Báo cáo tham luận: Vườn quốc gia Tam Đảo, vai trò và tầm quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường của đồng bằng Bắc Bộ và Việt Nam

Chia sẻ: Pt1506 Pt1506 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:59

2
1.146
lượt xem
308
download

Báo cáo tham luận: Vườn quốc gia Tam Đảo, vai trò và tầm quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường của đồng bằng Bắc Bộ và Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khu nghỉ mát Tam Đảo (nay là thị trấn Tam Đảo, Tam Đảo 1) đã trải qua hơn 100 năm xây dựng và phát triển. Thời điểm được tính từ khi người Pháp khởi công xây dựng con đường từ chân núi lên thị trấn vào năm 1904. Thời gian xây dựng con đường này kéo dài tới 12 năm, hoàn thành vào năm 1916.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tham luận: Vườn quốc gia Tam Đảo, vai trò và tầm quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường của đồng bằng Bắc Bộ và Việt Nam

  1. BÁO CÁO THAM LUẬN: VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ VIỆT NAM TS. Trần Đình Nghĩa Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội, 9-2007
  2. MỤC LỤC BÁO CÁO I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO................................... 2 I.1. Tam Đảo – địa danh nổi tiếng đối với nghiên cứu đa dạng sinh học...............2 1.2. Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển Vườn quốc gia Tam Đảo .........3 1.3. Các hoạt động và thành tựu của VQG Tam Đảo.............................................5 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VQG TAM ĐẢO................................................................ 6 2.1. Vị trí địa lí:.......................................................................................................6 2.2. Địa hình, địa mạo.............................................................................................8 2. 3. Địa chất.........................................................................................................10 2.4. Khí hậu...........................................................................................................13 2.5. Mạng lưới thủy văn........................................................................................16 2.6. Phân vùng sinh thái VQG Tam Đảo..............................................................20 3. GIÁ TRỊ ĐA DẠNG SINH HỌC ............................................................................. 21 3. 1. Đa dạng loài và giá trị bảo tồn......................................................................21 3.2. Thảm thực vật, các sinh cảnh của VQG Tam Đảo ........................................33 4. VAI TRÒ VQG TAM ĐẢO ĐỐI VỚI BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ VIỆT NAM........ 40 4.1. Vườn Quốc gia Tam Đảo trong bối cảnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ ...........................................................................................................40 4.2. Vai trò của VQG Tam Đảo đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. .......41 4.3. Vai trò đối với môi trường.............................................................................43 5. VÙNG DỰ ÁN TAM ĐẢO 2, HIỆN TRẠNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ................................. 47 5.1. Dự án Quy hoạch xây dựng khu Du lịch sinh thái Tam Đảo (Tam Đảo 2) và Tây Thiên .............................................................................................47 5.2. Hiện trạng đa dạng sinh học và môi trường. .................................................49 5.3. Các nguy cơ đe dọa đa dạng sinh học và môi trường tiểm ẩn trong Dự án xây dựng khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2..............................53 5.4. Du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Tam Đảo...............................................55 1
  3. VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ VIỆT NAM I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO I.1. Tam Đảo – địa danh nổi tiếng đối với nghiên cứu đa dạng sinh học Khu nghỉ mát Tam Đảo (nay là thị trấn Tam Đảo, Tam Đảo 1) đã trải qua hơn 100 năm xây dựng và phát triển. Thời điểm được tính từ khi người Pháp khởi công xây dựng con đường từ chân núi lên thị trấn vào năm 1904. Thời gian xây dựng con đường này kéo dài tới 12 năm, hoàn thành vào năm 1916. Từ đó việc đi lại từ Hà Nội lên Tam Đảo dễ dàng hơn, các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng, thưởng ngoạn và khảo sát thiên nhiên triển khai rầm rộ. Các hoạt động khảo sát thực vật học đã được tiến hành rất sớm, ngay từ khi người Pháp phát hiện ra Tam Đảo, bằng chứng là Trà hoa vàng ở Tam Đảo đã được phát hiện và công bố vào năm 1910. Các nhà lâm học, nông học, các nhà nghiên cứu nghiệp dư người Pháp khác đã thu thập nhiều mẫu động, thực vật cung cấp cho các viện nghiên cứu, các bảo tàng thiên nhiên ở Pháp cũng như nhiều nước khác. Rất nhiều loài mới đã được phát hiện và sức thu hút của Tam Đảo ngày càng tăng trong giới những người yêu thích thiên nhiên và khảo cứu vạn vật học chẳng những ở Pháp, mà cả ở các nước khác. Tính đặc sắc của Tam Đảo còn ở chỗ là vùng núi cao bị bao quanh bởi đồng bằng, giống như một hòn đảo, cách li với vùng núi cao ở phía bắc Việt Nam nên tỉ lệ các loài đặc hữu cao, tồn tại cả các đặc hữu hẹp như Cá cóc Tam Đảo. Tam Đảo được liệt vào một trong sáu địa danh nổi tiếng cho nghiên cứu sinh học ở Việt Nam, lại ở gần Hà Nội, đi lại dễ dàng nên là địa điểm rất thuận tiện cho các nghiên cứu giám sát môi trường dài kì. Con số ba và tên gọi của hai khối núi hùng vĩ nhất vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Tên hai khối núi hùng vĩ nổi lên trên phần phía tây-bắc vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ đều gắn liền với con số ba – Tam Đảo, Ba Vì. Đối với Ba Vì, một khối núi không dài lắm thì ba đỉnh cao nhất: Đỉnh Vua (1296m), Tản Viên (1227m), Ngọc Hoa (1131m) là biểu tượng đã mang lại tên gọi cho toàn bộ khối núi. Còn dẫy Tam Đảo dài gần 80km, nhiều đỉnh núi cao, đỉnh cao nhất 1590m lại nằm trên mốc địa giới phân chia ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên không dễ gì nhìn thấy từ vùng đồng bằng, vậy mà vẫn mang tên Tam Đảo, tại sao vậy? Các cư dân cao tuổi ở Thôn Hai thị trấn Tam Đảo, dòng họ của các cụ đã sống ở đây trên dưới một thế kỉ, đã lí giải bằng việc nêu ra hiện tượng thiên nhiên đẹp, bình dị nhưng cũng rất nên thơ. Đó là hàng ngày vào lúc bình minh, khi những tia nắng đầu tiên chiếu xuống đồng bằng, mây mù xuất hiện, bốc lên và kết thành biển mây che phủ toàn bộ đồng bằng, khi ấy dứng trên đỉnh Ba Vì nhìn về Tam Đảo, trên biển mây trắng đục nhìn thấy một khối núi sẫm mầu với ba đỉnh cao, đó là Rùng Rình (Phù Nghĩa, 1290m), Thạch Bàn (1385m) và Thiên Thị (1300m). Còn từ Tam Đảo cũng nhìn thấy, về phía tây-nam ba đỉnh Tản Viên, Ngọc Hoa và Đỉnh Vua sừng sững bên trên biển mây đó. Mặt trời lên cao, biển mây tan biến Tam Đảo, Ba Vì như gần nhau lại, cả hai dãy núi gắn liền với cánh đồng, làng mạc xung quanh. Chiều tà và hoàng hôn buông xuống, khi gió nồm nam thổi từ biển vào mang theo hơi nước, gặp hơi nóng bốc lên từ đồng bằng cũng bị nâng lên rồi kết lại thành mây; Tam Đảo, Ba Vì lại bị tách xa nhau, ngăn cách và chỉ nhìn thấy nhau qua biển mây đồng bằng. Vào mùa hè cảnh hoàng hôn ở Tam Đảo thì rất đẹp, bầu trời nhiều mầu sắc và thay đổi cũng rất nhanh, nhất là khi nhìn về đồng bằng, nhìn sang Ba Vì. Các cụ cũng còn nhớ nhiều câu thơ về cảnh sắc thiên nhiên của hai bờ Ba Vì – Tam Đảo. Sưu tầm từ nhân dân, học hỏi từ di cảo của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chắc chắn sẽ mang lại nhiều điều bổ ích để hiểu biết thêm về Tam Đảo và những tâm hồn gắn bó với vùng đất này. 2
  4. Hình 1.1: Ba đỉnh núi làm nên Tam Đảo: Phù Nghĩa (Rùng Rình, 1290m), Thạch Bàn (1385m), Thiên Thị (1300) nhìn từ phía thị trấn Tam Đảo (Nguồn ảnh:TĐN, 08.09.2007). 1.2. Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển Vườn quốc gia Tam Đảo Tam Đảo là một trong những khu rừng cấm quốc gia đầu tiên của Việt Nam, được thành lập vào năm 1977, sau khi dất nước hoàn toàn giải phóng, sau đó được nâng lên thành Vườn Quốc gia Tam Đảo vào năm 1996. Quá trinh hình thành, xây dựng, phát triển của VQG được tóm lược như sau: Ngày 24.1.1977 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 41/TTg về việc thành lập khu rừng cấm Tam Đảo: - Diện tích là 19.000 ha. - Nằm trên địa phận của 3 tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang . - Ranh giới khu rừng cấm Tam Đảo được xác lập từ độ cao 400 m (so với mực nước biển) trở lên và giao cho Chi cục kiểm lâm 3 tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang có trách nhiệm quản lý và bảo vệ khu rừng cấm Tam Đảo . Còn diện tích rừng và đất rừng của núi Tam Đảo từ độ cao 400 m trở xuống vẫn giao cho các lâm trường quốc doanh là Tam Đảo , Lập Thạch của tỉnh Vĩnh Phú ; Lâm trường Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang và lâm trường Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên để tổ chức sản xuất và kinh doanh như trồng rừng và khai thác rừng .Chính vì vậy mà rừng tự nhiên của núi Tam Đảo từ độ cao 400 m trở xuống cơ bản đã bị tàn phá hết trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1990. Ngày 9.8.1986 Chủ tich hội đồng bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chính phủ ) đã ra quyết định số 194/CT về việc công nhận một hệ thống các khu rừng cấm của Việt Nam, trong đó có khu rừng cấm Tam Đảo . Đồng thời giao trách nhiệm cho bộ Lâm nghiệp (cũ) và UBND các tỉnh, thành phố có rừng cấm sớm điều tra, quy hoạch xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật cho các khu rừng cấm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. 3
  5. Thực hiện tinh thần quyết định trên, Bộ Lâm nghiệp đó giao nhiệm vụ cho viện điều tra quy hoạch rừng phối hợp với UBND tỉnh và các cơ quan Lâm nghiệp của 3 tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang để lập dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo . Công tác điều tra, khảo sát để có cơ sở xây dựng dự án khả thi đầu tư cho Vườn quốc gia Tam Đảo được bắt đầu từ cuối năm 1990. và sau một số lần trình bày tại hội đồng thẩm định quốc gia (có bổ sung) đến cuối năm 1995 dự án khả thi xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo đã được hội đồng thẩm định quốc gia thông qua và trình chính phủ xem xét phê duyệt. Ngày 6.3.1996 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 136/TTg về việc phê duyệt dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo trên cơ sở nâng cấp và mở rộng rừng cấm quốc gia Tam Đảo được thành lập theo Quyết định số 41/TTg ngày 24 tháng 1 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó Vườn quốc gia Tam Đảo có tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha và diện tích vùng đệm 15.515 ha.với các nhiệm vụ chính sau đây: − Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng trên núi Tam Đảo − Bảo vệ nguồn gen các loài động, thực vật rừng quý hiếm. Đặc biệt là các loài động, thực vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên. − Thực hiện công tác nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và dịch vụ khoa học; tạo môi trường tốt phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, du lịch và nghỉ mát. − Tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục phổ cập cho nhân dân lòng yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ rừng . − Thực hiện vai trò giữ và điều tiết nước của khu vực đầu nguồn, góp phần cải thiện môi sinh cho vùng đồng bằng, trung du bắc bộ và thủ đô Hà Nội . − Tham gia tổ chức việc tham quan du lịch và nghỉ mát. − Góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân trong vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo được chia thành 3 phân khu chức năng sau đây: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: + Diện tích 17.295 ha, + Ranh giới: Tính từ độ cao 400 m (so với mặt nước biển) trở lên; + Chức năng: bảo vệ nghiêm ngặt, cấm mọi tác động làm ảnh hưởng đến động vật, thực vật rừng và cảnh quan thiên nhiên trong phân khu. (Quy hoạch khu du lịch sinh thái Tam Đảo II nằm toàn bộ trong phân khu này). Phân khu phục hồi sinh thái: + Diện tích là 17.286 ha; + Chức năng: bảo vệ được rừng hiện có; khoanh nuôi rừng nơi còn khả năng tái sinh tự nhiên; trồng rừng mới nơi đất trống nhằm phục hồi diện tích rừng đã bị phá hoại và bảo vệ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Phân khu nghỉ mát, du lịch: 4
  6. + Diện tích: 2.302 ha (bao gồm cả diện tích đất thị trấn Tam Đảo ) + Nằm ở sườn núi Tam Đảo thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc), bao quanh thị trấn Tam Đảo. + Chức năng: Tạo điều kiện thuân lợi để phát triển khu Hình 1.2: Trụ sở VQG Tam Đảo tại Km 13 xã du lịch sinh thái, thu hút Hồ Sơn, Huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc khách du lịch trong và ngoài nước đến nghỉ ngơi và tìm hiểu thiên nhiên Việt Nam. Ngày 15.5.1996, thực hiện quyết định số 136/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ra quyết định số 601.TC-BNN về việc thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn . Vườn quốc gia Tam Đảo đã được thành lập từ đó và hoạt động theo các nhiệm vụ được quy định tại quyết định số 136/TTg của Thủ tướng Chính phủ. 1.3. Các hoạt động và thành tựu của VQG Tam Đảo. - Hoàn thiện bộ máy hành chính và các phòng ban, trung tâm chức năng: + Trụ sở VQG đặt tại: Km 13 xã Hồ Sơn huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc . + Hệ thống quản lý bảo vệ rừng gồm 17 trạm kiểm lâm bảo vệ rừng. + Trung tâm nghiên cứu và dịch vụ kỹ thuật . + Ban quản lý và dịch vụ du lịch . - Đã trồng được hơn 4.500 ha rừng - Khoanh nuôi hơn 10.000 ha. - Đưa độ che phủ rừng từ 61% lên 83%. - Phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng, thực thi các quy chế VQG,…. - Giải quyết nhiều việc làm cho nhân dân địa phương. - Hợp tác với nhiều tổ chức trong nướcvà quốc tế như: ĐH Lâm Nghiệp, ĐH Quốc gia Hà Nội , ĐH Thái Nguyên , ĐH Queensland, VQG Bavarian ( CHLB Đức). - Đồng tổ chức nhiều Hội thảo khoa học quốc gia có các Hiệp hội Khoa học quốc tế tham dự như Hội thảo Quốc gia về Trà hoa vàng (2002, 2007),… - Hiện nay đang triển khai Dự án quản lý Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm do Cộng hoà Liên bang Đức tài trợ. (Nguồn: Vườn Quốc gia Tam Đảo, 2007) Tam Đảo vừa là tên của thị trấn du lịch (thị trấn Tam Đảo) duy nhất nằm trên đỉnh của dãy núi cao dài tới 80km (dãy núi Tam Đảo), tên huyện (Huyện Tam Đảo) 5
  7. đồng thời cũng là tên của vườn quốc gia (Vườn quốc gia Tam Đảo). Sự trùng tên của các đơn vị lãnh thổ, đơn vị quản lí hành chính dễ gây ra những nhầm lẫn, có khi đáng tiếc, trong hiểu biết cũng như khi đề cập tới các vấn đề của các đơn vị cùng mang tên Tam Đảo. Để dễ dàng cho việc cập nhật các thông tin về các điều kiện tự nhiên, giá trị và vai trò của Vườn quốc gia Tam Đảo cũng như những hợp phần của nó đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường cần thiết phải làm sáng tỏ nội dung một số khái niệm thường được nhắc tới trong thời gian gần đây như “Tam Đảo 1”, “Tam Đảo 2”, “Vùng Dự án Tam Đảo 2”, “Vùng Tam Đảo 2” hay thực tế “Tam Đảo 1”, “Tam Đảo 2” là tên gọi cái gì? Trước hết “Tam Đảo 1” và “Tam Đảo 2” là tên gọi hai vùng đất tương đối bằng phẳng (có người gọi là thung lũng) trên dẫy núi Tam Đảo, có thể sử dụng để xây dựng khu dân cư hoặc khu nghỉ mát (du lịch). Tam Đảo 1 là vùng được phát hiện đầu tiên và người Pháp đã xây dựng ngay vào đầu thế kỉ trước thành Khu nghỉ mát, sau này được gọi là Thị trấn Tam Đảo. Tam Đảo 2 được phát hiện muộn hơn, cách Khu nghỉ mát đến 19km đường đi bộ (khoảng gần 11km đường chim bay) về phía tây-bắc nhưng lại hấp dẫn hơn do diện tích rộng gấp ba lần, lại ở độ cao hơn tới 200m. Ý tưởng sử dụng cho các hoạt động du lịch đã xuất hiện và thực thi từ trước năm 1954. Dựa vào các dấu tích còn lại (các đường mòn xếp kè đá) thì hình thức hoạt động có lẽ là du lịch khảo cứu và thưởng ngọan thiên nhiên (du lịch sinh thái). Do vậy ranh giới của “Tam Đảo 1”, “Tam Đảo 2” là ranh giới tự nhiên, rất xa nhau, không phải từ Đỉnh Rùng Rình trở đi là bắt đầu Tam Đảo 2 như một số người lầm tưởng. “Vùng Tam Đảo 2” là phần đất bằng phẳng được phát hiện muộn hơn (Tam Đảo 2) bao gồm cả phần đất ngập nước, thường xuyên hoặc tùng thời kì (Ao Dứa) và vùng rừng cao hơn cho đến sát địa giới Vĩnh Phúc – Thái Nguyên, kéo dài về phía đông đến quèn núi đi sang xã Ký Phú (huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Vùng này được người dân gọi là Rừng ma ao dứa. “Vùng Dự án Tam Đảo 2” là một khái niệm có thể đã được hiểu theo nhiều cách. Nếu chỉ là 300 hécta như các thông tin thường đề cập thì chỉ là vùng xây dựng thị trấn du lịch và chỉ gồm phần giữa và phần phía tây của Rừng ma ao dứa kéo về phía bắc cho đến địa giới tỉnh; như vậy diện tích làm đường từ Đạo Trù lên, đường bộ, đường thoát hiểm, đường cáp treo,…từ Tam Đảo 2 về Tây Thiên và Tam Đảo 1 là chưa được đề cập đến. Còn nếu bao gồm tất cả các hạng mục theo ý tưởng thiết kế Dự án thì diện tích thực tế mà Dự án Tam Đảo 2 sử dụng sẽ tăng lên nhiều, đến vài ba lần. 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VQG TAM ĐẢO 2.1. Vị trí địa lí: Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong khoảng 21o 21’ đến 21o 42’ độ vĩ bắc, 105o 23’ đến 105o 44’ độ kinh đông. Địa giới hành chính Vườn Quốc gia được giới hạn như sau: - Phía bắc là đường quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua Đèo Khế. 6
  8. - Phía đông-bắc bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp quốc lộ 13A tại xã Phú Xuyên huyện Đại Từ. - Phía nam bởi ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc; Phổ Yên, Đại Từ thuộc Thái Nguyên. - Phía tây-nam bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ Đường 13A tại xã Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã Mỹ Khê bên hồ Đại Lải. Hình 2.1: Bản đồ Vườn Quốc gia Tam Đảo và vị trí Tam Đảo 2 7
  9. Hợp phần rất quan trọng của Vườn Quốc gia Tam Đảo được nhắc đến nhiều lần trong báo cáo này là Tam Đảo 2 có vị trí địa lí nằm trong phạm vi các tọa độ sau: 21o 31’ 04” đến 21o 39’ 46” độ vĩ bắc, 105o 35’ 41” đến 105o 37’ 32” độ kinh đông Tam Đảo 2 là vùng tương đối bằng phẳng, nằm giáp với đường đỉnh núi, về phía Vĩnh Phúc, bên trên khu Tây Thiên, kéo dài về phía đông đến quèn núi đi sang xã Ký Phú (Đại Từ, Thái Nguyên). 2.2. Địa hình, địa mạo Vườn Quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ sộ, nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng tây-bắc – đông- nam. Cả khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dầy. Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn. Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới địa chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Chiều ngang biến động trong khoảng 10-15km. Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35 độ nên rất hiểm trở và khó đi lại. Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thành bốn kiểu địa hình chính: - Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối cấp III. Phân bbố ở phần trên của khối núi. Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn. Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa và thấp dần về hai đầu nhưng độ chênh không rõ), chạy dài gần 80km theo hướng tây-bắc – đông-nam nên nó như một bức bình phong chắn gió mùa đông-bắc tràn về đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Vì vậy ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu và thủy văn trong vùng. (Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo). Nghiên cứu chi tiết vùng Tam Đảo 2, Đặng Văn Bào (2006) cho rằng khu vực này có địa hình khá bằng phẳng dạng lòng chảo rộng khoảng 300 ha, ở độ cao 1100- 1150m. Vùng phía Bắc có địa hình khá dốc, cao từ 700-1350m, vùng phía Tây có độ dốc thoải hơn phía Bắc, độ cao thay đổi từ 700-1100m, vùng phía Nam địa hình tương đối dốc thay đổi từ 800-1100m và xuất hiện nhiều cliff (vách trượt của đứt gẫy kiến tạo); vùng Đông – Nam có độ cao thay đổi từ 800-1200m. Tác giả đã chia địa hình vùng Tam Đảo 2 thành 15 dạng và gộp vào 4 nhóm (xem bản đồ): Địa hình bóc mòn trên đỉnh núi 1.Bề mặt đỉnh núi sót do bóc mòn, cao 1320 – 1400m 8
  10. 2.Bề mặt san bằng trên đỉnh núi, cao 1300 – 1375m Địa hình bóc mòn nghiêng thoải trên sườn khối núi 3.Bề mặt san bằng trên sườn khối núi, cao 1200 – 1250m 4.Bề mặt san bằng trên sườn khối núi, cao 1150 – 1175m 5.Bề mặt san bằng trên sườn khối núi, cao 1075 – 1125m 6.Bề mặt san bằng trên sườn khối núi, cao 925 – 1025m Địa hình sườn dốc 7.Sườn đổ lở, dốc trên 45o 8.Sườn bóc mòn dốc trên 30o, nhạy cảm đổ lở đá 9.Sườn bóc mòn - xâm thực dốc 20 – 30o, nhạy cảm trượt lở đất 10.Sườn bóc mòn - xâm thực dốc 15 – 20o, nhạy cảm trượt lở đất Địa hình thung lũng và trũng trên núi 11.Đáy trũng rửa trôi - tích tụ 12.Bề mặt rửa trôi - tích tụ rìa đáy trũng 13.Sườn rửa trôi - tích tụ nghiêng thoải rìa trũng 14.Đáy khe suối xâm thực - tích tụ thoải 15.Đáy khe suối xâm thực dốc Vị trí cũng như tương quan diện tích các dạng địa hình này được thể hiện trên bản đố của tác giả kèm theo dưới đây. Hình 2.2: Bản đồ Địa mạo Khu vực Tam Đảo 2 (Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2.) 9
  11. 2. 3. Địa chất 2.3.1.Cấu tạo địa chất: Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo từ đá phun trào axít tuổi Triat thuộc hệ tầng Tam Đảo (T2td). Thành tạo phun trào này kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam với chiều dài khoảng 80km, rộng khoảng 10km, có quan hệ kiến tạo với các thành tạo tuổi Devon ở phía Bắc và Tây Nam. Các đá phun trào Tam Đảo bị xâm nhập phức hệ Núi Điêng xuyên cắt. Hệ tầng phun trào axit Tam Đảo bao gồm chủ yếu là đá riolit, riolit pocphia, riodacit và tuf của chúng, bề dày tổng cộng khoảng 800m. Đá riolit chứa các ban tinh fenspat và thạch anh cỡ nhỏ đến vừa, chiếm khoảng 5-10% khối lượng. Thành tạo riolit Tam Đảo bị phân cắt bởi hệ thống khe nứt, tạo ra các khối kích thước khác nhau, bị ép thành tấm, đôi chỗ thành phiến, dập vỡ mạnh. Lấp đầy các khe nứt trong đá là các mạch thạch anh. Liên quan đến động đất, theo tài liệu Nguyễn Đình Xuyên (2003), khu vực Tam Đảo nằm trong vùng phát sinh động đất với Mmax=68, đã có lần xảy ra động đất có chấn cấp I=VII. (Nguồn: Đặng Trung Thuận 2006: Báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vũng Tam Đảo 2). Theo tài liệu của Tổng cục Địa chất, tuổi tuyệt đối mẫu cục lấy ở khu nghỉ mát Tam Đảo là 267 triệu năm, hơi cao hơn rionit ở dãy Phiabioc có tuổi từ 230 đến 240 triệu năm. Như vậy rionit Tam Đảo có tuỏi Triat giáp Nori. Ở phần phía tây của vùng (mỏ thiếc), các thể xâm nhập granit kết hợp chặt chẽ với rionit kết tinh khá cao (giống ở dãy núi pháo Đồng Hỷ) chỉ có các đá granit chứa thiếc chắc chắn có tuổi trẻ hơn (ở cuối chân núi xuất hiện cuội kết thuộc trầm tích kỷ Jura), Trong quá trình phát sinh và phát triển của địa hình và lịch sử địa chất đã tạo nên một số loại khoáng sản có nguồn gốc nội sinh như thiếc, vonfram. Hiện nay (1992) mỏ này đang được khai thác. Diện tích mỏ lên đến hàng nghìn hecta, nằm ở phía bắc khu bảo tồn. Nhìn chung các lọai đá này rất cứng. Thành phần khoáng vật có nhiều thạch anh, mouscovit khó bị phong hóa và hình thành các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị xói mòn và rửa trôi, nhất là những nơi có độ dốc cao hơn 35o. Đất bị xói mòn rất mạnh để trơ lại tầng đá gốc cứng rắn. Nếu vì một lí do nào đó làm lớp phủ rừng bị phá hoại trên lập địa này, thì dù có đầu tư cao cũng khó phục hồi lại lớp phủ rừng như xưa. (Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo). Khu vực Tam Đảo 2 cấu tạo chủ yếu từ đá riolit có nhiều mạch thạch anh, bị ép tấm và dập vỡ mạnh làm giảm độ gắn kết. (Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2). 10
  12. 2.3.2. Vỏ phong hóa và lớp thổ nhưỡng Trong phạm vi toàn bộ dãy núi Tam Đảo, các nhà Lâm học đã phân biệt 4 loại đất và khái quát chúng trong bảng sau: Bảng 2.1.: Đặc trưng các loại đất VQG Tam Đảo Loại đất Diện tích Các đặc trưng Phân bố 1. Đất feralit 8968 ha Phát triển trên đá mácma axit kết tinh Phân bố từ độ cao 700- mùn vàng nhạt chua riolit, dacit, granit. Tầng đất rất 1600m. Chiếm hầu hết trên núi trung 17,1% mỏng. Tầng mùn và thảm mục khá dày và các đỉnh của dãy Tam bình chỉ xuất hiện nơi có đọ dốc nhỏ. Nơi độ Đảo dốc lớn tầng đất bị xói mòn trơ lại đá gốc. 2. Đất feralit có 9292 ha Phát triển trên đá kết tinh chua. Tầng đất Phân bố xung quanh mùn vàng đỏ mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, Tầng mùn sườn Tam Đảo ở độ cao trên núi thấp 17,8% mỏng hoặc không còn vì bị xói mòn. Tầng 400-700m đá lộ đầu trên 75%. 3. Đất feralit đỏ 24641 ha Đất feralit điển hình vùng đồi, phát triển Phân bố trên các đồi cao vàng phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau. Do lớp và trung bình, cao 100- trên vùng đồi 47,0% thực bì bị mất nhưng độ dốc thấp nên 400m xung quanh dãy núi tầng đất có dày hơn hai loại đất trên. Đất Tam Đảo ít đá nổi đá lẫn. Thành phần cơ giới trung bình đến nặng 4. Đất phù sa 9794 ha Đất phù sa và dốc tụ do sông suối và Phân bố trong các thung và bồi tụ sông 18,1% sườn tích, mầu nâu đen, tầng dày. Thành lũng hẹp giữa núi và ven suối phần cơ giới trung bình, mầu mỡ, độ ẩm các sông suối lớn cao. Đã được sử dụng để trồng lúa và hoa màu. (Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo). Sự hình thành vỏ phong hóa và lớp thổ nhưỡng ở khu vực Tam Đảo 2 đã được các nhà khoa học ở ĐHKHTN chú ý sâu hơn. Theo đó Tam Đảo 2 nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, có lượng mưa lớn, thảm thực vật dày, địa hình cao và dốc, các đá phun trào axit hệ tầng Tam Đảo bị phong hóa, kết quả tạo thành lớp vỏ phong hóa có độ dày 1-1,5m, được Đặng Mai (2006) chia thành 3 kiểu vỏ: - Kiểu vỏ Saprolit trên các sườn đồi độ dốc lớn (trên 30o), lộ đá gốc, lớp đất mỏng, xen sạn sỏi thạch anh và mảnh vỡ vụn của đá phun trào. - Kiều vỏ Sialit phát triển trên đai cao hơn 1000m, trên nền aluvi-deluvi nơi phát triển rừng kín thường xanh hoặc trên những phần thấp của địa hình, nơi thường xuyên ẩm ướt ở vùng lòng chảo khu trung tâm. - Kiểu vỏ Ferosialit phát triển phổ biến trên các sườn có độ dốc vừa phải thuộc đai cao dưới 1000m, trên nền đá phun trào axit tại các bề mặt san bằng, chủ yếu là ở phần đỉnh các đồi phía tây vùng lòng chảo. Các tác giả này cũng cho rằng các yếu tố đá gốc, khí hậu, địa hình và thảm thực vật trong khu vực Tam Đảo 2 không thuận lợi cho sự tích lũy các secki oxit trong phẫu diện đất và vỏ phong hóa. Do vậy, sialit hóa và ferosialit hóa là những quá trình địa hóa đặc trưng trong sự hình thành đất và vỏ phong hóa vùng này. Đó cũng là lí do giải thích vì sao trong vùng thiếu vắng những sản phẩm phong hóa chín muồi ở mức độ cao. 11
  13. Các loại đất được phân biệt gồm: - Nhóm đất xám vàng có mùn phát triển trên VPH ferosialit - Nhóm đất xám sẫm có mùn phát triển trên VPH Sialit - Nhóm đất xám sẫm phát triển trên VPH saprolit - Nhóm đất xám vàng phát triển trên sườn tích (deluvi) - Nhóm đất xám sẫm phát triển trên sườn tích (deluvi) - Nhóm đất dốc tụ ven đồi núi phát triển trên sườn tích (deluvi) Và khuyến cáo rằng cần tiếp tục chú ý nghiên cứu các loại đất trên trầm tích deluvi hỗn độn cuội, tảng khá phổ biến trong vùng nhằm tránh can thiệp vào địa hình để đảm bảo phát triển du lịch bền vững. (Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2). 2.3.3. Tai biến địa chất Từ những kết quả khảo sát về độ dốc địa hình ở khu Tam Đảo 2, đá gốc riolit bị dập vỡ, nén ép nhiều, vỏ phong hóa phát triển nhưng chiều dày nhỏ, Chu Văn Ngợi (2006) đã chia khu Tam Đảo 2 thành các vùng tai biến địa chất tiềm năng, bao gồm tai biến trượt lở và ngập lụt. Đó là: - Vùng có nguy cơ trượt lở cao ở các sườn núi dốc, chiếm diện tích đáng kể. - Vùng có nguy cơ trượt lở trung bình ở các sườn đồi dốc thoải, phân bố hẹp hơn - Vùng có nguy cơ trượt lở thấp gồm các bề mặt đỉnh, vai địa hình và trung tâm lòng chảo, chiếm diện tích lớn nhất. - Vùng có nguy cơ ngập lụt ở trung tâm lòng chảo (Dự án gọi là vùng đất ướt tiềm năng). (Xem thêm trên bản đồ các dạng Địa hình sườn dốc, số kí hiệu 7, 8, 9, 10) (Nguồn: Đặng Trung Thuận 2006: Báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vũng Tam Đảo 2). Trần Nghi và nnk (2006) còn chú ý thêm ảnh hưởng của các hoạt động thực thi Dự án (Xây dựng cơ sở hạ tầng như mở các tuyến đường, xây dựng các khu nhà nghỉ,...) sẽ tác động trực tiếp đến môi trường tự nhiên, làm thay đổi một số điều kiện tự nhiên: giảm độ che phủ, phá hủy cân bằng sườn, thu hẹp diện tích thấm nước bề mặt, tăng diện tích bê tông hóa. Đã đề xuất thêm một vùng có nguy cơ tai biến tiềm năng nữa là Vùng có nguy cơ bị lũ quét bao gồm các thung lũng suối Thác Lác (xã Đạo Trù) và Suối Đông Thỏng (Các nhánh suối vùng đất ướt tiềm năng và hệ thống Suối Bòn Bọt (Đông Thỏng 2) cùng đổ xuống Tây Thiên). (Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2). Như vậy trong vùng Dự án Tam Đảo 2 đã ghi nhận tới 5 vùng có nguy cơ tai biến địa chất có thể gây ra trượt lở, ngập lụt, lũ quét mà sự tác động vào vùng đất này đòi hỏi một sự cẩn trọng rất cao. 12
  14. 2.4. Khí hậu Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng và có sự phân hóa theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa các đặc trưng khí hậu toàn vùng không phải là vấn đề đơn giản. Các nhà lâm học (FIPI) dựa trên các số liệu khí tượng của trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Đại Từ) để đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau: Thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao. Dựa vào các số liệu quan trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Tam Đảo (thị trấn Tam Đảo) (Bảng 2.2) Bảng 2.2.: Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng Tên yếu tố Trạm Trạm Trạm Trạm Tuyên Quang Vĩnh Yên Đại Từ Tam Đảo Nhiệt độ trung bình năm (oC) 22,9 23,7 22,9 18,0 Nhiệt độ tối cao trung bình 41,4 41,5 41,3 33,1 Nhiệt độ tối thấp trung bình 0,4 3,2 3,0 -0,2 Lượng mưa trung bình năm (mm) 1641,4 1603,5 1906,2 2630,9 Số ngày có mưa trong năm 143,5 142,5 193,4 193,7 Lượng mưa tối đa / ngày 350 284,0 352,9 295,5 Độ ẩm trung bình (%) 84 81 82 87 Độ ẩm cực tiểu (%) 15,0 14,0 16,0 6,0 Lượng bốc hơi nước (mm) 760,3 1040,1 985,5 561,5 Có thể nói rằng trạm Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía tây, trạm Đại Từ đặc trưng cho khí hậu sườn phía đông; tram Tam Đảo ở độ cao gần 900m trên mực nước biển đặc trưng cho khí hậu trên cao của khu bảo tồn. - Sườn tây có vũ lượng trên 1600mm/năm, vào loại trung bình. Sườn đông có vũ lượng trên 1900mm/năm, vào loại nhiều; Đó là sườn đón được gió mang hơi ẩm thổi từ biển vao. Trên đỉnh còn có lượng mưa trên 2600mm/năm, vào loại mưa rất nhiều vì ngoài lượng mưa giống như vùng thấp nó còn được hưởng lượng nước do mưa địa hình mang lại. - Tổng lượng mưa trong mùa hè và thu rất cao (>90% tổng lượng mưa năm), mùa mưa kéo dài hơn 7 tháng (suốt từ tháng 4 đến tháng 10).Về mùa đông và xuân, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm dưới 10% lượng mưa năm. - Số ngày mưa khá nhiều, sườn tây trên 140 ngày/năm, sườn đông và vùng đỉnh trên 190 ngày/năm. - Cường độ mưa rất lớn, có nhiều trận mưa trên 350mm/ngày. - Tần suất xuất hiện những trận mưa to và rất to trong mùa mưa trên 20%, tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9; cao nhất là các tháng 8 và 9 (đỉnh mưa đều nằm trong tháng 8), xói mòn và những trận lũ lớn đều xảy ra vào những thời gian này. - Hàng năm có trên 60 ngày dông tại trạm và một trận bão đi qua với tốc độ gió trên cấp 8. Vì thế khi xây dựng các công trình trong vùng đều có hệ thống chống sét và gió giật cẩn thận, điển hình là cột phát sóng truyền hình trên đỉnh Tam Đảo. 13
  15. - Do điều kiện địa hình, địa mạo đã chi phối mạnh mẽ đặc điểm khí hậu trong vùng nên nhiệt độ vùng thấp biến động từ 22,9oC đến 23,7oC, tháng lạnh nhất trên 15oC (tháng 1), tháng nóng nhất trên 28oC (tháng 7). Riêng vùng đỉnh có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình quân 18oC, lạnh nhất là 10,8oC (tháng 1), nóng nhất 23oC (tháng 7). Vùng thấp số giờ nắng đều trên 1600 giờ/năm, lượng bức xạ dồi dào; Riêng Tam Đảo chỉ có 1200 giờ/năm vì thường có mây che phủ trong mùa xuân – hè. - Đầu mùa đông thường có dạng thời tiết khô hanh, cộng với gió mùa đông - bắc mạnh làm cho lượng bốc hơi tăng. Sang xuân có mưa phùn (vùng thấp có 20 ngày/năm, vùng cao số ngày mưa phùn lên đến trên 46 ngày) làm giảm đáng kể lượng bốc hơi. Lượng bốc hơi, vì vậy, có sự khác biệt rõ rệt giữa vùng thấp (xấp xỉ 1000mm/năm) và vùng cao (Tam Đảo chỉ có 560mm/năm). - Độ ẩm bình quân vùng thấp >80%, vùng cao >87%. Mùa mưa, nhất là khi có thời tiết mưa phùn độ ẩm lên tới trên 90%, nhưng mùa khô chỉ còn 70-75%, cá biệt có ngày chỉ 6%, vì vậy thời tiết rất khô hanh, dễ gây ra cháy rừng. (Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo). Đặng Trung Thuận và cộng sự (2006) cho rằng Tam Đảo nói riêng, cũng như Vĩnh Phúc nói chung nằm trong khu vực khí hậu gió mùa chí tuyến, có mùa đông lạnh, khô. Dựa vào chuỗi số liệu các đặc trưng khí hậu giai đoạn 1975-2004 tại trạm khí tượng Tam Đảo đã nêu ra các nhận định như sau: Nhiệt độ không khí: Bình quân nhiều năm khoảng 18,3oC, nhiệt độ không khí trung bình cao nhất nhiều năm là 21,4oC. nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất nhiều năm là 16,4oC. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 33,4oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 0oC. Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm khá lớn, khoảng 10-15oC. Lượng mưa năm: Trung bình nhiều năm là 2355mm, cao hơn nhiều so với lượng mưa bình quân cả nước (1960mm/năm) và của tỉnh Vĩnh Phúc (1500-1800mm/năm). Lượng mưa ngày lớn nhất đạt 318,6mm. Bình quân hàng năm có khoảng 203 ngày mưa, tập trung chủ yếu trong tháng 6. Mùa mưa ở Tam Đảo kéo dài hơn so với các nơi khác của tình Vĩnh Phúc (5 tháng). Mỗi năm xuất hiện bình quân 60 ngày có dông. Một vài năm còn xuất hiện hiện tượng mưa đá. Độ ẩm: Độ ẩm tương đối bình quân nhiều năm là 87,7%; độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất bình quân nhiều năm là 76,2%; độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối là 6%. Độ ẩm tuyệt đối trung bình là 19,1%. Sương mù: Hàng năm bình quân có 118 ngày có hiện tượng sương mù. Tổng lượng mây: Trung bình nhiều năm bằng 8. Số giờ nắng: Một năm bình quân có 1212 giờ. Tổng lượng bốc hơi: Bình quân nhiều năm là 512mm, là khá thấp so với bình quân bốc hơi toàn quốc. Tốc độ gió: Bình quân là 3,0m/s; tốc độ gió cực đại đến 30m/s. Nhìn chung các đặc trưng khí hậu Tam Đảo 2 tương tự khu Tam Đảo 1. Sự khác nhau chút ít về nền nhiệt độ và độ ẩm là do mức cao địa hình gây nên. (Nguồn: Đặng Trung Thuận 2006: Báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vũng Tam Đảo 2). 14
  16. Trong khi đó Trần Nghi (2006) quan tâm đến tính địa đới của khí hậu Tam Đảo và cho rằng Khí hậu khu vực Tam Đảo 2 thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao với nhiều đặc điểm mang tính nhiệt đới và một số đặc thù không mang tính nhiệt đới. Những đặc trưng khí hậu chủ yếu thể hiện tính nhiệt đới bao gồm: - Về bức xạ thiên văn: Độ cao mặt trời khá lớn và thời gian chiếu sáng khá đồng đều trong năm. - Về hoàn lưu khí quyển: Trong mùa hè thịnh hành không khí nhiệt đới xích đạo, còn về mùa đông chịu sự chi phối của không khí nhiệt đới và không khí cực đới biến tính sâu sắc trên đới vĩ độ thấp. - Về nhiệt độ: Biên độ ngày của nhiệt độ khá lớn và khá đồng đều trong năm. Những đặc trưng khí hậu chủ yếu thể hiện tính phi nhiệt đới gồm: - Về bức xạ: Lượng bức xạ tổng cộng năm cũng như cán cân bức xạ không đạt tiêu chuẩn nhiệt đới. - Về cơ chế hoàn lưu: Hàng năm chịu ảnh hưởng khoảng 25-30 đợt front lạnh, trong đó nhiều đợt tương tự hàn triều ở các vĩ độ trung bình. - Về nhiệt độ: Tổng nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất và biên độ năm của nhiệt độ (chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất) đều không đạt tiêu chuẩn nhiệt đới. (Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2). Nguyễn Khanh Vân (2000) nghiên cứu khí hậu theo cách tiếp cận khác, Tiếp cận Sinh khí hậu (Bioclimat), dựa trên các đặc trưng về chế độ nhiệt, chế độ mưa (mùa mưa và lượng mưa) và thời gian khô hạn trong năm. Thời gian khô được tính bằng tháng, đó là thời gian mà lượng mưa trung bình của tháng, tính bằng mm, nhỏ hơn hay bằng hai lần nhiệt độ trung bình tháng đó, tính bằng oC (R≤2t). Thời gian này được xác định trên biểu đồ sinh khí hậu khi đường lượng mưa (R) giao nhau với đường hai lần nhiệt độ trung bình tháng (2t); khoảng thời gian mà đường lượng mưa (R) ở phía dưới đường hai lần nhiệt độ trung bình (2t) là thời kì khô trong năm, còn khi ở dưới đường (một lần) nhiệt độ trung bình (t) là thời kì hạn. Cách tiếp cận này thường được áp dụng rộng rãi trong Nông học, Lâm học và khoa học môi trường vì thời kì khô hạn là thời kì cây cỏ (sinh vật nói chung) dễ bị tổn thương do cân bằng nước trong thiên nhiên lệch về phía lượng bốc hơi trên bề mặt đất và cây cỏ lớn hơn lượng nước mưa nhận được từ khí quyển, do vậy phụ thuộc rất nhiều vào lượng nước dự trữ trong môi trường. Theo đó Tam Đảo được xếp vào kiểu II*.1.a. Sinh khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, mưa mùa hè, không có tháng nào khô với các đặc trưng như sau (Bảng 2.3): Ngay trên biểu đồ sinh khí hậu đã thể hiện một số thông tin cần thiết như: - Số năm của chuỗi số liệu (38 năm đối với nhiệt độ, 39 năm đối với lượng mưa) 15
  17. - Độ cao của trạm khí tượng so với mực nước biển (897m a.s.l.) - Nhiệt độ trung bình năm oC (18,0) - Lượng mưa trung bình năm mm (2631) - Nhiệt độ tối cao tuyệt đối oC (33,1) - Nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất o C (`26,2) - Biên độ nhiệt độ ngày trung bình năm oC (5,0) - Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất o C (9,0) - Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối oC (0,2) - Thời kì nhiệt độ tối thấp trung bình tháng xuống dưới 15oC (tháng 11- tháng 3, phần có gạch chéo trên thanh ngang phía trên) - Thời kì có nhiệt độ tối thấp tuyệt đối xuống Hình 2.3: Biểu đồ sinh khí hậu thị dưới 5oC (tháng 11- tháng 3, phần tô đen trên trấn Tam Đảo thanh ngang ở dưới) (Nguồn: Nguyễn Khanh Vân, 2000: Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam) Bảng 2.3: Số liệu khí tượng thị trấn Tam Đảo 034. Tam Đảo II*.1.a. 21o 27’ v.b. 105o 38’ k.đ. I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm T 10,8 12,2 15,1 18,6 21,6 23,0 23,1 22,6 21,6 19,0 15,7 12,7 18,0 R 38,5 45,3 70,5 152,0 239,8 351,5 465,4 524,6 370,7 238,0 93,8 40,8 2630,9 ∆T 4,6 4,5 4,3 4,8 5,6 5,2 5,3 4,9 4,9 5,1 5,3 5,4 5,0 U 88 91 91 91 88 88 88 89 86 83 82 84 87 S 2,2 1,7 1,8 2,7 4,8 4,0 4,8 3,9 4,5 4,3 3,8 3,5 3,5 2.5. Mạng lưới thủy văn Trong khu vực có hai hệ thống sông chính, đó là sông Phó Đáy ở phía tây (Tuyên Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía đông (Thái Nguyên). Đường phân thủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là đường dông nối các đỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực nam đến Đèo Khế ở điểm cực bắc. Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống hai hệ thống sông này có dạng chân rết khá dày đặc và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi. Từ chân núi trở đi sông lại có dạng uốn khúc phức tạp trên mặt cánh đồng khá bằng phẳng, tương ứng với dạng địa hình đã tạo ra nó. 16
  18. Mật độ sông suối khá dày (trên 2km/km2), các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiều ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém, chúng là kết quả của quá trình xâm thực. Do đặc điểm khí hậu mưa lớn, mùa mưa dài, lượng bốc hơi ít (ở đỉnh Tam Đảo) nên cán cân nước dư thừa. Đó là nguyên nhân làm cho các dòng chảy từ đỉnh Tam Đảo xuống có nước quanh năm. Nhưng chế độ thủy văn lại chia thành hai mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ thường tập trung nhanh và rút cũng nhanh. Sự phân phối dòng chảy rất không đều giữa hai mùa (xem bảng) Bảng 2.4: Sự phân phối dòng chảy theo mùa của hai hệ thống sông Diện tích Lưu lượng Tổng lưu Tổng lưu Tổng lưu Tên sông Tên trạm lưu vực bình quân lượng bình lượng mùa lượng mùa (km2) (m3/s) quân năm lũ (tỷ m3) cạn (tỷ m3) (tỷ m3) Phó Đáy Quảng Cư 1190 26,3 0,83 0,63 0,20 Công Tân Cương 571 14,3 0,45 0,35 0,10 Như vậy lưu vực sông Phó Đáy lớn hơn sông Công và tổng lượng nước chảy cũng lớn hơn sông Công. Độ chênh lệch lượng nước chảy mùa lũ và mùa cạn cũng rất lớn. Mô đun dòng chảy các mùa cũng thay đổi rất đáng kể (bảng) Bảng 2.5.: Mô đun dòng chảy hai hệ thống sông Phó Đáy và sông Công Mô đun dòng Mô đun cực đại Mô đun cực tiểu Tên sông Tên trạm chảy trung bình (l/s/km2) (l/s/km2) (l/s/km2) Phó Đáy Quảng Cư 40 318 2-3 Công Tân Cương 50 918 4-5 Lưu lượng dòng chảy lớn nhất tuyệt đối là 331m3/s, so với lưu lượng nhỏ nhất tuyệt đối 3,7m3/s thì lớn gấp 90 lần. Độ đục lớn nhất 541g/m3, gấp 100 lần độ đục nhỏ nhất. Lượng bùn cát lơ lửng 3,2kg/s với tổng lượng bùn cát là 101.000T/năm Môđun xâm thực trên sông Phó Đáy tới 84,8T/km2. Dòng chảy mùa cạn do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp cho sông hoàn toàn là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất và lượng mưa phùn mùa đông). Cả hai sông đều có dòng chảy rất nhỏ. Như vậy khả năng cung cấp nước cho mùa đông là rất hạn chế. Các dòng sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thủy, chỉ có thể dùng làm nguồn thủy điện nhỏ cho từng gia đình dưới chân núi. 17
  19. Trong vùng cũng có những hồ chứa cỡ lớn như Hồ Núi Cốc, Hồ Đại Lải, các hồ cỡ trung bình hoặc nhỏ như Hồ Xạ Hương, Khôi kỳ, Phú Xuyên, Linh Lai, Hồ Sơn,…Đó là nguồn dự trữ nước khá phong phú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân trong vùng. (Nguồn: FIPI, 1992, 1995: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo+Luận chứng khả thi xây dựng VQG Tam Đảo). Mạng lưới thủy văn khu vực Tam Đảo 2 đã được Nguyễn Thanh Sơn (2006) nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Theo tác giả này phía tây-nam dãy núi Tam Đảo có sông Phó Đáy. Các suối bắt nguồn từ khu vực Tam Đảo 2 đều tập trung đổ vào sông Phó Đáy. Tam Đảo 2 là đầu nguồn của các suối Thác Lác, Bến Tắn và Đông Thỏng, bắt nguồn từ độ cao 1000m – 1400m chảy qua nhiều khu vực có độ dốc lớn.Các nhánh suối được nuôi dưỡng bằng nguồn nước mưa và cả nước ngầm. Các suối chính chảy theo hướng đông-bắc – tây-nam, hoặc hướng đông – tây và bắc – nam. Với tổng diện tích lưu vực 5,739 km2, các suối khu vực Tam Đảo 2 có tổng chiều dài các dòng chảy thường xuyên khoảng 8,6 km. Mật độ lưới sông trung bình của Tam Đảo 2 là 1,5km/km2. Các suối có những đặc điểm chính như sau: Suối Thác Lác (chảy về xã Đạo Trù) có tổng chiều dài tất cả các nhánh khoảng 3,6km. Nhánh chính dài 1,03km, nước chảy theo hướng đông-tây thường xuyên quanh năm. Các nhánh phụ đổ vào nhánh chính có tổng chiều dài trên 2,5km là các dòng chảy tạm thời, dòng chảy duy trì trong 6-7 tháng vào mùa mưa. Các suối này có độ dốc lớn, tốc độ dòng chảy mạnh. Lòng suối hẹp từ 1-3m ở thượng nguồn và mở rộng đến 5-7m phía hạ lưu. Khoảng 0,6km đoạn đầu nguồn, sông chính chảy qua các vách đá, có độ dốc rất lớn, tạo nên nhiều thác nhỏ. Phía hạ lưu (khoảng 0,4km) lòng sông thoải dần. Đáy sông nhiều nơi trơ đá gốc. Vật liệu đáy bao gồm cát, sỏi và đá nhỏ, rất nhiều tinh thể thạch anh vỡ vụn đường kính khác nhau. Suối chảy trong thung lũng với thảm thực vật là rừng tạp, chủ yếu là rừng vầu. Hai bờ ít bị xói lở, về mùa lũ nước tràn lên hai thành bờ. Vách bờ phía hạ lưu , nơi thấp nhất có độ cao khoảng 0,5m. Cảnh quan của suối Thác Lác khá đẹp, có thể tạo đường bộ hành ven suối, phục vụ du khách thưởng ngoạn cảnh rừng và các thác nước. Suối Bến Tắm chảy theo hướng đông-bắc – tây-nam có chiều dài tất cả các nhánh là 4,1km, trong đó lòng chính là 1,02km. Nhánh chính có nước chảy thường xuyên. Các nhánh phụ chỉ có nước vào mùa mưa. Trên lòng chính, trong khu vực Tam Đảo 2 có 6 thác nước có chiều cao từ 20 – 40 m, cảnh quan đẹp, kỳ vỹ. Lòng suối hẹp, thẳng, chảy trên đá gốc. Dưới chân thác là các vực sâu (có độ sâu khoảng 3m), vách đá dựng đứng. Thảm thực vật là rừng gỗ tạp, chủ yếu là rừng tre nứa. Vật liệu đáy gồm mảnh vụn riolit và thạch anh. Nhiều mạch nước ngầm phát lộ từ các khe nứt. Chất lượng nước ngầm tốt, có thể sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt. 18
  20. Hình 2.4: Bản đồ thủy văn khu vực Tam Đảo 2. (Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2) Suối Đồng Thỏng trong khu Dự án gồm hai hợp phần chính. Hợp phần thứ nhất gồm các nhánh suối ở lưu vực Đồng Thỏng 1 (Vùng đất ướt tiềm năng trong khu Dự án), hợp phần thứ hai là hệ thống các suối ở lưu vực Đông Thỏng 2 (nằm sát phía đông và nam vùng đất ướt tiềm năng). (Ở độ cao thấp hơn chúng hợp lại và đổ vào suối chảy qua khu di tích Tây Thiên) Đồng Thỏng 1 bắt nguồn từ khu trung tâm, có cao độ khoảng 1150m từ vùng đất ướt tiềm năng, chảy theo hướng bắc-nam. Nhánh này có tổng chiều dài là 2,2km. Theo địa hình phần đầu nguồn (tính từ đầu nguồn đến thác nước Tam Đảo 2) chảy qua vùng đất có độ dốc bé (

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản