BÁO CÁO TỐT NGHIỆP: Hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt,

Chia sẻ: Do Manh Ha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:70

0
128
lượt xem
44
download

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP: Hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt,

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, du lịch được coi là một nghành “công nghiệp không khói”, “ con gà đẻ trứng vàng”. Nó là một trong những nghành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều nhà đầu tư vì những lợi ích to lớn về kinh tế – xã hội mà nó đem lại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BÁO CÁO TỐT NGHIỆP: Hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt,

  1. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- Báo cáo tốt nghiệp Đề tài: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DU Lich ĐƯỜNG SẮT Nguyễn Tiến Trọng 1 Lớp 1A - CT
  2. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................................................3 U Chương I.....................................................................................................................................5 Cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm trong kinh doanh du lịch ...................5 1. Du lịch và kinh doanh du lịch ....................................................................................5 Thuật ngữ Du lịch ? ..............................................................................................................5 Thâm nhập thị trường ...................................................................... 14 Phát triển sản phẩm.......................................................................... 14 Phát triển thị trường ......................................................................... 14 Chương 2 ..................................................................................................................................16 Thực trạng về chính sách sản phẩm tại .....................................................................16 Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt. ....................................16 1. Khái quát về Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương mại Đường Sắt và Trung Tâm du lịch VietNam RailTour. ....................................................................16 Bảng 2.1 : Cơ cấu doanh thu ..........................................................................................20 Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của trung tâm ....................................................................23 Bước1 : Phân tích môi trường............................................................. 35 Bước 2 : Xác định mục tiêu ................................................................ 37 Dưới đây là chức năng và nhiệm vụ của trung tâm du lịch VietNam RailTour:.......................................................................................... 37 Mục tiêu ngắn hạn............................................................................ 37 Giảm giá đại lý................................................................................. 42 Chương III ...............................................................................................................................46 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược kinh doanh của.....................46 Công ty Cổ Phần Vận tải và Thương Mại Đường Sắt.......................................46 1. Mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty Cổ Phần Vận tải và Thương Mại Đường Sắt ....................................................................................................46 KẾT LUẬN.............................................................................................................................69 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................................70 Nguyễn Tiến Trọng 2 Lớp 1A - CT
  3. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch LỜI NÓI ĐẦU Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, du lịch được coi là một nghành “công nghiệp không khói”, “ con gà đẻ trứng vàng”. Nó là một trong những nghành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều nhà đầu tư vì những lợi ích to lớn về kinh tế – xã hội mà nó đem lại. Thế giới trong sự chuyển biến đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, cùng với chính sách cửa của nước ta, nghành du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển. Nhìn lại chặng đường đã qua,những kết quả mà nghành du lịch đã đạt được trong những năm qua là rất đáng khích lệ. Từ năm 1990 đến nay tốc độ phát triển liên tục đạt 30 – 40%/năm. Cuộc chiến tranh Mĩ –IRắc, đại dịch bệnh Sars ... đã làm cho hoạt động du lịch gặp nhiều khó khăn và giảm sút. Nhưng rồi vượt qua những khó khăn đó hầu hết nền kinh tế đã khôi phục và đạt được tốc độ tăng trưởng khả quan, nhất là hoạt động du lịch. Ngày nay, các công ty đang phải chạy đua với nhau trên một tuyến đường với những biển báo và luật lệ luôn luôn thay đổi, không có tuyến đích cũng như không có chiến thắng vĩnh cửu. Con đường nào để giúp các doanh nghiệp tồn tại được và vươn lên trong cơ chế thị trường nghiệt ngã hiện nay. Cách duy nhất là doanh nghiệp phải tự tìm cách thích ứng và điều hành doanh nghiệp theo hướng thị trường thực sự. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đưa ra thị trường sản phẩm gì? Giá bao nhiêu mà còn đưa ra thị trường như thế nào? Các kênh Marketing được tạo ra là để đáp ứng vấn đề này và để giữ vững lợi thế cạnh tranh . Một chiến lược phân phối thành công có thể cho phép một công ty định vị nó theo cách mà đối thủ cạnh tranh khó có thể bắt trước được, đồng thời là điều kiện để phát huy các biến số chiến lược khác của Marketing, mang lại hiệu quả mục tiêu và thành công lớn cho doanh nghiệp. Qua quá trình thực tập tại Công ty du lich Đường Sắt em đã chọn đề tài “ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DU Lich ĐƯỜNG SẮT ” cho luận văn của mình. Đề tài nghiên cứu nội dung của chính sách sản phẩm và đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm,cụ thể là ở Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt. Với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn..............., các thầy cô trong khoa Khách sạn - Du lịch trường Đại học Thương Mại. Cùng với sự giúp đỡ Nguyễn Tiến Trọng 3 Lớp 1A - CT
  4. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch nhiệt tình của các cô chú, anh chị trong Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt, em đã xây dựng được đề tài của mình. Kết hợp giữa lý thuyết và thực tế, nội dung cơ bản của bài luận văn được trình bày qua ba chương: Chương I : Cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm. Chương II : Thực trạng về chính sách sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt. Chương III : Một số giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt. Với sự hạn chế về chình độ và kinh nghiệm bản thân nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến nhận xét của các thầy cô giáo, các bạn độc giả. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo hướng dẫn, các cô chú, anh chị trong công ty đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt bài luận văn của mình. Xin trân thành cảm ơn ! Hà Nội,ngày tháng 09 năm 2004 Nguyễn Tiến Trọng 4 Lớp 1A - CT
  5. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Chương I Cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm trong kinh doanh du lịch 1. Du lịch và kinh doanh du lịch Thuật ngữ Du lịch ? Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là “đi một vòng”. Thuật ngữ này được La Tinh hoá thành Tornus và sau đó thành Tourisme (Tiếng Pháp), Tourism (Tiếng Anh), Mypuzu (Tiếng Nga)… Theo Robert Lanquar, từ Tourist lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800. Trong tiếng Viết thuật ngữ Tourism được dịch thông qua tiếng Hán : “Du” có nghĩa là đi chơi. “Lịch” có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên người Trung Quốc gọi Tourism là Du lãm với nghĩa “Đi chơi để nâng cao nhận thức”. 1.1 Khái niệm du lịch Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Trước thực tế phát triển của nghành du lịch về mặt kinh tế cũng như trong lĩnh vực đào tạo, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niện cơ bản, trong đó có khái niệm du lịch và du khách là một đòi hỏi cần thiết. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách thể hiện về du lịch khác nhau. Đúng như một chuyên gia về du lịch đã nhận định : “đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”. Trong số những học giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn nhất (tuy không phải là đơn giản nhất) phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện. Theo Ausher thì Du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân, còn Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng Du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người. Trong các từ điển tiếng Việt, du lịch được giải thích là đi chơi cho biết xứ người. Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch : “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Nguyễn Tiến Trọng 5 Lớp 1A - CT
  6. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức,tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua. Chúng ta biết rằng, trong thực tế cuộc sống, do sự phát triển của xã hội và nhận thức, các từ ngữ thường có khá nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau. Như vậy,cố gắng giải thích đơn vị từ đa nghĩa bằng cách gộp các nội dung khác nhau vào một định nghĩa sẽ làm cho khái niệm trở nên khó hiểu và thông qua không rõ ràng. Dựa theo cách tiếp cận trên, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là : * Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng. * Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, năng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Cho đến nay không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ nhân viên đang làm việc trong nghành du lịch chỉ cho rằng du lịch là một nghành kinh tế. Do đó mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội kinh doanh. Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội. Nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng,giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết.... Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác. 1.2 Sản phẩm du lịch? Từ “Sản phẩm” là một danh từ chỉ nói lên chất lượng hay trạng thái của một sự vật cụ thể hay trừu tượng (các món ăn do đầu bếp nấu hay dịch vụ của một hướng dẫn viên cung cấp cho khách đi thăm một thắng cảnh ). Nhưng sản phẩm du lịch là một tổng thể rất phức tạp gồm các thành phần không đồng nhất. Người ta có cùng quan niệm rằng sản phẩm này bao gồm những phần sau : - Một di sản gồm các tài nguyên thiên nhiên, văn hoá, nghệ thuật, lịch sử hay công nghệ có khả năng thu hút khách du lịch và thúc đẩy chuyến đi của họ. - Bên cạnh đó còn có các trang thiết bị mà nếu thiếu nó thì chuyến đi không thể thực hiện được : nơi ăn chốn ở, các trang bị về văn hoá,vui chơi và thể thao. - Việc đi lại thuận tiện có liên quan đến phương tiện chuyên chở mà khách du lịch sẽ dùng để đi tới địa điểm đã chọn. Nguyễn Tiến Trọng 6 Lớp 1A - CT
  7. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch 1.3 Đặc điểm sản phẩm du lịch? Sản phẩm du lịch là sản phẩm không thể lưu kho cũng như không thể cất trữ được vì khi kết thúc quá trình sản xuất sản xuất cũng là lúc kết thúc quá trình tiêu thụ. Tuy có kế hoạch hoá theo nhu cầu, thì dù muốn hay không nó cũng chỉ được sản xuất dần dần theo tiêu thụ. Sau hết là các tổ chức du lịch không thể đẩm đương được, hoặc không đẩm đương được hoàn toàn các chức năng phân phối. Họ phải giao lại cho số đông các trung gian thâu tóm tốt hơn một thị trường, dù thị trường này có nhỏ bé hoặc cá biệt đến đâu đi chăng nữa, và đạt được một hiệu suất cao nhất do có quan hệ mật thiết hơn với các khách hàng : các hãng hoặc hội du lịch, những người tiến hành hoặc tổ chức các chuyến đi, các công ty gĩư chỗ cho các dịch vụ, các đại diện bán hàng, các hãng tổng hợp đại diện cho các công ty hàng không, tầu biển, đường sắt hay đường bộ.... Mỗi trung gian có những cách làm việc đặc thù, những nhu cầu công tác khác nhau vì những mục đích thương mại riêng. *Đặc điểm của kinh doanh du lịch Công việc kinh doanh du lịch diễn ra quanh năm nhưng trong kinh doanh du lịch vẫn có tính thời vụ. Chính vì vậy mà các nhà kinh doanh luôn tìm cách để kéo dài thời vụ trong kinh doanh du lịch để tăng doanh thu cho mình. Việc kinh doanh du lịch là hỗn hợp của nhiều loại hình kinh doanh khác nhau : Vận chuyển, các dịch vụ vui chơi giải trí,các dịch vụ tham quan thắng cảnh,... Trong kinh doanh du lịch cần phải giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và chính xác do đó người điều hành phải hiểu biết để đưa ra quyết định nhanh. Đồng thời vai trò của từng nhân viên trong công ty có ý nghĩa quan trọng và họ phải rất linh hoạt để xử lý các tình huống. Kinh doanh du lịch phải đương đầu với sự cạnh tranh rất cao về chất lượng cũng như giá cả với các đối thủ của mình. 1.4 Những mục tiêu của sự phát triển sản phẩm Mục tiêu chính mà người chịu trách nhiệm của một tổ chức theo đuổi là“ Đạt tới sự phối hợp tối ưu những khối lượng về yếu tố sản xuất ” mà anh ta có thể sử dụng những khối lượng sản phẩm và dịch vụ mà anh ta có thể tạo ra. Người ta có thể phân chia những mục tiêu marketing thành bốn dạng : Kinh tế,Tự tôn,Xã hội và Môi trường sinh thái. Những mục tiêu kinh tế: Là những mục tiêu quan trọng nhất vì ở mọi mức độ marketing của một cơ sở, một mục tiêu được diễn tả chủ yếu bằng doanh số hoặc phần trăm về phát triển. Những mục tiêu tự tôn : Trước tiên là uy tín và sự cải thiện hình ảnh của công ty. Người đứng đầu công ty (cơ sở) có thể đặt mục tiêu là phải giữ khách hàng bằng mọi giá, bằng việc đảm bảo cho mình số khách và số thu nhập thích hợp. Nguyễn Tiến Trọng 7 Lớp 1A - CT
  8. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Những mục tiêu xã hội : Cũng như việc phát triển những sản phẩm phù hợp với các tầng lớp nhân dân có thu nhập thấp “Tạo điều kiện cho cho các gia đình đi nghỉ một cách lành mạnh và thoải mái theo yêu cầu và khả năng với những dịch vụ tập thể mang tính cụ thể và giáo dục ” Những mục tiêu sinh thái : Bảo vệ môi trường đang là mục tiêu nội tại của chiến lược phát triển và quản lý. Những mục tiêu này có thể là tổng quát, nhưng cũng cần rõ ràng và chi tiết,nó có thể là mục tiêu dài hạn hoạc ngắn hạn. Trong mọi trường hợp, chúng phải mang tính cân bằng, hoạt động và xác định. 2. Chính sách sản phẩm trong kinh doanh du lịch 2.1 Những vấn đề chung về chính sách sản phẩm 2.1.1 Khái niệm và vị trí của chính sách sản phẩm *Khái niệm Chính sách sản phẩm được hiểu là tổng thể những quy tắc chỉ huy việc tung sản phẩm vào thị trường để thoả mãn nhu cầu của thị trường trong thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. *Vị trí và vai trò của chính sách sản phẩm Chính sách sản phẩm là xương sống của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vai trò của chính sách sản phẩm ngày càng trở nên quan trọng. Không có chính sách sản phẩm thì chính sách giá cả, chính sách phân phối xúc tiến, quảng cáo cũng không có lý do để tồn tại. Nếu chính sách này sai lầm tức là đưa ra thị trường loại hàng hoá không có nhu cầu hoặc rất ít nhu cầu thì cho dù giá trị có thấp, quảng cáo hấp dẫn đến đâu cũng không có nghĩa gì hết đối với chính sách sản phẩm không những chỉ đảm bảo cho kinh nghiệm kinh doanh đúng hướng mà còn gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm mục tiêu chiến lược tổng quát. Mặt khác một doanh nghiệp tồn tại trên thị trường phải thông qua khối lượng sản phẩm tiêu thụ vì vậy quyết định sản phẩm là quyết định quan trọng nhất. Bởi vì sản phẩm không chỉ đảm bảo cho sản xuất kinh doanh đúng hướng mà còn giúp chúng ta thực hiện mục tiêu của chiến lược kinh doanh tổng quát như mục tiêu lợi nhuận, chất lượng,.... Để triển khai chiến lược kinh doanh đã hoạch định các doanh nghiệp phải tiến hành lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ. Trong tất cả các phương án kinh doanh trên, chính sách sản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung là chi phối các chính sách khác. Nó là hạt nhân trong hệ thống các phương án kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. 2.1.2 Các căn cứ xây dựng chính sách sản phẩm * Căn cứ vào chiến lược kinh doanh và phương án kinh doanh tổng hợp Chiến lược kinh doanh xác định phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian dài thậm trí trong xuốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp. Chính Nguyễn Tiến Trọng 8 Lớp 1A - CT
  9. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch sách sản phẩm tuy rất quan trọng nhưng cũng chỉ nhằm thực hiện mục tiêu trên mà chiến lược kinh doanh và phương án kinh doanh đã đề ra. Chính sách sản phẩm phải tiếp tục trả lời câu hỏi : Số lượng bao nhiêu? Chất lượng như thế nào? Trong chiến lược kinh doanh chung phải trả lời câu hỏi : Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Như vậy chính sách sản phẩm chỉ là sự tiếp nối trong chiến lược kinh doanh, nó không tách rời riêng biệt mà nó chỉ khác nhau ở tính bao quát và tính cụ thể. * Căn cứ vào nhu cầu thị trường Chỉ khi thị trường có nhu cầu các doanh nghiệp mới tiến hành kinh doanh để cung cấp sản phẩm cho thị trường. Trong khi chiến lược kinh doanh chung là trả lời câu hỏi “sản xuất cho ai? ”, tuy nhiên xác định cụ thể chất lượng, số lượng lại phụ thuộc vào chính sách sản phẩm. Chiến lược kinh doanh không thể trả lời câu hỏi này vì nhhu cầu về sản phẩm dịch vụ nào đó thường thay đổi theo thời gian và thời gian trong khi chiến lược kinh doanh chỉ là hành động cho cả thời gian dài. Doanh nghiệp dựa vào nhu cầu thị trường, nghiên cứu các nhu cầu chưa được thoả mãn và tiến hành sản xuất kinh doanh để cung cấp sản phẩm thoả mãn nhu cầu đó. * Căn cứ vào khả năng của doang nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp chịu nhiều ràng buộc, hạn chế nhất định do vậy doanh nghiệp phải thấy hết mặt mạnh mặt yếu mình khi lựa chọn quyết định chính sách sản phẩm. Khả năng của doanh nghiệp bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Yếu tố chủ quan như uy tín của doanh nghiệp, phần thị rường doanh nghiệp kiểm soát được,... yếu tố khách quan như trình độ lao động, nguồn vốn, vị trí kinh doanh. Một doanh nghiệp du lịch không thể cung ứng ra thị trường khối lượng sản phẩm vượt quá khả năng của mình. Không phải chỉ trong một thời gian ngắn mà các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có thể tạo điều kiện cần thiết để năng cao khối lượng sản phẩm dịch vụ và doanh nghiệp phải có chính sách sao cho có hiệu quả kinh tế cao. 2.1.3 Phương pháp xây dựng chính sách sản phẩm Khi doanh nghiệp xây dựng chính sách sản phẩm phải lựa chọn phương án tốt nhất và các nhà quản lý thường có 3 cách lựa chọn như sau : * Phương án dựa vào kinh nghiệm Bằng việc phân tích kỹ lưỡng những thành công, thất bại của chính bản thân doanh nghiệp trong quá khứ để rút ra kinh ngiệm trong việc lựa chọn phương án kinh doanh của mình. ` + Ưu điểm : Phương án này dễ làm vì những dữ liệu doanh nghiệp đã có sẵn + Nhược điểm : Những kinh nghiệm trong quá khứ không phải lúc nào cũng áp dụng được trong tương lai vì có sự khác nhau về mục tiêu. * Phương án dựa vào thực nghệm : Doanh nghiệp tiến hành làm thử một phương án trong một mục tiêu đã chọn sau đó rút kinh nghiệm dần. Nguyễn Tiến Trọng 9 Lớp 1A - CT
  10. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch + Ưu điểm : Với phương án này sản phẩm được đưa ra thị trường sẽ được đa số người chấp nhận do doanh nghiệp đã thử nghiệm kỹ lưỡng. + Nhược điểm :Phương án này lại tốn rất nhiều thời gian, tiền của, mà có thể gây phản ứng không đáng có từ phía khách hàng. * Phương pháp nghiên cứu, phân tích : Doanh nghiệp nghiên cứu chặt chẽ các biến cố, ràng buộc liên quan tới mục tiêu cần hướng tới, sử dụng các mô hình toán học để phân tích, xây dựng chính sách sản phẩm. + Ưu điểm : Phương pháp này có tính khả thi cao, xác thực với nhu cầu thị trường nên dễ được khách hàng chấp nhận. + Nhược điểm : Với phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải thành lập một phòng nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm riêng. Như vậy thì doanh nghiệp phải tốn thêm về nguồn vốn và nguồn lực. Việc xây dựng và nghiên cứu chính sách sản phẩm trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch là một công việc hết sức khó khăn và dễ mắc sai lầm bởi tính vô hình của sản phẩm. Vì vậy khi tiến hành nghiên cứu chính sách sản phẩm ta phải đặc biệt quan tâm tới các phương án cho thích hợp dễ thực hiện và dễ thay đổi, dễ thích nghi với từng thời điểm kinh doanh vì chính sách sản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng, quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và chi phối các chính sách khác. Nó là hạt nhân trong các phương án kinh doanh của doanh nghiệp. 3. Nội dung chính sách sản phẩm 3.1. Nội dung chính sách sản phẩm 3.1.1 Xác định kích thước của tập sản phẩm Khích thước tập sản phẩm gồm 4 thông số sau : Chiều dài : Thể hiện loại sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp sẽ cung ứng trên thị trường, tức phản ánh mức độ đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường - Chiều rộng : Kích thước sản phẩm đó chính là số sản phẩm khác nhau trong một danh mục sản phẩm. - Chiều sâu : Là số sản phẩm trung bình trong một chủng loại hay mỗi dòng. - Mức độ tương thích : Là số sản phẩm trung bình trong một chủng loại hay mỗi dòng sản phẩm trong danh mục sản phẩm, nó tạo nên sự phối hợp giữa các nhu cầu mong muốn của khách hàng và hệ thống dịch vụ của doanh nghiệp. Như vậy, trong chiến lược sản phẩm doanh nghiệp có nhiều các lựa chọn : chiều dài, chiều rộng hoặc cố định ở một vài loại để phát triển về chiều rộng hoặc chỉ có một loại nhưng có nhiều mẫu mã khác nhau, chính sách sản phẩm sẽ giải đáp các vấn đề đó. 3.1.2. Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới Theo tác giả Booz, Alen và Hamiton thì có 6 loại sản phẩm mới đối với doanh nghiệp và thị trường : - Sản phẩm mới đối với thế giới Nguyễn Tiến Trọng 10 Lớp 1A - CT
  11. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch - Loại sản phẩm mới - Bổ xung loại sản phẩm mới hiện có - Cải tiến sản phẩm hiện có - Sản phẩm được định vị lại - Sản phẩm giảm chi phí Như vậy, sản phẩm mới có thể là mới hoàn toàn hoặc do cải tiến sản phẩm cũ, hoặc là sản phẩm chưa từng xuất hiện trên thị trường trong và ngoài nước. Trong thời điểm kinh tế thị trường hiện nay, với việc phát triển sản phẩm mới là một yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vì mỗi sản phẩm đều có vòng đời nhất định khi sản phẩm đang khing doanh ở giai đoạn chín muồi doanh nghiệp đã phải nghĩ đến phát triển sản phẩm mới, nếu không sản phẩm hiện tại sẽ bị suy thoái và không đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy mà việc phát triển sản phẩm mới do các nguyên nhân sau : - Việc cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt và quyết liệt đã chuyển trọng tâm từ giá cả sang chất lượng sản phẩm dịch vụ, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn tìm cách năng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm hiện có, hoặc tạo ra các sản phẩm mới để giành được vị thế cạnh tranh. - Đời sống của đại bộ phận dân cư sẽ càng được thể hiện theo thời gian do kết quả của cách mạng khoa học kỹ thuật. Khi đời sống của con người được cải thiện thì nhu cầu của con người phát triển rất đa dạng đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục có sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu luôn biến động của khách hàng. - Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngoài việc cải tiến đời sống dân cư còn làm cho những sản phẩm mới xuất hiện, rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm cho các doanh nghiệp vì khoa học kỹ thuật phát triển sẽ có nhiều sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ. - Sản phẩm nào cũng có vòng đời : Khi một chu kỳ sống của sản phẩm sắp kết thúc thì doanh nghiệp phải tìm ra một sản phẩm mới để thay thế. 3.2. Chu kỳ sống của sản phẩm - Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi hình thành ý tưởng và đưa sản phẩm ra thị trường cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường. Chu lỳ sống của sản phẩm được đặc trưng bởi 4 giai đoạn : Triển khai, Tăng trưởng, Phát triển, Suy thoái Sơ đồ chu kỳ sống của sản phẩm Nguyễn Tiến Trọng 11 Lớp 1A - CT
  12. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Giới Tăng Bão Suy Thời gian Thiệu trưởng hoà thoái ( Nguồn : Quản trị marketing trong doanh nghiệp, TS Trương Đình Chiến) - Giai đoạn giới thiệu sản phẩm : Các chi phí sản xuất và marketing rất cao, do bắt đầu bán lượng bán nhỏ nên lợi nhuận rất thấp hoặc không có,cạnh tranh chưa xuất hiện. Mục tiêu của doanh nghiệp trong giai đoạn này là phải làm cho thị trường chấp nhận sản phẩm với thời gian và chi phí nhỏ nhất. Các biện pháp marketing chủ yếu là có chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ nhằm giới thiệu sản phẩm,khuyến mãi,.. - Giai đoạn tăng trưởng : Lợi nhuận tăng lên do thị trường bắt đầu dùng thử và chấp nhận sản phẩm. Lúc này bắt đầu có đối thủ cạnh tranh . Mục tiêu của doanh nghiệp trong giai đoạn này là mở rộng thị trường để chiếm lĩnh thị trường. Doanh nghiệp lức này chuyển quảng cáo sang hình thức quảng cáo xây dựng hình ảnh, uy tín, giá bán cần điều chỉnh để thu hút khách hàng và hạn chế đối thủ cạnh tranh, hoang thiện đặc tính và chất lượng của sản phẩm. - Giai đoạn bão hoà : Lượng bán không tăng nữa, mức độ cạnh tranh trở nên quết liệt, lợi nhuận của hãng khởi xướng không giữ được nhịp độ với lượng bán. Mục tiêu của doanh nghiệp là giữ phần thị trường của mình và kéo dài thời thời kỳ bão hoà để thu lợi nhuận. Lúc này, doanh nghiệp có thể “ tái tiếp thị ” sản phẩm, bao gồm : giảm giá, nâng cao chất lượng, cải tiến sản phẩm, chọn lọc các kênh phân phối, tăng cường quảng cáo và đẩy mạnh xúc tiến bán và duy trì phần thị trường. - Giai đoạn suy thoái : Khi lượng bán giảm sút, doanh nghiệp bị thua lỗ. Doanh nghiệp phải quyết định : + Loại bỏ sản phẩm + Biến đổi sản phẩm + Tìm kiếm các ứng dụng cho sản phẩm + Tìm kiếm thị trường mới + Tiếp tục chịu tổn thất Trên thực tế không phải sản phẩm nào cũng trải qua 4 giai đoạn như trên, có sản phẩm vừa ra nhập thị trường đã nhanh chong đạt được doanh số tối đa nhưng sau đó giảm xuống mức thấp nhất. Đối với sản phẩm kinh doanh du lịch, có nhiều điểm khác biệt.Có nhiều doanh nghiệp khi mới bước vào linh vực kinh doanh này gặp nhiều thuận lợi và giữu được vị thế cao trên thị trường, nhưng cung nhiều doanh nghiệp lúc đầu lam ăn cung có hiệu quả,nhưng vi một số cái lợi trước mắt mà quên đi cái lợi sau này nên phá sản là điều đương nhiên. 3.3 Mối quan hệ chính sách sản phẩm với các chính sách khác 3.3.1 Chính sách giá Chính sách giá có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách sản phẩm. Dù chính sách sản phẩm có hoàn hảo đến đâu nhưng chính sách giá không phù hợp thì sẽ đem lại thất bại cho doanh nghiệp. Nguyễn Tiến Trọng 12 Lớp 1A - CT
  13. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Đối với sản phẩm du lịch, chính sách giá vô cùng quan trọng. Do sản phẩm du lịch là sản phẩm vô hình, sản phẩm dịch vụ nên nó đòi hỏi có tính mền dẻo, linh hoạt. Vào thời điểm mùa vụ thì doanh nghệp có thể tăng giá nhưng trong khoảng mà khách hàng chấp nhận, còn cuối mùa thì doanh nghiệp có thể giảm giá, hoặc có những chương trình khuyến mãi,... 3.3.2 Chính sách phân phối Chính sách phân phối là phương hướng thể hiện cách mà doanh nghiệp cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng của mình. Một chính sách phân phối hợp lý sẽ làm cho việc kinh doanh an toàn, giảm được sự cạnh tranh và kết quả kinh daonh sẽ đạt được như mong muốn. Chính sách phân phối có mối liên quan chặt chẽ với chính sách sản phẩm và chính sách giá cả và chúng có tác động qua lại với nhau nhằm thu hút khách hàng. 3.3.3 Chính sách xúc tiến quảng cáo Trong việc kinh doanh nói chung quảng cáo đóng vai trò quan trọng, nó là cầu nối để khách hàng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp. Nhờ có quảng cáo mà toạ ra môi trường kinh doanh lành mạnh và nâng cao chất lượng của sản phẩm. Trong nghành kinh doanh du lịch,do sản phẩm du lịch cung theo mùa vụ,vì vậy doanh nghiệp cần kích thích nhu cầu đi du lịch vào những lúc trái vụ. Các phương tiện quảng cáo mà doanh nghiệp có thể áp dụng : + Quảng cáo trên báo và tạp chí + Phát tờ rơi + Quảng cáo trên Internet + Quảng cáo trên Pano, áp phích + Quảng cáo trực tiếp,.... 4. Một số quyết định liên quan đến chính sách sản phẩm 4.1 Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ xung Dịch vụ cơ bản là dịch vụ mang lại lợi ích cốt lõi khi khách hàng mua một sản phẩm Dịch vụ bổ xung là dịch vụ khác nhằm thoả mãn tốt hơn nữa nhu cầu dịch vụ cơ bản Sơ đồ : Sơ đồ về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ xung Dịch vụ Dịch vụ cơ bản bổ xung 1 chính Đoạn thị trường1 Dịch vụ bổ xung 2 Nguyễn Tiến Trọng 13 Lớp 1A - CT
  14. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Dịch vụ bổ xung 3 Dịch vụ cơ bản phát sinh Đoạn thị trường 2 Dịch vụ bổ xung 4 (Nguồn : Quản trị Marketing) Khách hàng trên thị trường không đồng nhất về nhu cầu đối với sản phẩm mỗi nhóm khách hàng có yêu cầu khác nhau về quy cách, về lợi ích sản phẩm cốt lõi. Vì vậy trong quyết định đầu tiên, doanh nghiệp không thể nêu ra dịch vụ cơ bản một cách chung chung mà còn quy định mức chất lượng của sản phẩm cốt lõi để phù hợp với yêu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu. 4.2 Quyết định đa dạng hoá sản phẩm Trong thực tế, ít có doanh nghiệp du lịch nào chỉ khai thác một đoạn thị trường mục tiêu khác nhau. Về lý luận ta thấy một hệ thống dịch vụ tạo ra một dịch vụ tổng thể chỉ phụ thuộc tập khách hàng. Cho nên để thoả mãn nhiều tập khách hàng trên nhiều đoạn thị trường mục tiêu khác nhau,doanh nghiệp cần trả lời câu hỏi liên quan đến việc : Đa dạng hoá sản phẩm hay không? Đa dạng ở múc độ nào? Mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ được cân nhắc số đoạn thị trường, mục tiêu lựa chọ, mối quan hệ gần gũi giữa các thị trường đó. Trong thực tế để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các đoạn thị trường mục tiêu của mình, doanh nghiệp phải lựa chọn một đoạn thị trường mục tiêu trọng điểm để dành sự ưu tiên nhất cho việc thoả mãn nhu cầu của đoạn thị trường đó bằng chính sách sản phẩm. * Chiến lược thâm nhập thị trường Hai khía cạnh duy trì khách hàng và tăng tần số sử dụng là đặc biệt quan trọng. Chiến lược duy trì khách hàng nhằm giữ khách hàng là những giả pháp nghiệp vụ, các doanh nghiệp phải thường xuyên biết chính xác sở thích của người tiêu dùng, phải liên tục bắt mạch người tiêu dùng để có thể kịp thời nắm bắt những nhu cầu của họ. Bảng : Các hướng tăng trưởng thị trường Thị trường Sản phẩm hiện tại Sản phẩm mới Thị trường hiện tại Thâm nhập thị trường Phát triển sản phẩm - Giữ khách hàng hiện tại - Sản phẩm mới - Tăng tần số sử dụng của - Ýniệm mới khách hàng Thị trường mới Phát triển thị trường Đa dạng hoá - Phân đoạn thị trường - Vốn kinh doanh - Quốc tế hoá - Kinh doanh mới - Tích luỹ (Nguồn : quản trị Marketing,Phillip Korler) Nguyễn Tiến Trọng 14 Lớp 1A - CT
  15. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch - Thâm nhập thị trường : Được gắn với việc làm thế nào khai thác được vị trí hiện tại của doanh nghiệp trong khu vực thị trường một cách thành công hơn. Các dfoanh nghiệp có thể thực hiện trên cơ sở phân đoạn thị trường tức là chia nhỏ thị trường. Daonh nghiệp có thể xác định một chiến lược định vị rõ nét và ứng dụng tốt các nhân tố của marketing-mix tham gia phân chia thị trươngd của đối thủ cạnh tranh. - Phát triển sản phẩm mới : Có 6 loại snar phẩm mới với thị trường và doanh nghiệp như sau + Đổi mới chủ yếu : Đây là những sản phẩm dịch vụ đổi mới một cách căn bản, đem lại lợi ích hoàn toàn mới cho khách hàng và lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường + Bắt đầu kinh doanh : Đây là cách đổi mới trong việc định nhu cầu hiện tại của khách hàng và tăng thêm sản phẩm lựa chọn cho khách. + Cung cấp sản phẩm mới cho thị trường hiện tại : Đây là hướng đổi mới rất phổ biến, hiệu quả đối với doanh nghiệp nhằm khai thác hiệu quả khách hiện tại. + Cải tiến dịch vụ hiện có : Đây là hướng phát triển cuả sản phẩm dựa trên cơ sở những sản phẩm hiện có mà doanh nghiệp tìm cách thay đổi, bổ xung một số đặc điểm để tạo ra sức sông mới. + Thay đổi trong hệ thống ung ứng sản phẩm đồng thời tạo ra một thị trường cho sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng có thể họ không biết rằng họ đang có nhu cầu. + Mở rộng sản phẩm dịch vụ : Tức là đưa ra một lựa chọn phong phú hơn trong hệ thống dịch vụ đang tồn tại. Đây là một công việc kinh doanh chín muồi điển hình, công việc đã có một thị trường chung nơi người cung cấp dịch vụ tìm kiếm để duy trì. - Phát triển thị trường : Một chiến lược lựa chọn để phát triển sản phẩm dịch vụ là việc mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng cho những sản phẩm và dịch vụ mới. Nhiều doanh nghiệp mở các đại lý, văn phòng, chi nhánh ở trong và ngoài nước nhằm thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp để tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của mình. 4.3 Quyết định về bao gói Bao gói có tác dụng bảo quản sản phẩm trong quá trình sử dụng cũng như quá trình vận chuyển. Mặt khác, bao gói có chức năng thông tin về sản phẩm. Bao gói thường có 3 bộ phận chủ yếu : Lớp bảo vệ sản phẩm; bao bì vận chuyển, nhã hiệu và các thông tin mô tả hàng hoá trên bao gói. 4.4 Quyết định về dịch vụ theo sản phẩm Dịch vụ kèm theo sản phẩm là công cụ để doanh nghiệp sử dụng nhằm phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh và thuyết phục khách hàng. Tuỳ vào từng loại sản phẩm và đặc điểm của thị trường mà tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng sẽ khác nhau. Các nhà làm marketing phải quyết định những vấn đề sau về cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Nguyễn Tiến Trọng 15 Lớp 1A - CT
  16. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch - Các loại dịch vụ nào mà khách hàng đòi hỏi và khả năng công ty có thể cung cấp? Tầm quan trọng tương đối của từng dịch vụ đó đối với khách hàng. Doanh nghiệp cần cung cấp bao nhiêu loại dịch vụ cho khách hàng là tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm của thị trường và các đặc điểm cạnh tranh. - Chất lượng dịch vụ mà công ty phải đảm bảo cho khách hàng đến mức độ nào so với đối thủ cạnh tranh. - Chi phí dịch vụ, tức là khách hàng được cung cấp bởi các trung gian buôn bán,dịch vụ do tổ chức độc lập bên ngoài công ty cung cấp. IV.Qui trình xây dựng chương trình du lịch trọn gói Sản phẩm du lịch là sản phẩm dịch vụ mang tính vô hình mà khi tiến hành phát triển sản phẩm doanh nghiệp phải xây dựng một quy trình chi tiết, khoa học,... theo những bước sau đây : Bước 1 : Hình thành ý tưởng chương trình Bước 2 : Lựa chọn sơ bộ Bước 3 : Nghiên cứu ban đầu Bước 4 : Cân nhắc tính khả thi Bước 5 : Khảo sát thực địa Bước 6 : Lập hành trình Bước 7 : Hợp đồng với các đối tác cung cấp dịch vụ Bước 8 : Thử nghiệm chương trình Bước 9 : Quyết định đưa chương trình vào kinh doanh Chương 2 Thực trạng về chính sách sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt. 1. Khái quát về Công ty Cổ phần Vận Tải và Thương mại Đường Sắt và Trung Tâm du lịch VietNam RailTour. 1.1 Vài nét về công ty Cổ phần Vận tải và Thương mại Đường sắt. 1.1.1 Quá trình hình thành. Công ty Cổ phần Vận tải và Thương mại Đường Sắt với tên giao dịch là Ratraco group, là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc sự quản lý của Tổng công ty Đường Sắt Việt Nam hoạt động trên các lĩnh vực : Vận tải,thương mại và du lịch Được thành lập vào ngày 28 tháng 5 năm 2002, theo quyết định số 3676/2000/QĐ-BGTVT ngày 30/11/2000 của Bộ Giao Thông Vận Tải, giấy chứng Nguyễn Tiến Trọng 16 Lớp 1A - CT
  17. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch nhận đăng ký kinh doanh do sở Kế hoạch và Đầu Tư thành phố Hà Nội cấp. Công ty có số vố điều lệ là 5.500.000.000VND trong đó vốn nhà nước chiếm 57,659 ( tương đương 3.168.000.000VND), từ cổ phần trong công ty là 40,49 tương đương (2.222.000.000VND ) và còn trong công ty là 2% (tương đương 110.000.000VND). Công ty có tài khoản ký quỹ tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn với số tài khoản 00011000357633 VND và 0011373 0357643 USD, mã số thuế là 0101206286. Công ty đặt trụ sở tại toà nhà 95-97 Lê Duẩn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngoài ra, Công ty còn đặt các văn phòng đại diện: .Tại TPHCM : 126 Sương Nguyệt Anh- quận 1 TPHCM. .Tại USA : 10900 westminster Ave, Ste.9, Garden grove, Ca 92643. .Bangkok-Thailand : 3F1., Modern Town Bldg.,Sukkhumvit 63,north- klongton, wattana Bangkok 1010 Công ty Cổ Phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt đang hoạt động có hiệu quả trên các lĩnh vực: .Vận tải hàng hoá đường sắt trong và ngoài nước bằng container, xe téc. .Kinh doanh khách sạn nhà hàng. . Kinh doanh du lịch lữ hành quốc tế và nội địa với thương hiệu Viet Nam Rail Tour . Quảng cáo thương mại và quảng cáo phi thương mại. Ngoài ra, Công ty còn hoạt động trên các lĩnh vực như xây dựng công trình dân dụng, kỹ thuật, xuất nhập khẩu, đại lý vé máy bay… Trong tất cả các lĩnh vực hoạt dộng của mình, Công ty là đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm lập kế hoạch, dự án và thực hiện các chương trình quảng cáo cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước thực hiện khuyếch trương sản phẩm và thương hiệu của các đối tác thông qua mạng lưới của nghành Đường Sắt. Đặc biệt công ty được giao nhiệm vụ phát hành ấn phẩm “ Cẩm nang đi tầu” – ấn phẩm duy nhất của nghành Đường Sắt được đưa đến tay khách hàng khi sử dụng dịch vụ của ngành Đường Sắt. Ấn phẩm này cung cấp thông tin cần thiết cho khách hàng về các dịch vụ tốt nhất trong suốt cuộc hành trình mà khách quan tâm. Đây sẽ là cơ hội cho các nhà kinh doanh đưa thông tin về sản phẩm của mình đến cho khách hàng trên mọi miền đất nước. 1.1.2. Bộ máy tổ chức: Nguyễn Tiến Trọng 17 Lớp 1A - CT
  18. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ Phần Vận Tải và Thương Mại Đường Sắt gồm có: Hội đồng quản trị; Giám đốc và Các phòng ban. Bộ máy tổ chức của công ty được bố trí như sau: HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ GIÁM ĐỐC GĐ GĐ GĐ TRUN PHÒN PHÒN PH KHÁC TRUN TRUN G G TÀI G TỔ G H SẠN G G TÂM CHÍN CHỨC HO CÂY TÂM TÂM XUẤT H KẾ HÀNH HĐ XOÀI VẬN DU NHẬP TOÁN CHÍN T TẢI LỊCH KHẨU H Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty cổ phần Vận tải và Thương mại Đường sắt Nguyễn Tiến Trọng 18 Lớp 1A - CT
  19. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch Cơ cấu tổ chức của công ty là cơ cấu tổ chức của một công ty cổ phần nhà nước với quy mô phù hợp với chức năng kinh doanh của công ty. Tổng số nhân sự trong công ty và tại các văn phòng đại diện là 123 người, tất cả được phân công theo chức năng và nhiệm vụ của tổng bộ phận, phòng ban theo cơ cấu hợp lý. Hội đồng quản trị: Là bộ phận quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty như chiến lược, chính sách. Đại diện tư cách pháp nhân và trực tiếp điều hành hoạt động của công ty là Giám đốc công ty do Hội đồng quản trị thuê. Giám đốc: Chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Giúp việc cho Giám đốc là Phó Giám đốc kiêm Giám đốc Khách Sạn Cây Xoài, Phó Giám đốc kiêm Giám đốc Trung tâm Du lịch VietNam – RailTour và Phó Giám đốc kiêm Giám đốc Trung tâm Vận Tải. Nhiệm vụ của 3 Phó Giám đốc là giúp cho Giám đốc có những hiệu quả nhất trong việc điều hành hoạt động và phát triển các lĩnh vực kinh doanh của công ty. Mỗi Phó Giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc và Hội đồng Quản trị về các lĩnh vực được phân công hoặc uỷ quyền. Làm nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc trong việc điều hành công ty là khối các bộ phận tổng hợp: .Phòng tổ chức hành chính : Với chức năng tham mưu trên lĩnh vực công tác nhân sự và lao động, công tác tổ chức hành chính quản trị và các mặt chính sách xã hội. .Phòng kế hoạch đầu tư : Là phòng tham mưu chính cho Ban Giám đốc về các lĩnh vực kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty, hàng năm xây dựng và bảo vệ kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính của Công ty và trình Hội đồng quản trị phê duyệt. .Phòng tài chính kế toán là phòng tham mưu có chức năng giúp giám đốc công ty tổ chức, chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán tài chính, thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kế toán theo đúng chế độ hạch toán kế toán của nhà nước. Trung tâm xây dựng và trung tâm xuất nhập khẩu do giám đốc công ty trực tiếp quản lý. Nguyễn Tiến Trọng 19 Lớp 1A - CT
  20. Trường Đại học Thương Mại Khoa Khách Sạn – Du lịch 1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Ratraco Bảng 2.1 : Cơ cấu doanh thu Đơn vị Năm Năm So sánh Chỉ tiêu tính 2002 2003 Chênh lệch Tỷ lệ % 1. Tổng doanh thu Trđ 68340 81454 13114 19,18 - Vận tải hàng hoá Trđ 44550 50215 5665 12,72 - Khách sạn Trđ 1584 1785 201 12,69 - Nhà hàng Trđ 1599 1802 203 12,7 - Du lịch Trđ 18498 27652 9154 49,48 - Các dịch vụ khác Trđ 1185 1336 151 12,74 Nhận xét đánh giá : Tổng doanh thu năm 2003 so với năm 2002 tăng lên với số tuyệt đối là 13114 (Triệu đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng 119,18% - Về vận tải hàng hoá : Tấn hàng hoá xếp đạt 4001 toa bằng 98.280 tấn xếp tương đương với tổng doanh thu 50215 ( Triệu đồng) năm 2003 tăng 5665 ( Triệu đồng) so với năm 2002 với tỷ lệ tăng 12,72%. Đây cũng chính là lĩnh vực kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất (Khoảng 65,63%). Đạt được kết quả trên là do công ty đã khai thác được những luồng hành mới đặc biệt là hàng hoá từ Hà Nội và Sóng Thần đi từ Đà Nẵng. Ngoài việc vận chuyển bằng đường sắt đã chuyển một số mặt hàng đi bằng phương tiện đường biển nhằm giảm bớt áp lực về toa xe tại đầu xếp Sóng Thần đồng thời công ty đã đầu tư phương tiện xếp dỡ nên đã giảm được chi phí xếp dỡ. - Khách sạn : Công suất phòng đạt 75% tương đương với tổng doanh thu 1785( Triệu đồng) năm 2003 tăng 201(Triệu đồng) so với năm 2002 với số tương đối là 12,69%. Trong năm qua, nguồn khách nghỉ tại khách sạn vẫn ổn định, công tác tiếp thị và chăm sóc khách hàng tốt.Tuy vậy vẫn còn một số khó khăn như dịch bệnh Nguyễn Tiến Trọng 20 Lớp 1A - CT

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản