêu chung cho tất cả
các ngân hàng là hoạt động an toàn, hiệu quả vàđảm bảo tuân thủ nước sở tại.

Đối với các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở nước ta, hoạt động thanh
tra của Ngân hàng Nhà nước phải đánh giáđược ngân hàng nào tuân thủ tốt,
ngân hàng nào tuân thủ chưa tốt luật pháp để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời,
nghiêm túc. Mặt khác phát hiện những vấn đề còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ
trong các văn bản quản lýđểđiều chỉnh, bổ sung sao cho các quy định trong vă n
bản quản lý của Nhà nước vừa chặt chẽ, đồng bộđể việc quản lýđối với các
ngân hàng tốt hơn.
Sự phát triển của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu mới đối với Ngân hàng Nhà
nước. Bởi vì: Mở rộng hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam vừa có yếu tố chủ quan, vừa có yếu tố
khách quan. Và, khi hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài ở Việt Nam phát triển, đương nhiên đòi hỏi sự quản lý của Nhà
nước nói chung và Ngân hàng Nhà nước nói riêng đối với nó ngày càng cao
hơn, từđóđặt ra những yêu cầu mới đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc
quản lý hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Về chủ quan: Bản thân các ngân hàng nước ngoài khi đầu tư (dưới hình
thức liên doanh hay 100% vốn nước ngoài) vào một nước nào đó, thì mục tiêu
trước hết là lợi nhuận. Để có lợi nhuận thì Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài ở một nước nào đóđều phải tích cực mở rộng hoạt động
trên cơ sở chấp hành nghiê m túc luật pháp của nước sở tại và các quy định của
Ngân hàng Trung ương tại nước nguyên xứ.

Sự phát triển nhanh chóng của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài ở nước ta trong những năm qua, vừa góp phần tạo ra
vốn, vừa thúc đẩy sự phát triển công nghệ ngân hàng, đồng thời tạo ra sự cạnh
tranh giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Đặc biệt là sự cạnh tranh giữa
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các ngân hàng
thương mại trong nước. Trong điều kiện lợi thế về vốn, công nghệ, khách hàng
(thường là những khách hàng lớn) là m cho các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài thường chiế m ưu thế hơn trong cạnh tranh với các
ngân hàng thương mại trong nước. Do đóđể tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các ngân hàng
thương mại trong nước trong điều kiện lợi thế thường thuộc về Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước phải có những
quy định về quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động của các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Về khách quan: Trong điều kiện chúng ta thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá từ nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, do đó hai nhân tố quan
trọng là vốn và công nghệ là yêu cầu bức xúc đối với nền kinh tế nước ta. Để
giải quyết vấn đề này, vào những năm đầu thập kỷ 90 Đảng và Nhà nước ta đã
thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế với các nước trên thế giới để tranh thủ
về vốn và công nghệ.

Trong thời đại hiện nay, hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng không chỉ là
nghiệp vụ huy động vốn, cho vay và kinh doanh ngoại hối. Với điều kiện thị
trường tài chính tiền tệ phát triển thì hoạt động ngân hàng của các ngân hàng
thương mại còn bao gồ m nhiều hoạt động khác mà mức độ rủi ro còn có thể lớ n
hơn rủi ro của nghiệp vụ cho vay như nghiệp vụđầu tư kinh doanh chứng
khoán. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế mở thì các hoạt động nghiệp vụ của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài bên ngoài lãnh thổ
Việt Nam càng lớn dẫn đến rủi ro sẽ cao hơn. Điều này đòi hỏi việc quản lý
Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam càng phải chặt chẽ hơn mà trước hết,
thông qua hệ thống giá m sát, thanh tra để có thể kịp thời phát hiện những bất ổn
trong hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài để hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro trong hoạt động của chúng, làm cho
hoạt động tài chính tiền tệ trong nước ổn định.

Mặt khác, đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là phát
triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra của
Ngân hàng Nhà nước còn nhằm mục đích ngăn ngừa sự bành trướng trong hoạt
động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và lợ i
dụng sơ hở trong quản lýđể hướng nền kinh tế nước ta xa dời mục tiêu.

Dù khách quan hay chủ quan, nhu cầu phát triển của các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đãđặt ra yêu cầu quản lý mới của
Ngân hàng Nhà nước trong quản lý Nhà nước đối với Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm mục đích giữ vững đường lối phát triển
kinh tế của Nhà nước; vừa bảo vệ sự phát triển của các ngân hàng trong nước,
vừa đảm bảo sự an toàn cho các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động tài chính
tiền tệ của các ngân hàng thương mại trong nước nói chung và các Ngân hàng
liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam nói riêng.

Theo lý luận và thực tế, sự quản lýcủa Ngân hàng Nhà nước đối vớ i
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không chỉđược thực
hiện bởi một cơ quan quản lý chức năng nào tại Ngân hàng Nhà nước mà
nóđược thực hiện bởi nhiều cơ quan nhưđã nêu trên đây. Với chức năng được
quy định, mỗi đơn vị thực hiện việc quản lý kiểm soát dưới các góc độ khác
nhau trên cơ sở thông tin tài liệu, các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài gửi tới Ngân hàng Nhà nước, hoặc từ những nguồn thông tin
khác có liên quan đến các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài ở nước ta.

Như vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà
nước đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Nhà nước nước ngoài tạ i
Việt Nam là việc làm cần thiết, cấp bách của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà
nước, trongđó Thanh tra Ngân hàng là cơ quan giá m sát và kiểm tra thường
xuyên.

Việc tăng cường quản lý của Ngân hàng Nhànước đối với hoạt động của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được
thể hiện trước hết làở chỗ phải kiện toàn, củng cố bộ máy tổ chức Thanh tra
Ngân hàng và các Vụ, Cục chức năng của Ngân hàng Nhà nước nói chung và
bộ phận giá m sát thanh tra đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngâ n
hàng nói riêng. Việc kiện toàn, củng cố về tổ chức nhằm tạo ra đội ngũ thanh
tra viên và cán bộ Thanh tra cóđủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm để có thể
làm tốt chức năng quản lývà kiểm soát hoạt động của các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước phải
thường xuyên xem xét, sửa đổi, bổ sung cơ chế, quy chếđối với hoạt động của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài để vừa tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngâ n
hàng nước ngoài, nhằ m thu hút hơn nữa vốn đầu tư của nước ngoài, và quan
trọng hơn là làm cho sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động
của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam chặt
chẽ hơn, đảm bảo tính tuân thủ và tránh sự cạnh tranh không bình đẳng của các
ngân hàng này đối với các ngân hàng thương mại trong nước.

3.2. Giải pháp đổi mới hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước
đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam

3.2.1. Sắp xếp lại tổ chức và chú trọng đào tạo cán bộ làm công tác
thanh tra đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Cần kiện toàn lại đội ngũ cán bộ thanh tra thực hiện giám sát, thanh tra
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, bổ
sung đủ cán bộ thanh tra thực hiện giám sát, thanh tra các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngoài yêu cầu về nghiệp vụ và kinh
nghiệm thanh tra, cần chú trọng về trình độ ngoại ngữ và khả năng giao tiếp tốt.

- Thường xuyên tổ chức đào tạo vàđào tạo lại cho đội ngũ cán bộ giám
sát, thanh tra các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
trong đó cần tạo điều kiện để họđược tham dự các cuộc hội thảo về thanh tra do
các tổ chức quốc tế hoặc các hiệp định song phương tổ chức; bố trí, sắp xếp để
một số cán bộ có kinh nghiệm được đi khảo sát, học tập kinh nghiệ m giám sát,
thanh tra của các nước có công nghệ ngân hàng tiên tiến, hiện đại.

3.2.2. Tiến hành phân cấp quản lýđối với Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài

- Tiến hành phân loại các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài để có thể từng bước phân quyền quản lý một số Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho chi nhánh Ngân hàng Nhà nước
tỉnh, thành phố có Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phốđó.

- Để chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có thể thực hiện tốt
việc giám sát, thanh tra đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, cần tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ hiện có, đặc biệt là trình độ
ngoại ngữ và những điểm đặc thù của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngâ n
hàng nước ngoài cho cán bộ thanh tra và thanh tra viên được phân công giám
sát, thanh tra các ngân hàng này; trước mắt, thường xuyên trưng tập một số cán
bộ tham gia các đoàn thanh tra trực tiếp các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài để học hỏi và tích lũy kinh nghiệm.

3.2.3. Phối hợp với Thanh tra Ngân hàng các nước và các ngân hàng
tại nước ngoài nguyên xứ có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam để tăng
cường giám sát và thanh tra hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

- Yêu cầu ngân hàng mẹ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam gửi báo cáo kiểm soát của ngân hàng mẹđối với chi nhánh tại Việt Nam
hàng năm và các thông tin khác để phục vụ giám sát và thanh tra của Ngâ n
hàng Nhà nước Việt Nam. Khi kết thúc các cuộc thanh tra định kỳ, kết luận
thanh tra phải được gửi cho ngân hàng mẹ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Việt Nam từ Ngân hàng Nhà nước để ngân hàng mẹ phối hợp kiểm soát hoạt
động của chi nhánh.

- Thường xuyên phối hợp, trao đổi với Thanh tra Ngân hàng các nước có
chi nhánh tại Việt Nam để cóđầy đủ thông tin về ngân hàng mẹ của chi nhánh
tại Việt Nam và của bản thân chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam,
từđó thực hiện giá m sát, thanh tra hoạt động của các ngân hàng chặt chẽ hơn.




3.2.4. Tiếp tục hoàn thiện các phương thức thanh tra

Mục đích cao nhất trong công tác quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà
nước đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là:
Bằng quyền năng và thông qua các công cụ quản lý của mình, Ngân hàng Nhà
nước giám sát tình hình hoạt động, việc tuân thủ luật pháp vàcác định chế tà i
chính của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằ m
buộc các ngân hàng này phải tuân thủđầy đủ luật pháp, hoạt động an toàn, có
hiệu quả vàđảm bảo quyền lợi cho những người gửi tiền. Một trong các công cụ
chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối
với các ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là Thanh tra Ngân hàng.

Như trênđã phân tích, với hai phương thức thanh tra đang được áp dụng
hiện nay, phương thức giám sát từ xa thì mới được thực hiện vàđang trong thời
kỳ thực nghiệm, chỉnh sửa chương trình, phương thức thanh tra tại chỗ là
phương thức thanh tra truyền thống vàđang là phương thức chủ yếu trong hoạt
động thanh tra Ngân hàng, nhưng do khâu tổ chức, do trình độ cán bộ thanh tra,
do thiếu đồng bộ của các văn bản pháp luật, pháp quy... nên hiệu quả thanh tra
còn thấp. Do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa và thanh tra
trực tiếp Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thanh tra
Ngân hàng với các cơ quan quản lý chức năng của Ngân hàng Nhà nước và các
Bộ, Ngành có liên quan đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, để thường xuyên cập nhật các thông tin về ngân hàng nước ngoài;
đồng thời phải tiếp tục hoàn thiện các phương thức thanh tra hiện có nhằm thực
hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước và giá m sát chặt chẽ hoạt động của các
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

3.2.4.1. Đổi mới và hoàn thiện phương thức giám sát từ xa

Là một trong hai phương thức thanh tra đang được Thanh tra ngân hàng
áp dụng trong hoạt động của mình để thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát
của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại.

Mặc dù mới được áp dụng từ năm 1993, nhưng nóđặc biệt cóý nghĩa thiết
thực trong lĩnh vực hoạt động tiền tệ và ngân hàng. Trong xu thế toàn cầu hoá
hoạt động tài chính tiền tệ, các tổ chức trong lĩnh vực này đãđược thừa nhậ n
những chuẩn mực chung, phải được đảm bảo trong giới hạn cho phép của một
tổ chức tài chính tiền tệ. Thông qua những chuẩn mực này đã hình thành một
quy chế giá m sát từ xa hoạt động đối với các ngân hàng do Ngân hàng Nhà
nước thực hiện quản lý. Mặt khác hoạt động giá m sát đãđược khẳng định là một
phương thức quản lý thiết yếu trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người và
không bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia hay vùng lãnh thổ, mà nó trở
thành phương thức quản lý có tính hiệu quả cao.

Thiết lập hệ thống chỉ tiêu giá m sát có hiệu quả theo chuẩn mực quốc tế.
Các tiêu chí giá m sát phải bao quát đồng bộ, phù hợp với thực tiễn Việt Nam
song không xa rời các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt trong điều kiện phát triể n
nền kinh tế thị trường và hội nhập nền kinh tế quốc tế. Trong quá trình xây
dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát nên chúý tham khảo ý kiến rộng rãi của đố i
tượng bị giá m sát, tránh tình trạng các tiêu chí phi thực tế, thiên về lợi ích của
người quản lý mà mà làm thiệt hại lợi ích của các đối tượng được giá m sát nó i
chung hay các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài nói
riêng. Các tiêu chí giá m sát không dừng lại ở phản ánh hiện trạng, mức độ tuân
thủ pháp luật tài chính hiện hành mà còn phải là chứng cứ, tài liệu quan trọng
đểđiều chỉnh các cơ chế, chính sách cho phù hợp, đồng thời giúp cho việc phân
tích dự báo những rủi ro, sẵn sàng ngăn chặn các nguy cơ khủng hoảng tài
chính- tiền tệ. Trong khi chưa cóđược kho dữ liệu chung cần tiếp tục cải thiện
chếđộ thông tin báo cáo trên phương diện hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu báo cáo
thống kê, báo cáo tài chính cũng như hệ thống mạng hiện đại phục vụ cho việc
giá m sát an toàn hoạt động ngân hàng. Tiếp tục bổ sung, xây dựng một số chỉ
tiêu giá m sát phù hợp với thực tế hoạt động các Ngân hàng liên doanh và Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. Ban hành quy chế mớ i
đánh giá, xếp hạng các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam.

Phải được xây dựng quy trình giám sát phù hợp với chếđộ hoạch toán
hiện hành trong ngân hàng:

+ Sát với thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng: Trong điều kiện mở
cửa nền kinh tế, hoạt động ngân hàng của mỗi quốc gia gắn chặt với hoạt động
ngân hàng của quốc gia khác và tuân theo thông lệ quốc tế nhất định. Vì vậy,
khi xây dựng quy trình giám sát phải xem xét đến những thông lệ quốc tế về
hoạt động tài chính - ngân hàng.

Đối vơí các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, điều
này càng thể hiện rõ nét hơn vì các chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt
Nam chỉ là một bộ phận ( chi nhánh) của ngân hàng mẹ và hoạt động của nó
gắn chặt với hoạt động của ngân hàng mẹ cũng như các chi nhánh của ngâ n
hàng mẹ tại các quốc gia khác.

Ngoài những nguyên tắc trên, khi xây dựng quy trình giá m sát cũng cần
tuân thủ những nguyên tắc như: Xây dựng quy trình toàn diện, áp dụng từng
bước; chếđộ thông tin báo cáo hợp lý; tạođược thuận lợi cho việc lập trình trên
máy điện toán ngân hàng.

Đáp ứng các điều kiện để phương thức giám sát từ xa được thực hiện tốt:

+ Phải quy định chếđộ thông tin báo cáo rõ ràng, đầy đủ và Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện nghiêm túc.

+ Cán bộ thanh tra là m nhiệm vụ giám sát có kĩ năng phân tích cân đối kế
toán và các chỉ tiêu thống kêđểđánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và
tình hình tài chính của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Phải thực hiện phân tích bằng điện toán các chỉ tiêu giám sát trên cơ sở hệ
thống máy tính và công nghệ tiên tiến nhằm đảm bảo nhanh, chính xác và
khách quan.

+ Các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải hạch
toán chính xác, báo cáo kế toán phải được kiể m toán đểđả m bảo tính chính xác
của số liệu.

Hoàn thiện quy trình giám sát từ xa:

Với ý nghĩa, mục tiêu vàđiều kiện của phương thức giám sát từ xa trên
đây. Ngân hàng Nhà nước nói chung và Thanh tra Ngân hàng nói riêng phả i
tiếp tục hoàn thiện nội dung và quy trình giám sát từ xa. Trước hết, căn cứ vào
các yếu tố quản lý Nhà nước về hoạt động tiền tệ - tín dụng - ngân hàng và nộ i
dung quy trình giám sát đã có, tiếp tục nâng cao theo mục tiêu và nguyên tắc đã
phân tích trên đây để hoạt động giám sát từ xa đạt hiệu quả cao hơn. Việc này
đòi hỏi không chỉđối với Thanh tra Ngân hàng trong việc tiếp tục cải tiến, nâng
cao chương trình giám sát, mà còn đòi hỏi các vụ, cục chức năng của Ngân
hàng Nhà nước khi xây dựng các văn bản pháp quy, các quy chế và các văn bả n
hướng dẫn phải tạo điều kiện để có thể thực hiện quản lý các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngay từ kết quả giám sát từ xa.

Thứ hai, việc giá m sát từ xa đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài Việt Nam, được thực hiện tại Thanh tra ngân hàng Trung
ương. Các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hàng tháng
truyền file báo cáo cân đối kế toán và các báo cáo khác về Thanh tra Ngân hàng
qua các Chi nhánh ngân hàng Nhà nước và Trung tâm tin học. Do đó phải tiếp
tục tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ thanh tra làm công việc giám sát, phân tích
đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Ngân
hàng Trung ương vừa giỏi nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ kế toán;
vừa có trình độ sử dụng các phần mềm vi tính để thực hiện giám sát trên máy vi
tính tốt và có thể phát hiện kịp thời những vi phạm của các Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài qua báo cáo, cân đối kế toán của
họđược truyền file về Ngân hàng Nhà nước và kết quả giám sát từ xa được chạy
từ máy tính ra.

Thứba, phải xử lý nghiêm khắc các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài để họ phải gửi báo cáo đúng thời gian quy định, đảm bảo kết
quả giám sát được kịp thời, phát huy tác dụng tốt.

3.2.4.2. Hoàn thiện phương thức thanh toán tại chỗ

Các mục tiêu thanh tra tại chỗ của Thanh tra Ngân hàng nêu Mục 3
Chương 1 của đề tài này khác với thanh tra tại chỗ của cơ quan chuyên ngành
khác chủ yếu chỉ giải quyết vụ việc, phát hiện và sử lý những tiêu cực trong tổ
chức điều hành và quản lý kinh tế, do đó chúng ta phải:

- Nâng cao chất lượng thanh tra tại chỗ, góp phần hạn chếrủi ro trong hoạt
động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam ngày càng phát triển, các nghiệp vụ ngày càng đa dạng hơn
và mức độ rủi ro trong hoạt động cũng sẽ lớn hơn. Điều này đòi hỏi Ngân hàng
Nhà nước phải có hơn nữa công tác quản lýđối với các Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là phải nâng cao chất lượng hoạt
động thanh tra tại chỗ của Thanh tra Ngân hàng.

Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển phong phú, đa dạng, sự
cám dỗ vật chất và các biểu hiện tiêu cực không ngừng len lỏi, thâ m nhập vào
cá nhân mỗi con người ở mọi cương vị công tác, thìđòi hỏi của việc nâng cao
chất lượng thanh tra tại chỗ càng bức bách hơn. Việc nâng cao chất lượng thanh
tra tại chỗ trước hết là việc tổ chức vàđào tạo một đội ngũ thanh tra viên cóđ ủ
trình độ, năng lực và hiểu biết kinh tế, xã hội để thực thi công việc được giao
khi tiến hành các cuộc thanh tra tại chỗđối với các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài. Đồng thời mỗi thanh tra viên phải tự mình đấu
tranh với những cám dỗ vật chất vàđược đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thầ n
tối thiểu để có thể tránh được những cạm bẫy trong quá trình thực hiện nhiệ m
vụ thanh tra.

Cùng với việc giải quyết các nội dung trên, việc xác định những yêu cầu
về nội dung thanh tra tại chỗ; phương pháp và tổ chức cuộc thanh tra; những
giải pháp bỗ trợđể nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra tại trỗ là việc cần thiết
phải được nghiên cứu làm cơ sởđể các đoàn thanh tra tại chỗ là việc cần thiết
phải được nghiên cứu làm cơ sởđể các Đoàn thanh tra và Thanh tra viên của
Thanh tra Ngân hàng thực hiện.

- Hoàn thiện nội dung và quy trình thanh tra tại chỗđối với các Ngân hàng
liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đối với hoạt động thanh tra trực
tiếp các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, yêu cầu trước
tiên đối với cán bộ thanh tra thực hiện thanh tra tại chỗ các Ngân hàng liê n
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có trình độ ngoại ngữ (thường là
Tiếng anh) ở mức độ có thể hiểu được khi giao tiếp vàđặc biệt là khi tra cứu các
tài liệu của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Yêu cầu của hoạt động thanh tra tại chỗ là phát hiện và xử lý sai phạ m
từđó hạn chế vi phạm của các ngân hàng. Đểđạt được yêu cầu này, hoạt động
thanh tra tại chỗ phải có nội dung sát thực và phải được thực hiện theo một
trình tự khoa học. Do đó, Thanh tra Ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện và
nâng cao nội dung, quy trình thanh tra tại chỗ với các ngân hàng.

Hiện nay, nội dung và quy trình thanh tra tại chỗ Thanh tra Ngân hàng
đang áp dụng tuy đã phát huy được tác dụng nhất định trong việc hạn chế, ngăn
ngừa rủi ro, và những vi phạ m của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài. Tuy nhiên hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra nói chung và
thanh tra tại chỗ nói riêng còn bị hạn chế nhiều, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục
cải tiến và hoàn thiện nội dung và quy trình thanh tra.

+ Về nội dung thanh tra, Thanh tra Ngân hàng phải xây dựng "Sổ tay
Thanh tra Ngân hàng " trong đó có cách thức tiến hành thanh tra đối với từng
nghiệp vụ Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang và sẽ
thực hiện; phương pháp phát hiện những sai phạ m các ngân hàng thường mắc
phải trong hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Trong sổ tay
cũng cần đưa ra những kinh nghiệm khi thực hiện thanh tra tại chỗđể hoạt động
thanh tra tại chỗđạt hiệu quả cao nhất, thể hiện được hiệu lực của cơ quan quản
lý nhà nước.

+ Quy trình thanh tra là việc xác định những công việc khi tiến hành thanh
tra tại chỗ một ngân hàng, nó bao gồm:

- Thu thập thông tin về ngân hàng mà Thanh tra Ngân hàng sẽ tiến hành
thanh tra.

- Xác định các bước của cuộc thanh tra và làm tốt từng bước như: xây
dựng đề cương, ra quyết định thanh tra, phân công thành viên đoàn thanh tra,
thông báo cho ngân hàng bị thanh tra v.v...

- Tiến hành thanh tra tại ngân hàng bị thanh tra.

- Kết thúc thanh tra, hoàn thiện hồ sơ thanh tra và tiến hành xử lý sau
thanh tra.

Để thanh tra tại chỗđạt hiệu quả cao, khi thực hiện cần chúý một số vấn
đề :

- Đoàn thanh tra phải được tổ chức chặt chẽ, đúng quy định có mục đích
và nội dung thanh tra cụ thể (xây dựng đề cương thanh tra đối với từng chi
nhánh tổ chức tín dụng nước ngoài); tổ chức thu thập thông tin đầy đủ; thực
hiện các bước kiể m tra, kết luận phải chính xác; kiến nghị phải rõ ràng, cụ thể;
phải xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và kiến nghị biện pháp xử lý.

- Sau khi kết thúc thanh tra, phải tổ chức theo dõi việc thực hiện các kiến
nghị thanh tra của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
được thanh tra một cách chặt chẽ, buộc các ngân hàng này phải thực hiện
nghiêm túc các kiến nghị của thanh tra, bởi vìđây chính là sự thể hiện hiệu lực
của công tác thanh tra.
3.2.5. Giải pháp bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra
đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Ngoài việc hoàn thiện và nâng cao nội quy quy trình giám sát từ xa, thanh
tra tại chỗ. Để nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra đối với các Ngân hàng
liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cần một số giải pháp
bổ trợđó là:

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngân
hàng Nhà Nước, Luật Các tổ chức tín dụng đặc biệt là các quy định điều chỉnh
hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tạ i
Việt Nam. Các quy định này phải cụ thể, đồng bộ phù hợp với hiện tại và tương
lai gần ; đồng thời có sự thống nhất giữa các văn bản, tạo điều kiện để các
Thanh tra ngân hàng có cơ sở pháp lý chắc chắn khi kết luận và xử lýđối với
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có vi phạm.
Những quy chế cần được chú trọng là quy chế về trích dự phòng rủi ro ban
hành kèm theo Quyết định số 48/1999/ QĐ - NHNN5 ngày 8/2/1999; việc tính
số dư nợ cho vay trung; dài hạn để so sánh với 25% vốn huy động ngắn hạn
theo quyết định số 297/1999/ QĐ - NHNN5 ngày 25/8/1999 của Thống đốc
Ngân hàng, đặc biệt là sớm có hướng dẫn thực hiện Nghịđịnh của chính phủ về
xử lý vi phạ m hành chính trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng làm cơ
sởđể cán bộ thanh tra, thanh tra viên và các trưởng đoàn thanh tra có căn cứ xử
lý khi các ngân hàng có vi phạm.

- Cần có cơ chế chính sách đãi ngộ với cán bộ Ngân hàng Nhà nước nói
chung và cán bộ Thanh tra Ngân hàng nói riêng để giữđược các cán bộ quản lý
giỏi như: chếđộ thâm niên, phụ cấp công tác vv... có chếđộ thưởng phạt rõ ràng
để gắn trách nhiệm với từng công việc của cán bộ.

3.3. Một số kiến nghị

3.3.1. Với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thực hiện đúng tiến độ của Đềán 112 cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng, đặc
biệt làđổi mới hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng. Khi sửa luật NHNN vào
năm 2008, cần quy định chi tiết rõ ràng về quyền hạn và nhiệ m vụ của Thanh
tra Ngân hàng đểđảm bảo Thanh tra Ngân hàng cóđược thực quyền lớn hơn và
giả m thiểu những tác động ngược chiều của quy định dưới luật về thanh tra mà
dễ làm phương hại đến tính độc lập và quyền lực của Thanh tra Ngân hàng.
Thanh tra Ngân hàng cần được trao quyền lớn hơn trong việc xử lý vi phạm
pháp luật. Luật NHNN cần quy định rõ Thanh tra Ngân hàng có quyền không
chỉđược kết luận, kiến nghị mà trực tiếp xử lý vi phạ m các chuẩn mực về an
toàn và pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

Về cơ cấu tổ chức Thanh tra ngân hàng, Luật NHNN không nên quy định
cụ thể vấn đề này mà giao cho Chính phủđểđảm bảo tính linh hoạt phù hợp với
cơ cấu tổ chức của NHNN trong tương lai. Tuy nhiên cần đả m bảo bộ máy của
Thanh tra Ngân hàng được tổ chức thành hệ thống khép kín, thống nhất từ trung
ương đến các chi nhánh tỉnh, thành. Thanh tra ở chi nhánh chịu sự lãnh đạo,
chỉđạo trực tiếp từ Thanh tra Ngân hàng Trung ương. Nhiệm vụ Thanh tra ở
Trung ương và Thanh tra ở chi nhánh do Thống đốc quy định.

Thanh tra Ngân hàng phải là cơ quan xây dựng, ban hành các quy định về
tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng; điều kiện về cấp giấy phép hoạt động ngâ n
hàng. Thanh tra Ngân hàng cần được uỷ quyền cấp và rút giấy phép hoạt động
ngân hàng khi tổ chức có hoạt hoạt động ngân hàng vi phạ m nghiêm trọng các
quy định về bảo đảm an toàn và pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

Cần phân định, phân cấp uỷ quyền trách nhiệ m cụ thể giữa Trung ương
vàđịa phương trong việc thanh tra, kiểm tra và xử lý sau thanh tra đối với các
TCTD nói chung và các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài nói riêng. Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa trung ương với địa
phương và giữa các địa phương trong công tác thanh tra.

Sửa đổi, ban hành các quy định về tổ chức và hoạt động của hệthống kiể m
soát nội bộ của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoà i
tại Việt Nam. Trong một khía cạnh nào đó phải coi hệ thống kiểm soát nội bộ
của TCTD là một chốt kiể m soát của Thanh tra Ngân hàng, do đó cần phải quy
định rõ mối quan hệ của tổ chức này với Thanh tra Ngân hàng ở các địa phương
và Trung ương. Đặc biệt là trong việc chấp hành chếđộ thông tin báo cáo, cơ
chế phối hợp về nghiệp vụ kiể m tra, kiể m soát vì mục tiêu chung là an toàn hệ
thống, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người gửi tiền.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Vụ, Cục tiếp tục hoàn chỉnh bộ mã
chỉ tiêu thống kê và chương trình giá m sát từ xa để Thanh tra Ngân hàng, nhất
là Thanh tra chi nhánh, có thể khai thác được các thông tin từ chếđộ báo cáo
thống kê. (Hệ thống báo cáo thống kê 1747 hiện đang rất đồ sộ và tốn kém,
nhưng đối với các chi nhánh NHNN hầu như chỉ phục vụ phòng Tổng hợp và
Quản lý các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam.

3.3.2. Với Chính phủ và Thanh tra Nhà nước

Nghiên cứu sửa đổi Nghịđịnh 244-HĐBT ngày 30/6/1991 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) theo hướng xác định rõ các vấn đề có
tính nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ, Ngành. Cần phân
định rành mạch, rõ ràng về nội dung vàđối tượng quản lý của Thanh tra Bộ,
Ngành.

Quy định rõ Thanh tra Ngân hàng là cơ quan duy nhất thực hiện việc thanh
tra, giá m sát chuyên ngành ngân hàng và thanh tra Nhà nước đối với các hoạt
động tiền tệ- ngân hàng của TCTD nói chung, các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài. Việc quy định này là cần thiết để phát huy tính
tập trung quyền lực và tính chuyên nghiệp của Thanh tra Ngân hàng và tránh
tình trạng Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải chịu
thanh tra từ nhiều cơ quan khác nhau, các cơ quan thanh tra khác có thểđưa ra ý
kiến ngược với ý kiến của Thanh tra Ngân hàng mà có thểảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của TCTD.

3.3.3. Với các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, đề cao tính tự chủ, tự chịu trách
nhiệ m về hoạt động của mình.

Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có biện
pháp nâng cao năng lực quản trị, điều hành, đặc biệt là quản trị rủi ro (thiết lập
và vận hành chương trình quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng hoạt động kiể m
tra, kiểm soát nội bộ; hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin quả n
lý…). Đặc biệt là Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
phải khẩn trương tổ chức thực hiện Quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của
TCTD ban hành kè m theo Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006
của Thống đốc NHNN và Quy chế kiểm toán nội bộ của TCTD ban hành kè m
theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 của Thống đốc
NHNN.
DANHMỤCCÁCTỪVIẾTTẮT


TCTD: Tổ chức tín dụng

NHNN: Ngân hàng Nhà nước

VF1: Công ty quản lý quỹ

VND: Việt Nam đồng

USD: Đô la Mỹ

L/C: Thư tín dụng

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản