Báo cáo “THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX"

Chia sẻ: miumom

Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới đang ra sức đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới. Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo “THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX"

Báo cáo “THỰC
TRẠNG XUẤT
KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN Ở
CÔNG TY XUẤT
NHẬP KHẨU
VIPEX"

1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................ .................................................................................................................. 3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CễNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX ......................................................... 4
CHƯƠNG I................................ ..................................................................................................................... 5
Đặt trụ sở tại số 3 Xó Đàn - Quận Đống Đa - Hà Nội. ................................................................................ 5
Giai đoạn I: Từ 15/12/1990 đến cuối 1995 ................................................................ ................................ ........ 5
Đơn vị tính: USD ............................................................................................................................................. 6
BIỂU SỐ 2: ĐÓNG GÓP VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG TY ................................................ 7
CHƯƠNG II ..................................................................................................................................................14
BIỂU ĐỒ 8: ................................................................ ................................ ................................ ...................19
KẾT QUẢ XK NÔNG SẢN THEO MẶT HÀNG CỦA CÔNG TY .............................................................19
BIỂU SỐ 9: KẾT QUẢ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN THEO THỊ TRƯỜNG ...............................................20
BIỂU ĐỒ 10 ................................................................ ................................ ................................ ...................22
CHƯƠNG III ................................ .................................................................................................................28
BIỂU SỐ 11: CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY................................ .........................33
Đơn vị tính: USD................................................................................................ ................................ .............33
MÔ HÌNH MARKETING XUẤT KHẨU................................ .....................................................................35
KẾT LUẬN.....................................................................................................................................................39
MỤC LỤC ................................................................ ................................ ................................ ......................40
Lời mở đầu ................................ ....................................................................................................................40
1-/ Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động xuất khẩu của Cụng ty ................................ ...................40
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP ...................................................................................................41
Thay mặt Công ty xuất nhập khẩu VIPEx ................................ .....................................................................42
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ................................ ................................ ............................44




2
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới đang ra
sức đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền
kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng về xuất khẩu
đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm sản xuất trong
nước có hiệu quả.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng
đặc biệt của công tác xuất khẩu và coi đó là 1 trong 3 chương trình
kinh tế lớn phải tập trung thực hiện, có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa
ra thế giới bên ngoài Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thắng lợi
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân, bắt
kịp nền kinh tế thế giới.
Với một nền kinh tế 70% dân số sống bằng nghề nông, Việt Nam
xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực là các sản phẩm nông nghiệp, bất
cứ nông sản nào cũng có thể xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ tạo vốn đầu
tư nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà.
Tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, Công ty xuất nhập
khẩu VIPEX cũng góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nước nhà, đồng thời cũng tìm ra cho mình một lĩnh vực
kinh doanh đầy hấp dẫn, đó là xuất khẩu các mặt hàng nông sản.
Hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty những năm qua có
khá nhiều tiến bộ, song bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một
vài khó khăn trong khâu tìm nguồn hàng, tìm thị trường xuất khẩu, dự
trữ, bảo quản hàng hoá, ổn định tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản
hàng năm...
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề tài: “THỰC
TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX




3
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung Bỏo cỏo thực tập được chia
làm 3 chương :
CHƯƠNG I: K HÁI QUÁT VỀ CễNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU
VIPEX


Dựa trên những lý luận và phân tích thực tế đã được học, tôi đưa
ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nói chung,
xuất khẩu nông sản nói riêng nhằm mở rộng thị trường của Công ty
trên toàn thế giới.
Được sự giúp đỡ nhiệt tình của cụ giáo hướng dẫn TS Nguyễn Xuõn
Nữ và tập thể cán bộ Công ty xuất nhập khẩu VIPEX tôi đã hoàn thành
xong đề tài này. Do nhận thức còn hạn hẹp cũng như chưa trải qua thực
tế nên trong đề tài còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý
của các thầy cô, các cán bộ công ty để đề tài được hoàn thiện hơn.




4
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CễNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX

1 -/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH - PHÁT TRIỂN CÔNG TY:
Đầu những năm 1990, khi Nhà nước ban hành nhiều chủ trương chính sách
nhằm đẩy mạnh công tác xuất nhập khẩu, trong đó có việc mở rộng quyền xuất
nhập khẩu cho các ngành, các địa phương, quyền sử dụng ngoại tệ thu được do
xuất khẩu các mặt hàng vượt chỉ tiêu hoặc ngoài chỉ tiêu phải giao nộp, thì công tác
xuất nhập khẩu trở nên sôi động ở tất cả các ngành, các địa phương trong cả nước.
Bên cạnh những kết quả thu được (thể hiện ở nhịp độ tăng kim ngạch) lại
phát sinh nhiều hiện tượng tranh mua, tranh bán ở cả thị trường trong nước và
nước ngoài gây ra các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, làm phá giá thị
trường dẫn đến nguy cơ lạm phát bùng nổ.
Vấn đề đặt ra là vừa khuyến khích phát triển công tác xuất nhập khẩu địa
phương, vừa chấn chỉnh và từng b ước lập lại trật tự, kỷ cương trong khu vực
này, hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng tranh mua, tranh bán.
Công ty xuất nhập khẩu VIPEX ra đời trong hoàn cảnh đó, nhận nhiệm vụ
trước Bộ Ngoại thương góp phần giải quyết vấn đề trên bằng các biện pháp kinh
tế để thu hút được các đầu mối đã bung ra nhằm tập trung về một mối.
Công ty xuất nhập khẩu VIPEX được chính thức thành lập ngày
15/12/1990 theo Quyết định số 1356/TCCB của Bộ ngoại thương (nay là Bộ
Thương mại).
Đặt trụ sở tại số 3 Xó Đàn - Quận Đống Đa - Hà Nội.
Công ty trực thuộc Bộ Thương m ại, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh
doanh, có tư cách pháp nhân, vốn và tài khoản riêng tại Ngân hàng.
Quá trình phát triển của Công ty xuất nhập khẩu VIPEX kể từ ngày thành
lập tới nay có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn I: Từ 15/12/1990 đến cuối 1995
Đây là giai đoạn đầu của Công ty với một biên chế gồm 50 cán bộ công

5
nhân viên có trình độ nghiệp vụ còn thấp, tư tưởng nhận thức chưa được đổi
mới, thiếu năng động, chờ văn bản, chờ cơ sở tự đến với mình. Cơ sở vật chất
nghèo nàn, vốn liếng ban đầu chỉ có gần 700.000.000 đồng.
Lúc này mối quan hệ của Công ty với các đơn vị cơ sở chưa được xác lập,
đối với nước ngoài tên tuổi Công ty còn quá mới mẻ.
Thời kỳ này Công ty đang chập chững, dò bước đi sao cho đúng hướng.
Công ty nhận thức vấn đề cốt lõi là phải ổn định tổ chức, tự bồi dưỡng, đào tạo
cán bộ, bên cạnh đó gửi cán bộ đi đào tạo trong và ngoài nước. Công ty đặt
nhiệm vụ phải xây dựng một quỹ hàng hoá phong phú, đa dạng vì đó cũng là
tiền, là vốn, có như vậy mới đủ sức lực cho Công ty phát triển.
Giai đoạn II: Từ năm 1996 đến cuối 2000.
Giai đoạn này Công ty đã đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ kinh
doanh vững mạnh và một tổ chức tương đối hợp lý. Số cán bộ công nhân viên
của Công ty là 200 người, trong đó có trên 60% đã qua đại học, cao đẳng. Công
ty tập trung xây dựng một số vấn đề được xem là trọng điểm, đó là vấn đề
phương thức kinh doanh và xây dựng quỹ hàng hoá. Công ty đã có quan hệ với
17 tỉnh và thành phố và hơn 40 đơn vị quận huyện. Công ty cũng đã gây dựng
được một mạng lưới thương nhân nước ngo ài có độ tin cậy cao, vấn đề đầu tư
phát triển lâu dài được Công ty quan tâm.
Giai đoạn này Công ty còn đẩy lên được về kim ngạch xuất nhập khẩu.
BIỂU SỐ 1: TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 1991 - 1998

Đơn vị tính: USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện Mức tăng Mức hoàn thành kế hoạch
Năm
(USD) (%) Bộ giao %)
1991 11.800.000 100
1992 12.647.000 107,0 110
1993 19.463.000 154,0 108
1994 35.560.000 182,7 114
1995 46.813.000 131,6 116
1996 51.813.000 110,7 118
1997 49.257.000 95,1 115
1998 44.418.000 90,2 108



6
Trong thời kỳ này Công ty cũng đóng góp vào Ngân sách một phần không
nhỏ, tổng cộng từ 1991 đến 1998 đóng góp được:


BIỂU SỐ 2: ĐÓNG GÓP VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG TY

Đơn vi tính: Đồng.
Năm Đóng góp vào Ngân sách Nhà nước
1991 6.174.204
1992 71.889.790
1993 93.940.183
1994 2.624.995
1995 81.109.952
1996 852.835.115
1997 2.294.617.070
1998 2.084.271.142
Tổng cộng 5.487.462.451



Tuy nhiên, trong thời kỳ này Công ty gặp nhiều khó khăn, Nhà nước nợ
đọng vốn của Công ty từ 1992 - 1997 là tiền Công ty ứng trước để nhập nguyên
liệu cho sản xuất 2,5 triệu USD, tiền hàng Công ty tham gia giao lạc, cà phê cho
Liên Xô cũ, Đông Âu theo Nghị định thư trị giá 4,5 triệu Rúp, chênh lệch do
điều chỉnh giá gần 1 tỷ đồng không được giải quyết.
Giai đoạn III: từ 2001 đến nay.
Ngày thành lập Công ty vốn lưu động chỉ có gần 700.000.000 đồng, đến nay
đã có gần 40 tỷ đồng. Công ty luôn đảm bảo được đời sống cho cán bộ công
nhân viên, tiền lương không ngừng tăng lên. Trong năm 2001, Công ty đ ã có
quan hệ giao dịch với gần 30 thị trường nước ngoài, trong đó có quan hệ mua
bán thực sự là 25 thị trường. Có những thị trường lớn như Hàn Quố c, Đài Loan,
Nhật, Singapore, Indonesia, Maylaysia, Thái Lan, Anh, Pháp, Hà Lan, Italia,
Hungarie.




7
BIỂU SỐ 3: TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2001 - 2009

Kim ngạch XNK thực hiện (USD) Mức tăng Mức hoàn thành kế hoạch
Năm
(%) Bộ giao (%)
2001 40.655.000 91,5 102
2002 27.021.000 68,4 100
2003 31.900.000 118,1 106
2004 46.000.000 144,2 102
2005 49.223.000 107,0 103
2006 56.612.000 115,0 113
2007 63.356.707 111,9 115
2008 78.432.733 123,8 135,23
2009 64.448.642 82,17 102,29



Điều nổi bật trong 2 năm vừa qua là Công ty đã mở rộng quan hệ mua bán
với 2 thị trường lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc.
- V ề đối tác: Công ty hiện có quan hệ giao dịch với hơn 100 thương nhân
và tổ chức nước ngo ài, 60 đối tác nội địa, với tổng số khoảng 200 hợp đồng nội
ngo ại mỗi năm, tỷ lệ hợp đồng ký và thực hiện đạt tỷ lệ khá cao.
- V ề phương thức kinh doanh: ngoài hình thức kinh doanh xuất nhập khẩu
trực tiếp thông qua L/C, năm 2002 Công ty còn m ở ra 2 hình thức mới là hàng
đổi hàng với Trung Quốc và tạm nhập tái xuất.
2-/ Bộ máy tổ chức của Công ty:
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến, thể
hiện:
* Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm:
1. Ban giám đốc:
Gồm 1 Giám đốc và 3 phó giám đốc. Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý
điều hành toàn bộ các hoạt động kinh doanh của toàn Công ty.
2. Khối quản lý:
- Phòng tổng hợp gồm các bộ phận: kế hoạch, thống kê thị trường, giá cả,

8
pháp chế,...
- Phòng tổ chức cán bộ: tổ chức bộ máy cán bộ, lao động tiền lương, quy
hoạch, đào tạo điều hành bổ sung lao động theo yêu cầu kinh doanh. Công việc
khác như: Bảo vệ chính trị nội bộ, thanh tra lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội,...
- Phòng kế toán, tài vụ: hạch toán kế toán, đánh giá toàn bộ kết quả hoạt
động công tác trong từng kỳ kế hoạch (quí, năm). Điều tiết vốn nhằm mục tiêu
kinh doanh có hiệu quả nhất, quay vòng nhanh.
3. Khối phục vụ:
- Phòng hành chính: phục vụ nhu cầu văn phòng phẩm của Công ty, bảo
đảm công tác lễ tân, bảo quản quản lý tài sản của Công ty và của cán bộ công
nhân viên trong giờ làm việc, sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên tài sản.
- Phòng kho vận: quản lý kho và phương tiện cho thuê, chuyên chở, đảm
bảo kho hàng và xuất nhập chính xác.
4. Khối kinh doanh gồm các phòng nghiệp vụ:
- Phòng nghiệp vụ 1, 5, 6, 7 : Kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp.
- Phòng nghiệp vụ 2 : Chuyên nhập khẩu.
- Phòng nghiệp vụ 3 : Chuyên gia công hàng xuất khẩu.
- Phòng nghiệp vụ 4 : Chuyên lắp ráp xe máy.
- Các liên doanh:
+ Công ty TNHH Phát triển Đệ Nhất tại 53 Quang Trung - H à Nội.
+ Liên doanh chế biến gỗ Đà Nẵng.
- Cửa hàng:
Cửa hàng giới thiệu sản phẩm 28 Trần Hưng Đạo và 46 Ngô Quyền.
- Hệ thống chi nhánh:
+ Chi nhánh tại Hải Phòng.
+ Chi nhánh tại Đà Nẵng.
+ Chi nhánh tại TP - HCM.
- Hệ thống các cơ sở sản xuất:
+ X í nghiệp may Hải Phòng.


9
+ Xưởng lắp ráp xe máy ở Tương Mai - Hà Nội.
+ X ưởng sản xuất và chế biến gỗ thuộc phòng nghiệp vụ 6 tại Cầu Diễn
- Từ Liêm - Hà Nội.
Công ty đã có một bộ máy tổ chức khá hoàn chỉnh, có tương đối đầy đủ các
phòng ban. Tuy nhiên, phân công chuyên môn hoá chưa được quán triệt, nhất là
các phòng nghiệp vụ 1,5,6,7 đều kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp dẫn đến
cùng một mặt hàng, cùng một thị trường mà các phòng đều tham gia thực hiện,
không có sự chỉ đạo thống nhất dẫn tới hiệu quả không cao.
Hiện nay, Công ty chưa có một bộ phận chuyên sâu nghiên cứu thị trường
mà nó được nhập trong phòng tổng hợp, chưa tổ chức được đội ngũ cán bộ có
trình độ cao thu thập thông tin, xử lý và đưa ra các quyết định cho từng thời kỳ,
các phòng nghiệp vụ vẫn phải tự đi tìm thị trường.
3-/ Những lĩnh vực kinh doanh chớnh của Cụng ty:

- X uất khẩu các hàng nông - lâm - hải sản, khoáng sản, hàng thủ công mỹ
nghệ, hàng tạp phẩm hàng công nghiệp, hàng gia công chế biến và các sản phẩm
dệt may.

- Nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, vật
liệu xây dựng, phương tiện vận tải, hoá chất và hàng tiêu dùng.

- Sản xuất và gia công chế biến hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong
nước, hàng may mặc, đồ chơi điện tử, lắp ráp xe máy, điện tử, điện lạnh, hàng
nông - lâm - hải sản chế biến và dược liệu.

- Làm dịch vụ thương mại, tái xuất, chuyển khẩu quá cảnh và môi giới
thương mại.

- Đưa đón khách, vận tải hàng hoá phục vụ cho việc kinh doanh xuất nhập
khẩu.

- Cho thuê văn phòng, kinh doanh khách sạn, cho thuê kho hàng, nhà
xưởng và phương tiện nâng xếp dỡ.

- Làm đại lý, mở cửa hàng bán buôn bán lẻ hàng xuất nhập khẩu và hàng



10
sản xuất trong nước theo quy định hiện hành của Nhà nước.

- Làm liên doanh, liên kết đầu tư với nước ngoài trong sản xuất kinh doanh.

Hiện nay, Công ty đang tìm cho mình một hướng đi mới, tập trung nhiều
đến mặt hàng chủ lực có khả năng thu hút được lợi nhuận cao. Trong đó mặt
hàng nông sản cũng được Công ty xem xét, nghiên cứu, đây là mặt hàng xuất
khẩu đang được Nhà nước khuyến khích, lại có thị trường thế giới rộng lớn, khả
năng cung ứng dồi dào, nguồn vốn đầu tư lại không nhiều. Vấn đề hiện nay của
Công ty là nghiên cứu đầu vào, đầu ra hợp lý, đảm bảo hàng của Công ty đ ược
thị trường chấp nhận và tiếp nhận ngày càng nhiều, có khả năng cạnh tranh với
các đơn vị khác, cũng như với các nước xuất khẩu nông sản khác trên thế giới.


4-/ K ết quả hoạt động kinh doanh của Công ty:

Từ năm 2006 trở lại đây, hoạt động kinh doanh của Công ty diễn ra tương
đối thuận lợi. Nền kinh tế mở đã tạo điều kiện cho Công ty mở rộng buôn bán.
Tuy nhiên, tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty xuất nhập khẩu làm
công tác xuất nhập khẩu đặt ra một thử thách lớn, buộc Công ty phải xây dựng
cho mình một chiến lược kinh doanh hướng vào thị trường với đầu vào và đầu ra
hợp lý, lại phải phù hợp với thế và lực của Công ty.

Trên cơ sở đó, ban lãnh đạo Công ty Xuất nhập khẩu VIPEX nhận định
chiến lược kinh doanh của Công ty là đa d ạng hoá mặt hàng và phương thức
kinh doanh, không ngừng tận dụng và tìm hiểu thời cơ, xây dựng củng cố địa
bàn kinh doanh cũ, chủ động tìm bạn hàng mới.

Từ năm 2006, Công ty đã có những bước tiến đáng khích lệ thể hiện qua biểu sau:




11
BIỂU SỐ 6: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2006 - 2009


Tỷ lệ %
Năm
2006 2007 2008 2009
Đơn vị tính
Chỉ tiêu 2007/2006 2008/2007 2009/2008

Tổng kim ngạch XNK 1000 USD 56.611 63.356 78.433 64.449 89,35 123,80 82,17

Xuất khẩu 1000 USD 23.909 23.538 32.587 23.083 98,45 138,44 70,83

Nhập khẩu 1000 USD 32.702 39.818 45.846 41.366 121,76 115,14 90,23

Doanh thu từ h/đ SXKD triệu đồng 273.441 317.280 330.350 357.220 116,03 104,12 108,13

Lợi nhuận triệu đồng 4.800 5.321 5.768 5.411 110,9 108,4 93,8

Lợi nhuận/Doanh thu % 0,57 0,49 0,43 0,42 - - -

Chi phí lưu thông tỷ đồng 11,000 12,218 13,078 11,027 111,07 107,03 84,31

Các khoản nộp NS tỷ đồng 40,000 42,913 49,24 53,818 132,28 91,49 109,30

Các khoản nộp NS/bq người triệu đồng 91,53 97,75 107,04 115,99 106,79 109,50 108,36
Nhìn chung, kim ngạch xuất nhập khẩu cũng như thu nhập từ hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty tăng đều đặn qua các năm. Riêng năm 2008, kim
ngạch xuất nhập khẩu tăng vọt lên 78.432.733 USD, đ ạt 135,23% kế hoạch Bộ
giao, tăng 23,8% so với thực hiện năm 2007, tăng 19,3% so với mức b ình quân
của giai đoạn 2006-2009. Trong đó, xuất khẩu là 32.586.713 USD, đạt 138,67%
kế hoạch Bộ giao, tăng 38,44% so với thực hiện 2007. Nhập khẩu là 45.846.020
USD đạt 132,88% kế hoạch Bộ giao tăng 15,14% so với thực hiện năm 2007.
Nguyên nhân của sự tăng vọt này là do năm 2008 xảy ra khủng hoảng tiền
tệ - tài chính ở khu vực nhưng Công ty đã dự báo trước được tình hình nên kịp
thời có những biện pháp chiến lược kinh doanh phù hợp, đó là nhanh chóng
chuyển hướng thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của các nước chưa xảy ra khủng
hoảng. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu phải kể đến hàng gia công xuất khẩu đạt
giá trị 21.488.315 USD chiếm 65,94% kim ngạch thực hiện, tăng cả giá trị tuyệt
đối và tỷ trọng. Ngoài ra các mặt hàng xuất nhập khẩu khác cũng đều tăng so
với thực hiện năm 2007.
Mức doanh thu qua các năm đều tăng, mức tăng này phần lớn là từ hoạt
động xuất nhập khẩu. Chi phí kinh doanh cũng tăng lên, một phần do mở rộng
kinh doanh và các dịch vụ, đây là những yếu tố tích cực. Tuy nhiên do chính
sách thuế của Nhà nước đối với mặt hàng chịu thuế bị điều chỉnh nhanh gây cho
Công ty bị động trong khi thích nghi với điều kiện mới.
Lợi nhuận thu được của Công ty cũng không ngừng được tăng lên, đ ảm bảo
cho Công ty có khả năng tăng trưởng được, đảm bảo đời sống cho nhân viên và
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.




13
CHƯƠNG II


THỰC TRẠNG HO ẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG NễNG SẢN CỦA CễNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX


1-/ Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động xuất khẩu của Công ty:


1.1-/ Thuận lợi:
* V ề công tác tổ chức cán bộ: là một Công ty có truyền thống làm ăn
nghiêm túc, Công ty luôn quan tâm đến công tác tổ chức cán bộ với ý thức con
người là nhân tố quyết định tất cả.
Trước hết, Công ty chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng để các
Cán bộ công nhân viên thấy hết những thuận lợi - khó khăn khách quan và chủ
quan, từ đó thấy được trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng Công ty,
giáo dục sự gắn bó với Công ty. Bên cạnh công tác chính trị tư tưởng là những
việc làm thiết thức tạo công ăn việc làm cho các cán bộ, chăm lo xây dựng đo àn
kết nội bộ. Công ty luôn quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ, có
chương trình rõ ràng, dành chi phí hợp lý cho đào tạo, kết hợp đ ào tạo chính quy
trong nước với đào tạo ở nước ngoài. Đến năm 2009 đã có 118 lượt người đ ược
đào tạo mới về vi tính, ngoại ngữ và nghiệp vụ.
* Về phương thức kinh doanh: kinh doanh và hiệu quả kinh doanh đóng vai
trò quyết định sự tồn tại và phát triển của Công ty. Công ty quan tâm đến việc đa
dạng hoá kinh doanh, đ ón trước những lĩnh vực có hiệu quả về mặt xã hội và
kinh tế. Ví dụ như ngoài các mặt hàng nông sản chủ lực lạc, cà phê, hạt tiêu, cao
su, Công ty còn mở rộng xuất khẩu thêm cả các mặt hàng như chè, ngô, d ầu lạc,
mây tre, cói, gạo, sắn,...là những mặt hàng không có hiệu quả kinh tế xã hội cao
nhưng đã góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người và đem lại một
kho ản lợi nhuận không nhỏ. Từ lĩnh vực xuất nhập khẩu, Công ty nhanh chóng
mở rộng thêm hoạt động đầu tư vào ngân hàng (EIB), sản xuất hàng xuất khẩu,
kinh doanh đ ịa ốc, kinh doanh dịch vụ, phương châm kinh doanh là bám vào
nhu cầu thị trường trong và nước ngoài, bám vào nhu cầu khách hàng tạo ra
những mặt hàng truyền thống và b ạn hàng tin cậy.

14
* Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh sản xuất, xuất nhập khẩu và làm d ịch
vụ trên cơ sở tính toán năng lực quản lý trình độ cán bộ và hiệu quả công việc.
Trong những năm qua, Công ty đã đ ề ra chủ trương và biện pháp cụ thể để đẩy
mạnh xuất khẩu, xây dựng quy chế thưởng xuất khẩu. Bên cạnh hoạt động xuất
nhập khẩu là chủ yếu, Công ty còn chủ động tham gia hoạt động sản xuất những
mặt hàng có giá trị lớn, thường xuyên, sản xuất những mặt hàng phục vụ trực
tiếp cho xuất khẩu như may mặc, chế biến đồ gỗ, gia công sản xuất đồ chơi, đồ
điện tử,... Cũng nhờ đa dạng hoá hoạt động kinh doanh nên tiềm lực Công ty
không ngừng được phát triển. Những mặt hàng nào kinh doanh không hiệu quả
có thể được nhanh chóng chuyển đổi sang mặt hàng có hiệu quả.
* Thường xuyên chăm lo tạo vốn, bảo toàn và phát triển vốn cho đơn vị.
Thực hiện kế hoạch chú trọng hiệu quả, đảm bảo an toàn và phát triển vốn.
Tranh th ủ vốn bên ngài để mở rộng sản xuất kinh doanh. Từ số vốn ít ỏi trong
ngày đầu thành lập, Công ty đ ã có chính sách gây dựng và phát triển vốn cho
hoạt động của Công ty. Năng động tháo gỡ khó khăn, xin phép được hưởng cơ
chế "lấy thu bù chi", thu hoa hồng ngoại tệ, cân đối thu chi, lập và phát triển quỹ
hàng hoá, tăng cường tự doanh hàng xuất nhập khẩu để tạo thêm vốn, chủ động
chọn những lĩnh vực đầu tư có hiệu quả.
* Giữ chữ tín trong kinh doanh: Giữ gìn chữ "tín" trong kinh doanh, sòng
phẳng và có chiếu cố lẫn nhau trong quan hệ buôn bán là phương châm hoạt
động trên thị trường nội và ngo ại của công ty. Nhờ vậy, công ty đ ã xây dựng
được một mạng lưới bạn hàng rộng khắp. Có những thương nhân chỉ muốn ký
hợp đồng với VIPEX, có những mặt hàng nhờ VIPEX kinh doanh mà giá xuất
khẩu đã nâng lên 5-10 USD/tấn so với giá thị trường. Tôn trọng và chấp hành
pháp luật giúp Công ty tồn tại và phát triển vững vàng trong điều kiện kinh tế thị
trường.

2.2-/ Khú khăn:
* Cơ cấu tổ chức Công ty chưa có sự phân công chuyên môn hoá sâu sắc,
nhất là đối với các phòng nghiệp vụ 1,3,5,6,7 đều là các phòng kinh doanh xuất
nhập khẩu tổng hợp. Điều đó dẫn tới cùng một mặt hàng, một thị trường m à các
phòng cùng tham gia thực hiện, không có sự chỉ đạo thống nhất do đó hiệu quả
kinh doanh chưa cao. Và cũng chính vì v ậy đôi khi hoạt động kinh doanh của
công ty còn mang tính chất phi vụ dẫn tới nguồn lực tài chính bị phân tán nhỏ,
mà kinh doanh quy mô lớn có hiệu quả không thể dựa trên triết lý kinh doanh


15
theo kiểu "thương vụ" đơn thuần.
Nhiều mặt hàng xuất khẩu khác đều giảm về số lượng và trị giá như: hạt
điều, tờ tằm, sản phẩm từ tơ tằm, hàng gia công may mặc,... thậm chí có mặt
hàng không có thị trường tiêu thụ như ngô. Công ty bị mất nhiều bạn hàng kinh
doanh truyền thống lâu năm.
Thêm vào đó, thị trường trong nước sức mua giảm do khả năng thanh toán
hạn hẹp, do vậy nhiều mặt hàng tồn đọng lớn, tiêu thụ chậm, ảnh hưởng đến
kinh doanh hàng nhập khẩu. Trong khi đó kinh doanh hàng xuất khẩu cạnh tranh
gay gắt trong nước, giá biến động mạnh nhiều hơn cả giá ngoại, ngoài nước
khách hàng lợi dụng ép giá bất lợi trong giao dịch. Hiện tượng gian lận thương
mại mặc dầu Nhà nước tìm cách hạn chế đã giảm nhưng vẫn còn gây hậu quả
xấu.
* Năm 2004, Công ty còn có một khó khăn lớn là đến hạn góp vốn cho liên
doanh 53 Quang Trung bằng 11 tỷ đồng, đầu tư xây dựng số 7 Triệu Việt Vương
và đầu tư vốn cho hoạt động tài chính. Trong công tác tổ chức cán bộ vẫn nổi
cộm vấn đề chất lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu kinh doanh xuất nhập khẩu còn
chưa nhiều, số cán bộ có trình độ quản lý các mặt hàng xuất khẩu kinh doanh
còn thiếu và yếu.
* Hiện nay trên cả nước có hơn 2000 doanh nghiệp được phép xuất nhập
khẩu trực tiếp. Các Tổng công ty này chi phối sản xuất - lưu thông hầu hết các
mặt hàng xuất nhập khẩu lớn như: Gạo, cà phê, cao su, hải sản, may mặc, phân
bón, sắt thép, ximent,... trong đó có nhiều mặt hàng thuộc danh mục kinh doanh
của Công ty. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra ở thị trường xuất khẩu mà cả ở thị
trường tạo nguồn. Số lượng nhà xuất khẩu tăng dẫn đến tình trạng hỗn loạn trên
thị trường, khi có nhu cầu xuất khẩu thì tranh nhau mua và tranh nhau xuất khẩu.
Trong đó cũng phải kể đến sự kém chất lượng do cố ý của một số lô hàng xuất
khẩu tạo ra nhiều mức giá, làm cho người nhập khẩu ở nước ngoài nghi ngờ chất
lượng hàng Việt Nam và sự khác biệt của nhiều mức giá đối với cùng một loại
hàng.

2-/ Chủng loại – K im ngạch xuất khẩu nụng sản của Cụng ty:
Với phương châm đa dạng hoá hoạt động kinh doanh nên mặt hàng xuất
khẩu nông sản của Công ty cũng rất phong phú, đa dạng. Sự phong phú, đa dạng
này thay đổi theo từng mùa vụ. Đối tượng xuất khẩu mà đề tài này đề cập là một


16
số mặt hàng nông sản mà Công ty thường xuyên kinh doanh với khối lượng lớn,
đều đặn qua các năm như: lạc, cà phê, cao su, hạt tiêu, h ạt điều. Ngoài ra, Công
ty cũng kinh doanh xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như chè, ngô, d ầu
lạc, mây tre, cói, gạo, sắn,... song những mặt hàng này có khối lượng xuất khẩu
nhỏ, lại không thường xuyên qua các năm nên trong đề tài này không đề cập tới.
Nghiên cứu tình hình hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Công ty cho
thấy trong suốt quá trình làm công tác xuất khẩu, từ lúc nghiên cứu thị trường
tìm đối tác kinh doanh, ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán Công ty đều thực
hiện nghiêm túc đúng thời hạn, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao trên cơ sở 2 b ên
cùng có lợi và đảm bảo uy tín lâu d ài. Sau mỗi đợt xuất hàng, Công ty đ ều tổ
chức hạch toán kiểm tra việc thực hiện nghiệp vụ ở các công đo ạn xem có đúng,
đầy đủ, chính xác, kịp thời phát hiện những yếu điểm và rút ra kinh nghiệm cho
đợt sau.
2.1-/ Tình hình xuất khẩu nông sản của Công ty theo mặt hàng:
Kết quả xuất khẩu hàng nông sản của Công ty được thể hiện một cách khái
quát qua các số liệu sau:
BIỂU SỐ 7: KẾT QUẢ XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG NÔNG SẢN
CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2007 - 2009

Đ ơn vị tính: USD
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Tên mặt hàng
STT Giá trị Giá trị thực Giá trị thực
xuất khẩu Tỷ lệ % Tỷ lệ % T ỷ lệ %
thực hiện hiện hiện
Lạc nhân
1 3.342.427 48,19 1.857.443 28,03 1.234.800 20,31
2 Cà phê 876.500 12,64 1.437.255 21,69 1.227.732 20,20
3 Cao su 986.200 14,22 1.215.600 18,34 1.507.839 24,80
Hạt tiêu
4 1.230.487 17,74 1.437.975 21,70 1.201.506 19,76
Hạt điều
5 500.000 7,21 678.924 10,24 907.312 14,93
Tổng cộng 6.935.614 100 6.627.197 100 6.079.189 100



Từ năm 2007 đến nay, kết quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ
yếu của Công ty có những thay đổi mạnh mẽ. Năm 2009, tổng giá trị xuất khẩu
nông sản là 6.079.189 USD, đã giảm đi 856.425 USD so với năm 2007 là
6.935.614 USD (tương đương với 12,35%). Như vậy là có sự giảm sút đáng kể
trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty từ năm 2007 đến 2009. Giá trị
xuất khẩu đang từ 6.935.614 USD năm 1999 giảm xuố ng còn 6.627.197 USD


17
năm 2008, rồi tiếp tục xuống còn 6.079.189 USD năm 2009, điều này ảnh hưởng
không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của toàn Công ty. Qua đánh giá tổng kết các
năm cho thấy nguyên nhân chính làm tổng giá trị xuất khẩu nông sản giảm sút rõ
rệt là do m ặt hàng lạc nhân gây ra vì mặt hàng này giảm mạnh cả về giá trị lẫn tỷ
trọng trong cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu, trong khi đó các mặt hàng cà phê,
cao su, tiêu hạt điều đều tăng lên cả về tỷ trọng và giá trị thực hiện nhưng vẫn
chỉ chiếm phần nhỏ trong cơ cấu nông sản xuất khẩu.
Năm 2007, giá trị xuất khẩu lạc nhân là 3.342.427 USD gần bằng 2 lần giá
trị xuất khẩu năm 2009 và tỷ trọng đang từ 48,19% (năm 2007) xuống còn
20,31% (năm 2009). Sự giảm sút xảy ra đều đặn đối với lạc nhân xuất khẩu qua
3 năm 2007,2008,2009, bình quân mỗi năm giảm 9,3% trong cơ cấu hàng nông
sản xuất khẩu. Đánh giá tìm rõ nguyên nhân thì thấy năm 2008 xảy ra một cuộc
khủng hoảng tài chính m ạnh mẽ đã làm cho nền kinh tế rơi vào khủng hoảng,
xuất nhập khẩu bị đình trệ và mặt hàng lạc nhân của Công ty được xuất khẩu bị
chao đảo mạnh mẽ.
Một thực tế không thể phủ nhận khác là trồng lạc cho hiệu quả kinh tế kém
hơn m ột số loại cây nông nghiệp khác vì vậy một số nông trường lớn trước kia
thường xuyên cung cấp lạc cho Công ty đã chuyển sang trồng các loại cây khác
như cà phê, hạt tiêu, vải thiểu, mận, cam, dưa hấu,... làm nguồn hàng của Công
ty bị thay đổi đột ngột, chưa kịp tổ chức lại nguồn cung ứng lạc, khiến cho nhiều
hợp đồng xuất khẩu lạc của Công ty trong 2 năm 2008,2009 phải huỷ bỏ.
Trong 2 năm 2008,2009 giá lạc thế giới có nhiều biến động mạnh. Sự thay
đổi nhanh chóng của giá lạc làm Công ty không nắm bắt kịp, khiến cho hoạt
động xuất khẩu lạc chỉ diễn ra cầm chừng, nghe ngóng và chủ yếu để giữ khách.
Sự suy giảm nhanh chóng của lạc xuất khẩu cũng ảnh hưởng lớn tới cơ cấu
hàng nông sản xuất khẩu. Năm 2007, tỷ trọng xuất khẩu lạc là 48,19% khiến cho
nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhưng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ bé
trong cơ cấu xuất khẩu nông sản. Các cán bộ trong Công ty vẫn gọi đùa đó là
"chàng khổng lồ" và các "chú lùn". Thế nhưng từ năm 2008, các "chú lùn" này
lại có sức sống mãnh liệt trong khi "chàng khổng lồ" ngày càng "teo cơ". Mặt
hàng cà phê xuất khẩu và cao su xuất khẩu của Công ty năm 2007 chỉ chiếm
27% tỷ trọng thì năm 2009 lên đến 45% tỷ trọng. Giá trị xuất khẩu cũng lần lượt
tăng là 140% và 152,9%.




18
BIỂU ĐỒ 8:
KẾT QUẢ XK NÔNG SẢN THEO MẶT HÀNG CỦA CÔNG TY
GIAI ĐOẠN 2007 -2009

1000 USD




Bên cạnh sự sa sút của mặt hàng Lạc nhân xuất khẩu thì Cà phê, cao su, hạt
tiêu, hạt điều lại có những biểu hiện tốt đẹp, tiêu biểu nhất là hạt điều. Năm
2007, kim ngạch xuất khẩu hạt điều là 500.000 USD, chiếm có 7,21% trong cơ
cấu hàng nông sản xuất khẩu, năm 2008, chiếm 10,24% (tương ứng với 678.924
USD), năm 2009 kim ngạch xuất khẩu hạt điều là 902.312 USD, chiếm 14,93%
trong cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu. Như vậy, chỉ trong vòng hai năm gần đây
cả tỷ trọng và kim ngạch XK hạt điều đều tăng gấp hai lần. Đây thực sự là bước
tiến đáng vui mừng đối với Công ty XNK VIPEX. Năm 2009, để đáp ứng nhu
cầu thị trường thế giới và cũng là góp phần vào sự đi lên của Công ty, ban lãnh
đạo Công ty đã quyết định xây dựng một nhà máy chế biến hạt điều và lâm sản
phục vụ cho xuất khẩu, dự kiến nhà máy này sẽ cho năng suất là 500 tấn hạt điều
mỗi năm.
Nhìn chung, qua số liệu thống kê thì các mặt hàng nông sản xuất khẩu của
Công ty (trừ lạc) đều có những biểu hiện tương đối lạc quan, tất cả đều tăng cả
về tỷ trọng lẫn giá trị tuyệt đối. Tuy nhiên, trong năm 2011 này Công ty cũng
cần cố gắng nâng cao hơn nữa giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản để bù đắp
vào phần giảm sút của mặt hàng lạc nhân xuất khẩu.

19
2.2-/ Tình hình xuất khẩu nông sản của Công ty theo thị trường:
Trước tình hình kinh tế thế giới tăng trưởng thấp, kinh tế - xã hội Châu Á
và khu vực vào cuối năm 2008, đầu 2009 chịu ảnh hưởng xấu của cuộc khủng
hoảng tài chính, hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản của Công
ty nói riêng đã gặp những khó khăn nhất định trong việc tìm kiếm, khai thác thị
trường. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn khách quan Công ty vẫn nỗ lực
phấn đấu vượt qua, hoàn thành về cơ b ản các mục tiêu đề ra, giữ vững sự phát
triển ổn định của xuất khẩu nông sản.

BIỂU SỐ 9: KẾT QUẢ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN THEO THỊ TRƯỜNG
CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2007 - 2009

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
STT Thị trường
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
(USD) % (USD) % (USD) %

1 Singapore 2.645.937 38,15 2.826.500 42,65 2.477.270 40,75

Đài Loan
2 439.024 6,33 398.957 6,02 384.205 6,32

3 ASEAN 1.505.028 21,70 1.255.191 18,94 1.167.812 19,21

Trung Qu ốc
4 360.652 5,20 290.271 4,38 234.049 3,85

5 EU 1.759.565 25,37 1.538.172 23,21 1.499.128 24,66

Mỹ
6 225.408 3,25 318.106 4,80 316.725 5,21

Tổng cộng 6.935.614 100 6 .627.197 100 6.079.189 100

Với một nỗ lực không ngừng, Công ty không những hoàn thành kế hoạch Bộ
giao mà còn thành công rực rỡ trên một số thị trường mới và thị trường lớn. Năm
2008, Công ty bắt đầu áp dụng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu nông sản ở thị trường
Mỹ và đã thu được kết quả tốt đẹp với giá trị xuất khẩu là 318.106 USD, chiếm
4,8% tỷ trọng xuất khẩu nông sản và tăng 141,12% so với thực hiện năm 2007 (tức
là tăng 92.698 USD). Năm 2009, giá trị xuất khẩu nông sản trên thị trường này tuy
không tăng về tuyệt đối song lại tăng 0,41% trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Đây là
một thị trường lớn, nhu cầu đa dạng nên nếu Công ty tăng cường khai thác thì sẽ có
thể trở thành một thị trường tiềm năng to lớn của Công ty.



20
Nhìn lại một số thị trường như Singapore, EU, Đài Loan thì thấy tỷ trọng
hàng xuất khẩu không có mấy thay đổi nhưng thực ra giá trị xuất khẩu đều có xu
hướng giảm dần. Thị trường EU giảm từ 1.759.565 USD (năm 2007) xuống còn
1.499.128 USD (năm 2009), tức là giảm đi 14,8% so với năm 2007. Thị trường
Singapore năm 2008 tăng vọt lên 2.826.500 USD nhưng năm 2009 lại giảm
xuống còn 2.477.270 USD, thấp hơn cả năm 2007 là 168.667 USD.

Một dấu hiệu dễ thấy nữa là ở thị trường Trung Quốc đã giảm cả về tỷ
trọng lẫn giá trị tuyệt đối. Tỷ trọng xuất khẩu trên thị trường này cứ giảm dần từ
5,2% xuống còn 4,38% rồi xuống còn 3,85% năm 2009.




21
BIỂU ĐỒ 10
KẾT QUẢ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN THEO THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY
GIAI ĐOẠN 2007 - 2009
1000 USD




Xem xét một cách tổng quát về tỷ trọng hàng xuất khẩu của các thị trường
thì thấy trong năm 2007 và 2008 có sự chuyển dịch tỷ trọng từ các thị trường
Đài Loan, ASEAN, Trung Quốc, EU sang thị trường Mỹ và Singapore. Nhưng
trong 2 năm 2008 và 2009 lại có sự chuyển dịch theo hướng ngược lại từ thị
trường Singapore, Trung Quốc sang thị trường Đài Loan, ASEAN, EU và Mỹ,
sự chuyển dịch này là sự chuyển dịch theo xu hướng cân bằng, bão hoà. Sự
chuyển dịch này còn cho thấy rằng năm 2008 có sự sa sút ở một số thị trường thì
ngay lập tức Công ty đ ã tìm ra biện pháp khắc phục, kịp thời đẩy mạnh xuất
khẩu ở các thị trường làm ăn kém hiệu quả đó.
Tuy nhiên các con số tổng cộng về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của
Công ty qua 3 năm thực hiện 2007-2009 đều cho thấy mặt hàng nông sản xuất
khẩu hiện nay đang bị cạnh tranh ghê gớm trên thị trường thế giới (thể hiện ở
mối liên hệ giữa sự giảm sút về giá cả và kim ngạch xuất nhập khẩu). Sự giảm
sút được phân bổ đều cho các thị trường nhập khẩu sản phẩm của Công ty. Tuy
nhiên, nếu liên hệ lại với Biểu số 7 thì thấy chỉ có mặt hàng lạc nhân là giá trị
kim ngạch xuất khẩu bị giảm còn các mặt hàng khác đều tăng kim ngạch. Như
vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng chỉ có mặt hàng lạc nhân xuất khẩu của
Công ty là mặt hàng chính đang bị cạnh tranh ghê gớm trên thị trường quốc tế,
sự cạnh tranh này không chỉ xảy ra trên một thị trường m à ở nhiều thị trường.
Qua nhận định này, Công ty hiện nay đã và đang tìm biện pháp khắc phục bằng
cách dần dần chuyển hướng kinh doanh tập trung vào mặt hàng khác thay thế và
những mặt hàng mới có hiệu quả hơn như: hạt điều, chè, ... những mặt hàng này hiện

22
vẫn còn chỗ trống trên thị trường thế giới, nếu Công ty tìm được phương thức kinh
doanh phù hợp thì chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn hiện nay.
3-/ Thị trường xuất khẩu:

Công ty xuất nhập khẩu VIPEX kinh doanh trên phạm vi cả nước và ở
nước ngoài. Trong nước, bạn hàng của Công ty là các đơn vị kinh tế sản xuất
kinh doanh những mặt hàng Công ty kinh doanh, chủ yếu là các đơn vị thuộc Bộ
thương mại và nhiều Công ty thuộc các địa phương.

Ở nước ngo ài, Công ty có quan hệ lâu dài với các bạn hàng Đông Âu và

Liên Xô cũ. Thị trường nước ngoài nhìn chung là ổ n định, có khả năng cung cấp
nhiều mặt hàng cho một số thị trường lớn như Hàn Quốc, Đ ài Loan, Nhật,
Singapore, Maylaysia, Thái Lan, Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Ý, Hungari. Điều nổi
bật là Công ty đ ã mở rộng quan hệ trực tiếp với Trung Quốc và Mỹ là 2 thị
trường đầy triển vọng, chi phí vận chuyển thấp, dung lượng thị trường lớn.

4-/ Các phương thức xuất khẩu:

Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nên hiện nay Công ty cũng đang áp dụng
một cách đa dạng các loại hình xuất khẩu nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu.
Những mặt hàng nông sản tham gia vào hoạt động xuất khẩu của Công ty đều
không cần phải có hạn ngạch nên cũng tạo ra lợi thế cho Công ty.
4.1-/ Xuất khẩu tự doanh:
Số lượng hàng nông sản xuất khẩu tự doanh chiếm tới 67% giá trị xuất
khẩu nông sản, trong đó chủ yếu là lạc nhân, hạt tiêu, cao su, hạt điều, cà phê.
Hàng năm Công ty tự tổ chức thu mua nông sản của các đầu mối thu gom
trong nước sau đó xuất khẩu ra nước ngoài. Ngoài ra Công ty cũng đang đầu tư
xây dựng xí nghiệp chế biến hạt điều và một số nông sản phục vụ xuất khẩu.
4.2-/ Xuất khẩu uỷ thác:
Hình thức xuất khẩu uỷ thác hiện nay vẫn đem lại cho Công ty một khoản
lợi nhuận khá lớn, khoảng 30% giá trị xuất khẩu nông sản hàng năm. Đây là
hình thức kinh doanh thụ động vì nó phụ thuộc vào đơn vị có hàng, nếu các đơn
vị này không có nhu cầu xuất khẩu hay khối lượng hàng xuất khẩu không ổn
định thì cũng làm giảm doanh số xuất khẩu của Công ty.

23
4.3-/ Xuất khẩu theo nghị định thư:
Hình thức xuất khẩu này có những ưu thế riêng là khối lượng xuất khẩu
lớn, khả năng thanh toán đ ược bảo đảm. Tuy nhiên, xuất khẩu theo hình thức
này lại không thường xuyên vì chỉ khi nào được Nhà nước giao chỉ tiêu, Công ty
mới có thể thực hiện hoạt động xuất khẩu. Đến nay Công ty đã thực hiện được
hàng chục hợp đồng theo hình thức này với trị giá hàng triệu USD doanh thu.
4.4-/ Xuất khẩu đối lưu (hàng đổi h àng):
Đây là hình thức giao dịch mà Công ty sử dụng khi xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ nhập khẩu. Trong quá trình kinh doanh, đôi lúc Công ty cũng sử dụng
hình thức này để xuất khẩu nông sản, chấp nhận việc thanh toán bằng hàng hoá
thay cho các loại tiền tệ. Trường hợp này tính linh hoạt kém, đôi khi lại gặp khó
khăn khi tiêu thụ hàng nhập về.

5-/ Quy trỡnh hoạt động xuất khẩu nụng sản của Cụng ty:
5.1-/ Nghiên cứu, lựa chọn thị trường xuất khẩu hàng nông sản:
Nghiên cứu lựa chọn thị trường xuất khẩu là khâu đầu tiên của quá trình
xuất khẩu hàng hoá. Nó là khâu quan trọng trong việc đưa ra quyết định: xuất
khẩu mặt hàng nông sản nào để đem lại lợi nhuận lớn nhất.
Việc tìm kiếm thông tin, thăm dò thị trường là rất khó vì hiện nay Công ty vẫn
chưa có nhiều kinh nghiệm trong tìm kiếm và xử lý thông tin. Trước kia Công ty xuất
khẩu hàng sang các nước Đông Âu và Liên Xô là chủ yếu và mục đích của xuất khẩu là
để trả nợ theo Nghị định thư của Nhà nước nên việc tìm kiếm và xử lý thông tin gần như
không cần phải quan tâm. Từ năm 2000 tình hình quốc tế đã thay đổi, thị trường Đông
Âu ngày càng co hẹp, thị trường Tây Âu, Châu Phi, Châu Á mở rộng, cơ chế hoạt động
cũng rất khác so với thị trường Đông Âu cũ.
Để giải quyết những khó khăn này, Công ty phải đưa ra một kế hoạch chi
tiết và phù hợp để giải quyết những khó khăn. Công ty cần phải nghiên cứu thị
trường quốc tế một cách thật nghiêm túc, có thể tìm kiếm thông tin từ các trung
tâm thông tin thương mại, các văn phòng đại diện thương mại, phòng tư vấn
thương mại, các tạp chí thương mại trong và ngoài nước .
Một thực tế khả quan là từ năm 2000 đến nay Công ty đã m ở rộng quan hệ
với những thị trường lớn giàu tiềm năng, lại có vị trí địa lý rất gần với Việt
Nam, đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Malayxia, Singapore, Phillippin, Thái Lan,


24
Trung Quốc. Hàng năm số hàng nông sản xuất khẩu sang các thị trường này
chiếm từ 65-80% tỷ trọng xuất khẩu hàng nông sản. Trong tương lai, Công ty
vẫn muốn tiếp tục duy trì quan hệ làm ăn ở các thị trường này và khối lượng
hàng xuất khẩu sang khu vực này trong tương lai sẽ còn tăng mạnh.
Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường quốc tế, Công ty cũng cần phải nỗ lực
nghiên cứu thị trường trong nước để tạo nguồn hàng xuất khẩu bảo đảm cả về số
lượng, chất lượng, thời gian,...
5.2-/ Ký hợp đồng xuất khẩu:
Sau khi nghiên cứu về thị trường, mặt hàng xuất khẩu, tìm hiểu đối tác và
đàm phán, d ể thoả thuận mọi điều kiện có liên quan thì Công ty sẽ tiến hành
nghiệp vụ ký hợp đồng xuất khẩu. Khi hợp đồng đã đ ược ký, có nghĩa là Công
ty và đối tác cùng bị ràng buộc với nhau thông qua các điều khoản qui định
trong hợp đồng. Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng với đối tác, Công ty thường
dựa vào các căn cứ sau:
- Các định hướng kế hoạch của nhà nước, các chính sách, chế độ, các chuẩn
mực KT - XH hiện hành.
- Khả năng phát triển của sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế
của mỗi bên.
- Nhu cầu của thị trường, đơn đ ặt hàng, chào hàng.
- Tính hợp pháp của hợp đồng kinh tế và khả năng đảm bảo về tài sản của
mỗi b ên khi tham gia ký kết hợp đồng.
5.3-/ Xin giấy phép xuất khẩu:
Đây là công việc quen thuộc đối với Công ty, đối với các hàng nông sản
xuất khẩu không cần hạn ngạch thì Công ty có thể nhanh chóng đăng ký hải
quan, kê khai hải quan để kiểm tra hàng hoá và nộp thuế hải quan. Một số hàng
hoá phải qua kiểm nghiệm, kiểm dịch. Sau đó cơ quan hải quan cấp cho Công ty
giấy phép xuất khẩu hàng hoá.
5.4-/ Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu:
Phần lớn khối lượng hàng hoá thu mua của Công ty được thực hiện với các
bạn hàng truyền thống, đó là các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp sản xuất chế biến,
doanh nghiệp thu mua thu gom. Những đơn vị này được Công ty đánh giá là b ạn
hàng có uy tín cao trong kinh doanh.


25
Nghiệp vụ thu mua tạo nguồn hàng bao gồm các khâu nghiên cứu, lựa chọn
nguồn hàng, phương thức mua, ký kết hợp đồng mua bán, hình thành đơn
nguyên hàng xuất khẩu. Nhiệm vụ chủ yếu là tìm kiếm nguồn hàng, lựa chọn
khu vực đặt hàng, địa điểm giao hàng, phương thức mua bán nhằm có đ ược
hàng đúng chất lượng, đúng thời gian và thuận tiện cho vấn đề tài chính, huy
động vốn. Hiện nay Công ty thường dùng các hình thức: mua đứt bạn đoạn, xuất
khẩu, uỷ thác, liên doanh liên kết sản xuất hàng xuất khẩu. Tuỳ từng trường hợp
cụ thể để lựa chọn cho thích hợp trên cơ sở căn cứ vào yêu cầu của b ên nhập
khẩu, về hiện trạng Công ty, về cán bộ kỹ thuật viên, lao động, vốn,...
Ở khâu này, việc ký hợp đồng của Công ty được cân nhắc cẩn thận, có sự
thoả thuận bằng văn bản giữa 2 bên về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật,
bao bì, ký mã hiệu, giá cả, thời gian địa điểm giao hàng và mức độ thưởng phạt.
Việc ký kết hợp đồng phải được dựa trên pháp lệnh hợp đồng kinh tế mà thực
hiện đối với hàng nông sản trên nguyên tắc 2 b ên cùng có lợi. Khi hợp đồng ký
xong, hình thành đ ơn nguyên hàng nông sản nhằm phân định rõ ràng các mẫu
mã, tiện cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng, đồng thời giúp cho
người nhập khẩu phân chia hàng được thuận tiện. Phương pháp này hiện nay
được sử dụng là lập bảng kê chi tiết (packing list) trong đó hàng được bao gói
theo yêu cầu, được đánh số thứ tự sau đó ghi chi tiết lên bảng kê gồm: số lượng
hàng bên trong, trọng lượng tịnh của kiện hàng.
5.5-/ Nghiệp vụ kiểm tra, bảo quản hàng hoá:
Vận chuyển hàng, b ốc dỡ và dự trữ, bảo quản hàng hoá bao gồm các bước:
- Tổ chức kiểm tra giám định hàng hoá: bước này được hình thành sau khi
lên đơn nguyên hàng. Đây là khâu kiểm tra toàn diện xem có phù hợp với điều
kho ản của hợp đồng không, Công ty trung gian được Công ty xuất nhập khẩu
VIPEX thuê là Vinacontrol, tổ chức giám định hàng quốc tế là SGS. Đôi khi,
cán bộ Công ty trực tiếp kiểm tra nếu hợp đồng không ghi rõ cấp giám định.
Mục tiêu chủ yếu của Công ty là nhằm phát hiện sai sót và khuyết tật của hàng
hoá xuất khẩu để nhanh chóng khắc phục, kịp thời giao hàng đúng thời hạn. Kết
thúc kiểm tra bao giờ cũng phải lập một chứng từ bằng tiếng Việt và một bằng
tiếng nước ngo ài theo yêu cầu của phía bên kia.
- Tổ chức tiếp nhận và bảo quản hàng xuất khẩu:
Công ty có một hệ thống kho hàng rộng lớn ở một số tỉnh miền Bắc. Sau
khi thu mua nếu chưa xuất khẩu được thì hàng xuất khẩu có thể đem vào tạm


26
bảo quản trong kho. Trong các kho này có đầy đủ phương tiện vận tải, cần cẩu,
xe nâng phục vụ cho việc sắp xếp, di chuyển hàng hoá. Riêng đối với các hàng
đòi hỏi phải tươi sống thì hiện nay Công ty chưa có các kho làm lạnh vì thế nên
chỉ bảo quản được những hàng hoá thông thường.
Trong quá trình xuất kho, nhập kho, thủ kho lập đầy đủ các chứng từ như
đối với trường hợp thuê kho đ ể làm cơ sở hạch toán lỗ lãi.
5.6-/ Thuê tàu lưu cước cho lô hàng, giao hàng lên tàu :
Dựa vào điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong hợp đồng, Công ty tổ
chức ký hợp đồng thuê tàu biển chuyên chở lô hàng xuất khẩu. Nếu điều kiện cơ
sở giao hàng là CIF thì bên cạnh ký hợp đồng thuê tàu chuyên chở giống như
CFR, còn phải mua hợp đồng bảo hiểm cho lô hàng xuất khẩu. Căn cứ vào trọng
lượng, kích thước, loại hàng mà Công ty thuê tàu chuyến hay tàu chợ, ứng với
mỗi loại tàu Công ty phải ký những hợp đồng khác nhau. Đối với tàu chuyến
phải đặc biệt lưu ý tới vấn đề sở hữu tàu, tình hình tài chính của Công ty vận tải
biển đó vì trên thực tế đ ã có nhiều vụ tranh chấp xảy ra do tàu bị lưu giữ vì
không thanh toán tiền thuê tàu với chủ sở hữu tàu.
Còn đối với điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì Công ty chỉ cần tổ chức
vận chuyển hàng tới cảng xuất khẩu và thuê cẩu hàng hoá lên boong tàu. Khi
hàng hoá vượt qua lan can tàu, Công ty làm thủ tục giao nhận hàng với người
chuyên chở và lấy lại vận đơn đường biển để làm cơ sở thanh toán.
5.7-/ Nghiệp vụ thanh toán:
Để đảm bảo an toàn, Công ty thường sử dụng phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ L/C. Với hình thức này, sau khi lấy được vận đơn đường biển,
Công ty đem vận đơn cùng hợp đồng đến Ngân hàng làm thủ tục thanh toán. Tại
đây Công ty có thể rút tiền mặt ra để thanh toán trực tiếp hoặc chuyển vào tài
kho ản riêng của Công ty.




27
CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX

1-/ Phương hướng xuất khẩu:
Tổng kim ngạch XNK: 75 triệu USD trong đó nhập khẩu đạt 40 triệu

U SD, xuất khẩu đạt 35 triệu USD.

V ăn phòng Công ty: Bố trí, sắp xếp lại tổ chức Công ty, các đơn vị,

phòng ban để hoạt động tốt hơn phù hợp hơn. Thực hiện chế độ khoán trong

kinh doanh, trong các ho ạt động khác, có thưởng, phạt rõ ràng,đảm bảo đời

sống tối thiểu cho CBCNV.

Đối với chi nhánh TPHCM: Tăng cường xuất khẩu hàng nông sản từ

đầu vụ như lạc, đậu đỗ, sắn theo nguyên tắc đảm bảo cân bằng thu chi.

Đối với hệ thống các cơ sở sản xuất: K hai thác năng lực và công suất

của nhà máy để thực hiện kế hoạch sản xuất chế biến có hiệu quả tối đa. Tổ

chức và triển khai các kinh doanh phụ như xuất nhập khẩu, chế biến kinh

doanh hàng nội địa và gia công cho đơn vị khác. Trực tiếp tổ chức quản lý

vùng nguyên liệu cho nhà máy, ổ n định tổ chức của nhà máy từ sản xuất đến

hành chính, kỹ thuật..v.v...

Chi nhánh Hải Phòng: Tổ chức khai thác tốt kho hàng có sẵn, tìm đối tác

để sớm tăng hiệu quả của kho hàng.Tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu và

các dạng khác.



28
Công ty cũng khẳng định rằng thị trường chính của mình vẫn là các
nước Đông Âu đồng thời từng b ước tìm kiếm thị trường mới để tránh việc
phải phụ thuộc quá lớn vào thị trường này.

Tiếp tục khai thác và đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản, đồ hộp, đồ
khô đi Trung Quốc. Khai thác phục hồi trở lại mặt hàng xuất khẩu như lạc, cà
phê, hạt tiêu..v.v... Đồng thời công ty cũng cố gắng tích cực tìm kiếm mặt
hàng mới phục vụ cho xuất khẩu.

Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng bảo đảm vay đủ vốn cho
sản xuất kinh doanh của Công ty.

G iải quyết dứt điểm vấn đề VAT từ những năm trước và một số tồn tại

lâu trong kinh doanh cần phải giải quyết ngay.

Toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty quyết tâm đạt cho được kế
hoạch đã đ ề ra.

Về thị trường thì ngoài việc tiếp tục khai thác các thị trường chính Đông Âu
và Liờn Xụ cũ, Công ty còn cố gắng cải thiện chất lượng hàng hoá đ ể thâm nhập
vào thị trường của các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Tây Âu và một số
thị trường như Hồng Kông, Ấn Độ, Đ ài Loan,..v.v...

2-/ Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu:

2.1-/ Đa dạng hoá loại hình xuất khẩu và đa phương hoá trong quan hệ với
khách hàng trên thị trường quốc tế:
Công ty cần phải đa dạng hoá các loại hình kinh doanh xuất khẩu và
đa phương hóa trong quan hệ với khách hàng.

* Xuất khẩu tự doanh: V ới hình thức xuất khẩu tự doanh, Công ty sẽ tự tìm
kiếm, giao dịch và thực hiện hợp đồng với bạn hàng. Cũng có nghĩa là Công ty
phải năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong các hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, đây sẽ phải là loại hình kinh doanh xuất khẩu chủ yếu của công
ty, nó phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường, phù hợp


29
với chức năng kinh doanh. Muốn có bạn hàng thường xuyên Công ty cần phải
có kế hoạch cụ thể trong các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, đàm phán giao
dịch, thu hút sự quan tâm khách hàng, củng cố uy tín. Với loại hình xuất khẩu tự
doanh Công ty sẽ chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh, tìm kiếm thị
trường, mà điều quan trọng hơn cả là nó khẳng định sức sống của công ty trong
nền kinh tế thị trường tranh mua, tranh bán.
* Xuất khẩu uỷ thác: Bên cạnh hình thức xuất khẩu tự doanh, Công ty còn
có thể tiến hành xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị sản xuất kinh doanh khác để
thu phí d ịch vụ uỷ thác. Đối với loại hình kinh doanh xuất khẩu này các khâu
nghiệp vụ được rút ngắn lại, công ty chỉ phải thực hiện các vấn đề ký kết, thực
hiện hợp đồng xuất khẩu với bên nước ngoài và làm những thoả thuận cần thiết
(bằng văn bản) với các đơn vị sản xuất trong nước. Loại hình xuất khẩu này đem
lại lợi nhuận không cao song tương đối an to àn, ít rủi ro, đặc biệt phù hợp với
thời điểm vốn chưa thu hồi kịp. Là một doanh nghiệp thực hiện chức năng xuất
khẩu hàng hoá thì việc thực hiện các dịch vụ uỷ thác trong xuất khẩu là phù hợp
với Công ty và góp phần tăng doanh thu của toàn bộ hoạt động xuất khẩu.
* Xuất khẩu đối lưu: X uất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu cũng là
một hình thức xuất khẩu lớn của Công ty. Với chức năng xuất nhập khẩu tổng
hợp, Công ty có thể tham gia vào bất cứ lĩnh vực xuất nhập khẩu nào miễn là
đem lại lợi nhuận cao. Với hình thức này, Công ty có thể đáp ứng nhu cầu của
phía nước ngoài nếu họ đang tìm kiếm loại hàng hoá nào đó và Công ty sẽ là
người tìm kiếm giúp họ. Sau đó 2 bên tiến hành trao đổi hàng hoá có giá trị
tương đương với nhau. Những hàng hoá nhập về đ ược Công ty đem bán lẻ ở các
cửa hàng ho ặc có thể bán lại cho khách hàng trong nước. Ưu điểm của hình thức
này là Công ty sẽ thu được lợi nhuận từ cả 2 khâu xuất khẩu và nhập khẩu, Công
ty không phải xuất ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá.
* Xuất khẩu theo Nghị định thư: Là một doanh nghiệp kinh doanh trong
nền kinh tế thị trường năng động, sáng tạo nên Công ty không thụ động chỉ
trông chờ vào chỉ tiêu phân phối Nhà nước giao mà luôn tự m ình tìm lấy hướng
đi phù hợp. Công ty đ ã từng được Nhà nước tin tưởng giao chỉ tiêu xuất khẩu
một số mặt hàng nông sản sang Liên Xô và các nước Đông  u. Theo hình thức
này thì công ty phải tìm nguồn hàng và thu gom đủ khối lượng sau đó xuất khẩu
theo yêu cầu của Nhà nước, Công ty sẽ nhận lại tiền hàng xuất khẩu từ phía Nhà
nước. Như vậy Nhà nước là đối tác kinh doanh của doanh nghiệp. Ưu điểm của
hình thức xuất khẩu theo Nghị định thư là Công ty không cần phải lựa chọn mặt


30
hàng kinh doanh xuất khẩu mà chỉ phải xem xét mặt hàng này có thuộc lĩnh vực
kinh doanh của Công ty hay không. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, loại
hình xuất khẩu này dần trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với bản chất của
kinh doanh thương mại nên nó chỉ được coi là hình thức phụ trợ, bổ xung góp
phần tăng doanh thu của Công ty.
* Xuất khẩu gia công uỷ thác: H iện nay Công ty đang đầu tư xây dựng một
nhà máy chế biến nông - lâm sản xuất khẩu. Trong tương lai khi nhà máy đi vào
hoạt động thì bên cạnh việc tự tổ chức chế biến hàng xuất khẩu, Công ty cũng có
thể chế biến thuê theo đơn đặt hàng. Hình thức này chủ yếu nhằm tận dụng tối
đa công suất hoạt động của nhà máy, nó vừa giúp công ty thu hồi vốn nhanh vừa
giải quyết việc làm cho công nhân những khi chưa có đơn hàng xuất khẩu.
Trong giai đoạn trước, khách hàng chủ yếu của Công ty là Liên Xô và các
nước XHCN ở Đông Âu, thị trường xuất khẩu mặc dù ổn định về số lượng hàng
hoá và doanh thu song lại rất đ ơn phương, hạn hẹp. Trong thời gian tới nhiệm vụ
của Công ty là phải tiếp tục duy trì, củng cố các mối quan hệ với khách hàng cũ
là CHLB Nga, một số nước Đông Âu và quan trọng hơn là phải tìm kiếm những
khách hàng trên thị trường mới. Công ty phải chủ động "mở rộng vòng tay" đón
nhận và đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe nhất, không phân biệt mới cũ, thân quen.
Đa phương hoá trong quan hệ với khách hàng cũng là biện pháp cơ bản để mở
rộng khách hàng cũng là biện pháp cơ bản để mở rộng thị trường xuất khẩu của
Công ty. Cụ thể Công ty cần xác định rằng: Những nước như CHLB Nga, Đông
Âu, Bắc Âu, Tây Âu có mùa đông tuyết phủ nên nông sản thiếu thốn và các
nước tuy khí hậu cho phép sản xuất được nông sản nhưng thiếu đất, thiếu lao
động do chuyên môn hoá vào sản xuất công nghiệp, dịch vụ như Nhật Bản, Đ ài
Loan, Hàn Quốc, Singapore,... đều có thể trở thành khách hàng lớn với nhu cầu
về nông sản không nhỏ.

2.2-/ Hoàn thiện công tác tạo nguồn h àng - cải tiến cơ cấu mặt hàng, nâng
cao chất lượng hàng xuất khẩu:
* Mở rộng hình thức tạo nguồn:
Muốn hoạt động xuất khẩu tiến hành được thì điều kiện đầu tiên là phải có hàng
hoá để xuất khẩu, nghĩa là phải có nguồn hàng xuất khẩu. Vì vậy công tác tạo nguồn
chiếm phần lớn thời gian trong cả quá trình thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và đóng
vai trò quan trọng đối với kết quả của hoạt động xuất khẩu trong công ty.



31
Ở Công ty xuất nhập khẩu VIPEX, hoạt động tạo nguồn chủ yếu là do thu
mua từ các địa phương rồi đem về phân loại đóng gói: Hình thức tạo nguồn này
có ưu điểm là nhanh, gọn, không phải đầu tư vốn trong thời gian d ài, không yêu
cầu phải có máy móc lớn, công ty lại có thể nhanh chóng chuyển đổi mặt hàng
kinh doanh.
Nhưng nếu Công ty chỉ duy trì một hình thức tạo nguồn này thì sẽ không
đạt hiệu quả cao trong công tác tạo nguồn hàng xuất khẩu vì Công ty đã vô tình
thu nhỏ các mối quan hệ của mình đối với các đơn vị sản xuất. Công ty không
thể tự đi thu gom hàng hoá từ các hộ sản xuất nhỏ lẻ mà phải mua lại qua các
đầu mối trung gian, như vậy hiệu quả kinh doanh mang lại bị giảm đi rất nhiều.
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì lợi nhuận là mục tiêu cuối
cùng. Do đó Công ty nên tìm ra các hình thức tạo nguồn hàng xuất khẩu mới
thông qua mạng lưới bạn hàng của mình. Cụ thể là ngoài việc thu mua hàng xuất
khẩu, Công ty có thể tiến hành tự sản xuất hàng xuất khẩu, liên doanh liên kết
với các cơ sở sản xuất chế biến, các nhà máy chế biến. Có những mặt hàng Công
ty tự sản xuất lại đem lại lợi nhuận lớn hơn là thu mua lại, đồng thời Công ty có
thể gia công chế biến hàng nông sản theo đúng như mong muốn của bên nước
ngoài. Công ty có thể chủ động về số lượng, chất lượng, khống chế số lượng
hàng sản xuất ra cho phù hợp với đ ơn hàng xuất khẩu tránh dư thừa, tồn kho do
không kiểm soát được chất lượng hàng xuất khẩu để khách hàng từ chối nhận
hàng. Công ty cũng có thể chế biến thuê cho các đơn vị khác khi họ gặp khó
khăn về khối lượng, thời gian, trình độ công nghệ. Ngược lại, là Công ty cũng có
thể liên doanh liên kết với các đơn vị sản xuất chế biến để thu mua hàng xuất
khẩu của họ khi chưa sản xuất được hoặc thuê họ chế biến khi Công ty gặp phải
hợp đồng quá gấp gáp thời gian, khối lượng quá lớn hoặc công nghệ chế biến
của Công ty chưa đạt yêu cầu chất lượng hay mặt hàng nào đó không thể sản
xuất được.
Một hình thức mở rộng nguồn hàng xuất khẩu là Công ty nhận xuất khẩu
uỷ thác. Hình thức này đã được Công ty áp dụng từ lâu, tuy nhiên vấn đề là làm
sao càng ngày càng có nhiều hợp đồng uỷ thác. Để làm được điều này, Công ty
cần tăng cường mối quan hệ thân thiết với các bạn hàng để họ vui vẻ cùng chia
sẻ lợi nhuận với công ty.
Tất cả các hình thức mở rộng nguồn hàng xuất khẩu đều nhằm làm cho
Công ty tăng thu, giảm chi, ổn định nguồn hàng, là một đối tác uy tín lớn đối với
bên nước ngo ài.

32
* Hoàn thiện cơ cấu hàng xuất khẩu:
Bên cạnh lĩnh vực tạo nguồn hàng xuất khẩu, Công ty cần thực hiện cải
thiện cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Mặc dù hàng của Công ty đưa ra thị trường
quốc tế gồm nhiều loại khác nhau nhưng để cạnh tranh được với các đối thủ lớn
khác, Công ty cần không ngừng thay đổi, bổ xung những chủng loại hàng mới,
chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường. Hiện nay,
một số mặt hàng chính của Công ty có tỷ trọng như sau:

BIỂU SỐ 11: CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY

Đ ơn vị tính: USD
Mặt hàng x uất khẩu 2007 2008 2009
Lạc nhân 3.342.427 1.857.443 1.234.800
Cà phê 876.500 1.437.255 1.227.732
Cao su 986.200 1.215.600 1.507.839
Hạt tiêu 1.230.487 1.437.975 1.201.506
Hạt điều 500.000 678.924 907.312
Tổng cộng 6.935.614 6.627.197 6.079.189


Như vậy, bên cạnh một số mặt hàng truyền thống như lạc nhân, hạt tiêu,
Công ty cần tiếp tục phát huy vai trò chủ lực của các mặt hàng lạc nhân, hạt tiêu
nhưng cũng cần phải quan tâm khai thác các mặt hàng, nhóm hàng khác mà thế
giới có nhu cầu như cao su, cà phê, hạt điều, dầu lạc,... Nếu như ở mặt hàng hạt
tiêu, lạc nhân, Công ty có những biện pháp tiếp tục duy trì và đẩy mạnh vị trí
vốn có của nó thì đối với mặt hàng hạt điều, cà phê, Công ty lại phải khôi phục
vai trò của 2 mặt hàng trong hoạt động xuất khẩu của Công ty. Hạt điều là một
trong những hàng hoá đang chiếm đ ược cảm tình của người tiêu dùng nên Công
ty cũng đang dần nâng tỷ trọng mặt hàng này lên bằng việc đầu tư xây dựng một
xí nghiệp hạt điều, nâng số lượng xuất khẩu hạt điều hơn 500 tấn/năm. Ngo ài ra
trong thời gian tới cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Công ty cũng nên có một sự
cải biến cho phù hợp với xu thế tiêu dùng của thế giới và tiềm năng sẵn có của
Công ty, của quốc gia, đó là sự bổ xung những mặt hàng mới như chè, mây tre
cói, ngô, tinh d ầu,... Kinh doanh những mặt hàng mới sẽ gặp nhiều khó khăn,
song muốn tồn tại và phát triển, Công ty không còn cách nào khác là phải đối
mặt và giải quyết những khó khăn đó.


33
* Nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu:
Hàng hoá muốn xuất khẩu được không thể không chú ý đến chất lượng. Để
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu mọi doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao chất
lượng hàng xuất khẩu. Muốn vậy, Công ty cần kiểm tra kỹ quá trình vận động
của hàng hoá từ khâu đầu tới khâu cuối. Đặc biệt đối với mặt hàng thực phẩm,
ngoài việc kiểm tra chất lượng ở thời điểm sản xuất, dự trữ, bảo quản , còn phải
quan tâm đến thời hạn sử dụng an to àn. Đối với hàng nông sản thông thường
phải bao gói cẩn thận nhằm giữ gìn chất lượng sản phẩm như khi mới chế biến.
Đây là một trong những tiêu chuẩn về chất lượng của hàng hoá xuất khẩu. Khi
mức sống, khoa học công nghệ phát triển cao thì yêu cầu về chất lượng hàng hoá
cũng cao hơn. Do đó, đối với những hàng tự sản xuất Công ty phải kiểm tra
nghiêm ngặt, tôn trọng quy trình công nghệ chế biến, đối với những hàng thu
gom phải có bộ phận kiểm tra, nghiệm thu chất lượng hàng trước khi nhập hàng
từ các nơi sản xuất.
* Tổ chức tốt khâu dự trữ, bảo quản:
Một trong những biện pháp nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu là củng cố,
hoàn thiện khâu dự trữ, bảo quản hàng hoá. Hiện nay, hệ thống kho tàng của
Công ty tương đối nhiều, dung lượng lớn. Tuy nhiên có một số kho đã bị xuống
cấp, mái nhà dột, nền kho ẩm. Những điều kiện như vậy không đảm bảo an toàn
cho chất lượng hàng hoá trong kho, vì vậy Công ty cần tổ chức tu sửa lại hệ thống
kho tàng nhằm bảo quản tốt hơn, bảo toàn chất lượng hàng hoá. Hơn nữa, do đặc
tính của hàng nông sản là theo vụ mùa nên nếu công ty muốn có hàng để xuất
khẩu trong cả năm thì rõ ràng khâu dự trữ phải tốt. Vì vậy đẩy mạnh hoạt động
sản xuất trong Công ty cũng đồng nghĩa với việc tổ chức, thực hiện có hiệu quả
việc dự trữ hàng hoá xuất khẩu, tránh tình trạng "thừa vẫn thừa, thiếu vẫn thiếu"
hay "thừa lúc này, thiếu lúc khác". Vì vậy công ty phải xây dựng được một kế
hoạch dự trữ thường xuyên, dự trữ mùa vụ cụ thể trong từng giai đoạn nhất định
căn cứ vào lượng hàng xuất khẩu và xu hướng, khả năng xuất khẩu của giai đoạn
tiếp theo. Việc lập kế hoạch dự trữ những mặt hàng cụ thể Công ty phải phân cấp
cho các phòng, các cơ sở sản xuất, các cửa hàng chuyên doanh đảm trách.
2.3-/ Đẩy mạnh hoạt động Marketing xuất khẩu:
Marketing xuất khẩu rất cần thiết đối với mọi quốc gia cũng như đối với
các doanh nghiệp. Nó đòi hỏi những hiểu biết khác với ở trong nước, mặc dù sự
khác nhau nhiều lúc về trình độ hơn là về tính chất. Hơn nữa, những hiểu biết đó
cùng với khả năng riêng biệt và kinh nghiệm trở thành những nhân tố quyết định
đối với sự thành công của Công ty.


34
Công ty phải thực sự quan tâm hơn đ ến vấn đề quản lý Marketing xuất
khẩu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của mình. Hoạt động Marketing xuất
khẩu của Công ty cần phải dựa trên 3 vấn đề cơ b ản sau:
* Một: Xác định mục tiêu đ ối với hoạt động xuất khẩu của công ty. Đó là
những mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với sự tối đa hoá lợi nhuận thu
được và không ngừng tìm cách xâm nhập các thị trường mới nhằm mở rộng
phạm vi hoạt động của công ty trên thị trường quốc tế. Những tiêu chuẩn cụ thể
mà Công ty đưa ra để đánh giá sự phát triển là doanh thu xuất khẩu, lợi nhuận
xuất khẩu và thị phần của Công ty trên mỗi loại thị trường.
* H ai: Dựa trên cơ sở những mục tiêu đã xác định, Công ty xây dựng
chương trình hoạt động Marketing xuất khẩu bao gồm việc triển khai cả chiến
lược và chiến thuật của Marketing mix.
* Ba: Sử dụng các khả năng của công ty để thực hiện Marketing mix.
Hoạt động xuất khẩu của Công ty chịu tác động của các nhân tố thuộc về
Công ty (như vốn, mặt hàng kinh doanh, nguồn nhân lực của Công ty,...), về thị
trường, về chiến lược xuất khẩu được Công ty lựa chọn. Cụ thể, việc lựa chọn
hoạt động Marketing xuất khẩu của Công ty nên thực hiện theo mô hình sau:

MÔ HÌNH MARKETING XUẤT KHẨU

Lựa chọ n kế hoạch
chiến lược xuất khẩu


Đánh giá cơ hội Triển khai các Xác lập chiến lược
thị trường: kế hoạch XK, các hoạt động:
chiến lược
Marketing
xuất khẩu:
a. Đánh giá thị a. Dự kiến bán ra.
trường tiềm
b. Ngân sách cho
năng.
việc bán.
a. Đề ra mục
b. Ước tính tiêu XK
c. Giấy phép bán.
lượng bán ra
b. KH hoá Chiến lược
tiềm năng. d. Danh mục hàng
Thị Marketing Marketing
hoá bán.
trường c. Phân đoạn thị Mix: Sản xuất khẩu
xuất

Dòng thông tin
phản hồi


35
Trong 4 nhân tố của Marketing Mix là sản phẩm, giá cả, phân phối và
khuếch trương ở Công ty, vấn đề còn nhiều điều đáng nói nhất là các chính sách
về khuếch trương. Hàng hoá muốn xuất khẩu đ ược nhiều thì phải tích cực làm
công tác khuếch trương vì nó tác đ ộng rất lớn tới hành vi của người mua (người
nhập khẩu) và mục tiêu là thông tin cho khách hàng tiềm năng (bao gồm cả
người trung gian) về hàng hoá đ ể thuyết phục họ trở thành người mua hàng, để
họ bày tỏ thái độ, bày tỏ những thay đổi trong nếp nghĩ và đi đến quyết định
hành động có lợi cho nhà xuất khẩu. Để xúc tiến bán hàng xuất khẩu, Công ty
nên áp dụng các hình thức như: gửi Catologue ra nước ngoài, tham gia hội chợ
hàng tiêu dùng ở nước ngoài ho ặc trực tiếp tiếp thị tới từng doanh nghiệp tại
nước ngoài. Gửi Catalogue cho nước ngoài sẽ giúp rút ngắn khoảng cách người
bán và người mua. Thông qua Catalogue khách hàng có được các thông tin về
chủng loại hàng hoá, kích cỡ, màu sắc,... vì thế Catalogue phải được in ấn đẹp
đẽ, dễ đọc, dễ hiểu, màu sắc bố cục ấn tượng dễ nhớ. Ngoài ra Công ty còn có
thể sử dụng hình thức gửi hàng mẫu qua bưu điện cho các khách hàng quan tâm
nhằm cung cấp cho họ nhận biết về hình dáng, chất lượng, hương vị của hàng
hoá. Đặc biệt đối với mặt hàng nông sản không một hình thức nào hay hơn là để
khách hàng tiếp xúc trực tiếp với hàng hoá để họ tự cảm nhận.
Công ty cần mở rộng hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở trong và
ngoài nước. Thông qua các cửa hàng này, khả năng xâm nhập thị trường của
Công ty sẽ tăng lên. Khách hàng có thể xem hàng hoá được trưng bày ở cửa
hàng. Các cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở nước ngo ài cần chú ý có các đặc điểm
như: đ ịa điểm phù hợp với quảng cáo, ở trung tâm thành phố, gần các đầu mối
giao thông, gần các khu cửa hàng bán lẻ. Trong các cửa hàng phải tổ chức trang
trí gọn gàng, bắt mắt, phải làm nổi bật được hàng muốn giới thiệu.

2.4-/ Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả:
Vốn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi đơn vị sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên trong nền kinh tế thị trường được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển các hoạt động kinh tế thì vấn đề vốn cũng phần nào bớt căng thẳng với
các doanh nghiệp. Vốn có thể đ ược huy động bằng nhiều hình thức khác nhau.
* Công ty có thể bổ sung vốn lưu động và vốn cố định của mình trích từ lợi
nhuận hàng năm. Đây phải là nguồn vốn cơ bản của Công ty và tuỳ thuộc vào
kết quả sản xuất kinh doanh của mỗi năm mà nguồn vốn này có thể thay đổi.

36
Nguồn vốn tự có này thể hiện qui mô của doanh nghiệp và nó thường chiếm tỷ
trọng lớn trong chi phí trong các hoạt động. Tuy nhiên vì điều kiện thực tế là
Công ty kinh doanh trong nhiều lĩnh vực vốn bị rải rác, trong khi hoạt động xuất
nhập khẩu lại yêu cầu phải có một lượng vốn lớn nên ngoài nguồn vốn tự có,
Công ty phải sử dụng các hình thức khác để huy động vốn.
* Công ty có thể tiến hành nghiên cứu dự án liên doanh, liên kết với bạn
hàng nước ngoài trong những khoảng thời gian nhất định nhằm thu hút nguồn
vốn từ bên ngoài vào công ty. Cùng với chủ trương chung của Nhà nước là kêu
gọi, khuyến khích sự đầu tư của các nước phát triển vào Việt Nam thì việc Công
ty tiến hành liên doanh, liên kết với các bên đối tác nước ngo ài nhằm nâng cao
nguồn vốn và sử dụng các dây chuyền công nghệ hiện đại, học tập kinh nghiệm
quản lý, kinh doanh của những nước phát triển là việc nên làm. Tuy nhiên để
tiến hành liên doanh liên kết có lợi cho Công ty m à không làm ảnh hưởng đến
tương lai lâu dài của Công ty cũng như lợi ích xã hội mới là điều đáng quan tâm.
Trước hết, đối tác mà Công ty lựa chọn phải có cùng lĩnh vực hoạt động mà
Công ty đ ịnh liên kết kinh doanh. Sau nữa là phải có bề dày kinh nghiệm tức là
đã hoạt động trong lĩnh vực này lâu và có uy tín mạnh trên thị trường quốc tế, có
khả năng chinh phục khách hàng trên toàn thế giới. Ngoài ra cần thiết phải có
những thoả thuận chi tiết về thời hạn liên doanh, tỷ lệ vốn góp, phạm vi hoạt
động,... trên cơ sở đ ã nghiên cứu cụ thể, chi tiết về thực trạng, xu hướng phát
triển của Công ty, của đối tác, của thị trường nông sản, các chính sách và pháp
luật của Nhà nước. Có thể nói liên doanh là một hình thức huy động vốn tương
đối mới nhưng cũng đã phổ biến ở nước ta. Song để đạt được hiệu quả cao thì
cần phải có một sự nghiên cứu, chuẩn bị thật kỹ lưỡng trước khi thực hiện.
* Trong nhiều trường hợp, để huy động vốn Công ty phải yêu cầu đối tác
hỗ trợ tín dụng. Cụ thể là với một số hợp đồng xuất khẩu, Công ty yêu cầu người
mua (người nhập khẩu) ứng trước một phần hoặc toàn bộ giá trị hợp đồng, Công
ty có thể sử dụng số tiền ứng trước đó như một phần vốn của mình. Đối với
những hợp đồng có giá trị quá lớn, vượt xa khả năng của Công ty thì Công ty có
thể áp dụng hình thức yêu cầu hỗ trợ tín dụng. Bên cạnh hình thức yêu cầu hỗ
trợ tín dụng, Công ty cũng có thể thực hiện hợp đồng bằng cách mời một nhà
xuất khẩu Việt Nam cùng tham gia và 2 bên cùng nhau chia sẻ lợi nhuận.
* Huy động vốn thông qua các tổ chức tài chính tín d ụng. Cùng với sự lớn
mạnh của cơ chế thị trường là sự hoàn thiện các hệ thống ngân hàng và các hoạt
động của ngân hàng ở nước ta. Ngân hàng trở thành nơi tin cậy cho các doanh


37
nghiệp có thể huy động vốn thông qua các hình thức vay ngắn hạn, dài hạn, tín
dụng xuất khẩu để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động
thương mại quốc tế.
Vốn luôn là vấn đề khó khăn đối với mọi đơn vị kinh doanh nhưng chắc
chắn nó không phải là vấn đề bế tắc bởi có rất nhiều cách huy động vốn. Điều
quan trọng hơn là làm thế nào để sử dụng những đồng vốn đó một cách hiệu
quả. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu vốn cũng là do việc sử dụng
vốn lãng phí, bừa bãi, không tiết kiệm. Công ty cần có những biện pháp tích cực
nhằm tăng nhanh vòng quay của vốn, tránh ứ đọng vốn ở khâu này trong khi
thiếu vốn ở khâu khác, đó là việc phân phối nguồn vốn hợp lý có kiểm tra, kiểm
soát vòng tuần hoàn của vốn và đánh giá mức sinh lợi của mỗi đồng vốn bỏ ra.

2.5-/ Nâng cao, bồi d ưỡng trình độ của cán bộ xuất nhập khẩu:
Trình độ cán bộ là một trong những nguồn lực cơ bản của Công ty x uất
nhập khẩu VIPEX. Công ty đi lên như hiện nay là nhờ có đội ngũ cán bộ quản
lý, cán bộ nghiệp vụ tinh thông về nghề nghiệp, nhiệt tình với hết khả năng và
trách nhiệm của mình. Hiện tại lao động gián tiếp của Công ty chiếm chỉ có 9%
trong tổng số cán bộ công nhân viên, trong tổng số thì có tới 90% là Đại học và
trên Đại học.
Hàng năm thông qua hệ thống kiểm tra tuyển dụng và b ổ nhiệm, Công ty
có tuyển thêm một số cán bộ trẻ có bằng cấp, có trình độ, thực sự am hiểu về
nghiệp vụ, về thị trường, có phương pháp đánh giá và tư duy tốt. Tuy nhiên cho
đến nay Công ty vẫn chưa có hình thức nâng cao và bổ sung kiến thức rộng rãi
cho cán bộ xuất nhập khẩu vì lý do quá bận rộn công việc. Để đảm bảo cho
Công ty có được đội ngũ cán bộ không bị lạc hậu về trình độ thì hàng năm Công
ty phải cử luân phiên một số cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng kiến thức ngắn
ngày do các giáo sư, tiến sĩ trực tiếp giảng dạy.
Ngoài ra Công ty cũng cần phải có chính sách khuyến khích vật chất, tinh
thần để động viên các cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu, sử dụng cơ chế
khoán có quản lý phần nào cũng khuyến khích được cán bộ công nhân viên tích
cực tham gia kinh doanh, tạo sự tương đối công bằng trong thực hiện nhiệm vụ
và thu nhập. Công ty vẫn cần tiếp tục hoàn thiện hơn nhất là ở khâu giao chỉ tiêu
và gắn nó vào chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu.




38
KẾT LUẬN
Sau 20 năm ho ạt động, Công ty xuất nhập khẩu VIPEX đã không ngừng
học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn để tiếp tục tồn tại và
phát triển trong bối cảnh mới. Phải đối mặt với những khó khăn do sự thay đổi
cơ chế kinh tế, do những biến động về kinh tế, chính trị trên thế giới song Công
ty đã không chịu bó tay mà ngược lại, vẫn đang tìm những hướng đi mới, những
giải pháp mới để tự khẳng định m ình và không ngừng đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu. Tuy nhiên, nếu muốn tham gia vào thị trường khu vực và thế giới Công ty
phải chấp nhận sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt như một quy luật tất yếu của
cơ chế thị trường.
Nhằm gắn liền với những đòi hỏi và yêu cầu của thực tế, qua thời gian thực
tập ở Công ty xuất nhập khẩu VIPEX, tôi đã chọn đề tài: "Th ực trạng xuất khẩu
hàng nông sản ở Công ty xuất nhập khẩu VIPEX". N ội dung chính của đề tài đề
cập đến 3 vấn đề chính. Đó là: Qua việc giúi thiệu khỏi quỏt về một doanh
nghiệp cú hoạt động xuất nhập khẩu, phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản
của Công ty, qua đó rút ra được những mặt mạnh cũng như những tồn tại chủ
yếu trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản và đưa ra m ột vài giải pháp nhằm
giải quyết những tồn tại đó và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu của Công
ty.
Với một đề tài lớn, trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, vì vậy trong
thời gian ngắn bài Bỏo cỏo tốt nghiệp này khụng tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được sự đánh giá, bổ sung, góp ý của các thầy cô giáo và các
cán bộ trong Công ty để đề tài của tôi thực sự hoàn thiện hơn.




39
MỤC LỤC


Lời mở đầu

CHƯƠNG I: Khỏi quỏt về cụng ty xuất nhập khẩu VIPEX

1-/ Quỏ trỡnh hỡnh thành - phỏt triển Cụng ty

2-/ Bộ mỏy tổ chức của Cụng ty

3-/ Những lĩnh vực kinh doanh chớnh của Cụng ty

4-/ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Cụng ty

CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng nụng sản của Cụng ty

1-/ Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động xuất khẩu của Cụng ty

1.1-/ Thuận lợi

1.2-/ Khó khăn

2-/ Chủng loại – Kim ngạch xuất khẩu nụng sản của Cụng ty

2.1-/ Tỡnh hỡnh xuất khẩu nụng sản của Cụng ty theo mặt hàng

2.2-/ Tỡnh hỡnh xuất khẩu nụng sản của Công ty theo thị trường

3-/ Thị trường xuất khẩu

4-/ Các phương thức xuất khẩu

4.1-/ Xuất khẩu tự doanh

4.2-/ Xuất khẩu ủy thỏc

4.3-/ Xuất khẩu theo nghị định thư

4.4-/Xuất khẩu đối lưu

5-/ Quy trỡnh hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty

5.1-/ Nghiờn cứu, lựa chọn thị trường xuất khẩu hàng nông sản

5.2-/ Ký hợp đồng xuất khẩu

5.3-/ Xin gi ấy phộp xuất khẩu

5.4-/ Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu

5.5-/ Nghi ệp vụ kiểm tra, bảo quản hàng húa

5.6-/ Thuê tàu lưu cước cho lô hàng, giao hàng lên tàu

5.7-/ Nghi ệp vụ thanh toỏn

CHƯƠNG III: Phương hướng và gi ải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của Cụng ty xuất nhập khẩu VIPEX
1-/ Phương hướng xuất khẩu

2-/ Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu

2.1-/ Đa dạng hóa loại hỡnh xuất khẩu và đa phương hóa trong quan hệ với khách hàng trên thị
trường quốc tế

2.2-/ Hoàn thi ện công tác tạo nguồn hàng – cải tiến cơ cấu mặt hàng, nâng cao chất lượng hàng xuất
khẩu

2.3-/ Đẩy mạnh hoạt động Marketing xuất khẩu

2.4-/ Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả

2.5-/ Nâng cao, bồi dưỡng trỡnh độ của cán bộ xuất nhập khẩu




NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP

Trong thời gian thực tại Công ty xuõt nhập khẩu VIPEX – Số 3 Xó
Đàn, sinh viên Đoàn Thị Ngọc Hương đã có rất nhiều cố gắng .
- Đ ã tìm hiểu và nghiên cứu số liệu qua Báo cáo tổng hợp các năm của
Công ty đ ể phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu của Công ty có cơ sở khoa
học.
- Nêu lên được những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản cuả
Công ty.
- Đề xuất cho Công ty những biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông
sản của Công ty. Công ty sẽ nghiên cứu và áp d ụng nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty.
- Ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tác phong giản dị, ho à nhã, chăm chỉ, ham học
hỏi. Cần mạnh dạn hơn.


Thay mặt Công ty xuất nhập khẩu VIPEx
Trưởng phòng NV I
PHÒNG KẾ TOÁN TÀI VỤ
KHỐI QUẢN LÝ
PHÓ GIÁM ĐỐC
TÀI CHÍNH




PHÒNG TỔNG HỢP
PHÒNG TỔ CHỨC
HỆ THỐNG CƠ SỞ S X
CÁC CHI NHÁNH
PHÓ GIÁM ĐỐC KINH
GIÁM ĐỐC




KHỐI KINH DOANH
DOANH




HỆ THỐNG CỬA HÀNG
CÁC LIÊN DOANH
CÁC PHÒNG XNK
PHÓ GIÁM ĐỐC HÀNH

PHÒNG KHO VẬN




K HỐI PHỤC VỤ
CHÍNH
PHÒNG HÀNH CHÍNH
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Top Download Quản Trị Kinh Doanh

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản