Báo cáo Nghiên cứu quy trình nhân giống hoa Đồng Tiền bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Chia sẻ: o0dontask0o

Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển và trở thành một ngành thương mại cao. Sản xuất hoa cho nền kinh tế các nước trồng hoa cây cảnh, trong đó Sản xuất hoa ở các nước châu Á đang phát triển mạnh liệt để chiếm lĩnh thị trường hoa trên thế giới. Cây hoa học là Gerbera jamesonic Bolus, là một trong 10 loại hoa thế giới (sau hoa hồng, cúc, lan, cẩm chướng, lay ơn).

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo Nghiên cứu quy trình nhân giống hoa Đồng Tiền bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Báo cáo Nghiên cứu quy
trình nhân giống hoa
Đồng Tiền bằng phương
pháp nuôi cấy mô tế bào
Mục lục
Trang
Phần I: Mở đầu……………………………………………………. 2
I.1/ Đặt vấn đề ……………..……………………………… 2
I.2/ Mục đích, yêu cầu …………………………………….. 3
Phần II: Tổng quan tài liệu …..…………………………………… 5
II.1/ Tình hình sản xuất hoa trong nước và trên thế giới …... 5
II.2/ Giới thiệu về hoa Đồng Tiền………………………….. 8
Phần III: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu………….. 10
III.1/Đối tượng …………………………………………….. 10
III.2/ Nội dung……………………………………………… 10
III.3/ Các chỉ tiêu theo dõi …………………………………. 12
III.4/ Xử lý số liệu ………………………………………….. 13
Phần IV: Kết quả và thảo luận …… ………………………………. 15
IV.1/ Thí nghiệm tạo nguồn vật liệu vô trùng………………. 15
IV.2/ Giai đoạn nhân nhanh…………………………………. 17
Phần VI: Kết luận và đề nghị……………………………………….. 20
V.1/ Kết luận ………………………………………………… 20
V.2/ Đề nghị ………………………………………………… 20
Phụ lục …………………………………………………………….. 21
Tài liệu tham khảo……………….………………...,………………. 23
Phần I
MỞ ĐẦU


I.1/ Đặt vấn đề:
Từ thời cổ xưa con người đã sớm biết thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên.
Hoa đã đi vào cuộc sống như một nét đẹp không thể thiếu trong các ngày lễ tết,
hội hè, đình đám, tranh hoàng nhà cửa…
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, nhu cầu về hoa
trên thế gới nói chung và ở nước ta nói riêng tăng nhanh hơn bao giờ hết. hoa
tươi trở thành loại sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao và chiếm vị trí đặc biệt
trong thị trường hang hóa nông nghiệp của thế giới. Thị trường hoa tươi tập
trung ở các nước có nền công nghiệp phát triển cao: Hà Lan; Pháp; Anh; Nhật;
Ý; Nhật; Mỹ.
Các nước chiếm ưu thế trên thị trường là các nước có nền công nghiệp
phát triển cao, có công nghệ sản xuất hoa tiên tiến và hiệu quả. Họ đã nghiên cứu
và ứng dụng thành công những kĩ thuật sinh học và nông học hiện đại trong từng
khâu sản xuất như: chọn, tạo giống mới, nhân giống, nuôi trồng, bảo quản hoa
tươi… Rõ rang để có thể thương mại hóa ngành sản xuất hoa thì phải chương
trình hóa được quá trình sản xuất : bao nhiêu sản phẩm, loại gì, thời gian
nào,kích thước, tiêu chuẩn…Điều đó chỉ có thể thực hiện được trên nền kĩ thuật
rất cao và trước hết phải có công nghệ nhân giống hiện đại. Đó chính là công
nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật. Chỉ tính riêng ở Hà Lan hàng năm đã sản xuất
15 triệu cây giống hoa đồng tiền bằng nuôi cấy mô tế bào để cung cấp cho sản
xuất, Mấy năm gần đây, trên thế giới sản xuất khoảng 50 triệu cây/ năm, ước
tính đạt 250 triệu cây trên năm mới đáp ứng được với nhu cầu của thực tế.
Một vấn đề đặt ra hiện nay là giá giống cây nhân bằng phương pháp nuôi
cấy mô còn cao , vì vậy cần phải cải tiến các quy trình nhân để làm hạ giá thành,
đặc biệt là cơ giới hóa các khâu nhân giống và mở rộng quy mô, tăng năng xuất
sản xuất các giống.
Trong các loại hoa đang trồng phổ biến ở Việt Nam thì hoa đồng tiền
(Gerbera) là 1 loài hoa khá đẹpvới nhiều màu sắc đa dạng phong phú, đang được
nhiều người ưa chuộng, nhu cầu giống đang tăng cao.Với ưu thế của nhân giống
invitro là từ 1 lượng nhỏ của cây mẹ có thể tạo ra một quần thể cây con đồng
đều, giữ được đặc tính của cây mẹ, có hệ số nhân giống cao dễ khắc phục khi
gặp điều kiện bất lợi và đặc biệt là tạo ra được một lượng lớn cây sạch bệnh,
phẩm chất tốt, đáp ứng được nhu cầu về giống hoa hiện nay.
Với ưu điểm dễ trồng, dễ nhân giống, chăm sóc đơn giản ít tốn công, trồng
một lần có thể thu hoạch liên tục từ 4 - 5 năm. Hiện nay, diện tích hoa đồng tiền
chiếm tới 8% trong cơ cấu chủng loại sản xuất hoa cả nước và không ngừng
được mở rộng. Tuy nhiên, các giống hoa trong sản xuất được người trồng nhập
về từ nhiều nguồn khác nhau không qua khảo nghiệm đánh giá một cách hệ
thống cho nên năng suất, phẩm chất hoa chưa đáp ứng được thị hiếu người tiêu
dùng. Do vậy, công tác nghiên cứu chọn tạo, nhập nội giống, tuyển chọn giống
hoa đồng tiền thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta có ý nghĩa rất quan trọng
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người dân.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần vào công tác chọn tạo giống cũng như
hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả sản xuất hoa đồng tiền, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu
quy trình nhân giống hoa Đồng Tiền bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào” .
I.2/ Mục đích, yêu cầu:
I.2.1/ Mục đích:
Nghiên cứu nhân nhanh invitro giống hoa Đồng Tiền.
I.2.2/ Yêu cầu:
I.2.2.1/ Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp khử trùng mẫu với các lọa
mẫu cấy, tạo nguyên liệu khởi đầu cho nhân giống vô tính invitro.
I.2.2.2/ Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng tới quá trình
nhân chồi.
I.2.2.3/ Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điêu tiết sinh trưởng đến quá trình tạo
cây hoàn chỉnh.
I.2.2.4/ Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ sinh trưởng và phát triển
của cây Đồng Tiền khi đưa ra vườn ươm.


*. Với thời gian thực tập là 3 tháng chúng tôi chỉ hi vọng hoàn thành 2
yêu cầu (I.2.2.1 và I.2.2.2) còn hai yêu cầu cuối chúng tôi sẽ tiếp tục tiến hành
nghiên cứu khi thời gian cho phép.
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


II.1/ Tình hình sản xuất hoa Đồng Tiền trong nước và trên thế giới:
II.1.1/ Tình hình sản xuất hoa Đồng Tiền trên thế giới
Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và
trở thành một ngành thương mại cao. Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho
nền kinh tế các nước trồng hoa cây cảnh, trong đó có các nước châu Á. Sản xuất
hoa ở các nước châu Á đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm
lĩnh thị trường hoa trên thế giới. Cây hoa đồng tiền tên khoa học là Gerbera
jamesonic Bolus, là một trong 10 loại hoa quan trọng nhất trên thế giới (sau hoa
hồng, cúc, lan, cẩm chướng, lay ơn). Hoa đồng tiền có nguồn gốc ở Nam Phi,
năm 1697 Relomen phát hiện thấy ở vùng phía Nam châu Phi (Delansia) và
ông đã đưa về vườn thực vật nước Anh. Iwin Lych là người đầu tiên tiến hành
lai tạo các giống đồng tiền với nhau. Sau đó người Pháp và người Hà Lan cũng
tiến hành lai tạo và dần dần hai nước này cũng trở thành trung tâm tạo giống cho
đồng tiền thế giới (Đặng Văn Đông và cs, 2003). Hiện nay công tác nghiên cứu
và sản xuất hoa ở nước ngoài rất phát triển. Trình độ tạo giống sản xuất của các
nước Hà Lan, Nhật Bản, Mỹ, Đức.... rất cao như công ty Forist của Hà Lan là
công ty dẫn đầu thế giới về tạo giống, nghiên cứu, sản xuất, buôn bán hoa đồng
tiền. Họ có lực lượng rất mạnh về nghiên cứu khoa học về thiết bị sản xuất đã
tạo ra rất nhiều giống, sản lượng ngày càng nhiều, việc sử lý sau thu hoạch, bảo
quản, đóng góp đều ở trình độ rất cao. Ở Trung Quốc ngay từ những năm 20 của
thế kỷ 20 đã có sản xuất hoa đồng tiền cắt cành. Ở Mai Long Thượng Hải, nhưng
do giống thoái hoá nghiêm trọng nên không phát triển được cho đến năm 1987
vận dụng kỹ thuật nuôi cấy mô và kỹ thuật nhân giống nhanh khắc phục được
tình trạng thoái hoá giống thì hoa đồng liền mới khôi phục và phát triển. Hiện
nay Thượng Hải là nơi có diện tích trồng lớn nhất 35 ha, trong đó trung tâm nhân
giống hoa Hà Viên Nghê ở nông trường Đông Hải đứng đầu trong sản xuất và
nhân giống hoa đồng tiền. Ở Giang Tô cũng là nơi phát triển mạnh hoa đồng
tiền, năm 1995 mới có trên 6.000m2, đến năm 1999 đã có tới 6 ha. Viện nghiên
cứu rau, Viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp và nông trường Liên Vân... là
những đơn vị có diện tích trồng lớn, kỹ thuật tương đối cao. Tuy nhiên trong sản
xuất hoa đồng tiền ở một số nước đang phát triển vẫn có một số biểu hiện sau:
 Tính chuyên nghiệp và quy mô sàn xuất chưa cao. Rất ít có công ty chuyên
sản xuất, quy mô sản xuất thường nhỏ nên không có sản phẩm đứng đầu, đủ sức
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Ví dụ: ở Tô Châu diện tích
trồng hoa Đồng Tiền lớn nhất không quá 2 ha, nhỏ thì chỉ trên 1.000m2, sản
lượng hoa hàng ngày rất ít, nên phí thu hái, bao gói, vận chuyển không cân xứng,
tiêu thụ tại chỗ thì thừa, bán ra ngoài thì không kinh tế nên hiệu quả kinh tế thấp.
Trong khi đó ở Colombia có hơn 100 nông trường quy mô từ 20 ha đến 30 ha,
mỗi nông trường chỉ trồng 2 - 3 giống, mỗi giống 8-10 ha.
 Tổng diện tích sản xuất lớn. sản lượng ít, chất lượng kém. Diện tích trồng
trọt được mở rộng nhưng phân tán, lực lượng kỹ thuật không tập trung lại thêm
thiết bị sản xuất thấp, chất lượng kém ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả
kinh tế. Theo thống kê năm 1996 diện tích trồng hoa của Trung Quốc là 75.000
ha, giá trị 600 triệu đơm Mỹ. Trong khi đó tại Hà Lan trồng 8017 ha giá trị sản
lượng 3 tỷ 590 triệu đôla Mỹ gấp 56 lần Trung Quốc.
 Trang thiết bị trồng trọt lạc hậu, hàm lượng kỹ thuật cao ít. Tỷ lệ thiết bị
tiên tiến trong trồng trọt rất nhỏ, cách trồng cổ truyền văn chiếm ưu thế gây lên
sản lượng thấp, chất lượng kém, mùa vụ sản xuất không phù hợp với nhu cầu lúc
cần, khả năng cung ứng hoa quanh năm không mạnh do đó giá cả không ổn định,
hiệu quả kinh tế thấp. Nghề trồng hoa ở Hà Lan đã áp dụng rộng rãi nhu cầu
công nghiệp hoá tự động hoá và trên 80% hoa được trồng trong môi trường
không cần đất.
II.1.1.2/ Tình hình sản xuất Đồng Tiền hoa trong nước:
Ở nước ta hoa Đồng Tiền được trồng tập trung và chủ yếu ở các vùng trồng
hoa truyền thống như là: Ngọc Hà, Sa Pa, Đà Lạt…
Hiện nay, diện tích trồng hoa của cả nước chiếm khoảng 2000ha chiếm
0.02% diện tích đất trồng trọt, trong đó dẫn đầu là Hà Nội (500ha); Nam Định
(390ha); Hải Phòng(320ha)(Nguyễn Xuân Linh 1998)
Năm 2001 diện tích trồng hoa chuyên canh đã tăng lên 3500ha, trong đó
hơn 100ha được thâm canh cao trong các nhà lồng, nhà kính, nhà lưới.
Công tác chọn tạo giống mới chậm so với sản xuất. Hiện nay giống trong
sản xuất rất ít, đa số là giống nhập từ nước ngoài, không tự sản xuất được, các
giống trồng trong sản xuất đã lạc hậu, biểu hiện ở năng suất thấp, không được
tươi lâu cây dễ nhiễm sâu bệnh... Đầu tư cho cơ quan khoa học về hoa cắt rất ít
nên còn rất nhiều vấn đề về chọn tạo giống, nhân giống ứng dụng công nghệ cao
vào sản xuất bảo quản, xử lý hoa.
Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách đầu tư phát triển như:
 Nhập nội, chọn lọc, lai tạo giống hoa mới chất lượng cao.
 Áp dụng các công nghệ mới cho nghề trồng hoa ( nhà lưới,b sản
xuất cây giống sạch bệnh….)
 Đầu tư cơ sở vật chất cho nghề trồng hoa.
 Đào tạo đội ngũ cán bộ nâng cao hiểu biết về hoa, giống, phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật…
II.2/ Giới thiệu về hoa Đồng Tiền
II.2.1/ Nguồn gốc và sự phân bố:
Tên khoa học: Gerbera (Tên gọi Gerbera được đặt theo tên nhà tự nhiên học
người Đức Traugott Gerber, một người bạn của Carolus Linnaeus.)
Tên Việt Nam: Đồng Tiền hoặc Cúc Đồng Tiền.
Họ: Asteraceae
Bộ: Asterales
Nguồn Gốc: Có khoảng 30-100 loài sống hoang dã, phân bổ ở Nam Mỹ, châu
Phi đại lục, Madagascar và vùng nhiệt đới châu Á. Miêu tả khoa học đầu tiên về
chi Gerbera đã được J.D. Hooker thực hiện trong tạp chí thực vật Curtis năm
1889 khi ông miêu tả Gerbera jamesonii, một loài ở Nam Phi được biết dưới tên
gọi cúc Transvaal hay cúc Barberton.
Ở Việt Nam hoa Đồng Tiền được trồng phổ biến và rộng rãi.
II.2.2/ Đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của cây hoa Đồng Tiền:
Thân, lá: thân ngầm, không phân cành mà chỉ đẻ nhánh, lá và hoa phát triển từ
thân. Lá mọc chếch so với mặt đất một góc 15o – 45o.Lá có hình lông chim, xẻ
thùy nông hoặc sâu, mặt lưng lá có lớp lông nhung.
Rễ: thuộc loại rễ chùm, phát triển khỏe, rễ hình ống ăn ngang và nổi phía trên
mặt luống, rễ thường vươn dài tương ứng với diện tích lá tỏa ra.
Hoa: đồng tiền do hai loại hoa nhỏ hình lưỡi và hình ống tạo thành, là loại hoa tự
đơn hình đầu. Hoa hình lưỡi tương đối lớn mọc ở phía ngoài xếp thành một vòng
hoặc vài vòng nhỏ, do sự thay đổi hình thái và mầu sắc nên được gọi là mắt hoa
hoặc tâm hoa rất được chú trọng. Trong quá trình hoa nở, hoa hình lưỡi nở trước,
hoa hình ống nở theo thứ tự từ ngoài vào trong, theo từng vòng một.
Quả: quả đồng tiền thuộc dạng quả bế có lông, không có nội nhũ, hạt nhỏ, một
gam hạt có khoảng 280 - 300 hạt (Đặng Văn Đông và cs, 2003).
PHẦN III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


III.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu:
III.1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là giống Gerbera.
III.1.2Vật liệu nghiên cứu:
- Các nụ hoa non khoẻ mạnh, không sâu bệnh.
- Các thiết bị, dụng cụ và hoá chất trong nuôi cấy mô, tế bào bao gồm:
+ Thiết bị và dụng cụ: nồi hấp khử trùng, bình tam giác, đèn cồn, box cấy vô
trùng.
+ Hoá chất: dung dịch MS, cồn 70o và 90o, một số phytohoocmon như BAP,
Kinetin, NAA, IBA, chất khử trùng HgCl2...
+ Ngoài ra còn sử dụng một số chất khác như: agar, đường saccarose
III.1.2Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: phòng nuôi cấy mô hoa cây cảnh – Bộ môn đột biến
và Ưu thế lai – Viện Di truyền Nông nghiệp.
Thời gian nghiên cứu: từ 6 tháng 12 đến hết 7 tháng 3
III.2 Nội dung nghiên cứu
III.2.1Giai đoạn trong phòng
III.2.1.1Giai đoạn khử trùng mẫu
Thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng HgCl2 0.1%
đến tỷ lệ mẫu nhiêm. Thời gian khử trùng trong 1, 3, 5 và 6 phút.Môi trường MS
cơ bản
CT1: Khử trùng trong 5 phút
CT2: Khử trùng trong 7 phút
CT3: Khử trùng trong 10 phút
CT4: Khử trùng trong 15 phút
Thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng Oxy già
(H2O2) đến tỷ lệ mẫu nhiêm. Thời gian khử trùng trong 15 phút.Môi trường MS
cơ bản
CT1: Khử trùng nồng độ 25%
CT2: Khử trùng nồng độ 30%
CT3: Khử trùng nồng độ 35%
CT4: Khử trùng nồng độ 40%


III.2.1.2Giai đoạn tái sinh nhân nhanh chồi
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP trong môi trường
MS đến khả năng phát sinh chồi. Môi trường MS, bổ sung BAP ở các
nồng độ khác nhau: 0.2 mg/l; 0.4; 0.6; 0.8; 1.0 mg/l
CT1: MS (đối chứng)
CT2: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.1 mg/l BAP
CT3: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.3 mg/l BAP
CT4: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.5 mg/l BAP
CT5: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.7 mg/l BAP
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP và Kinetin trong
môi trường MS đến quá trình nhân nhanh.
CT1: MS (đối chứng)
CT2: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.1 mg/l BAP + 0.1mg/l Kinetin
CT3: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.3 mg/l BAP + 0.1mg/l Kinetin
CT4: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.5 mg/l BAP + 0.1mg/l Kinetin
CT5: MS + 30g saccarose + 6,5g Aga + 0.7 mg/l BAP + 0.1mg/l Kinetin
III.3/ Các chỉ tiêu theo dõi
III.3.1/Các chỉ tiêu theo dõi trong phòng

Tỷ lệ mẫu nhiễm (%) = × 100

Tỷ lệ mẫu chết (%) = × 100

Tỷ lệ mẫu sống (%) = 100% - Tỷ lệ mẫu nhiễm - Tỷ lệ mẫu chết

Tỷ lệ mẫu phát sinh chồi (%) = × 100

Hệ số nhân chồi (lần/tháng) =

Chiều cao chồi trung bình (cm/cây) =

Chất lượng chồi:
+++: Tốt (chồi mập, lá to, xanh đậm)
++: Trung bình (chồi to trung bình, lá to trung bình, xanh)
+: Kém (chồi nhỏ, lá nhỏ, xanh nhạt hoặc vàng)

Số lá trung bình (lá/chồi) =

Độ dài của rễ (cm/rễ) =
Số rễ trung bình (rễ/cây) =

III.3.2Các chỉ tiêu theo dõi ngoài vườn ươm

Tỷ lệ cây sống (%) = × 100

Chiều cao cây trung bình (cm/cây) =

Số lá trung bình (lá/cây) =

Đường kính tán (cm/cây) =

Thời gian sinh trưởng, phát triển (ngày)
III.4 Xử lý số liệu
Bố trí thí nghiệm theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên và số liệu được
xử lý theo chương trình Excel và IRRISTAT.
Phần V
Kết quả và thảo luận
IV.1/ Thí nghiệm khử trùng mẫu:
Đây là giai đoạn đưa đối tượng nuôi cấy từ điều kiện bình thường vào nuôi
cấy vô trùng trong ống nghiệm. Vì vậy, đối với tất cả các loại cây trồng khác
nhau việc xác định phương pháp khử trùng thích hợp có vai trò quyết định tới sự
thành công của quá trình nghiên cứu invitro. Giai đoạn này cần các yêu cầu sau;
tỉ lệ nhiễm thấp, tỉ lệ sống cao, mẫu phân hóa và sinh trưởng tốt
Bảng 1: Hiệu quả của phương pháp khử trùng bằng HgCl2 0.1%
Nồng Thời Số mẫu Số mẫu Số mẫu Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ tái
độ đưa vào chết nhiễm chết nhiễm
gian sinh
khử
HgCl2 (%) (%) (%)
(%) (Phút)
0,1 5 30 0 9 0 30 70
0,1 7 30 0 6 0 20 80
0,1 10 30 1 2 3 6 91
0,1 15 30 5 1 16 3 81




Bảng 2: Hiệu quả khi khử trùng bằng H2O2
Nồng Thời Số mẫu Số mẫu Số mẫu Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ tái
độ H2O2 đưa vào chết nhiễm chết nhiễm
gian sinh
khử
(%) (%) (%) (%)
(Phút)
25 15 30 0 13 0 43 57
30 15 30 0 10 0 33 67
35 15 30 4 9 13 30 57
40 15 30 5 9 16 30 54
Qua kết quả thu được từ 2 phương pháp trên chúng tôi thấy rằng phương
pháp khử trùng bằng HgCl2 0.1% trong 10 phút và Oxy già 30% trong 15 phút
cho hiệu quả cao.
Sau khi khử trùng phải ngâm mẫu vào trong nước cất vô trùng 15 phút rồi
tráng lại nhiều lần bằng nước cất. Trước khi cấy phải cắt bỏ bớt phần vết cắt có
tiếp xúc với chất khử trùng để tránh làm chết mẫu.
Kết Luận: Để tạo được nguồn vật liệu sạch ban đầu cho quá trình nhân
nhanh cây hoa Đồng Tiền caand thực hiện phương pháp khử trùng như sau:
Chọn nọ hoa non khỏe mạnh→Mẫu được cắt bớt phần cuống chỉ để lại 7-
10cm→ Rửa sạch dưới vòi nước sạch→ Ngâm trong nước xà phòng loãng 15
phút→ Rửa vài lần bằng nước sạch→Ngâm trong nước 15 phút→ Tráng lại bằng
nước cất→ tráng bằng cồn 70% trong 1 phút→ Rửa lại bằng nước cất vô trùng
2-3 lần→ Ngâm trong HgCl2 10 phút →rửa lại nhiều lần và ngâm trong nước cất
vô trùng→ Tráng lại vài lần rồi gắp vào đĩa Petri có đặt sẵn giấy thấm vô trùng
để thấm hết nước.
IV.2/ Giai đoạn nhân nhanh:
Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của một số tổ hợp chất điều tiết sinh trưởng
tới sự tái sinh trồi của cây hoa Đồng Tiền:
Các nghiên cứu ở giai đoạn này nhằm tìm ra môi trường thích hợp nhất cho
quá trình nhân nhanh chồi. Đây là giai đoạn quyết định hiệu quả và tốc độ của
công nghệ invitro, giai đoạn này cần các yêu cầu sau:
Tạo hệ số nhân giống cho hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm tối đa nguyên liệu,
sử dụng môi trường đơn giản, hóa chất rẻ và dễ kiếm.
Các trồi tạo ra phải đồng nhất về mặt di truyền, có sức sinh trưởng tốt, các
chồi này khi tạo cây hoàn chỉnh đem trồng phải có tỉ lệ sống cao, cây phát triển
mạng mẽ, tỉ lệ biến dị thấp nhất.
Để nhân nhanh cây hoa Đồng Tiền chúng tôi sử dụng phương thức tạo,
nhân nhanh chồi từ các chồi sạch được được sinh ra từ mẫu được sinh ra ở thí
nghiệm trên. Trong giai đoạn này chúng tôi lần lượt tiến hành nghiên cứu tác
dụng của các tổ hợp KIN + BAP và BAP với nồng đọ khác nhau lên sự tạo chồi
nhằm tìm ra môi trường thích hợp nhất cho quá trình nhân nhanh hoa Đồng Tiền.




Thí nghiệm 2.1 : Ảnh hưởng của BAP đến hệ số nhân:
Môi trường Số mẫu ban Số mẫu tạo Hệ số nhân
đầu thành
BAP
CT1 0.1 30 122 4.1
CT2 0.3 30 130 4.3
CT3 0.5 30 135 4.5
CT4 0.7 30 120 4
Đối chứng MS 30 82 2.7


Qua bảng kết quả chúng tôi rút ra kết luận:
Đỉnh chồi đưa vào môi trường nuôi cấy có khả năng bật chồi ngay cả trong
điều kiện môi trường cơ bản không chưa chất điều tiết sinh trưởng.Tuy nhiên số
chồi tạo ra thấp và sinh trưởng kém.
Ở môi trường MS có bổ sung BAP ở các nồng độ khác nhau thì hệ số nhân
trồi khác nhau.Quy luật chung về sự tác động của BAP đến hệ số nhân chồi của
hoa Đồng tiền trong thí nghiệm là: trong khoảng nồng độ 0,1mg/l BAP đến
0,5mg/l BAP thì hệ số nhân tăng dần theo tỉ lệ tăng nồng độ của BAP. Nếu tiếp
tục tăng dần nồng độ BAP thì hệ số nhân lại giảm dần
Vậy ở môi trường có bổ sung 0,5mg/l BAP Cây khỏe, mập, phát triển đều,
hệ số nhân đạt tới 4.5




Thí nghiệm 2.2 : Ảnh hưởng của BAP + KIN đến hệ số nhân:
Môi trường Số mẫu ban Số mẫu tạo Hệ số nhân
đầu thành
BAP KIN
CT1 0.1 0.1 30 103 3.4
CT2 0.3 0.1 30 150 5
CT3 0.5 0.1 30 130 4.5
CT4 0.7 0.1 30 123 4.1
Đối chứng MS 30 82 2.7


Qua bảng trên ta thấy ở môi trường CT3 ( 0.5mg/l BAP + 0.1KIN) hệ số
nhân là cao nhất 5 lần, Mẫu cao, mập, xanh thẫm và cây con phát triển đều.Khi
ta so với môi trường chỉ chưa 0.5mg/l BAP thì lớn hơn điều này chứng tỏ sự kết
hợp BAP và KIN có hiệu quả cao hơn khi chỉ sử dụng BAP.




Phần VI
Kết Luận và Đề Nghị




V.1/ Kết Luận
Từ những kết quả thu được chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Để tạo nguồn nguyên liệu sạch khởi đầu của cây Đồng Tiền cho quá trình
nuôi cấy invitro thì chế độ khử trùng tốt nhất là : Khử trùng bởi HgCl2
0,1% trong 10 phút với tỉ lệ tái sinh là 91%
2. Để tái sinh và nhân nhanh chồi Đồng Tiền, môi trường nhân tôt nhất là MS
có bổ sung 0.3mg/l BAP + 0.1mg/l KIN. Trên môi trường này, sau 4 tuần
nuôi cấy , cây đạt hệ số nhân cao nhất là 5
V.2/ Đề Nghị:
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu thu được trong thời gian thực tập chúng tôi
có một số đề nghị sau:
 Tiếp tục nghiên cứu tìm chế độ khử trùng tốt nhất , đơn giản nhất, ít độc hại
với người thực hiện nghiên cứu.
 Nghiên cứu ảnh hưởng của các tổ hợp chất điều tiết sinh trưởng khác tới
quá trình tạo và nhân nhanh chồi nhằm đạt hiệu quả cao, giá thành hạ.
 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình tạo rễ; tạo cây hoàn chỉnh, tìm giá
rẻ thích hợp cho quá trình ươm và đưa cây vào sản xuất trên đồng ruộng.




Phụ lục
Thành phần mô trường dinh dưỡng Murashige and Skoog – 1962 (MS)
Lượng pha 1 lít cho dung dịch mẹ Lượng lấy cho 1 lít môi
trường
1. Đa lượng:
NH4NO3 33.0g
KNO3 38.0g
Lấy 50ml/l
MgSO4 7.4g
KH2PO4 3.4g
CaCl2.4H2O 8.8g
2.Vi lượng
H3BO4 620mg
MnSO4.4H2O 2230mg
Lấy 10ml/l
ZnSO4. 4H2O 860mg
KI 83mg
MoO4Na.2 H2O 25mg
CoCl2.6 H2O 2.5mg
CuSO4.5 H2O 2.5mg
3.Sắt
Lấy 5ml/l
FeSO4.7 H2O 5.56mg
Na2EDTA 7.46mg




4.Vitamin
Glycine 400mg
Axit Nicotinic (B5) 100mg
Lấy 5ml/l
Pyricloxin (B6) 100mg
Thiamin HCL (B1) 200mg


Ionsitol 100mg/l
Agar 6,5g/l
Đường Saccaroza 20mg/l
pH: 5,7 – 5,8
Tài liệu tham khảo


1./ Giáo trình sinh lý thực vật ( Nguyễn Quang Thạch – Hoàng Minh Tấn: NXB
Nông Nghiệp 1996)
2./ Cách sử dụng chất điều hòa sinh trưởng và vi lượng đạt hiệu quả ( Lê Văn Tri
: NXB Khoa học và Kĩ thuật Hà Nội -1992)
3./ Hoa và Kĩ thuật trồng hoa (Nguyễn Xuân Linh; NXB Nông Nghiệp-1998)
4./Nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nghiên cứu mô cây trồng (Nguyễn Văn
Uyển và Cộng sự)

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản