Báo cáo: Năng suất lao dộng

Chia sẻ: nampham2811

Là hiệu quả hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian. Năng suất lao động được đo bằng sản lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc trong lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo: Năng suất lao dộng

Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Khoa Kinh Tế & Quản lý Nguồn nhân lực


Giảng viên: TS Nguyễn Vĩnh Giang – phó trưởng bộ
môn Kinh Tế Nguồn Nhân Lực




Bài làm: Năng suất lao động




Các thành viên trong nhóm thuyết trình gồm:
Phạm Hoài Nam - CQ 501762
Nguyễn Mạnh Đạt - CQ 500500
Bùi Công Kiên - CQ 503348
Trần Thanh Phong - CQ 502025
- CQ 502954
Đào Thanh Tú
MỤC LỤC

I. Khái niệm, ý nghĩa tăng năng suất lao động. .............. 2
1.Năng suất lao động. ................................................................................................ 2
2.Tăng năng suất lao động......................................................................................... 4
3.Phân biệt khái niêm năng suất lao động và cường độ lao động. ........................... 5
4. Ý nghĩa tăng năng suất lao động. .......................................................................... 6
II. Các chỉ tiêu tăng năng suất lao động .......................... 6
1. Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật : .............................................. 6
III. Các nhân tố và điều kiện nâng cao năng suất lao

động ................................................................................. 10

IV. Khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động. 14




I. Khái niệm, ý nghĩa tăng năng suất lao động.
1.Năng suất lao động.
Là hiệu quả hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời
gian. Năng suất lao động được đo bằng sản lượng sản phẩm sản xuất ra
trong một đơn vị thời gian hoặc trong lượng thời gian lao động hao phí để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Nói đến năng suất lao động là nói đến kết
quả hoạt động sản xuất của con người trong một đơn vị thời gian nhất định.
Theo C.Mác: Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể
có ích.
Để hiểu được định nghĩa của C.Mác ta phải lam rõ các khái niệm sau:
- Sức sản xuất: là toàn bộ thể lực và trí lực của thân thể một con
người trong nhân cách sinh động của con người được sử dụng vào quá trình
sản xuất để tạo ra sản phẩm. Sức sản xuất thể hiện qua quá trình con người
sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên, cải biến các dạng vật
chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra các của cải vật chất thõa mãn nhu cầu tồn
tại và phát triển của con người.
- Lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của
những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục
đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng, phương pháp và kết quả
riêng.
Ví dụ: người nông dân tiêu hao sức lao động của mình dưới hình
thức là làm ruộng , sử dụng công cụ cày bừa, liềm hái tác động lên ruông đất
để tạo ra ngô khoai sắn.
Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định, các lao
động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động của xã hội.
Lao đông cụ thể trong bất kỳ xã hội đi nữa đều là điều kiện không
thể thiếu được của đời sống con người, là sự tất yếu vĩnh viễn.
Lao động cụ thể của con người chỉ thay đổi hình thức tồn tại của vật
chất, làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con người.
- Lao động cụ thể có ích: là quá trính con người tác động vào giới tự
nhiên và phải tạo ra sản phẩm có ích để đáp ứng đ ược các nhu cầu của con
người.
Từ khái niệm của năng suất lao động, ta có thể biểu diễn công thức
chung để tính năng suất lao đông:
W = Q/T hoặc t = T/Q
Trong đó: W: Năng suất lao động.
Q: Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra.
T: Tổng thời gian lao động hao phí.
t: Lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm
2.Tăng năng suất lao động.
Là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút
ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa sao cho
lượng lao động ít nhất mà lại sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Điều đó
có nghĩa là trong cùng một thời gian làm ra được nhiều sản phẩm hơn, hay
làm ra một sản phẩm với hao phí lao động ít hơn do đó giá trị hàng hóa giảm
đi.
Nói chung sức lao động càng lớn thì thời gian lao động tất yếu để
sản xuất ra một sản phẩm sẽ ngắn hơn và khối lượng lao động kết tinh trong
vật phẩm đó càng nhỏ thì giá trị của vật phẩm sẽ càng ít.
Theo C.Mác: giá trị hàng hòa được quy định bởi tổng thời gian lao
động, lao động quá khứ và lao động sống, đã nhập vào hàng hóa đó.
- Lao động sống: là sự hoạt động trực tiếp của sức lao động, sự tiêu
hao thể lực và trí lực có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm và
dịch vụ có ích trong quá trình lao động. Kết quả hoạt động của lao động
sống được phân thành: lao động cần thiết tạo ra của cải vật chất nuôi sống
bản thân người lao động và lao động thặng dư tạo ra của cải tăng thêm. Lao
động sống là nguồn duy nhất tạo ra giá trị mới(gồm sức lao động và giá trị
thặng dư) và cũng nhờ nó mà giá trị tư liệu sản xuất được bảo tồn và chuyển
hóa thành hàng hóa.
- Lao động quá khứ: là lao động kết tinh trong sản phẩm, trong tư
liệu sản xuất, hay vật phẩm tiêu dùng. Khi quá trình lao động được tiến hành
nhất thiết phải dùng tư liệu sản xuất tức là phải có sử dụng thời gian của lao
động quá khứ. Trong sản xuất hàng hóa, lao động kết tinh trong tư liệu sản
xuất được chuyển hóa thánh sản phẩm mới, còn lao động quá khứ kết tinh
trong đối tượng lao động được chuyển hóa toàn bộ, lao động quá khứ kết
tinh trong tư liệu lao động thì được chuyển hóa theo mức độ hao mòn của tư
liệu lao động.
Do đó năng suất lao động tăng lên biểu hiệu ở chỗ phần lao động
sống thì giảm còn lao động quá khứ tăng lên. Lao động sống giảm đi nhiều
hơn là lao động quá khứ tăng lên.
3.Phân biệt khái niêm năng suất lao động và cường độ lao
động.
Năng suất lao động và cường độ có mối quan hệ với nhau đều là yếu
tố tăng sản phẩm xã hội.
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương về lao động. Trong cùng
một thời gian, mức hao phí về năng lượng bắp thịt, thần kinh của con người
càng nhiều thì cường độ lao động càng lớn. C.Mác gọi cường độ lao động là
khối lượng lao động lao động bị ép vào một đơn vị thời gian.
Tăng cường độ lao động có nghĩa là tăng thêm chi phí lao động trong
một đơn vị thời gian, nâng cao mức độ khẩn trương của lao động làm cho
của cải vật chất sản xuất ra 1 đơn vị thời gian tăng thêm nhưng không làm
thay đổi giá trị của 1 đơn vị sản phẩm vì chi phí lao động cũng tăng lên
tương ứng.
+ Điểm khác giữa Năng suất lao động và Cường độ lao động.
- Tăng năng suất lao động sẽ dẫn tới giảm giá trị của 1đơn vị hàng hóa
còn tăng cường độ lao động không làm thay đổi giá trị của một đơn vị hàng
hóa.
- Tăng năng suất lao động là sự thay đổi về cách thức lao động, làm
giảm nhẹ lao động, còn tăng cường độ lao động chỉ đơn thuần là tăng lượng
lao động chi phí.
- Tăng năng suất lao động không làm suy kiệt sức lao động còn tăng
cường độ lao động quá mức(vượt quá cường độ lao động trung b ình của xã
hội) sẽ dẫn tới suy kiệt sức lao động và bệnh nghề nghiệp.
4. Ý nghĩa tăng năng suất lao động.
- Tăng năng suất lao động là con đường tăng tổng sản phẩm xã hội
không có giới hạn, con đường làm giàu cho mỗi quốc gia và từng thành viên
trong xã hội.
Để tăng tổng sản phẩm xã hội có 2 cách: tăng thời gian lao động hoặc
tiết kiệm chi phí lao động cho 1 đơn vị sản phẩm( tăng năng suất lao động).
Việc tăng thời gian lao động có giới hạn về tâm lý, sinh lý và các điều kiện
kinh tế khác. Con đường tăng năng suất lao động là vô hạn vì nó phụ thuộc
vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà tiến bộ đó được thực tiễn chứng minh
là vô hạn. Do đó, tăng năng suất lao động không phải là một hiện tượng
kinh tế thông thường mà là một quy luật kinh tế chung cho mọi hình thái
kinh tế xã hội.
- Năng suất lao động tăng lên tạo cơ hội giảm thời gian hao phí lao
động vào quá trình sản xuất vật chất, làm tăng khả năng thõa mãn nhu cầu về
tinh thần, tạo cơ hội cho con người phát triển toàn diện.
- Năng suất lao động tăng là cơ sở vật chất cho mọi tiến bộ của xã hội.

II. Các chỉ tiêu tăng năng suất lao động
Có 3 loại chỉ tiêu tính năng suất lao động là:
1. Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật :
Q
Công thức :
W=
T
với W là năng suất lao động tính bằng hiện vật
Q là sản lượng tính bằng hiện vật (tấn,tạ ,yến,m…)
T tổng thời gian hao phí để sản xuất sản lượng Q (có thể
là giờ,ngày,người…)


Ưu điểm : phản ánh chính xác kết quả lao động trong tổ chức ,phương
pháp đánh giá đơn giản ,chính xác khi xem xét các sản phẩm giống nhau.
Nhược điểm : Chỉ áp dụng đánh giá sản phẩm đã hoàn chỉnh và giống
nhau,không áp dụng so sánh nhưng người sản xuất những sản phẩm khác
nhau.
Khắc phục : dùng chỉ tiêu hiện vật quy ước :chọn 1 sản phẩm làm
đơn vị đo lường chung rồi quy đổi các sản phẩm khác ra theo sản phẩm đó.
Sản phẩm dung quy đổi phải được xem xét kĩ các đặc điểm về trọng
lượng,khối lượng,công suất…và thuận lợi cho việc tính toán.
1. Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị :
Công thức : Q
W=
T
Với : W là năng suất lao động tính bằng giá trị (tiền)
Q là sản lượng tính bằng giá trị (doanh thu,giá trị sản lượng…)
T là tổng thời gian hao phí để sản xuất ra giá trị Q


Ưu điểm : có thể dùng tính chung cho tất cả các loại sản phẩm khác
nhau.
phạm vi sử dụng rộng rãi,có thể áp dụng tính năng suất lao động
giữa các ngành nghề…nó khắc phục đựoc nhược điểm của cách tính năng
suất lao động bằng hiện vật.
Nhược điểm: chịu ảnh hưởng của biến động giá cả,không khuyến
khích tiết kiệm nguyên vật liệu ( doanh nghiệp càng dung nguyên vật liệu
đắt tiền hoặc càng hoang phí ng vật liệu thì năng suất càng cao.


Khắc phục: sử dụng hệ số hao phí lao động theo công thức:
Iw1 = Iw * H ld
với : Iw1 là hệ số năng suất lao động sau khi loại trừ ảnh hưởng
Iw là hệ số năng suất lao động trước khi loại trừ ảnh huởng
Hld là hệ số lao động
1. Chỉ số năng suất lao động tính bằng thời gian lao động (
lượng lao động)
Công thức : T
t=
Q
với : t là lượng lao động hao phí cho 1 sản phẩm
T là tổng thời gian hao phí
Q là sản lượng (hiện vật,giá trị…)
t đựoc tính bằng tổng tất cả thời gian lao động của các b ước công
viêc để tạo ra sản phẩm


Ưu điểm: phản ánh chính xác và cụ thể mức tiết kiệm hao phí thời
gian lao động để sản xuất ra sản phẩm
Nhược điểm : tính toán khá phức tạp,không thể dung làm chi tiêu
tổng hợp cho một ngành hay một doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm
khác nhau


Ta có mô hình biểu diễn các chỉ tiêu tính toán năng suất lao động



Giá trị sản lợi nhuận
Doanh thu
lượng




sản lượng Giá trị
sản phẩm
sản xuất




Năng suất
lao động


Hao phí lao động



hiện tại(phản ánh Thay đổi (phản ánh tất cả
khối lượng nguồn nguồn tham gia hoạt
được sử dụng trong động)
thời kì nhất định)




một loại nguồn Chỉ tiêu bộ phận

một số loại nguồn chỉ tiêu nhiều yếu tố

tất cả các nguồn chỉ tiêu chung
III. Các nhân tố và điều kiện nâng cao năng suất
lao động
Năng suất lao động chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó có nhân
tố làm tăng, có nhân tố làm giảm năng suất lao động. Ngoài các nhân tố kinh
tế xã hội, nó còn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, tất cả các nhân tố
có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới năng suât lao động.
Trong một tổ chức cá nhân có thể chia các nhân tố ảnh hưởng ra nhân
tố bên trong, nhân tố bên ngoài. Nhân tố bên trong bao gồm trình độ trang
thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp, hiệu quả của sự thay đổi công nghệ, trang
bị năng lượng cho lao động, tổ chức lao động và sản xuất, sự tác động của hệ
thống kích thích lao động, đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ lành nghề,
hoàn thiện cơ cấu cán bộ… Các nhân tố bên ngoài bao gồm sự thay đổi mẫu
mã sản phẩm và chi phí lao động liên quan đến nó theo đơn đặt hàng của nhà
nước hay cung cầu trên thị trường; mức độ hiệp tác giữa các tổ chức, điều
kiện tự nhiên…
Theo nội dung và bản chất của năng suất lao động, tất cả các nhân tố
đựơc chia theo 3 nhóm cơ bản:
Nhân tố vật chất kỹ thuật được gắn chặt với trình độ phát triển của
kỹ thuật và công nghệ, hoàn thiện công cụ và tư liệu lao động.
Nhân tố tổ chức sản xuất, tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, bao
gồm yếu tố kinh tế xã hội gắn liền với cơ cấu lao động, trình độ lành nghề,
điều kiện lao động, chế độ sở hữu, c ường độ lao động, hiệu quả kích thích
lao động và sự quan tâm tới kết quả sản xuất cuối cùng, tức là tất cả liên
quan con người và quan hệ của con người với lao động.
Các nhân tố gắn liền với điều kiện tự nhiên
Do việc phân loại các yếu tố thế nào chăng nữa, bao giờ cũng làm
giảm được các chi phí về thời gian lao động dùng để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm.
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sự áp dụng những
thành tựu của chúng vào sản xuất thường được xem như là nhân tố chủ đạo.
Các nhân tố vật chất kỹ thuật làm tăng năng suất lao động phụ thuộc
vào việc nâng cao trang thiết bị kỹ thuật, năng lượng cho lao động trên cơ sở
phát triển những tiến bộ kỹ thuật. phương hướng chủ yếu của tiến bộ khoa
học kỹ thuật là cơ khí hoá, tự động hoá và nâng cao công suất máy móc thiết
bị. công việc trang bị năng lượng cho lao động, điện khí hoá; hoá học hoá
sản xuất trong mỗi ngành công nghiệp và nông nghiệp sẽ tạo ra công nghệ
mới, làm giảm chi phí lao động sống, tiết kiệm các nguồn vật chất; chuyên
môn hoá máy móc và thiết bị, …
Kết quả của sự tác động các nhân tố vật chất kỹ thuật là năng suất lao
động tăng lên và lượng lao động giảm xuống thấp. tốc độ tăng năng suất lao
động được tính theo công thức:



Trong đó:
W: % tăng năng suất lao động.
Lct: % giảm hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm


Tốc độ tăng năng suất lao động theo nhân tố tổ chức lao động và tổ
chức sản xuất có thể tính toán riêng cho từng tổ chức, từng ngành và toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. việc nâng cao năng suất lao động trong ngành hoặc
toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý các doanh nghiệp theo
lãnh thổ, tổ chức màng lưới giao thông trong nước cũng như nước ngoài,
việc chuyên môn hoá và hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, tổ chức
cung ứng vật tư kỹ thuật, năng lượng, sửa chữa… Việc nâng cao chất lượng
công tác kế hoạch hoá trong mối quan hệ với sự phát triển thị trường, chuẩn
bị điều kiện tổ chức kỹ thuật cho sản xuất, áp dụng đồng thời tiến bộ kỹ
thuật, mô hình hoá… Là nhiệm vụ quan trọng nhất cho việc hoàn thiện tổ
chức sản xuất. tổ chức lao động chiếm vị chí đặc biệt trong các nhân tố tổ
chức, gắn chặt với tổ chức sản xuất; bao gồm các nội dung, như phân công
và hiệp tác lao động chặt chẽ giữa các loại nhóm lao động khác nhau và giũă
những người sử dụng riêng biệt; tổ chức trang bị nơi làm việc; hoàn thiện
các điều kiện tâm lý; đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ; nghiên cứu và
xây dựng hệ thống và áp dụng các phưong pháp lao động tiên tiến; tổ chức
thời gian lao động và nghỉ ngơi hợp lý, khoa học; củng cố kỷ luật trong lao
động sản xuất; hiện đại hoá các trang thiết bị sản xuất tự động và bán tự
động. tất cả phương hướng này đều liên quan đến tổ chức lao động khoa
học. các nhân tố tổ chức nói chung và tổ chức lao động khoa học nói riêng
đều tác động tới tăng giảm thời gian lao động. tổ chức sẽ rút gắn thời gian
làm việc hay tiết kiệm thời gian, trên cơ sở đó năng suất lao động sẽ được
nâng cao.
Mức độ sử dụng giờ công và ngày công trong tháng hay trong năm
cũng có ảnh hưởng tới năng suất lao động. việc tính toán khả năng nâng cao
năng suất lao động do giảm tổn thất thời gian làm việc được biểu diễn theo
công thức sau:
hay
trong đó:
W: % nâng cao NSLĐ do giảm tổn thất thời gian làm việc
T1: quỹ thời gian làm việc có được sau khi thực hiện các biện pháp
tổ chức tính cho một công nhân
T0: quỹ thời gian làm việc trước khi thực hiện các giải pháp
Tnl: % thời gian làm việc còn lại theo kế hoạch
Ttt: % hao phí thực tế thời gian làm việc trước khi thực hiện các
giải pháp.


Chiếm vị trí quan trọng trong nhân tố tổ chức là nhân tố hoàn
thiện cơ cấu lao động, trong đó nâng cao tỷ trọng công nhân chính sẽ thúc
đẩy nâng cao năng suất lao động bình quân của một ngưòi làm việc. công
thức tính như sau:




Trong đó: CN1 và CN0 là tỷ trọng (%) công nhân sản xuất trong
tổng số cán bộ công nhân viên kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo.


Các nhân tố kinh tế xã hội quan trọng ảnh hưởng tới năng suất
lao động bao gồm:
 Mức độ đảm bảo lợi ích vật chất về tinh thần của cá nhân và tập
thể
 Trình độ lành nghề của công nhân, chất lượng đào tạo và trình độ
văn hoá kỹ thuật lao động
 Sự thay đổi hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
 Các chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước
 Môi trường kinh doanh và pháp luật trong nước
 Mức độ ổn định kinh tế - chính trị trên thế giới và sự hợp tác kinh
tế giữa các nước và môi trường đầu tư quốc tế…
Các tài liệu khoa học và
kinh tế hiện nay phân chia các nhân tố năng suất làm 3 nhóm. tuy nhiên,
trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng hơn cách phân loại truyền
thống, bổ sung thêm các nhân tố liên quan đến lao động quá khứ, như sử
dụng có hiệu quả và tiết kiệm máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng, nguyên
vật liệu, năng lượng
Sử dụng tiết kiệm và
hợp lý các yếu tố vật chất đầu vào, tăng tỉ lệ khấu hao đều làm tăng năng
suất lao động xã hội.

IV. Khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao
động.
Khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động là những khả năng
còn ẩn dấu trong từng con người hoặc trong từng bộ phận sản suất chưa
được phát hiện và đưa vào sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động. Các
khả năng tiềm tàng gắn chặt với các nhân tố nâng cao năng suất lao động.,
chúng đươc xem là như nguồn dự trữ và được thể hiện khi sử dụng chúng
trong tương lai.
Hiện nay có một số cách phân loại khả năng tiềm tàng nâng cao năng
suất lao động như sau:
Thứ nhất, phân theo hai nhóm lớn là nhóm khả năng tiềm tàng nâng
cao trình độ sử dụng lao động sống (sức lao động) và nhóm khả năng tiềm
tàng trong việc sử dụng có hiệu quả hơn lao động vật hoá (vốn cố định và
vốn lưu động).
Nhóm thứ nhất liên quan đến cải thiện điều kiện lao động, nâng cao
trình độ chuyên môn kĩ thuật của người lao động, cơ cấu cán bộ, hoàn thiện
tổ chức lao động bảo đảm lợi ích vật chất tinh thần cho công nhân theo kết
quả lao động. Nhóm thứ hai bao gồm việc sử dụng hợp lý hơn các điều kiện
vật chất ( máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu, năng lượng, …). Trong
nhóm này còn bao gồm cả hao phí thời gian không lam việc và chi phí
không sản suất của lao động. Hao phí thời gian không làm việc là thời gian
ngừng máy hoặc nghỉ tự do trong ca làm việc.
Thứ hai, theo thời gian sử dụng, người ta chia khả năng tiềm tàng
trước mắt và khả năng tiềm tàng tương lai.
Khả năng tiềm tàng trước mắt bao gồm việc thực hiện sự thay đổi
thực tế quá trình công nghệ nhưng không bổ sung vốn, còn khả năng tiềm
tàng tương lai đòi hỏi cải tiến sản suất , trang bị công cụ hoàn thiện hơn ,
hao phí vốn và thời gian đáng kể cho việc đào tạo công nhân.
Theo vị trí ảnh hưởng và sử dụng, khả năng tiềm tàng chia ra là khả
năng trong doanh nghiệp, khả năng trong ngành và khả năng trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân .
Mức năng suất lao động như đã nói, được xác định bằng số lượng sản
phẩm được sản suất ra trong một đơn vị thời gian . Điều đó có nghĩa là khối
lượng sản phẩm được sản suất ra tỷ lệ thuận với với tổng lượng thời gian hao
phí để sản suất ra chúng và tỷ lệ nghịch với hao phí lao động cho một đơn vị
sản phẩm. Nếu tăng quỹ thời gian làm việc do nâng cao trình độ tổ chức
quản lý thì năng suất lao động sẽ được nâng cao, còn nếu tăng thời gian làm
việc do giảm chi phí lao động do áp dụng tiết bị kĩ thuật mới, hoàn thiện
công nghệ, tổ chức sản suất thì năng suất lao động cũng được nâng cao,
nhưng đó mới là con đường lâu dài cơ bản nhất cần hướng tới.
Việc sử dụng có hiệu quả quỹ thời gian làm việc có thể đạt dược bằng
hai cách, hoặc giảm tổn thất thời gian làm việc hoặc hoàn thiện cơ cấu cán
bộ theo hướng nâng cao tỷ trọng công nhân chính trong tổng số người làm
việc.
Để khai thác khả năng tiềm tàng cần phân tích mức và sự biến động
của mức NSLĐ trong từng bộ phận hoặc theo loại công việc trong thời kì
hiện tại hay kì dự báo bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiện tại với kế hoạch ,
trong đó cần luận chứng rõ các nhiệm vụ, tính toán đầy đủ các đặc điểm và
điều kiện sản suất trong kì kế hoạch. Ngoài ra, trong quá trình phân tích cần
đánh giá hao phí lao động để sản suất ra các sản phẩm chủ yếu hoặc các
công việc cơ bản: Hao phí lao động để sản suất ra một sản phẩm i theo kế
hoạch hoặc thực tế chia cho tổng hao phí lao động để sản suất ra nó. Hao phí
lao động có thể tính riêng cho từng loại sản phẩm hoặc tính chung cho tất cả
các sản phẩm ( kế hoạch sản suất sản phẩm). Hao phí lao động được đo
lường hoặc bằng giờ - mức (hoặc ngày công) theo kế hoạch hoặc giờ ( ngày)
thực tế hao phí. Sự khác nhau giữa chúng được xác định ở mức độ hoàn
thành mức. Ví dụ, nếu hao phí lao động theo định mức 180 ngàn giờ và thực
tế là 150 ngàn giờ thì điều đó có nghĩa là thực hiện mức trung bình là 120%
(=18000/15000* 100).
Mức tăng NSLĐ do giảm lượng lao động có thể xác định trực tiếp
theo tỷ lệ của mỗi nhóm công nhân hoặc theo sự tiết kiệm sức lao động.
NSLĐ và giảm lượng lao động co tỷ lệ nghịch với nhau và được thông qua
công thức sau:
W= 100*L/(100-L) và L=100*W/(100+W)
trong đó W: % tăng năng suất lao động do giảm lượng lao động
L: % giảm lượng lao động do nâng cao năng suất lao động
Việc tính toán số lao động tiết kiệm được thực hiện bằng cách so sánh
chi phí lao động trong việc thực hiện loại công việc nào đó (hoặc hoàn thành
sản phẩm nào đó) trước và sau khi áp dụng những biện pháp hạ thấp chi phí.
Mức tiết kiệm lao động được xác định theo công thức.
TK = (TLĐ / QLĐ*k) * M
Trong đó: TK Số lao động tiết kiệm được do các nhân tố
TLĐ: Số giờ tiết kiệm được của từng công việc hoặc sản phẩm
QLĐ: Quỹ thời gian làm việc bình quân của công nhân trong năm
(giờ)
K: Hệ số hoàn thành mức
M: Tổng số công việc hoặc sản phẩm
Ví dụ, Thực hiện một công việc A giảm 40 phút nhờ thực hiện các
biện pháp kỹ thuật tổ chức, có 10.000 công việc A như vậy trong năm, quỹ
thời gian làm việc bình quân trong năm là 1800 giờ; % hoàn thành mức là
120.Số người tiết kiệm được là:
TK = (40*10000 / 1800*1,2*60) = 3 người
Việc tiết kiệm lao động do kết quả các biện pháp không phải được áp
dụng từ đầu năm thì có thể tính theo công thức:
TK = (Ttt – Tkh)*M*B


Trong đó: Ttt: hao phí thời gian của khối lượng công việc được khảo
sát thực tế
Tkh: hao phí thời gian của khối lượng công việc theo kế hoạch
M: Khối lượng công việc (sản phẩm) trong năm kế hoạch.
B: hệ số thời gian áp dụng biện pháp kỹ thuật
Ví dụ: Nếu Ttt và Tkh tương ứng là 3 và 2,5 giờ, M là 4000, thời gian
áp dụng biện pháp từ 1/5 thì:
TK = ( 3 – 2,5) x 4000 x 8/12 = 1330 giờ người
Trong trường hợp lao động thủ công, cơ khí hoá lao động v.v…, việc
tiết kiệm số lượng công nhân được xác định bằng cách so sánh trực tiếp số
lượng công nhân trước và sau khi cơ khí hoá công việc theo công thức sau:
TK = (1 – Mkh/Mcs)*100%
Hay TK = Mcs – Mkh
Trong đó: Mcs và Mkh là số công nhân trước và sau khi cơ khí hoá
công việc:
Trong việc khai thác khả năng tiềm tàng tăng năng suất cao lao động
việc giảm bớt hao phí lao động của từng người công nhận được đặc biệt
quân tâm. Để phát triển các khả năng tăng năng suất lao động do khắc phục
tổn thất thời gian làm việc của họ cần tiến hành chop ảnh và tự chop ảnh
ngày làm việc, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để khắc phục
chúng. Ngoài ra, thông qua phân tích, so sánh quỹ thời gian làm việc thực tế
so với kế hoạch, tìm hiểu nguyên nhân gây nên sự khác biệt giữa chúng
cũng có thể pháp hiện ra các khả năng giảm tổn thất thời gian đề tăng năng
suất lao động chẳng hạn, trong tổng thời gian nghỉ của công nhân có thời
gian nghỉ ốm đau chiếm tỷ trọng lớn. Phải tìm hiểu nguyên nhân ố m đau và
để xuất các giải pháp để hạn chế thông qua kiểm tra chế độ làm việc nghỉ
ngơi, ăn uống, chữa bệnh v. v … Việc tăng quỹ thời gian làm việc nhờ rút
ngắn thời gian vắng mặt do ốm đau sẽ làm tăng năng suất lao động.
Trong khi phân tích tình hình sử dụng thời gian làm việc cần so sánh
sự buiến động của mức sản lượng của công nhân. Thông qua so sánh mức
sản lượng ngày với mức sản lượng giờ hoặc mức sản lượng năm với mức
san lượng ngày cũng có thể thấy được hiệu quả sử dụng thời gian làm việc
trong ngày và trong năm.

Top Download Quản Trị Kinh Doanh

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản