Báo cáo thực tập " Tổng quan về khu du lịch sinh thái madagui"

Chia sẻ: Huỳnh Thị Yến | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:86

0
565
lượt xem
195
download

Báo cáo thực tập " Tổng quan về khu du lịch sinh thái madagui"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển, cùng với sự phát triển về kinh tế thì nhu cầu của con người cũng đòi hỏi cao hơn từ việc ăn, ở, đi lại… Từ đó nhu cầu vui chơi giải trí cũng được nâng lên và trở thành nhu cầu không thể thiếu của con người trong cuộc sống hiện tại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo thực tập " Tổng quan về khu du lịch sinh thái madagui"

  1. Báo cáo thực tập Tổng quan về khu du lịch sinh thái madagui 1
  2. Contents PHẦN DẪN NHẬP........................................................................................................ 3 I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ............................................................................................. 3 II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................ 4 PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN ......................................................................................... 5 I: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI................................................................ 5 II: ĐỊNH NGHĨA DU LỊCH SINH THÁI .................................................................... 7 Các tên gọi khác: ........................................................................................................... 8 III : VAI TRÒ CỦA DU LỊCH SINH THÁI ................................................................ 9 I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA KHU DU LỊCH RỪNG MADAGUI : ................................ 14 II. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI KHU DU LỊCH RỪNG MADAGUI .................................................................................................................. 14 III. ĐÁNH GIÁI HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA KHU DU LịCH RỪNG MADAGUI. ..................................................................................................... 27 SUỐI VOI ................................................................................................................... 53 I : CÁC MỤC TIÊU CHUNG ..................................................................................... 61 II : ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC GIAN DU LỊCH SINH THÁI ................................ 62 IV : ĐỊNH HƯỚNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ................................ 64 PHẦN IV : NHẬN XÉT , ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ ........................................... 67 PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................... 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 71 PHỤ LỤC .................................................................................................................... 72 2
  3. PHẦN DẪN NHẬP I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển, cùng với sự phát triển về kinh tế thì nhu cầu của con người cũng đòi hỏi cao hơn từ việc ăn, ở, đi lại… Từ đó nhu cầu vui chơi giải trí cũng được nâng lên và trở thành nhu cầu không thể thiếu của con người trong cuộc sống hiện tại. Ngành du lịch Việt Nam là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp không nhỏ với GDP của quốc gia. Bắt nguồn từ việc phát triển kinh tế thì nhu cầu và đòi hỏi của con người ngày càng cao, riêng về ngành du lịch những điểm nổi bật, mới lạ đang được các công ty lữ hành cùng nhau tìm kiếm và đưa ra phục vụ khách hàng. Ngày nay, Sự phát triển của xã hội hiện đại, đặc biệt sự phát triển của công nghiệp và đô thị hoá đã kèm theo ô nhiễm về không khí, nước uống, áp lực của công việc, các mối quan hệ xã hội đã tạo ra các trạng thái tâm lý căng thẳng. Vì thế, nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi trong môi trường sinh thái để tìm lại sự cân bằng tâm lý ngày càng phát triển. Du khách muốn được thả mình trong môi trường cảnh quan yên tĩnh, không khí trong lành, xung quanh là những rừng cây um tùm đa dạng âm sắc với sự hòa tấu của các loài chim. Khu du lịch rừng Madagui sẽ là một trong những lựa chọn tôt nhất của bạn nếu bạn thật sự muồn hòa mình vào thiên nhiên. Đến với khu du lịch rừng Madagui bạn chính là thiên nhiên và thiên nhiên cũng chính là bạn. Chính vì thế mà nhóm chúng em chọn đề tài này làm bài tiểu luận cho mình. Qua thời gian quan sát tại đây cùng với những kiến thức mà chúng em đã tích lũy được, chúng em mong mang đến cho du khách sự lựa chọn tốt nhất. 3
  4. II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu Đây là phương pháp thông dụng và đơn giản nhất nhưng cũng rất hữu ích. Để làm đề tài này được hoàn chỉnh em đã tham khảo tài liệu du lịch từ sách, báo, bài giảng của Thầy Cô, tuyến điểm du lịch. Ngoài ra em còn đến các thư viện như Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp, Thư Viện Trường Đại Học Hùng Vương để tìm kiếm thêm thông tin. Sau khi tham khảo các tài liệu, nhóm chúng em sẽ xem xét, rút ra những ý kiến, quan điểm… có tính thiết thực nhất để vận dụng cho b ài tiểu luận của mình. 2. Phương pháp khảo sát thực địa Để hiểu được một vấn đề chính xác thì phải tiếp cận trực tiếp với đối tượng mà mình quan tâm. Để hiểu được hoạt động thực tế của khu du lịch Rừng Madagui, những thành công và không thành công của nơi này. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhóm chúng em đã đi đến khu du lịch Rừng Madagui để khảo sát cũng như chụp ảnh, quay phim…lại để bổ sung vào bài làm của mình, giúp cho bài làm thêm chi tiết và tăng sức thuyết phục đối với người nghe. 3. Phương pháp điều tra phỏng vấn Để bài tiểu luận này thêm sinh động và khoa học nhóm chúng em đã đến nơi khảo sát để phỏng vấn khách du lịch tại đây để xin ý kiến, cảm nhận của du khách khi đến tham quan tại đây, bên cạnh đó nhóm cũng phỏng vấn một số nhân viên tại đây để biết rõ hơn về tình hình hoạt động của khu du lịch này. 4
  5. PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN I: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Quá trình hình thành hoạt động du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một loại hình, một phần trong hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch sinh thái hình thành xuất phát từ đâu và hình thành tự bao giờ? Theo nhiều tài liệu khác nhau thì Nepal quốc gia đầu tiên phát triển loại hình du lịch sinh thái, và hoạt động du lịch sinh thái xuất hiện sớm nhất có lẽ là ở các nước Châu Âu, rồi lan rộng ra toàn thế giới. Khi “cuộc cách mạng công nghiệp” bùng nổ ở các nước Châu Âu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, thì thế giới bắt đầu phát triển với một tốc độ vô cùng nhanh với nhiều ngành công, nông nghiệp mới ra đời cùng với sự phát triển nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, dịch vụ cũ. Hàng hóa thế giới trở nên dồi dào,phong phú, đa dạng, đời sống vật chất cũng nh ư tinh thần có những bước phát triển và nâng cao hơn trước. Ngành du lịch cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới lúc bấy giờ, với nhiều loại hình mới và cũ đan xen phát triển cùng với chất lượng dịch vụ nâng cao hơn. Đời sống vật chất ngày càng cao và hoàn thiện, con người lại muốn tìm về thiên nhiên, muốn được sống giữa thiên nhiên và hòa mình vào thiên nhiên. Vì thế, hoạt động du lịch sinh thái hình thành và bắt nguồn từ khi đây. 2. Đối tượng của du lịch sinh thái Đối tượng mà du lịch sinh thái chủ yếu là những vị khách đã trưởng thành và có thu nhập cao, có giáo dục và rất quan tâm đến môi trường tự nhiên. Họ thường là những thích hoạt động ngoài thiên nhiên và có kinh nghiệm. Ngoài ra đối tượng này không đòi hỏi dịch vụ lưu trú cao cấp, đầy đủ tiện nghi, không quá chú tâm đến ẩm thực dù họ có khả năng chi trả những dịch vụ và tiện 5
  6. ích này. Bên cạnh đó họ thường đi dài ngày và có mức chi tiêu trung bình của mỗi ngày nhiều hơn mức bình thường. Nhu cầu của đối tượng khách này thường là tham quan, tìm hiểu thiên nhiên ở các khu bảo tồn, nghỉ ngơi theo mùa ở miền biển, miền núi, leo núi,, tham quan các bảo làng dân tộc, du lịch lặn biển, mạo hiểm… Họ muốn trải nghiệm thật nhiều, để hiểu rõ hơn những giá trị trong cuộc sống, những ưu ái mà tạo hóa đã ban tặng cho con người, để họ thêm yêu thiên nhiên và có những hành động thiết thực để bảo vệ thiên nhiên. Ngoài ra, du lịch sinh thái còn kết hợp với các loại du lịch khác để thõa mãn được nhiều hơn những nhu cầu và thị hiếu khác nhau của các đối tượng khách du lịch trong nước và quốc tế. Điều này sẽ góp phần vào việc làm phong phú và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, khai thác triệt để các tiềm năng du lịch sẵn có vào tạo ra tính hấp dẫn đối với khách du lịch. 3. Lợi ích từ du lịch sinh thái Du lịch sinh thái có thể cung cấp công việc trực tiếp đến các cư dân địa phương, hoặc có thể tài trợ một số hoạt động từ khu du lịch sinh thái. Các lợi ích này có thể thu từ các nguồn như: phí vào cửa, cho thuê đất bên trong khu du lịch sinh thái… và cũng từ du khách chi tiêu ở bên ngoài khu du lịch sinh thái như việc lưu trú, thức ăn và đồ thủ công mỹ nghệ… Các dịch vụ địa phương được cải thiện, có thêm nhiều nguồn thu nhập mới từ bên trong và bên ngoài khu du lịch sinh thái. Từ những lợi ích đó, địa phương có thể cải thiện nhiều dịch vụ an sinh xã hội phục vụ đời sống nhân dân nh ư giáo dục, y tế, mở rộng thêm nhiều cơ vật chất kỹ thuật, và cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, còn hạn chế nhiều tệ nạn, xã hội do an ninh được cải thiện và trình độ dân trí cảu người dân không ngừng nâng cao. Bảo tồn được tài nguyên du lịch sinh thái, nguồn thu nhập từ du lịch sinh thái cao hơn nhiều so với các các nghành du lịch khác mà ít phải đầu tư. Rủi ro từ 6
  7. việc đầu từ du lịch sinh thái hầu như không cao so với đầu từ vào các nghành khác. Ngành du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đóng góp không nhỏ vào việc gia tăng tổng sản phẩm quốc nội, mang lại nguồn cung cấp ngoại tệ cho quốc gia thông việc xuất khẩu tại chỗ. Bên cạnh đó góp phần đa dạng hóa các nghành kinh tế. II: ĐỊNH NGHĨA DU LỊCH SINH THÁI 1. Khái niệm cơ bản của du lịch sinh thái và các tên gọi khác Sinh thái (ecology) thuật ngữ này bắt từ chữ Hy Lạp (eco là nhà ở, logos là khoa học). Sinh thái là khoa học nghiên cứu về nơi cư trú của sinh vật. Haeckel (đề xướng năm 1968): Sinh thái học là khoa học về mỗi quân hệ tổng hòa giữa sinh vật với tất cả môi trường vô cơ và hữu cơ. Eodum (1962): Sinh thái học là khoa học nghiên cữu về cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái. Hệ sinh thái (ecosystem): Là một hệ thống các loại động vật và các sinh vật khác cùng với các thành phần vô sinh và môi trường sống của chúng. Hệ sinh thái cũng được hiểu là sự cân bằng tự nhiên với tất cả các đặc thù của nó, các hệ sinh thái là nơi trú ngụ sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật. Hệ sinh thái trạy qua sự chọn lọc tự nhiên mà có thể sinh ra các hệ sinh thái tự nhiên: Hệ sinh thaí biển, hồ, sông ngoì, rừng, đồng cỏ, ca mạc… Nhưng cũng có những hệ sinh thái do con người tạo ra gọi là hệ sinh thái nhân tạo: Hệ sinh thái đô thị, hệ sinh thái môi trường, nông thôn, hệ sinh thái vi ên biển, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái hồ nhân tạo,… 7
  8. Các tên gọi khác: Du lịch sinh thái là một lĩnh vực còn mới mẽ về lý luận lẫn thực tiễn. Loại hình này chỉ mới phát triển và xuất hiện trong vòng 20 năm trở lại đây. Do đó, việc hiểu nhận thức đúng để ứng dụng trong hoạt động kinh doanh, quản lý l à vấn đề hết sức cần thiết. Hiện nay có nhiều tên gọi khác nhau hay có những hoạt động tương ứng với du lịch sinh thái. Tuy nhiên phổ biến nhất là có 11 tên gọi như sau: 1. Du lịch thiên nhiên (Nature tourism) 2. Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature-based tourism) 3. Du lịch môi trường (Environmental tourism) 4. Du lịch xanh (Green tourism) 5. Du lịch thám hiểm (Adventure tourism) 6. Du lịch có trách nghiệm (Responsible tourism) 7. Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism) 8. Du lịch bền vững (Sustainable tourism) 9. Du lịch nhà tranh (Cottage tourism) 10. Du lịch đặc thù (Particular tourism) 11. Du lịch bản sứ (Indigenous tourism). 2. Định nghĩa du lịch sinh thái ở một số quốc gia Malaysia (1995): “Du lịch sinh thái là một hoạt động du lịch và thăm viếng một cách trách nhiệm về mặt môi tr ường tới những khu còn nguyên vẹn” nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của tự nhiên và những đặc tính và hóa kèm theo trước đây cũng như hiện nay mà hoạt động này sẽ thúc đẩy cho công tác bảo tồn có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực có lợi về mặt xã hội – kinh tế. 8
  9. Autralia (1992): “Du lịch sinh thái là loại du lịch dựa vào tự nhiên (có giai đoạn) trong đó bao gồm nhân tố giáo dục và được quản lý bền vững có lợi cho sinh thái”. Hội động tư vấn về môi trường của Canada (1994): “Du lịch sinh thái là một hình thức của du lịch thiên nhiên và mang tính khai sáng, góp phần bảo tồn hệ sinh thái và vẫn tôn trọng sự hòa nhập của cộng đồng địa phương”. Nepal (1993): “Du lịch sinh thái là đề cao sự tham gia của nhân dân về việc hoạch định c\và quản lý các tài nguyên du lịch. Tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch. Sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mafnganhf du lịch phụ thuộc vào”. 3. Định nghĩa du lịch sinh thái của Việt Nam “Du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa ph ương”. III : VAI TRÒ CỦA DU LỊCH SINH THÁI 1. Vai trò tích cực Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi tr ường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên (và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá khứ hoặc hiện hành), qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực. Hoạt động của du lịch sinh thái dựa trên những nguyên tắc: Sử dụng thận trọng tài nguyên (cả tự nhiên và văn hoá), kích thích sự bảo tồn và giảm thiểu rác thải; tạo nên những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng, bảo tồn văn hoá địa phương; đảm bảo tính giáo dục môi trường cho các đối tượng tham gia và đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm lý thú chất lượng cao về môi trường tue nhiên và môi trường nhân văn xã hội . 9
  10.  Môi trường tư nhiên. Du lịch sinh thái thúc đẩy việc bảo vệ môi trường tư nhiên . Du lịch sinh thái đến sự kiểm soát các điểm du lịch nhằm bảo vệ tài nguyên tự nhiên và giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức. Đặc biệt các khu vực nhạy cảm như vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên... Góp phần lần tăng thêm mức đọ đa dạng sinh học tại các điểm du lịch sinh thái nhờ các dự án bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các hoạt đọng nuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch sinh thái. Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ các dự án nơi các hoạt động phát triển du lịch sinh thái cần đến các quỹ đất còn bỏ trống hoạt sử dụng không đạt hiểu quả. Góp phần cải thiện các đièu kiện vi khí hậu nhờ các dự án du lịch sinh thái thương có yêu cầu tạo thêm các cảnh quan, tham cỏ, vườn cây, hồ nước, thác nước nhân tạo... Góp phần đảm bảo chất lượng nước, hàn chế sự hàn chế ô nhiễm cục bộ trong khu vực cũng như hàn chế những lan truyển ở hạ lưu, các làng chài biển một khi xác định phát triển điểm du lịch sinh thái bền vững . Tối ưu hóa việc sư dụng tài nguyên hợp lý và kéo dài vòng đời sản phẩm du lịch.  Môi trường nhân văn xã hội. Góp phần tăng trưởng kinh tế cho các nước, khu vực, địa phương, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Tạo thêm công ăn, việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, góp phần thúc dạy phát triển làng nghề truyền thống và giải quyết được tạo động thừa , góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Góp phần cải thiện về cơ sơ hạ tâng và dịch vụ xã hội cho những địa phương phát triểnhoạt động du lịch sinh thái. 10
  11. Du lịch sinh thái khuyến khích sự trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa vật thể ( các di tích, đền tháp, đình chùa, lăng miếu) Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống (nhạc cụ dân tộc, ca múa nhạc, các truyền thống, tập quán...) Tạo điệu kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc và các cộng đồng. Du lịch sinh thái được xem như một mắc xích bền vững trong tổng thể ngành du lịch. 2. Vai trò tiêu cực Bên cạnh hiệu của nhiều mặt mang lại , hoạt động du lich nói chung và hoạt động DLST nói riêng cũng đã gặp phải nhưng khó khăn trước mắt cũng như tiểm tàng . Nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra những hậu quả to lớn như ô nhiểm môi trường , phá vỡ tính thống nhất và cân bằng sinh thái của môi trường nhân văn xã hội.  Môi trường tự nhiên Các khu vực có tính đa dạng sinh học cao như các khu rừng nhiệt đới với nhiều loại thực động vật qu1y hiếm , các thác nước ,các hang động thường hấp dẫn các du khách nhưng dễ bị tổn thương do phát triển DLST đặc biệt là khi phát triển đến mức quá tải . Các hệ sinh thái của các môi trường ven biển đảo và các dòng sông cũng rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sức ép cảu sự phát triển DLST. Việc xây dựng trên các cồn cát nhạy cảm gây xói mòn , thay đổi tính chất bờ và gây mắt khu hệ cư trú của cồn cát. Việc khai phá và chuyển đổi những mục đích sử dụng đất để xây dựng CSHT và CSVC làm tăng sức ép lên qu4y đất vốn rất hạn chế của các hệ động vật hoang dã. 11
  12. Sự ô nhiễm không khí và tiếng ồn do sử dụng các phương tiện cơ giới trong các vườn quốc gia làm cằn cỗi cây cối , gây các động xấu lên hệ sinh thái vốn rất nhạy cảm của các loài động thực vật trong vườn . Cuộc sống và tập quán các loài động vật hoang dã có thể bị ảnh hương do lượng lớn khách du lịch đến vào các thời điểm quan trọng của chu trình sống ( di trú ,kiếm ăn , sinh sản) Khả năng cung cấp nước sạch do sing hoat và sử lý nước thải không tương xứng với khả năng đồng hóa ô nhiễm của môi trường nước tại chỗ . Các vần đề vệ sinh và giải quyết các chất thải rắn .  Môi trường nhân văn và xã hội Các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư thường khá đặc sắc nhung rất dễ bị biến đổi do tiếp xúc với nhiều nền văn hóa xa lạ , xu hướng thị trường hóa các hoạt động , mâu thuẫn nảy sinh khi phát triển du lịch hoặc do tương phản về lối sống . Các di sản văn hóa lịch sử , khảo cổ thường được xây dựng bằng các vật liệu hủy hoại do tác đông của khí hậu nhiệt đối gió mùa. Các ảnh hưởng của việc phát triển dân số cơ học theo mùa du lich có thể có những tác động xấu đến môi trường ... Do tính chất mùa vụ của hoạt động DLST , các nhu cầu tại các thời kì cao điểm có thể vươt quá khả năng đáp ứng về dịch vụ công cộng và CSHT địa phương . Việc xây dựng các khu du lịch , Resort, khách sạn có thể là nguyên nhân của việc di chuyển chỗ ở và tái định cư ngoài ý muốn của người dân địa phương gây mâu thuẫn với cộng đồng địa phương . Các tác động do thiết kế ,xây dựng các cơ sở phục vụ du lịch có thể làm nảy sinh do sự thiếu hài hòa về cảnh quan và về văn hóa . Làm truyền các tiêu cực xã hội bên cạnh một cách ngoài ý muốn đối với những nhà quản lý, kinh doanh. 12
  13. Mâu thuẫn dễ nảy sinh giưa những người làm du lịch với người dân địa phương do việc phân bố lợi ích và chi phí của du lịch trong nhiều trường hơp chưa được cân bằng Nảy sinh những nhu cầu mới trong đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn xã hội. 13
  14. PHẦN II : TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI Ở KHU DU LỊCH RỪNG MADAGUI I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA KHU DU LỊCH RỪNG MADAGUI : Mặt tiền Khu Du Lịch Rừng Madagui có chiều dài khoảng 600m nằm dọc theo Quốc lộ 20, tại km 152 thuộc Thị trấn Madagouil, Huyện Đạ Huoai, Tỉnh Lâm Đồng, cách thành phố Hồ Chí Minh 152km, cách thành phố Đà Lạt 148km, cách thị xã Bảo Lộc khoảng 30km. Độ cao trung bình so với mặt biển là 220m. II. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI KHU DU LỊCH RỪNG MADAGUI 1. Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên 1.1 Địa hình : Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km2; địa hình tương đối phức tạp chủ yếu, là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật ... và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.  Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận.  Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai.  Phía nam – đông nam gáp tỉnh Bình Thuận.  Phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn; nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – là khu vực năng động, có 14
  15. tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn. Toàn tỉnh có thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây công ngh iệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc. Khu Du Lịch Rừng Madagui có diện tích 587,6ha là một phần của rừng quốc gia Nam Cát Tiên – một trong những khu bảo tồn thiên nhiên lớn của Việt Nam với diện tích 70.000ha. Nam Cát Tiên được UNESCO công nhận là vườn quốc gia dự trữ sinh quyển vào ngày 25/4/2002. Madagui hiện có một thảm thực vật phong phú với nhiều nhiều loại thực vật rất đa dạng và thuộc nhiều chủng loại khác nhau như tre, lồ-ô, mun và các loại gỗ quý hiếm trên hàng ngàn năm tuổi như cây si, gõ, bằng lăng. Thảm thực vật của Madagui là một phần thuộc 1.600 loài thực vật, 762 họ, nhiều cây gỗ quý và chuỗi thực vật khép kín. Đặc biệt có cây Kơnia đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên được xem như loài cây thiêng của người dân tộc. Những cây cổ thụ hàng trăm tuổi với bộ rễ dài, nổi cuồn cuộn trên mặt đất, thân cây to tạo hình thù rất độc đáo mà không một nơi nào có thể so sánh được. Ngoài ra còn có các loại thú rừng một phần trong số 300 loài chim, 70 loài bò sát, 40 loài thú và 30 loài cá. Khu Du Lịch Rừng Madagui được phủ đầy các loại hoa lá hoang sơ, cộng với hệ thống hang động liên hoàn bao quanh tạo nên nét đẹp hùng vĩ nhưng không 15
  16. quá phức tạp và nguy hiểm, rất thích hợp cho hoạt động thám hiểm, nghiên cứu động thực vật. Hệ thống hang động có thể chia làm hai loại: một loại nằm cách sâu dưới mặt đất từ 10m – 15m, một loại hang nằm trên cao cách mặt đất khoảng 10m. Đá granite là thành phần cấu tạo chính của khu vực. Khu Du Lịch Rừng Madagui nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm là 27oC, mùa nóng từ 28 – 32oC, mùa lạnh từ 24 – 26oC. Hai mùa nắng – mưa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, hạn nhất vào tháng 2 và tháng 3. Độ ẩm bình quân trong năm là 85%. Toàn khu vực có con sông Đạ Huoai dài khoảng 2,5km, lòng sông rộng nhất là 70m, nơi hẹp nhất khoảng 20m, nước chảy quanh năm. Chênh lệch mức nước mùa mưa và mùa nắng từ 1 - 2m, mùa lũ nước sông dâng cao và chảy mạnh, có nơi độ sâu gần 10m. Trong khu vực còn có hai con suối phụ (suối Dakar) chảy vào Sông Đạ Huoai với lưu lượng nhỏ và có nước quanh năm. Dọc theo bờ sông Đạ Huoai là các bãi cỏ tạo thành các bãi cắm trại liên hoàn trên diện tích khoảng 5ha, đủ điều kiện phục vụ cùng một lúc cho hàng ngàn học sinh, sinh viên các trường trung học, đại học và cán bộ công nhân viên chức của các nhà máy lớn tại Tp.HCM và các địa phương lân cận đến tham quan, sinh hoạt. Với những lợi thế vốn có về địa hình, địa lý, cùng với nhu cầu nghỉ ngơi giải trí đang có khuynh hướng phát triển nhanh, nên việc đầu tư phát triển Khu Du Lịch Rừng Madagui thành khu du lịch vui chơi, giải trí và nghỉ dưỡng là mục tiêu Công ty đang hướng đến và thiết lập cơ cấu tổ chức – phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Công ty . 16
  17. 1.2 Khí hậu Đến nơi này, du khách có thể nghỉ ngơi, thư giãn trong không gian yên tĩnh, trong không khí mát lành để quên hết cuộc sống lo toan, xô bồ ở chốn thành thị. Đến nơi đây, du khách còn có thể tham gia khám phá sự hoang sơ của khu rừng già nguyên sinh với hệ động, thực vật phong phú; hay những hang động kỳ bí, thâm nghiêm. Ở đó, có khi ta phải reo lên thích thú khi chứng kiến những tảng đá khổng lồ, những công trình nghệ thuật bằng đá ấn tượng nằm ẩn mình dưới các tán cây cổ thụ. Du khách cũng sẽ mải mê với bộ sưu tầm gần 50 loài tre khác nhau hay là sự đa dạng với gần 100 loài cây ăn trái luôn xum xuê, trĩu quả. Tài nguyên rừng 1.3 Tài nguyên rừng : Khu Du lịch Madagui nằm giữa đèo Chuối, trên Quốc lộ 20, cách thành phố Hồ Chí Minh 152km. Madagui có diện tích 600ha, trong đó khoảng 500ha l à rừng, thuộc địa phận huyện Đạ Huoai, Lâm Đồng. Và nét đặc sắc của khu du lịch này chính là từ sự hoang dã, kỳ thú, ly kỳ của hang động, núi rừng, thiên nhiên. Nằm trong vùng khí hậu mát mẻ, khu Du lịch Madagui được bao bọc bởi một hệ thống sông suối và hang động liên hoàn. Cùng với đó là thảm động, thực vật phong phú. 1.4 Tài nguyên thực động vật : Điểm nổi bật nhất của Khu Du Lịch Rừng Madagui là cơ hội được khám phá khu rừng già nguyên sinh và hệ thống động thực vật phong phú đa dạng. Các tảng đá to lớn kỳ vĩ nằm bên cạnh những bóng cây cao vút tạo nên vùng Hồ Thạch Lâm tuyệt tác Quần thể động thực vật ở Madagui thật sự độc đáo. Ở đây có mặt gần nh ư đủ loại gỗ quí như tùng, si, gõ, mun... chen chúc bên cạnh với nào là lồ ô, tre, keo, bằng lăng... Có những cây bị dây leo như rắn cuốn nhưng rất lạ là thân vẫn đơm hoa, tỏa hương. Có những vạt rừng, dây móng bò trườn dài như những con quái xà uốn khúc. Trên thân cây, bên vách đá và đôi khi giữa lưng chừng núi, những khóm 17
  18. lan rừng lặng lẽ đơm hoa. Anh Hương, học sinh Trường Ngô Sĩ Liên, Q.Tân Bình (TP.HCM), sau chuyến đi Madagui do trường tổ chức về, phát biểu: “Năm lớp 8 tụi em có được học về rừng mưa nhiệt đới, có được nghe nói về cây bằng lăng tím, về tổ mối nhưng không biết hình thù nó như thế nào. Nhưng khu du lịch Madagui không dừng lại ở những gì “trời cho”. Giám đốc Madagui Lê Minh Tân cho biết: “Bộ sưu tập tre trúc của chúng tôi hiện đã có hơn 40 loài, trong khi nơi sưu tập tre trúc nhiều nhất ở VN cũng chỉ mới có hơn 30 loài. Chúng tôi đang củng cố bộ sưu tập cây ăn trái để vài năm nữa học sinh chỉ cần đến Madagui là biết được tất cả loài cây ăn trái có trên đất nước mình”. Tiến sĩ Viên Ngọc Nam (Chi cục Phát triển lâm nghiệp TP) nhận xét: “Đây có lẽ là mô hình học tập về rừng đầu tiên ở VN”. Một hồ nhân tạo rộng 17ha mặt nước cũng đang được gấp rút hoàn thành ở Madagui. Hồ nhân tạo này sẽ cô lập một đảo thú nuôi tự nhiên, rộng hơn 10ha. Theo ông Tân, ngay tại khu hồ này sẽ có “đập thủy lợi”, “thủy điện”, có các thiết bị dùng pin mặt trời... Ông Tân nói: “Madagui sẽ như một cuốn sách giáo khoa về thế giới thiên nhiên sinh động và về sự ứng dụng sáng tạo của con người đối với những quà tặng đó của thiên nhiên”. 2. Đánh gía tài nguyên du lịch nhân văn 2.1 Dân tộc Khu du lịch sinh thái rừng madagui thuộc huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồ ng. Tên của khu du lịch này xuất phát từ ngôn ngữ của người Mạ . Âm ‘ma’ có nghĩa là người dân tộc Mạ , âm ‘ Đạ’ được phát âm lệch thành ‘ Đa ‘ , có nghĩa là sông , suối , nước , âm ‘gui ‘ có nghĩa là chỗ dừng , chỗ đứng . Tóm lại ‘ Madagui ‘ có nghĩa chung là vùng đất có sông suối mà người Mạ dừng lại để chọn làm nơi sinh sống .Tuy nhiên cũng có một vài người hiểu theo cách giải thích khác như âm ‘ Gui ‘ là tên của dòng sông hay dòng suối và tin rằng ‘ madagui ‘ là sông gui của người Mạ .Từ cách giải thích trên ta cũng đã nhận thấy được rằng dân tộc sống chủ yếu ở đây chính là người Mạ ,họ là những người sinh sồng lâu dài ở đây . 18
  19. Người mã sinh sống tại đây theo thống kê thì ngày càng tăng lên Theo điều tra dân số năm 1999, người Mạ có khoảng 33.338 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai (Việt Nam). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0 % tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người), Bình Phước (432 người), thành phố Hồ Chí Minh (72 người) Nhưng tập trung nhiều nhất là ở tỉnh Lâm Đồng vì người Mã thường tập trung sinh sống ờ những nơi có nhiều rừng và Lâm Đồng là đểm dừng ng để sinh sống tại nởi đây .Nếu đã nói đến dân cư thì chúng ta củng phải nhắc dến các hoạt động lao động vá sinh hoạt hằng ngày của người dân tộc này bởi vì “An cư lạc nhiệp “  CÁC HÌNH THỨC CANH TÁC Chủ yếu họ sinh sống bằng nghề nộng nghiệp :trồng lúa .và các nghề thủ công khác để kiếm thêm thu nhập như nghề dệt thổ cẩm và nghề rèn sắt . Ở đây người Mạ thường để trâu xuống ruộng dẫm đát đến khi thấy sục bùn thì gieo lú giống ,đây là một cách làm nương rẫy phổ biến tại nởi đây .Đồng thời còn trồng các loại cây khác lương thực thưc phẩm khác như : ngô ,bầu ,bí,bông .thuốc lá.Nghề dệt vải của các phụ nữ MẠ là đạc đển để phân biệt họ với các dân tộc khác bơi sản phẩm có đường nét hoa văn tinh vi hình hoa lá chim muông .  CÁC NÉT ĐẶC SẮC Người Mạ trong hôn nhân gia đình theo hình thức mẩu hệ tuy nhiên khi tổ chức hôn lễ thì phần lớn là do nhà trai đứng ra tổ chức và nhửng con rể này phải ở lại nhà vợ cho đến hi trả đủ sính lễ . Trong cách ăn mặc thì trang phục để thể hiện rất rõ người nam thì thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Khố cũng có nhiều loại khác nhau về kích 19
  20. thước và hoa văn trang trí. Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. áo có các loại : dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo. Còn phụ nữ thì để tóc dài búi sau gáy . Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu. Aáo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp. áo hình chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu. Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng. Về cơ bản là các sọc : màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh.  ĐÁNH GIÁ Trên đây là những sơ lược về người dân tộc Mã để giúp các bạn hểu được những đặc trưng của dân tộc miền núi này .Không phải vô tình mà tôi lại nói đến dân tộc này mà không phải nói về người miền núi khác như Mèo,Dao,Mông….và các dân tộc miền núi khác là bởi tại khu du lịch này người dân sinh sống chũ yếu chính là người Mạ.Sau chuyến đi khảo sát thực tế về khu du lịch thì chúng tôi thấy được nhiều vấn đề đã thay đổi trong cộng đồng địa phương tại nơi đây : Người Mạ vẫn sinh sống chủ yếu tại tĩnh Lâm Đồng tuy nhiên theo thời gian thì đã có nhiều sự thay đổi ,trước kia ngay tại trong khu du lịch này thì người mã sống thành từng nhóm nhóm nhỏ ở nhà sàng nhưng hiện nay thì qua cuộc trò chuyện với những nhân viên làm viên nơi đây thì tôi được biết là không còn người dân tộc nào hiện sinh sống trong khuôn viên của khu du lịch này ,họ đã bán nhà và đất cho khu du lịch và dọn ra ngoài để sinh sống .Đều này có thể thấy người miền núi không còn sống tập trung trong rừng núi làm những cộng việc như nương rây 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản