Báo cáo thực tập điện

Chia sẻ: zaitan89no1

Trong cuộc sống, điện có một vai trò rất quan trọng. Việc đào tạo ra các kỹ sư ngành điện có vai trò quan trọng không kém. Ngày nay theo đà phát triển của xã hội mà điều kiện học tập của sinh viên nói chung và sinh viên ngành điện nói chung đã có nhiều cải thiện rất thuận lợi.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo thực tập điện

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP




Báo cáo thực tập điện
Mục lục

sinh viên thực hiện
NGUYỄN NHƯ TÂN
ĐIỆN 2- K9
I. Giới thiệu đơn vị thực tập
1. Nền tảng phát triển
2. Chính sách chất lượng
3. Lịch sử, sự kiện
II. Nội dung thực tập
1.Học an toàn lao động
1.1 Các khái niệm cơ bản về khoa học kỹ thuật về bảo hộ lao động
1.2. Luật pháp, chế độ chính sách bảo hộ lao động
1.3.Kỹ thuật vệ sinh lao động
1.4.Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương và biện pháp phòng ngừa
2.Tìm hiểu về máy điện không đồng bộ
2.1.Giới thiệu chung về máy điện
2.2.Nguyên lý làm việc của máy phát và động cơ điện
2.3.Sơ lược về chế tạo máy điện
2.4.Phát nóng và làm mát máy điện
2.5.Máy điện không đồng bộ
3.Máy biến áp
3.1. Định nghĩa
3.2.Các thông số cơ bản
III. Kết quả thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống, điện có một vai trò rất quan trọng. Việc đào tạo ra các kỹ
sư ngành điện có vai trò quan trọng không kém. Ngày nay theo đà phát triển của xã
hội mà điều kiện học tập của sinh viên nói chung và sinh viên ngành điện nói
chung đã có nhiều cải thiện rất thuận lợi.
Ngành điện công nghiệp là một ngành có rất nhiều triển vọng trong xã hội
hiện tại cũng như trong tương lai. Chính vì vậy em cùng rất nhiều bạn sinh viên
khác đã chọn ngành điện là nghề nghiệp của mình sau này.
Sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội là sinh viên của một trường
kỹ thuật do vậy điều kiện thực hành là rất quan trọng và cần thiết hơn cả. Chính vì
vậy trước khi tốt nghiệp sinh viên chúng em đã được nhà trường tạo điều kiện cho
đi thực tập để tích lũy thêm vốn làm việc thự tế cũng như được áp dụng những kiến
thức mình được học ở nhà trường vào thực tế công việc.
Rất may mắn khi chúng em đã xin được thực tập tại Xưởng cơ khí Ngọc
Hồi của công ty ViMeCo. Đây là một công ty có tiềm năng lớn và có rất nhiều điều
kiện giúp các sinh viên đi thực tập làm tốt công việc của mình.
Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo chủ nhiệm Nguyễn Đăng Toàn, chúng em
đã thưc hiện tốt kỳ thực tập của mình.
I. Giới thiệu về đơn vị thực tập công ty ViMeCo
Công ty cổ phần VIMECO được thành lập ngày 24/3/1997. Là Doanh
nghiệp Hạng I, thành viên thuộc Tổng Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây
dựng Việt Nam – VINACONEX.
Công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần từ ngày
01/01/2003.
Ngày 11/12/2006, Cổ phiếu của Công ty chính thức được niêm yết tại Trung
tâm chứng khoán Hà nội, đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình hội nhập vào
thị trường tài chính trong nước cũng như quốc tế.
Ngày 29 tháng 5 năm 2008 Công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần
VIMECO.
Công ty đang áp dụng quản lí chất lượng theo Tiêu chuẩn ISO 9001-2000.
Thế mạnh của Công ty
- Thi công các công trình Hạ tầng kĩ thuật Khu đô thị, Khu công nghiệp, các
công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện.
- Gia cố xử lí nền móng bằng các loại cọc bê tông cốt thép, cọc nhồi, cọc cát,
cọc bấc thấm, cọc ống thép, cừ thép Larsen, tường vây, cọc barret...
- Cung ứng bê tông thương phẩm, vật liệu xây dựng, các loại phụ gia theo
yêu cầu.
- Gia công, lắp đặt kết cấu thép: nhà máy xi măng, nhà dân dụng, sản xuất
các đốt cẩu tháp, thùng trộn xe bê tông, cửa chống cháy, cốt pha hầm…
- Gia công, lắp đặt thiết bị, vật tư:
Hợp tác với Hãng MORRIS (Anh) sản xuất cầu trục các loại từ 5 đến 30 tấn;
Hợp tác với Hãng KEOSAN (Hàn Quốc) sản xuất các dây chuyền nghiền
sàng đá;
Hợp tác với Hãng KYC (Nhật Bản) sản xuất các Trạm trộn bê tông thương
phẩm;
Liên doanh với ECONOMOS (Áo) sản xuất gioăng phớt thuỷ lực chất lượng
cao với mọi hình dáng, kích thước theo yêu cầu.
- Đầu tư, kinh doanh bất động sản.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị.
- Đào tạo thợ bậc cao phục vụ cho nhu cầu của Công ty, đáp ứng nhu cầu xã
hội, hợp tác xuất nhập khẩu thợ có tay nghề cao,…
1. Nền tảng phát triển
MỤC ĐÍCH THEO ĐUỔI
Con Người là nhân tố quyết định cho sự thành bại của Công ty là nguồn tài
sản vô giá cần quan tâm nuôi dưỡng và phát triển.
Với phương châm " nghĩ cùng bạn, làm cho bạn" ViMeCo hy vọng là người
bạn chân thành và đáng tin cậy
“Chữ tín” về chất lượng, tiến độ giá thành là mục tiêu cao nhất mà Công ty
muốn dành cho bạn.
NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO
Mô hình quản lý tập trung từ Công ty đến từng công trường sẽ đảm bảo
quyền lợi cho Người lao động, là nền tảng giữ vững và nâng cao uy tín, thương
hiệu của Công ty.
Chăm lo cơ sở vật chất cho Công ty là nguồn động lực để Công ty phát
triển ổn định bền vững.
Tính hòa đồng tập thể, tính kỷ luật cao, sự nghiêm túc và tinh thần dám làm
dám chịu trách nhiệm cá nhân là đòi hỏi tuyệt đối ở mỗi thành viên.
2. Chính sách chất lượng
Biết lắng nghe và khơi dậy nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng.
Muốn có sản phẩm tốt, cần phải có con người tốt
Mục tiêu đã sai thì không có biện pháp đúng.
Liên tục cải tiến, canh tân không ngừng.
Chữ tín cùng sự hài lòng của khách hàng là nền tảng cho sự ổn định bền
vững.
3. Lịch sử và sự kiện
1997 :
Bắt đầu tham gia thị trường xây dựng và công trình triển khai thi công công
trình đầu tiên có giá trị sản lượng và quy mô lớn, đó là Nhà máy xi măng Nghi
Sơn. Cùng với việc thành lập Công ty, tháng 3/1997 tham gia thị trường sản xuất
và cung cấp bê tông thương phẩm tại thị trường Hà nội
1998:
Triển khai thi công đại trà tại xi măng Nghi sơn, cung cấp bê tông thương
phẩm với năng suất trung bình lên tới 2.500 m3/ngày.đêm
1999:
lần đầu tiên thi công lắp đặt máy tại trạm nghiền xi măng Nghi Sơn tại Hiệp
Phước
2000:
Bắt đầu triển khai thi công các công trình giao thông, thuỷ lợi và Dự án nâng
cấp, cải tạo Quốc lộ 10 (gói R4 và B2) là Dự án đầu tiên. Dự án kết thúc, VIMECO
đã được Bộ Giao thông vận tảI biết đến với tư cách là Nhà thầu có năng lực. Đây
cũng là năm đầu tiên VIMECO gia nhập vào Câu lạc bộ 100 tỷ của Tổng công ty
VINACONEX với giá trị sản lượng đạt 116 tỷ đồng.
2001:
Hoàn thành dự án di chuyển trụ sở làm việc từ Ngọc Hồi về H12 – Thanh
Xuân - Hà nội và triển khai dự án xây dựng trạm trộn 100 m3/h ở Tây mỗ. Đây là
một bước tiến lớn trong quá trình phát triển của Công ty, đánh dấu một sự thay đổi
trong mô hình quản lý của Công ty.
2002:
Được nhận Huân chương lao động hạng ba. Bắt đầu tham gia thị trường
kinh doanh bất động sản với Dự án Trung Hoà 1 có tổng mức đầu tư là 179 tỷ đồng
2003:
Được nhận Cờ thi đua của Chính phủ giành cho đơn vị xuất sắc dẫn đầu
phong trào thi đua và Cờ thi đua của Tổng liên đoàn Lao động Việt nam. Đây cũng
là năm đầu tiên, VIMECO chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình Công
ty cổ phần.
2004:
Bắt đầu tham gia thi công các công trình thuỷ điện như Ngòi Phát – Lào
Cai, Buôn Kuôp, Buôn Tou Srah tại Đắc Lắc và Thuỷ lợi – Thuỷ điện Cửa Đạt tại
Thanh Hoá.
Ngày 5/7: Khánh thành Trung tâm xuất nhập khẩu xây dựng VIMECO tại
Cầu Bươu – Thanh Trì - Hà nội với các ngành nghề kinh doanh mới như chế tạo
các sản phẩm cơ khí, chế tạo gioăng phớt thuỷ lực….
Tháng 9: Khánh thành và đưa vào sử dụng khu văn phòng 5 tầng đã tạo ra
cho Công ty một văn phòng làm việc ổn định. Đây là dấu ấn quan trọng trong
chặng đường phát triển của Công ty 7 năm qua. Điều này đã khích lệ tinh thần làm
việc của tập thể CBCNV Công ty, khẳng định sự phát triển và tăng trưởng bền
vững của Công ty trong giai đoạn tới.
Năm thứ 2 liên tiếp được nhận Cờ thi đua của Chính phủ.
2005:
Bắt đầu triển khai thi công Dự án 2,6ha có tổng mức đầu tư gần 500 tỷ
đồng, một bước phát triển quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản với
việc đầu tư dự án chuyển từ nhóm B lên nhóm A.
6/12/2005, Công ty đã tiến hành nổ gương mìn cuối cùng thông Hầm dẫn
kiệt phục vụ kịp thời thoát lũ xây dựng Nhà máy thuỷ điện Buôn tua Srah, đánh
dấu một bước tiến mới trong lĩnh vực thi công thuỷ điện.
Tiếp tục được Chính Phủ và Tổng liên đoàn Lao động tặng Cờ thi đua.
2006:
Hoàn thành, bàn giao cho khách hàng 141 căn hộ chung cư tại Dự án
Trung Hoà I. Dự án chính thức đưa vào sử dụng đồng bộ, VIMECO mở rộng thêm
một lĩnh vực kinh doanh, quản lý mới.
Ngày 9/8 thông hầm dẫn nước số 2 và ngày 29/9 hoàn thành việc thông
hầm số 1.
Ngày 11/12/2006 là ngày đầu tiên cổ phiếu VIMECO chính thức được
niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội.
2007
Ngày 24/3/2007 tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập Công ty và vinh dự đón
nhận Huân chương lao động hạng 2 do Chủ tịch nước trao tặng.
Ngày 14/4 /2007, tổ chức Đại hội cổ đông thường niên lần thứ IV. Đại hội
đã thống nhất cơ cấu nhân sự của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Đ/c Trần
Việt Thắng - Bí thư Đảng uỷ Công ty được bầu là Chủ tịch HĐQT. Trong cơ cấu
nhân sự nhiệm kỳ này, Tổng công ty chỉ còn bố trí 01 thành viên trong HĐQT thay
vì 3 người như nhiệm kỳ trước. Việc bố trí như trên sẽ giúp VIMECO phát huy
được quyền tự chủ, năng động, chủ động hơn trong công việc
Ngày 25/11/2007, thông hầm dẫn nước số 1, đường hầm cuối cùng của Dự
án nhà máy thủy điện Buôn Kuốp, vượt tiến độ 9 ngày. Đây là đường hầm thủy
điện dài nhất Việt Nam đến thời điểm này và điều kiện địa chất cũng phức tạp nhất
từ trước đến nay.
Ngày 24/12/2007, tăng vốn Điều lệ từ 35 tỉ VNĐ lên 65 tỉ VNĐ.
2008 -
Ngày 14/4/2008 tổ chức Đại hội cổ đông thường niên lần thứ 5. Đại hội đa
thông qua điều lệ mới của Công ty, Ban nhân sự của Hội đồng quản trị và Ban
kiểm soát nhiệm kì 2008-2012, điều chỉnh thời gian và giá của lần phát hành tăng
vốn đợt 2 lên 100 tỉ đồng.
- Ngày 29 tháng 05 năm 2008 chính thức đổi tên Công ty Cổ phần Cơ giới,
lắp máy và xây dựng thành Công ty Cổ phần Vimeco.
- Hoàn thành xuất sắc và vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2008:
+ Sản lượng: 978,8 tỷ
+Doanh thu: 1.082 tỷ
+ Lợi nhuận trước thuế: 44,96 tỷ
+Thu nhập bình quân: 4,140 triệu
1.6 Xưởng cơ khí sửa chứ Ngọc Hồi ViMeCo
Xưởng Cơ khí sửa chữa VIMECO địa chỉ tại Km 14.5 quốc lộ 1A, xã Liên
ninh, Thanh trì, Hà nội.
Xưởng Cơ khí sửa chữa đã được Công ty đầu tư, nâng cấp đủ khả năng bảo
dưỡng, sửa chữa các chủng loại xe máy, thiết bị phục vụ thi công của Công ty cũng
như của các đơn vị thành viên trong Tổng Công ty VINACONEX và các đối tác
bên ngoài
Các trang thiết bị cơ bản phục vụ công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Xưởng:
+ Cầu trục 5 tấn.
+ Dây truyền sửa chữa hệ thống gầm máy bánh xích: Máy hàn galê tự động,
máy ép xích thủy lực 350 tấn cùng các thiết bị phụ trợ.
+ Máy cân bơm cao áp.
+ Máy phun sơn tĩnh điện.
+ Dàn máy công cụ: Máy tiện, máy phay, máy bào, máy khoan, ...
Cùng các thiết bị phục vụ chuyên dùng như xe nâng hàng 4.5 tấn, xe làm
việc trên cao,... và các dụng cụ sửa chữa chuyên dùng khác.
Với đội ngũ nhân lực có kinh nghiệm, kỹ thuật cao, các thiết bị phục vụ sửa
chữa hiện đại, Xưởng cơ khí sửa chữa đủ khả năng sửa chữa đến cấp đại tu các loại
ôtô, máy xây dựng phục vụ thi công: Đại tu động cơ, hệ thống gầm máy bánh lốp,
bánh xích, đại tu hệ thống điện, thuỷ lực, làm mới thân vỏ, cabin... Công suất sửa
chữa, bảo dưỡng xe máy thiết bị các cấp tại Xưởng đạt khoảng 500 lượt xe máy
thiết bị mỗi năm
Trong thời gian qua, VIMECO đã tiếp xúc và trao đổi với hãng KOBELCO
(Nhật Bản) tiến tới hợp tác liên két để sửa chữa hệ thống gầm máy bánh xích cũng
như với các đối tác khác để sửa chữa hoàn thiện hệ thống điện điều khiển thuỷ lực
của xe máy thiết bị để làm chủ kỹ thuật sửa chữa trong lĩnh vực này.
II. NỘI DUNG THỰC TẬP
1. Học an toàn lao động
1.1. Các khái niệm cơ bản về khoa học kỹ thuật về bảo hộ lao động
1.1.1. Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động (BHLĐ)
a. Mục đích, ý nghĩa của công tác BHLĐ
Mục đích của BHLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ
chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá
trình sản xuất; tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải
thiện để ngăn ngừa tai nạn lao độngvà bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, giảm sút
sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an
toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động trực tiếp góp phần bảo vệ và
phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.
Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và
gắn liền với quá trình sản xuất nhằm bảo vệ yếu tố năng động, quan trọng nhất của
lực lượng sản xuất là người lao động. Mặt khác, việc chăm lo sức khoẻ của người
lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người.mà công tác BHLĐ mang
lại còn có ý nghĩa nhân đạo.
b. Tính chất của công tác bảo hộ lao động
BHLĐ Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính quần
chúng.
- BHLĐ mang tính chất pháp lý
Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành những
luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành
mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện. Những chính sách, chế độ, quy
phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của
Nhà nước.
- BHLĐ mang tính KHKT
Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng
và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp... đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT.
Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng
của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải
pháp đảm bảo an toàn đều dựa trên các cơ sở khoa học kỹ thuật.
- BHLĐ mang tính quần chúng BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất
và con người và trước hết là người trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng
lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội.
Vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng
Tóm lại: Ba tính chất trên đây của công tác bảo hộ lao động: tính pháp lý,
tính khoa học kỹ thuật và tính quần chúng có liên quan mật thiết với nhau và hỗ trợ
lẫn nhau.
1.1.2. Điều kiện lao động và các yếu tố liên quan
a. Điều kiện lao động.
Điều kiện lao động là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế
xã hội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng
lao động, trình công nghệ, môi trường lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng như các
tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người tạo nên những điều
kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Điều kiện lao động có ảnh
hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người.
Những công cụ và phương tiện lao động có tiện nghi, thuận lợi hay gây khó
khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động cũng ảnh hưởng đến
người lao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng xạ, ... Những ảnh hưởng
đó còn
phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hay hiện đại, lạc
hậu hay tiên tiến), môi trường lao động rất đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi,
thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động lớn đến sức khoẻ của
người lao động.
b. Các yếu tố nguy hiểm và có hại
Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật
chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp
cho người lao động, ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Cụ thể là: 
Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có
hại, bụi.
 Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất
phóng xạ.
 Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký
sinh trùng, côn trùng, rắn.
 Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ
làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh.
Các yếu tố tâm lý không thuật lợi... đều là những yếu tố nguy hiểm và có
hại.
c. Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn không may xảy ra trong quá trình lao động, gắn
liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động làm tổn thương cho bất
kỳ bộ phận, chức năng nào của người lao động, hoặc gây tử vong. Nhiễm độc đột
ngột
cũng là tai nạn lao động.
Những tiêu chuẩn đặc trưng cho tai nạn lao động là:
Sự cố gây tổn thương và tác động từ bên ngoài.
 Sự cố đột ngột.
 Sự cố không bình thường.
Hoạt động an toàn
d. Bệnh nghề nghiệp:
Bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại đối với người lao
động được g ọi là bệnh nghề nghiệp. Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khoẻ một
cách dần dần và lâu dài.
1.1.3. Những nội dung chủ yếu của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động
a) . Nội dung khoa học kỹ thuật.
Nội dung khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi
để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động.
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lĩnh vực khoa học rất tổng hợp và liên
ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của
nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hoá học,
sinh học ...) đến khoa học kỹ thuật chuyên ngành và còn liên quan đến các ngành
kinh tế, xã hội, tâm lý học ...Những nội dung nghiên cứu chính của Khoa học bảo
hộ lao động bao gồm những vấn đề:
- Khoa học vệ sinh lao động (VSLĐ).
VSLĐ là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại
trong sản xuất đối với sức khoẻ người lao động, tìm các biện pháp cải thiện điều
kiện lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp và nâng cao khả năng lao động
cho người lao động.
Nội dung của khoa học VSLĐ chủ yếu bao gồm :
- Phát hiện, đo, đánh giá các điều kiện lao động xung quanh.
- Nghiên cứu, đánh giá các tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao
động đến con người.
- Đề xuất các biện pháp bảo vệ cho người lao động.
Để phòng bệnh nghề nghiệp cũng như tạo ra điều kiện tối ưu cho sức khoẻ
và tình trạng lành mạnh cho người lao động chính là mục đích của vệ sinh lao
động.
. Cơ sở kỹ thuật an toàn
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp, phương tiện, tổ chức và kỹ thuật
nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất
đối với người lao động.
. Khoa học về các phương tiện bảo vệ người lao động
Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những
phương tiện bảo vệ tập thể hay cá nhân người lao động để sử dụng trong sản xuất
nhằm chống lại những ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại, khi các biện
pháp về mặt kỹ thuật an toàn không thể loại trừ được chúng. Ngày nay các phương
tiện bảo vệ cá nhân như mặt nạ phòng độc, kính màu chống bức xạ, quần áo chống
nóng, quần áo kháng áp, các loại bao tay, giày, ủng cách điện... là những phương
tiện thiết yếu trong lao động.
Ecgônômi với an toàn sức khoẻ lao động
Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng
giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người
về giải phẩu, tâm lý, sinh lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng
thời bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho con người.
Ecgônômi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với người điều
khiển nhờ vào việc thiết kế, tuyển chọn và huấn luyện. Ecgônômi tập trung vào
việc tối ưu hoá môi trường xung quanh thích hợp với con người và sự thích nghi
của con người với điều kiện môi trường. Ecgônômi coi cả hai yếu tố bảo vệ sức
khoẻ người lao động và năng suất lao động quan trọng như nhau.
Trong Ecgônômi người ta thường nhấn mạnh tới khái niệm nhân trắc học
Ecgônômi tức là quan tâm tới sự khác biệt về chủng tộc và nhân chủng học
khi nhập khẩu hay chuyển giao công nghệ của nước ngoài.
b) Nội dung xây dựng và thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động.
1.1.4. Sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững là cách phát triển “thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không ảnh hưởng đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai sau”
Phát triển bền vững có thể được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển
đồng thời 4 lĩnh vực: kinh tế, nhân văn, môi trường và kỹ thuật.
1.2. Luật pháp,chế độ chính sách bảo hộ lao động
1.2.1. Hệ thống luật pháp chế độ chính sách BHLĐ của Việt nam
Đảng và nhà nước Việt Nam ta nhất là trong công cuộc đổi mới luôn luôn
quan tâm đến người lao động nói chung và công tác BHLĐ nói riêng. Đến nay
chúng ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật chế độ chính sách BHLĐ tương đối
đầy đủ.
Hệ thống pháp luật BHLĐ gồm 3 phần:
Phần I: Bộ luật lao động và các luật khác có liên quan đến ATVSLĐ.
Phần II: Nghị định 06/CP và các nghị định khác liên quan đến ATVSLĐ.
Phần III: Các thông tư, Chỉ thị, Tiêu chuẩn qui phạm ATVSLĐ.
a. Bộ luật lao động và các luật pháp có liên quan đến ATVSLĐ
- Một số điều của Bộ luật lao động có liên quan đến ATVSLĐ
Ngoài chương IX về “an toàn lao động, vệ sinh lao động” còn một số điều
liên quan đến ATVSLĐ với nội dung cơ bản sau:
Điều 29. Chương IV qui định hợp đồng lao động ngoài nội dung khác phải
có nội dung điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Điều 23. Chương IV qui định một trong nhiều trường hợp về chấp dứt hợp
đồng là: người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động khi người lao động bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang
điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc.
Điều 46. Chương V qui định một trong những nội dung chủ yếu của thoả
ước tập thể là ATLĐ, vệ sinh lao động.
Điều 68 Chương IIV qui định việc rút ngắn thời gian làm việc đối với
những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Điều 69 quy định số giờ làm thêm không được vượt quá trong một ngày,
một năm.
Điều 284 Chương VIII qui định các hình thức xử lý người vi phạm kỷ luật
lao động trong đó có vi phạm nội dung ATVSLĐ.
b. Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Nội dung này được quy định trong bộ luật lao động và được củ thể hoá trong
các điều 9, 10, 11, 12 chương III Nghị định 06/CP như sau:
Trách nhiệm người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động:
Sơ cứu cấp cứu kịp thời; tai nạn lao động nặng, chết người phải giữ nguyên hiện
trường và báo ngay cho cơ quan Lao động, Y tế, Công đoàn cấp tỉnh và công an
gần nhất.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người mắc bệnh nghề
nghiệp là phải điều trị theo chuyên khoa, khám sức khoẻ định kỳ và lập hồ sơ sức
khoẻ riêng biệt.
Trách nhiệm người sử dụng lao động bồi thường cho người bị tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp.
Trách nhiệm người sử dụng lao động tổ chức điều tra các vụ tai nạn lao
động có sự tham gia của các đại diện BCH Công đoàn, lập biên bản theo đúng quy
định.
1.3. Kỹ thuật vệ sinh lao động (VSLĐ).
1.3.1. Đối tượng và nhiệm vụ và nội dung của VSLĐ
Vệ sinh lao động là môn khoa học dự phòng, nghiên cứu điều kiện thiên
nhiên, điều kiện sản xuất, sức khoẻ con người, ngưỡng sinh lý cho phép và những
ảnh hưởng của điều kiện lao động, quá trình lao động, gây nên tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp. Trong đó vệ sinh lao động (VSLĐ) chủ yếu đi sâu nghiên cứu
các tác hại nghề nghiệp, từ đó mà có biện pháp phòng ngừa các tác nhân có hại
một cách có hiệu quả.
Nội dung của VSLĐ bao gồm :
- Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất.
- Nghiên cứu các biến đổI sinh lý, sinh hoá của cơ thể người.
- Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý.
- Nghiên cứu các biện pháp đề phòng tình trạng mệt mỏI trong lao động, hạn
chế ảnh hưởng của các yếu tố tác hạI nghề nghiệp trong sản xuất, đánh giá hiệu
quả các biện pháp đó.
- Qui định các chế độ bảo hộ lao động, các tiêu chuẩn vệ sinh, chế độ vệ sinh
xí nghiệp và cá nhân.
- Tổ chức khám tuyển và sắp xếp hợp lý công nhân vào làm việc ở các bộ
phận sản xuất khác nhau trong xí nghiệp.
- Quản lý, theo dõi tình hình sức khoẻ công nhân, tổ chức khám sức khoẻ
định kỳ, phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp.Giám định khả năng lao động cho công
nhân bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác.
- Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp vệ sinh an toàn lao động
trong sản xuất.
1.3.2. Các tác hại nghề nghiệp .
Các tác hại nghề nghiệp đối với người lao động có thể do các yếu tố vi khí
hậu; tiếng ồn và rung động; bụi; phóng xạ; điện từ trường; chiếu sáng gây ra.
Các tác hại nghề nghiệp có thể phân ra các loại sau:
- Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất như các yếu tố vật lý, hoá học,
sinh vật xuất hiện trong quá trình sản xuất.
- Tác hại liên quan đến tổ chức lao động như chế độ làm việc, nghỉ ngơi
không hợp lý,cường độ làm việc quá cao, thời gian làm việc quá dài…
- Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh an toàn như thiếu các thiết bị thông
gió, chống bụi, chống nóng, chống tiếng ồn, thiếu trang bị phòng hộ lao động,
không thực hiện đúng và triệt để các qui tắc vệ sinh và an toàn lao động…
a. Vi khí hậu.
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu
hẹp gồm các yếu tố nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối của không khí, vận tốc
chuyển động không khí và bức xạ nhiệt. Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụ
thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương.
Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật của công
nhân.
Làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp
khớp, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm. Vi khí
hậu lạnh và khô làm cho rối loạn vận mạch thêm trầm trọng, gây khô niêm mạc,
nứt nẻ da. Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, gây ra rối loạn
thăng bằng nhiệt, làm cho mệt mọi xuất hiện sớm, nó còn tạo điều kiện cho vi sinh
vật phát triển, gây các bệnh ngoài da.
b. Tiếng ồn và rung động.
Tiếng ồn là những âm thanh gây khó chịu , quấy rối sự làm việc và nghỉ
ngơi của con người.
Rung động là dao động cơ học của vật thể đàn hồi sinh ra khi trọng tâm hoặc
trục đối xứng của chúng xê xích (dịch) trong không gian hoặc do sự thay đổi có
tính chu kỳ hình dạng mà chúng có ở trạng thái tĩnh.
Tiếng ồn tác động trước hết đến hệ thần kinh trung ương,sau đó đến hệ
thống tim mạch và nhiều cơ quan khác. Tác hại của tiếng ồn chủ yếu phụ thuộc vào
mức ồn.
Tuy nhiên tần số lặp lại của tiếng ồn, đặc điểm của nó cũng ảnh hưởng lớn
đến người.Tiếng ồn liên tục gây tác dụng khó chịu ít hơn tiếng ồn gián đoạn. Tiếng
ồn có các thành phần tần số cao khó chịu hơn tiếng ồn có tần số thấp.Khó chịu nhất
là tiếng ồn thay đổi cả về tần số và cường độ. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với cơ
thể còn phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm thanh tới, thời gian tác dụng, vào
độ nhạy riêng của từng người cũng như vào lứa tuổi, giới tính và trạng thái cơ thể
của người công nhân.
c. Bụi
Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước lớn nhỏ khác nhau tồn tại lâu trong
không khí dưới dạng bụi bay bay hay bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha như
hơi, khói, mù . Bụi phát sinh tự nhiên do gió bão, động đất, núi lửa nhưng quan
trọng hơn là trong sinh hoạt và sản xuất của con người như từ các quá trình gia
công, chế biến, vận chuyển các nguyên vật liệu rắn.
Bụi gây nhiều tác hại cho con người mà trước hết là các bệnh về đường hô
hấp, bệnh ngoài da, bệnh tiêu hoá…như các bệnh về phổi, bệnh viêm mũi, họng,
phế quản, bệnh mụn nhọt, lở loét…
d. Chiếu sáng.
Chiếu sáng hợp lý không những góp phần làm tăng năng suất lao động mà
còn hạn chế các tai nạn lao động, giảm các bệnh về mắt.
e. Phóng xạ.
Nguyên tố phóng xạ là những nguyên tố có hạt nhân nguyên tử phát ra các
tia có khả năng ion hoá vật chất, các tia đó gọi là tia phóng xạ. Hiện tại người ta đã
biết được khoảng 50 nguyên tố phóng xạ và 1000 đồng vị phóng xạ nhân tạo. Hạt
nhân nguyên tử của các nguyên tố phóng xạ có thể phát ra những tia phóng xạ như
tia α,β,γ tia Rơnghen, tia nơtơron…,những tia này mắt thường không nhìn thấy
được, phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử .
Làm việc với các chất phóng xạ có thể bị nhiễm xạ. Nhiễm xạ cấp tính
thường xảy ra sau vài giờ hoặc vài ngày khi toàn than nhiễm xạ 1 liều lượng nhất
định (trên 200Rem).Khi bị nhiễm xạ cấp tính thường có những triệu chứng như :
- Da bị bỏng, tấy đỏ ở chổ tia phóng xạ chiếu vào.
- Chức năng thần kinh trung ương bị rối loạn.
- Gầy, sút cân, chết dần chết mòn trong tình trạng suy nhược…
Trường hợp nhiễm xạ cấp tính thường ít gặp trong sản xuất và nghiên cứu
mà chủ yếu xảy ra trong các vụ nổ vũ khí hạt nhân và tai nạn ở các lò phản ứng
nguyên tử.
Nhiễm xạ mãn tính xảy ra khi liều lượng ít hơn (nhỏ hơn 200 Rem) nhưng
trong một thời gian dài và thường có các triệu chứng sau :
- Thần kinh bị suy nhược.
- Rối loạn các chức năng tạo máu.
- Có hiện tượng đục nhân mắt, ung thư da, ung thư xương.
- Cần lưu ý là các cơ quan cảm giác của người không thể phát hiện được các
tác động của phóng xạ lên cơ thể, chỉ khi nào có hậu quả mới biết được.
1.4 Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương và biện pháp phòng ngừa.
1.4.1 Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất.
Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất chủ yếu do cơ cấu, đặc
trưng quá trình công nghệ của các dây chuyền sản xuất gây ra như :
+ Có các cơ cấu chuyển động, khớp nối truyền động.
+ Chi tiết, vật liệu gia công văng bắn ra (cắt, màiđập, nghiền…)…
+ Điện giật.
+Yếu tố về nhiệt : Kim loại nóng chảy,vật liệu nung nóng,nước nóng ( luyện
kim,sản xuất vật liệu xây dựng…)….
+ Chất độc công nghiệp , các chất lỏng hoạt tính (a xít, kiềm..)
+ Bụi (sản xuất xi măng…)
+ Nguy hiểm về nổ, cháy, áp suất cao (sản xuất pháo hoa, vũ khí,lò hơi …)
+ Làm việc trên cao, vật rơi từ trên cao xuống (xây dựng).
1.4.2 Nguyên nhân gây chấn thương .
a) Nhóm các nguyên nhân kỹ thuật.
- Quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, có hại: có các bộ
phận chuyển động,bụi, tiếng ồn…
- Thiết kế, kết cấu không đảm bảo, không thích hợp với đặc điểm sinh lý của
người sử dụng; độ bền kém; thiếu các tín hiệu, cơ cấu báo hiệu, ngăn ngừa quá tải
như van an toàn, phanh hãm, chiếu sáng không thích hợp; ồn, rung vượt quá mức
cho phép , …
- Không thực cơ khí hoá, tự động hoá những khâu lao động nặng nhọc, nguy
hiểm .
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các qui tắc kỹ thuật an toàn
như các thiết bị áp lực không được kiểm nghiệm trước khi đưa vào sử dụnh, thiếu
hoặc sử dụng không đúng các phương tiện bảo vệ cá nhân….
b) Nhóm các nguyên nhân về quản lý, tổ chức.
- Tổ chức, sắp xếp chỗ làm việc không hợp lý, tư thế thao tác khó khăn.
- Tổ chức tuyển dụng, phân công, huấn luyện, giáo dục không đúng, không
đạt yêu cầu.
1.4.3 Các biện pháp và phương tiện kỹ thuật an toàn cơ bản.
a) Biện pháp an toàn đối với bản thân người lao động .
- Thực hiện thao tác, tư thế lao động phù hợp, đúng nguyên tắc an toàn,
tránh các tư thế cúi gập người, các tư thế có thể gây chấn thương cột sống, thoát vị
đĩa đệm…
- Bảo đảm không gian vận động, thao tác tối ưu, sự thích nghi giữa người và
máy…
- Đảm bảo các điều kiện lao động thị giác, thính giác, xúc giác….
- Đảm bảo tâm lý phù hợp, tránh quá tải, căng thẳng hay đơn điệu.
b) Thực hiện các biện pháp che chắn an toàn.
Mục đích của thiết bị che chắn an toàn là cách li các vùng nguy hiểm đối với
người lao động như các vùng có điện áp cao, có các chi tiết chuyển động, những
nơi người có thể rơi, ngã .
Yêu cầu đối với thiết bị che chắn là :
- Ngăn ngừa được các tác động xấu, nguy hiểm gây ra trong quá trình sản
xuất.
- Không gây trở ngại, khó chịu cho người lao động.
- Không ảnh hưởng đến năng suất lao động, công suất thiết bị.
Phân loại các thiết bị che chắn :
- Che chắn các bộ phận, cơ cấu chuyển động.
- Che chắn các bộ phận dẫn điện.
- Che chắn các nguồn bức xạ có hại.
- Che chắn hào, hố, các vùng làm việc trên cao..
- Che chắn cố dịnh, che chắn tạm thời.
c) Sử dụng thiết bị và cơ cấu phòng ngừa.
Mục đích sử dụng thiết bị và cơ cấu phòng ngừa là để ngăn chặn các tác
động xấu do sự cố của quá trình sản xuất gây ra, ngăn chặn, hạn chế sự cố lan
rộng.Sự cố gây ra có thể do sự quá tải (về áp suất, nhiệt độ, điện áp…) hoặc do các
hư hỏng ngẫu nhiên của các chi tiết, phần tử của thiết bị.
Nhiệm vụ của thiết bị và cơ cấu phòng ngừa là phải tự động loại trừ nguy cơ
sự cố hoặc tai nạn khi đối tượng phòng ngừa vượt quá giới hạn qui định.
Thiết bị phòng ngừa chỉ làm việc tốt khi đã tính toán đúng ở khâu thiết kế,
chế tạo và nhất là khi sử dụng phải tuân thủ các qui định về kỹ thuật an toàn.
Phân loại thiết bị và cơ cấu phòng ngừa :
- Hệ thống có thể tự phục hồi lại khả năng làm việc khi đối tượng phòng
ngừa đã trở lại dướI giới hạn qui định như van an toàn kiểu tải trọng, rơ le nhiệt…
- Hệ thống phục hồi lại khả năng làm việc bằng cách thay thế cái mới như
cầu chì, chốt cắm…
d) Sử dụng các tín hiệu, dấu hiệu an toàn.
Tín hiệu an toàn nhằm mục đích:
- Báo trước cho ngườI lao động những nguy hiểm có thể xảy ra.
- Hướng dẫn các thao tác cần thiết .
- Nhận biết qui định về kỹ thuật và an toàn qua các dấu hiệu qui ước về màu
sắc, hình vẽ (biển báo chỉ đường…).
Tín hiệu an toàn có thể dung :
- Ánh sáng, màu sắc.
- Âm thanh : còi chuông…
- Màu sơn, hình vẽ, chữ.
- Đồng hồ, dụng cụ đo lường.
Yêu cầu đối với tín hiệu an toàn :
- Dễ nhận biết.
- Độ tin cậy cao, ít nhầm lẫn.
- Dễ thực hiện, phù hợp với tập quán, cơ sở khoa học kỹ thuật và yêu cầu
của tiêu chuẩn hoá.
e) Đảm bảo khoảng cách và kích thước an toàn.
Khoảng cách an toàn là là khoảng không gian tối thiểu giữa người lao động
và các phương tiện, thiết bị, hoặc khoảng cách nhỏ nhất giữa chúng với nhau để
không bị tác động xấu của các yếu tố sản xuất như khoảng cách giữa đường dây
dẫn điện đến người, khoảng cách an toàn khi nổ mìn, khoảng cách giữa các máy
móc, khoảng cách trong chặt cây, kéo gỗ, khoảng cách an toàn về phóng xạ…
Tuỳ thuộc vào quá trình công nghệ, đặc điểm của từng loại thiết bị mà qui
định các khoảng cách an toàn khác nhau..
f) Thực hiện cơ khí hoá, tự động hoá và điều khiển từ xa..
Đó là biện pháp nhằm giải phóng người lao động khỏi khu vực nguy hiểm ,
độc hại. Các trang thiết bị cơ khí hoá, tự động hoá và điều khiển từ xa thay thế con
người thực hiện các thao tác từ xa, trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm , đồng thời
nâng cao được năng suất lao động.
g) Trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân.
Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân là biện pháp bảo vệ bổ sung, hỗ trợ
nhưng có vai trò rất quan trọng khi các biện pháp bảo vệ khác vẫn không đảm bảo
an toàn cho người lao động, nhất là trong điều kiện thiết bị, công nghệ lạc hậu.
Các trang bị , phương tiện bảo vệ cá nhân có thể bao gồm :
- Trang bị bảo vệ mắt :các loại kính bảo vệ khác nhau.
- Trang bị bảo vệ cơ quan hô hấp :mặt nạ, khẩu trang, bình thở…
- Trang bị bảo vệ cơ quan thính giác nhằm ngăn ngừa tiếng ồn. như nút bịt
tai, bao úp tai..
- Trang bị bảo vệ đầu, chân tay : các loại mũ, giày, bao tay..
- Quần áo bảo hộ lao động : bảo vệ người lao động khỏi các tác động về
nhiệt, về hoá chất, về phóng xạ, áp suất…
Trang bị phương tiện cá nhân phải được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng
nhà nước, việc cấp phát, sử dụng phải theo qui định của pháp luật. Người sử dụng
lao động phải tiến hành kiểm tra chất lượng phương tiện bảo vệ cá nhân trước khi
cấp phát và kiểm tra định kỳ theo tiêu chuẩn khi đưa vào sử dụng.
h) Thực hiện kiểm nghiệm dự phòng thiết bị.
Kiểm nghiệm độ bền, độ tin cậy của máy móc, thiết bị, công trình, các bộ
phận của chúng là biện pháp an toàn nhất thiết trước khi đưa chúng vào sử dụng.
Mục đích của kiểm nghiệm dự phòng là đánh giá chất lượng của thiết bị về các mặt
tính năng , độ bền, độ tin cậy để quyết định có đưa thiết bị vào sử dụng hay không.
Kiểm nghiệm dự phòng được tiến hành định kỳ, hoặc sau những kỳ sữa chữa, bão
dưỡng.
2.Tìm hiểu về máy điện không đồng bộ
2.1 Giới thiệu chung về máy điện
Theo quan điểm năng lượng thì trong tất cả các thiết bị điện đều xảy ra quá
trình chuyển động năng lượng điện từ. Quá trình đó được thể hiện qua các hiện
tượng: biến đổi, tích phóng năng lượng và truyền tải năng lượng. Máy điện là thiết
bị điện thực hiện chức năng biến đổi và truyền tải năng lượng điện từ. Hiện tượng
biến đổi và truyền tải năng lượng thông qua sự tồn tại của điện trường và từ trường
trong máy điện. Cấu tạo của máy điện gồm hai phần cơ bản: mạch điện và mạch từ.
Mạch từ gồm bộ phận dẫn từ và khe hở không khí Mạch điện gồm các thiết bị điện
nối với nhau bằng các dây dẫn điện tạo thành các vòng kín có thể cho dòng điện
chạy qua. Tuỳ theo cấu tạo, nguyên lý làm việc, chức năng mà máy điện được chia
ra làm nhiều loại, nhưng chúng đều có điểm chung sau:
- Cửa vào là cửa đưa năng lượng vào máy.
- Cửa ra là cửa đưa năng lượng ra khỏi máy.
Tuỳ theo chức năng của các loại máy điện mà ta có thể xác định được dạng
năng lượng ở đầu vào và đầu ra của máy điện:
- Nếu đầu vào là năng lượng điện thì máy điện là động cơ điện.
- Nếu đầu và là cơ năng thì máy điện là máy phát điện.
- Nếu đầu vào và đầu ra của máy điện đều là điện năng u,i thì máy điện đóng
vai trò là máy truyền tải điện năng.
Sự biến đổi cơ điện trong máy dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ. Nguyên
lý này cũng đặt cơ sở cho các bộ biến đổi cảm ứng dùng để biến đổi năng lượng
điện với những giá trị áp, dòng... thành dòng điện với các giá trị áp, dòng khác.
Máy biến áp là thiết bị biến đổi cảm ứng đơn giản thuộc loại này. Các dây quấn và
mạch từ của nó đứng yên và quá trình biến đổi từ trường để sinh ra sức điện động
cảm ứng trong các dây quấn cũng được thực hiện bằng phương pháp điện. Máy
điện có nhiều loại, và được phân loại theo nhiều cách khác nhau, có thể phân loại
theo công suất, cấu tạo, chức năng, nguyên lý làm việc... Và ở đây ta chỉ xét máy
điện dựa vào nguyên lý biến đổi năng lượng.
Máy điện tĩnh
Máy điện tĩnh làm việc dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ, do sự biến đổi
từ thông giữa các cuộn dây không có chuyển động tương đối với nhau.
Máy điện tĩnh thường gặp là máy biến áp
Máy điện tĩnh dùng để biến đổi thông số của dòng điện, như máy biến áp để
biến đổi hai thông số của dòng điện là giá trị áp và giá trị dòng.
Máy điện động
Nguyên lý làm việc cũng dựa vào hiện tượng cảm ứng điện từ, lực điện từ,
do từ trường và dòng điện của các cuộn dây có chuyển động tương đối với nhau
gây ra. Loại máy này thường dùng để biến đổi dạng năng lượng. Đó là biến đổi
năng lượng điện thành cơ năng và ngược lại cơ năng thành điện năng. Đại diện cho
loại máy điện động là động cơ điện ( biến đổi điện năng thành cơ năng) và máy
phát điện ( biến đổi cơ năng thành điện năng).Quá trình biến đổi có tính thuận
nghịch (như sơ đồ hinh dưới) nghĩa là máy điện có thể làm việc ở chế độ máy phát
điện hoặc động cơ điện. Tóm lại ta có thể tóm lược sự phân loại máy điện thông
dụng thường gặp sau đây:
Máy điện
Máy điện tĩnh máy diện có phần quay
Máy điện xoay chiều máy điện một chiều
Máy điện Máy điện
Không đồng bộ
đồng bộ
MBA ĐCKĐB MFKĐB ĐCĐB MFĐB động cơ 1 chiều máy phát 1 chiều
2.2 Nguyên lý làm việc của máy phát điện và động cơ điện.
Máy điện có tính chất rất quan trọng là tính thuận nghịch, tức là nó vừa có
thể là động cơ điện vừa có thể là máy phát điện.
2.2.1 Chế độ máy phát
Giả thiết thanh dẫn có chiều dài l đặt vuông góc với từ trường có độ từ cảm
là B ( như hình vẽ). Khi tác dụng vào thanh dẫn một lực cơ học Fcơ thanh dẫn sẽ
chuyển động với vận tốc v trong từ trường của nam châm N_S và trong thanh dẫn
sẽ cảm ứng suất điện động e. Nếu nối thanh dẫn với tải thì sẽ có dòng điện i chạy
trong thanh dẫn. Đây là nguyên lý để tạo ra máy phát điện. Nếu không tính tới điện
trở của thanh dẫn thì u = e. và công suất máy phát điện cung cấp cho phụ tải là p
=u.i Dòng điện nằm trong thanh dẫn sẽ chịu tác dụng của từ trường Fđt = B.i.l và
có chiều như hình vẽ. Khi máy quay với tốc độ không đổi, lực điện từ sẽ cân bằng
với lực cơ của động cơ sơ cấp: Fcơ = F đt và nhân hai vế với v ta được: Fcơ.v = F
đt.v = B.i.l.v = e.i và như vậy công suất của động cơ sơ cấp: Pcơ = Fcơ.v đã thành
công suất điện P điện = e.i nghĩa là cơ năng đã chuyển thành điện năng.
2.2.2 Chế độ động cơ điện
Cung cấp điện cho máy điện, điện áp u của nguồn điện sẽ gây ra dòng i
trong thanh dẫn. Dưới tác dụng của từ trường sẽ có lực điện từ F đt = B.i.l tác dụng
lên thanh dẫn làm thanh dẫn chuyển động với vận tốc v ( như hình vẽ).
Khi đó công suất điện đưa vào động cơ: P = u.i = e.i = B.l.v.i = F đt.v Như
vậy, công suất điện từ P đ = u.i đưa vào động cơ đã biến thành công suất cơ Pcơ
= F đt.v trên trục động cơ. Điện năng cũng đã biến thành cơ năng. Vậy: một
thiết bị điện từ tuỳ năng lượng đưa vào mà máy điện có thể làm việc ở chế độ động
cơ hay máy phát:
- Nếu đưa vào phần quay của máy điện là cơ năng thì nó làm việc ở chế độ
máy phát.
- Nếu đưa vào phần quay của máy phát là điện năng thì nó sẽ làm việc ở chế
độ động cơ.
Mọi loại máy điện đều có tính chất thuận nghịch.
2.3. Sơ lược về các vật liệu chế tạo máy điện
Vật liệu chế tạo máy điện có thể chia ra làm 3 loại:
- Vật liệu tác dụng.
- Vật liệu kết cấu.
- Vật liệu cách điện.
2.3.1 Vật liệu tác dụng
Đó là vật liệu dẫn điện và dẫn từ. Các vật liệu này được dùng để tạo điều
kiện cần thiết sinh ra các biến đổi điện từ.
a) Vật liệu dẫn từ:
Vật liệu dẫn từ là vật liệu dùng để chế tạo các bộ phận của mạch từ, người ta
dùng các vật liệu sắt từ để làm mạch từ: thép lá kỹ thuật điện, thép lá thường, thép
đúc, thép rèn. Gang ít được dùng vì dẫn từ kém. Người ta dùng các loại thép từ tính
chất khác nhau nhưng chủ yếu là thép lá kỹ thuật điện, có hàm lượng silíc khác
nhau nhưng không vựơt quá 4,5%. Hàm lượng silíc này dùng để hạn chế tổn hao
do từ trễ và tăng điện trở của thép để giảm tổn hao dòng điện xoáy. Ở mạch từ có
từ thông biến đổi với tần số 50hz thường dùng lá thép kỹ thuật điện có độ dày 0,35
– 0,5 mm, trong thành phần thép có từ 2-5% Si(để tăng điện trở của thép, giảm
dòng điện xoáy). Ở tần số cao thì người ta dùng thép có độ dày nhỏ hơn 0,1 – 0,2
mm. Người ta thường sử dụng lá thép dày 0,35 mm dùng trong máy biến áp và 0,5
mm dùng trong các máy điện quay ghép lại làm lõi sắt để làm giảm tổn hao do
dòng điện xoáy tạo nên. Tuỳ theo cách chế tạo, người ta chia ra làm hai loại: cán
nóng, cán nguội. Loại sau có những tính năng về từ tốt hơn như độ từ thẩm cao
hơn, tổn hao thép ít hơn. Hiện nay với những máy biến áp và máy điện công suất
lớn thì người ta thường chế tạo với vật liệu từ là thép cán nguội. Thép cán nguội
chia làm hai loại: đẳng hướng và vô hướng. Loại đẳng hướng có đặc điểm: dọc
theo chiều cán thì tính năng từ tốt hơn so với ngang chiều cán, do đó thường được
dùng trong các máy biến áp, còn loại vô hướng thì đặc tính từ đều theo mọi hướng
nên thường dùng trong máy điện quay.
b) Vật liệu dẫn điện
Vật liệu dẫn điện để chế tạo các bộ phận dẫn điện. Vật liệu dẫn điện tốt nhất
trong máy điện là đồng vì chúng không đắt lắm và có điện trở suất nhỏ( ρ = 0,0172
Ωmm2/m) . Ngoài ra còn dùng nhôm( ρ = 0,0282 Ωmm2/m) và các hợp kim khác
như đồng thau, đồng phốt pho. Để chế tạo dây quấn thường người ta dùng đồng,
đôi khi là nhôm. Dây đồng và nhôm được chế tạo theo tiết diện tròn hoặc chữ nhật,
có bọc các loại cách điện khác nhau như sợi vải, sợi thuỷ tinh, giấy, nhựa hoá
học... Với các máy điện công suất nhỏ và trung bình, điện áp dưới 700V thường
dùng dây emai vì các lớp cách điện của dây mỏng đạt độ bền yêu cầu. Đối với các
bộ phận khác như vành đổi chiều, lồng sóc hay vành trượt ngoài đồng, nhôm người
ta còn dùng cả thép để tăng cường độ bền cơ học và giảm kim loại màu.
2.3.2. Vật liệu kết cấu
Là vật liệu để chế tạo các chi tiết chịu tác động cơ học như trục, ổ trục, vỏ
máy, nắp máy. Vật liệu này thường bằng gang, sắt, thép đúc hoặc thép rèn, kim
loại màu và các hợpkim của chúng, các chất dẻo.
2.3.3. Vật liệu cách điện
Để cách điện các bộ phận mang điện với các bộ phận không mang điện,
người ta dùng vật liệu cách điện, vì vậy đây là vật liệu quan trọng trong máy điện,
nó quyết định phần lớn sự làm việc ổn định của máy điện. Do đó, những vật liệu
này đòi hỏi phải có độ bền điện cao, độ dẫn nhiệt tốt, có độ vững chắc về cơ khí để
không bị hỏng khi lắp ráp và vận hành máy điện. Chất cách điện của máy điện chủ
yếu ở thể rắn, gồm 4 nhóm:
- Chất hữu cơ thiên nhiên: giấy, vải, lụa ....
- Chất vô cơ: amiăng, mica ....
- Các chất tổng hợp
- Các loại men, sơn cách điện
Chất cách điện tốt nhất là mica, song tương đối đắt nên dùng trong các máy
điện có điện áp cao. Thông thường dùng các vật liệu có sợi như giấy, vải sợi, ....
Chúng có độ bền cơ tốt, rẻ tiền nhưng dẫn nhiệt xấu, hút ẩm và cách điện kém. Do
đó, dây dẫn cách điện sợi phải được sấy tẩm để cải thiện tính năng của vật liệu
cách điện. Ngoài ra, còn có chất cách điện ở thể khí( như không khí, hidrô,...) hoặc
thể lỏng (dầu MBA...).
+ Vật liệu khí: không khí là một chất cách điện tốt, tuy nhiên để cách điện
tốt người ta thường dùng khí trơ; hidro được sử dụng trong trường hợp cần cách
điện và làm mát bên trong của vật liệu.
+ Vật liệu lỏng ( dầu MBA...) đây là loại vật liệu cách điện rất quan trọng
trong máy điện vì nó có thể len lỏi vào các khe rất nhỏ và còn có thể sử dụng để
dập hồ quang. Căn cứ vào độ bền nhiệt, vật liệu cách điện được chia ra làm nhiều
loại, thường người ta chia làm 7 cấp: cho phép(ºC) Ta có thể tóm tắt cấp cách điện
ở bảng dưới đây: Cấp cách điện Vật liệu Nhiệt độ giới hạn cho phép vật liệu (ºC)
Nhiệt độ trung bình cho phép cấp dây quấn (ºC)
A: Sợi xenlulô, bong hoặc tơ tằm trong vật liệu hữu cơ lỏng 105 100
E: Vài loại màng tổng hợp 120 115
B: Amiăng, sợi thuỷ tinh có chất kết 130 120
Cấp cách điện Y A E B F H C
Nhiệt độ làm việc 90 105 120 130 155 180 >180 dính vật liệu gốc mica
F: Amiăng, vật liệu gốc mica, sợi thuỷ tinh có chất kết dính và tơ tổng hợp
155 140
H: Vật liệu gốc mica, amiăng, sợi thuỷ tinh kết hợp chất kết dính và tấm Si
hữu cơ 180 165
2.4. Phát nóng và làm mát máy điện
Trong máy điện xảy ra quá trình biến đổi hoặc truyền tải năng lượng và có
sự tổn hao năng lượng ΣΔp . Trong máy phát điện tổn hao chủ yếu là trong lõi
thép( do hiện tượng từ trễ và dòng xoáy), trong điện trở dây quấn máy điện và do
ma sát ở các ổ trục, lực cản của quạt làm mát máy phát điện ... tổn hao này làm
nóng máy và ảnh hưởng đến chất lượng của vật liệu cách điện.
Để làm mát máy điện, nhiệt lượng sinh ra phải được tản ra môi trường xung
quanh bằng cách tăng diện tích tiếp xúc của máy điện với không khí làm mát, tăng
tốc độ đối lưu của không khí xung quanh hoặc của môi trường làm mát. Thường vỏ
máy điện, được chế tạo có cánh tải nhiệt và đối với máy điện có công suất lớn
thường có hệ thống quạt gió hoặc bơm nước làm mát.
Kích thước của máy, phương pháp làm mát phải được tính toán và lựa chọn,
để cho độ tăng nhiệt của vật liệu cách điện máy không vượt quá độ tăng nhiệt cho
phép, đảm bảo cho vật liệu cách điện làm việc lâu dài khoảng 20 năm.
Khi máy điện làm việc ở chế độ định mức, độ tăng nhiệt của các phần tử
không vượt quá độ tăng nhiệt của các phần tử cho phép. Khi máy quá tải, độ tăng
nhiệt sẽ vượt qúa nhiệt độ cho phép, vì thế không cho phép quá tải lâu dài.
2.5. Máy Điện Không Đồng Bộ
2.5.1.Khái Niệm Chung
a. Phân loại:
Máy điện không đồng bộ có nhiều loại được phân theo thành nhiều cách
khác nhau: theo kết cấu vỏ máy, rôto…
Theo kết cấu của vỏ: máy điện không đồng bộ chia thành các kiểu chính:
rôto kiểu dây quấn, rôto kiểu lồng sóc.
Theo số pha trên dây quấn có 3 loại: 1 pha, 2 pha, 3 pha.
b. Kết cấu:
Giống như những máy điện quay khác, máy điện không đồng bộ gồm những
phần chính như sau:
* Stato: là phần tĩnh và gồm hai bộ phận chính là lõi thép và dây quấn, ngoài
ra còn có vỏ máy và nắp máy.
- Lõi thép: được ép trong vỏ, làm nhiệm vụ dẫn từ. Lõi thép Stato hình trụ
do các lá thép kỹ thuật điện được dập dãnh bên trong ghép lại với nhau thành các
rãnh theo hướng trục. Vì từ trường đi qua lõi thép là từ trường quay nên giảm tổn
hao lõi thép.
- Dây quấn: Dây quấn stato làm bằng dây bọc cách điện( dây dẫn điện từ và
được đặt trong rãnh của lõi thép), kiểu dây quấn hình dạng và cách bố trí sẽ được
trình bày trong
phần cơ sở thiết kế dây quấn stato động cơ không đồng bộ.
- Vỏ máy: làm bằng nhôm hoặc gang, dùng để cố định lõi thép và dây quấn
cũng như cố định máy trên bệ, không dùng để làm mạch dẫn từ. Đối với máy có
công suất tương đối lớn (1000kW) thường dùng thép tấm hàn lại thành vỏ. Tuỳ
theo cách làm nguội máy mà dạng vỏ cũng khác nhau: kiểu vỏ hở, vỏ bảo vệ, …
Hai đầu vỏ có nắp máy và ổ đỡ trục.
Vỏ và nắp máy dùng để bảo vệ máy.
* Rôto: là phần quay gồm có lõi thép, dây quấn và trục máy.
- Lõi thép: nói chung, lõi thép vẫn làm bằng lá thép kỹ thuật điện như ở
stato. Lõi thép được ép trực tiếp lên trục máy.
- Dây quấn rôto: có hai loại chính là rôto lồng sóc và rôto dây quấn.
- Rôto dây quấn: giống như dây quấn Stato. Trong máy điện cỡ trung bình
trở lên thường dùng làm dây quấn kiểu sóng hai lớp vì bớt được những đầu nối, kết
cấu dây nối chặt chẽ.
Trong máy điện cỡ nhỏ thường dùng làm dây quấn đồng tâm một lớp. Dây
quấn 3 pha của rôto thường đấu hình sao, còn 3 đầu kia được nối vào 3 rãnh trượt
thường làm bằng đồng cố định một đầu ở đầu trục, và thông qua chổi than có thể
đấu với mạch điện bên ngoài.
Đặc điểm của loại động cơ rôto kiểu dây quấn này là: có thể thông qua chổi
than đưa điện trở phụ hay suất điện động phụ vào mạch điện rôto để cải thiện tính
năng mở máy, điều chỉnh tốc độ hoặc cải thiện công suất của máy. Khi máy làm
việc bình thường dây quấn rôto được nối ngắn mạch.
- Rôto lồng sóc: Kết cấu của loại dây này rất khác so với dây quấn stato.
Trong mỗi rãnh của lõi thép, rôto đặt vào thanh dẫn bằng đồng hay nhôm dài ra
khỏi lõi thép và được nối tắt ở hai đầu bằng hai vành ngắn mạch bằng đồng hay
nhôm thành cái lồng, người ta hay gọi là lồng sóc.
Ở các máy công suất nhỏ, lồng sóc được chế tạo bằng cách đúc nhôm vào
các rãnh lõi thép rôto tạo thành thanh nhôm, hai đầu đúc vòng ngắn mạch và cánh
quạt làm mát. Dây quấn rôto lồng sóc không cần cách điện với lõi thép.
Để cải thiện tính năng mở máy trong công suất tương đối lớn, rãnh rôto có
thể làm thành rãnh sâu hoặc làm thành hai rãnh.
Trong máy điện cỡ nhỏ, rãnh rôto thưòng làm rãnh chéo đi qua một góc so
với tâm trục.
Động cơ lồng sóc là động cơ rất phổ biến do giá thành rẻ và làm việc bảo
đảm. Động cơ dây quấn có ưu điểm về mở máy và điều chỉnh tốc độ động cơ song
giá thành cao và vận hành kém tin cậy hơn rôto lồng sóc nên chỉ được dùng khi
động cơ rôto lồng sóc không đáp ứng được yêu cầu về truyền động.
* Khe hở: vì rôto là một khối tròn nên khe hở đều, khe hở trong máy điện
không đồng bộ rất nhỏ( 0,2 – 1mm trong các máy điện cỡ nhỏ và vừa) để hạn chế
dòng điện từ hoá lấy từ lưới điện và như vậy mới có thể nâng cao hệ số công suất
của máy.
2.5.2. Công Dụng Của Máy Điện Không Đồng Bộ
Máy điện không đồng bộ là loại máy điện xoay chiều chủ yếu làm cơ điện.
Do kết cấu đơn giản làm việc chắc chắn, hiệu suất cao, giá thành hạ nên
động cơ không đồng bộ là loại máy được dùng rộng dãi nhất trong các nghành kinh
tế quốc dân với công suất vài chục đến vài nghìn kW.
Trong công nghiệp thường dùng máy điện không đồng bộ làm nguồn động
lực cho các máy cán thép vừa và nhỏ, động lực cho các máy công cụ ở các nhà
máy công nghiệp nhẹ … Trong các hầm mỏ, dùng làm máy tời hay quạt gió. Trong
nông nghiệp làm máy bơm hay gia công nông sản. Trong đời sống hàng ngày, máy
điện không đồng bộ cũng dần chiếm vị trí quan trọng: quạt gió, máy quay đĩa,
động cơ trong tủ lạnh…
Tóm lại, theo sự phát triển của nền điện khí hoá, và tự động hoá, phạm vi
ứng dụng của máy điện không đồng bộ ngày càng rộng rãi.

Tuy vậy, máy điện không đồng bộ cũng có những nhược điểm: hệ số cosϕ
không cao, đặc tính điều chỉnh tốc độ không tốt, nên ứng dụng của nó cũng có hạn
chế.
Máy điện không đồng bộ có thể dùng làm máy phát điện, nhưng đặc tính
không tốt so với máy phát điện đồng bộ nên chỉ trong một vài trường hợp đặc biết
nào đó( trong quá trình điện khí hoá nông thôn) cần nguồn điện phụ tạm thời thì nó
cũng có ý nghĩa quan trọng.
2.5.3. Nguyên Lý Làm Việc Của Máy Điện Không Đồng Bộ
Ta tạo ra một từ trường quay có tốc độ n1 = 60 f/p
Trong đó: f là tần số của điện áp đưa vào
p là số đôi cặp cực. thì từ trường này quét qua dây quấn nhiều pha tự ngắn
mạch đặt trên lõi thép rôto và cảm ứng trong dây quấn đó sức điện động và dòng
điện.
Từ thông do dòng điện này sinh ra hợp với từ thông của stato thành từ
thông tổng của khe hở. Dòng điện trong dây quấn tác dụng với từ thông khe hở
sinh ra momen tác dụng do có tác dụng mật thiết với tốc độ quay n của rôto.
Trong những phạm vi tốc độ khác nhau thì chế độ làm việc của máy cũng
khác nhau.
Khi rôto quay thuận với từ trường quay nhưng tốc độ nhỏ hơn tốc độ đồng
bộ thì dòng điện sinh ra trong dây quấn rôto cùng chiều với sức điện động và tác
dụng của từ trường tổng trong khe hở không khí sinh ra lực F và mômen M kéo
rôto quay theo chiều từ trường quay.
Điện năng đưa tới rôto đã biến thành cơ năng trên trục nghĩa là máy điện
làm việc trong chế độ động cơ. Những máy chỉ làm việc ở chế độ này khi n < n1 vì
khi đó mới có chuyển động tương đối giữa từ trường và dây quấn rôto như vậy
trong dây quấn rôto mới có dòng điện và mômen kéo rôto quay. Trong những
phạm vi tốc độ khác nhau thì chế độ làm việc của máy cũng khác nhau.
Khi rôto quay thuận và nhanh hơn tốc độ đồng bộ( dùng một động cơ sơ cấp
nào đó quay rôto của máy điện không vượt quá tốc độ đồng bộ n > n1). Khi đó,
chiều của từ trường quay quét qua dây dẫn sẽ có chiều ngược lại sức điện động và
dòng điện trong dây dẫn cũng đổi chiều nên chiều của mômen cũng ngược chiều
quay n1 nghĩa là ngược với chiều của rôto nên đó là mômen hãm.
Máy điện đã biến cơ năng tác dụng lên trục động cơ điện, do động cơ sơ
cấp kéo thành điện năng cung cấp cho lưới điện nghĩa là máy điện làm việc ở chế
độ máy phát điện.
Khi rôto quay ngược với chiều từ trường quay thì chiều của sức điện động,
dòng điện và mômen vẫn giống như lúc ở chế độ động cơ. Vì mômen sinh ra
ngược với chiều quay của rôto nên có tác dụng hãm rôto dừng lại. Trong trường
hợp này máy vừa lấy điện năng ở lưới vào, vừa lấy cơ năng ở động cơ thứ cấp. Chế
độ này được gọi là chế độ hãm điện từ.
3. Máy biến áp
Khái niệm chung
Để biến đổi điện áp của dòng điện xoay chiều từ điện áp cao xuống điện áp
thấp, hoặc lại từ điện áp thấp lên điện áp cao, ta dùng máy biến áp. Ngày nay do
việc sử dụng điện năng phát triển rất rộng rãi, nên có những loại máy biến áp khác
nhau: máy biến áp một pha, ba pha, hai dây quấn, ba dây... nhưng chúng dựa trên
cùng một nguyên lý, đó là nguyên lý cảm ứng điện từ.
3.1. Định nghĩa
Máy biến áp là một thiết bị điện từ tĩnh, làm việc theo nguyên lý cảm ứng
điện từ, dùng để biến đổi điện áp của hệ thống dòng điện xoay chiều nhưng vẫn giữ
nguyên tần số. Hệ thống điện đầu vào máy biến áp( trước lúc biến đổi) có: điện áp
U1, dòng điện I1, tần số f. Hệ thống điện đầu ra của máy biến áp( sau khi biến đổi)
có: điện áp U2, dòng điện I2, tần số f.
Trong các bản vẽ máy biến áp được kí hiệu:
Đầu vào của máy biến áp được nối vào nguồn điện, được coi là sơ cấp. Đầu
ra nối với tải gọi là thứ cấp. Các đại lượng, các thông số sơ cấp trong ký hiệu có
ghi chỉ số 1: số vòng dây sơ cấp w1, điện áp sơ cấp U1, dòng điện sơ cấp I1, công
suất sơ cấp P1. Các đại lượng và thông số thứ cấp có chỉ số 2: cuộn dây thứ cấp
w2, điện áp thứ cấp U2, dòng điện thứ cấp I2, công suất thứ cấp P2.
Nếu điện áp thứ cấp lớn hơn sơ cấp thì máy biến áp là tăng áp, nếu điện áp
thứ cấp nhỏ hơn điện áp sơ cấp gọi là giảm áp.
3.2. Các đại lượng định mức
Các đại lượng định mức của máy biến áp do nhà chế tạo máy biến áp quy
định để cho máy có khả năng làm việc tối ưu. Có 3 đại lượng định mức cơ bản:
a) Điện áp định mức:
Điện áp sơ cấp định mức U1đm là điện áp quy định dây quấn sơ cấp
Điện áp thứ cấp định mức U2đm là điện áp giữa các cực của dây quấn thứ
cấp, khi dây quấn thứ cấp hở mạch và điện áp đặt vào dây quấn sơ cấp là định
mức.
Người ta quy ước, với máy biến áp 1 pha điện áp định mức là điện áp pha,
với máy biến áp 3 pha thì điện áp định mức là điện áp dây. Đơn vị điện áp ghi trên
máy thường là V hoặc kV.
b) Dòng điện định mức: là dòng đã quy định cho mỗi dây quấn của máy biến
áp, ứng với công suất và điện áp định mức.
Đối với máy biến áp 1 pha, dòng điện định mức là dòng 1 pha. Đối với máy
biến áp
3 pha, dòng định mức là dòng điện dây.
Đơn vị ghi trên máy thường là A.
Dòng điện sơ cấp định mức I1đm, dòng điện thứ cấp định mức I2đm.
Ghép nối thì trụ và gông ghép riêng, sau đó dùng xà ép vít chặt lại.
Ghép xen kẽ thì toàn bộ lõi thép phải ghép đồng thời và lớp lá thép được
ghép xen kẽ với nhau. Sau khi ghép thì lá thép cũng được vít chặt xà ép và bulông.
H1:ghép rời lõi thép MBA a, b,
H2:a,b:ghép xen kẽ lõi MBA
Phương pháp sau tuy phức tạp, nhưng giảm được tổn thất do dòng điện xoáy
gây nên và rất bền về phương pháp điện cơ học, vì thế hầu hết các máy biến áp
hiện nay đều ghép theo phương pháp này.
Do dây quấn thường quấn thành hình tròn, nên tiết diện ngang của trụ thép
thường làm thành hình bậc thanh gần tròn. Gông vì không quấn dây, do đó để
thuận tiện cho việc chế tạo, tiết diện ngang của gông có thể làm đơn giản: hình
vuông, hình chữ thập và hình
T. Vì lý do an toàn, toàn bộ lõi thép được nối đất với vỏ máy và vỏ máy phải
được nối đất.
Tuỳ theo hình dáng, người ta chia ra:
- Máy biến áp kiểu lõi( hay kiểu trụ): Dây quấn bao quanh trụ thép. Loại này
hiện nay rất thông dụng cho các máy biến áp một pha và ba pha có dung lượng nhỏ
và trung bình.
- Máy biến áp kiểu bọc: Loại này mạch từ được phân nhánh ra 2 bên và bọc
lấy một phần dây quấn. Loại này chỉ được dùng cho một vài nghành có chuyên
môn đặc biệt như máy biến áp dùng trong lò điện luyện kim…
- Ở các máy biến áp hiện đại, dung lượng lớn và cực lớn(80-100MVA trên 1
pha), điện áp thật cao (220 – 400 kV), để giảm chiều cao của trụ thép, tiện lợi cho
việc vận chuyển trên đường, mạch từ của máy biến áp kiểu trụ phân nhánh sang hai
bên nên máy biến áp mang hình dáng vừa kiểu trụ, vừa kiểu bọc, gọi là máy biến
áp kiểu trụ bọc.
Dây quấn
Dây quấn là bộ phận dẫn điện của máy biến áp, làm nhiệm vụ thu năng
lượng vào và nhả năng lượng ra. Kim loại làm dây quấn thường bằng đồng, cũng
có trường hợp dùng nhôm.
Theo cách sắp xếp dây quấn CA và HA người ta chia ra 2 loại chính: dây
quấn đồng tâm và dây quấn xen kẽ.
a) Dây quấn đồng tâm
Ở dây quấn đồng tâm, tiết diện ngang là những vòng tròn đồng tâm. Dây
quấn hạ áp thường là quấn phía trong gần trụ thép, còn dây quấn CA quấn phía
ngoài bọc lấy dây quấn
HA. Với cách điện này có thể giảm bớt được điều kiện cách điện của dây
quấn CA( kích thước rãnh dầu cách điện, vật liệu cách điện dây quấn CA) bởi vì
giữa dây quấn CA và trụ đã có cách điện bản thân của dây quấn HA.
Những kiểu dây quấn đồng tâm chính bao gồm:
*) Dây quấn hình trụ: Nếu tiết diện nhỏ thì dùng dây tròn, quấn thành nhiều
lớp, nếu tiết diện lớn thì dùng dây bẹt và thường quấn thành 2 lớp.
Dây quấn hình trụ dày tròn lớn thì dùng làm dây quấn HA với điện áp từ
6kV trở xuống. Nói chung, dây quấn hình trụ thường dùng cho các máy biến áp
dung lượng 560kVA trở xuống.
*) Dây quấn hình xoắn: Gồm nhiều dây bẹt chập lại quấn theo đường xoắn
ốc, giữa các vòng dây có rãnh hở, kiểu này thường dùng cho dây quấn hạ áp của
các máy biến áp có dung lượng trung bình và lớn.
*) Dây quấn xoắn ốc liên tục: Làm bằng dây bẹt và khác với dây quấn hình
xoắn là dây quấn này được quấn thành những bánh dây phẳng cách nhau bằng
những rãnh hở.
Bằng cách hoán vị đặc biệt trong khi quấn, các bánh dây được nối tiếp một
cách liên tục mà không cần mối hàn giữa chúng, cũng vì thế mà dây quấn gọi là
xoắn ốc liên tục. Dây quấn này chủ yếu dùng làm cuộn dây cao áp, điện áp 35kV
trở lên và dung lượng lớn.
b) Dây quấn xen kẽ
Các bánh dây cao áp và hạ áp lần lượt xen kẽ nhau dọc theo trụ thép. Chú ý
rằng, để cách điện được dễ dàng, các bánh dây sát gông thuộc dây quấn hạ áp.
Kiểu dây quấn này hay dùng trong các máy biến áp kiểu bọc. Vì chế tạo và cách
điện khó khăn kém vững chắc về cơ khí nên các máy biến áp kiểu trụ hầu như
không dùng dây quấn xen kẽ
Lưu ý, dây quấn được quấn theo kiểu nào cũng thành nhiều vòng và lồng
vào trụ lõi thép. Và giữa các vòng dây, giữa các dây quấn ( CA và HA) có cách
điện với nhau và cách điện với lõi thép.
3. Vỏ máy : Gồm hai bộ phận là thùng và nắp thùng.
a) Thùng máy biến áp: thường làm bằng thép, thường là hình bầu dục.
Lúc máy biến áp làm việc, một phần năng lượng bị tiêu hao và toả ra dưới
dạng nhiệt năng làm nóng dây quấn, lõi thép và các bộ phận khác. Do đó, giữa máy
biến áp và môi trường xung quanh có một hiệu số nhiệt độ và gọi là độ chênh
nhiệt. Nếu độ chênh nhiệt đó vượt quá mức quy định sẽ làm giảm tuổi thọ cách
điện và gây sự cố với máy biến áp. Để đảm bảo cho máy biến áp vận hành với tải
liên tục trong thời gian quy định và không bị sự cố phải tăng cường làm lạnh bằng
cách ngâm biến áp trong thùng dầu. Ngoài ra, dầu máy biến áp còn làm nhiệm vụ
tăng cường cách điện.
b) Nắp thùng: Dùng để đậy thùng và trên đó đặt các chi tiết máy quan trọng
như:
- Các cửa ra của dây quấn CA và HA: làm nhiệm vụ cách điện giữa dây dẫn
với vỏ máy.
- Bình giãn dầu: là một thùng hình trụ, bằng thép đặt trên nắp và nối với
thùng bằng một ống dẫn dầu.
- Ống bảo hiểm: làm bằng thép, thường là hình trụ nghiêng. Một đầu nối với
thùng, một đầu bịt bằng đĩa thuỷ tinh.
III. Kết quả thực tập
Sau hai tháng thực tập chúng em đã rút ra được nhiều kinh nghiệm trong
thực tế công việc. Em đã định hình được công việc của mình sau này. Sinh viên
chúng em đã biết thêm và có cơ hội được thực hành, áp dụng những kiến thức mà
mình học được trên ghế nhà trường vào thực tế.
Ngoài việc tìm hiểu về các máy móc, thiết bị công nghiệp em còn biết thêm
về tác phong công nghiệp và khả năng làm việc theo nhóm.
Xin cảm ơn chú Thái Văn Lan Quản Đốc xưởng cơ khí Ngọc Hồi ViMeCo
cùng chú Cù Xuân Dẫn tổ trưởng tổ điện đã luôn tạo điều kiện giúp cháu thực tập
với điều kiện tốt.
Trong quá trình thực tập chúng em luôn được sự hướng dẫn của thầy giáo
chủ nhiệm Nguyễn Đăng Toàn. Em xin cảm ơn thầy đã hướng dẫn em thực tập và
làm báo cáo.
Chúng em xin cảm ơn thầy!
Nhận xét của công ty

..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Hà Nội, ngày….. tháng ……năm 2010
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản