Báo cáo tốt nghiệp: Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới

Chia sẻ: Do Manh Ha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:92

0
120
lượt xem
57
download

Báo cáo tốt nghiệp: Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua gần 20 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng. Sự nghiệp cải cách hành chính Nhà nước được đánh dấu bằng Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII (1995) cũng nằm trong tiến trình của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Một trong ba nội dung quan trọng

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tốt nghiệp: Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới

  1. =1= TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- Báo cáo tốt nghiệp Đề tài: Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới
  2. =2= MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: 4 2. Mục đích nghiên cứu: 6 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: 6 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 7 5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: 7 6. Phương pháp nghiên cứu: 7 7. Cấu trúc của luận văn: 7 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: 9 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Một số khái niệm cơ bản: 9 1.2. Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của trường đại học trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội: 17 1.3. Chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn chung của ngạch cán bộ, công chức hành chính Nhà nước: 20 1.4. Tính tất yếu và yêu cầu của việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường đại học Vinh nói riêng: 29 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH. 31 2.1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển Trường Đại học Vinh: 31
  3. =3= 2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Trường Đại học Vinh: 34 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 50 3.1. Những định hướng của Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục đào tạo về phát triển giáo dục đại học: 50 3.2. Định hướng của Đảng và Chính phủ về việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính: 54 3.3. Những định hướng phát triển của trường Đại học Vinh: 56 3.4. Môt số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường đại học Vinh trong giai đoạn mới: 58 3.4.1. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng: 58 3.4.2. Nhóm giải pháp cơ chế quản lý, điều hành: 65 3.4.3. Nhóm giải pháp cơ cấu, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức 67 3.4.4. Nhóm giải pháp theo dõi, kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức: 71 3.4.5. Nhóm giải pháp quan tâm về chế độ, chính sách đối với cán bộ, 75 công chức: 3.5. Mối liên hệ giữa các giải pháp: 77 3.6. Khảo sát tính khả thi của 5 giải pháp: 77 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79 1. Kết luận: 79 2. Khuyến nghị: 80
  4. =4= LỜI CẢM ƠN Với tình cảm chân thành tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Đình Huân, Ban lãnh đạo trường đại học Vinh, các thầy cô giáo khoa Đào tạo Sau Đại học, các thầy cô giáo trường Cán bộ quản lý, các nhà quản lý giáo dục trong và ngoài trường, các chuyên viên của Vụ Tổ chức Cán bộ - Bộ Giáo dục và đào tạo, các chuyên viên của các phòng ban trong Trường, các bạn đồng nghiệp đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ, góp ý kiến, cung cấp số liệu, tài liệu và các điều kiện thuận lợi khác để tôi hoàn thành luận văn “Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới”. Khoa học quản lý giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn được Đảng, Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục quan tâm. Đề tài “Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới” cũng chính là vấn đề mà Đảng uỷ, Ban giám hiệu, các nhà quản lý các cấp hết sức quan tâm. Tuy đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này.
  5. =5= MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: 1.1. Về mặt lý luận: Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua gần 20 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng. Sự nghiệp cải cách hành chính Nhà nước được đánh dấu bằng Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII (1995) cũng nằm trong tiến trình của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Một trong ba nội dung quan trọng của cải cách nền hành chính Nhà nước là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước có phẩm chất chính trị vững vàng, đủ năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngang tầm để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xây dựng và phát triển đội ngũ công chức là một yếu tố tất yếu. Việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của ngành giáo dục - đào tạo nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở các trường Đại học nói riêng đã trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành giáo dục - đào tạo cũng như của các cấp, các ngành có liên quan. Sinh thời, Bác Hồ rất coi trọng công tác cán bộ, Bác nói: “Vấn đề cán bộ có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công của một sự nghiệp”. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Người cũng đã từng nói: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc xấu”.
  6. =6= Trong thời gian qua, sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã thu được một số thành tựu to lớn, nhưng hiện nay vẫn đang đứng trước những mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh về quy mô với việc gấp rút nâng cao chất lượng trong khi đó khả năng và điều kiện còn hạn chế. Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã nêu đầy đủ những thành tựu đạt được trên các mặt mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, đồng thời cũng chỉ rõ những “yếu kém bất cập cả về quy mô, cơ cấu và nhất là chất lượng hiệu quả”. Có nhiều nguyên nhân của những yếu kém, song một nguyên nhân chủ yếu và quan trọng đó là do đội ngũ cán bộ, công chức của ngành giáo dục còn thiếu và yếu, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức hành chính. Để khắc phục tình trạng đó, ngành Giáo dục - Đào tạo phải nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức mà trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức các cấp của ngành với những mục tiêu, nội dung và giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, của ngành, vai trò của Trường Đại học giữ vị trí hết sức quan trọng đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục đại học và sau đại học là một bộ phận con mà mục tiêu của nó là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức, do đó việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của ngành giáo dục nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở trường đại học Vinh nói
  7. =7= riêng thực chất là một yếu tố phát triển nguồn nhân lực cho ngành giáo dục - đào tạo, đây là một trong những vấn đề quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. 1.2. Về mặt thực tiễn: Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nói riêng ở trường Đại học Vinh đã được nghiên cứu, và đã có quy hoạch. Đặc biệt, ngày 24 tháng 03 năm 2004 Nhà trường đã tổ chức Hội thảo bàn về công tác cán bộ, đồng thời trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ nhà trường từ khoá 24 đến khoá 27 và một số văn bản chỉ đạo của Trường cũng đã nói nhiều về công tác tổ chức cán bộ. Nhằm đánh giá một cách chi tiết thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính để xây dựng một hệ thống các giải pháp có tính khả thi trên cơ sở bám sát vào các định hướng của Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, của “Luật giáo dục”, của “Pháp lệnh cán bộ, công chức” và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước giai đoạn I (2003- 2005), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn (2001-2010) cùng các chủ trương của ngành và sự nghiệp đổi mới của Trường trong giai đoạn mới là mục tiêu của việc nghiên cứu. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới”. 2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề xuất những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới phù hợp với xu thế đổi mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam và giáo dục đại học trên thế giới.
  8. =8= 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: 3.1. Xác định cơ sở lý luận của đề tài. 3.2. Phân tích được thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở trường Đại học Vinh. 3.3. Đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở trường Đại học Vinh. 3.4. Thăm dò tính khả thi của 1 số giải pháp. 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 4.1. Khách thể là đội ngũ cán bộ, công chức trường Đại học Vinh. 4.2. Đối tượng nghiên cứu: “Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường Đại học Vinh trong giai đoạn mới”. 5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Do điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi xin chỉ nghiên cứu đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở trường Đại học Vinh trong thời kỳ từ năm 1993 đến nay. 6. Phương pháp nghiên cứu. 6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu tác phẩm kinh điển, các bài giảng về hành chính học, về lý luận quản lý và các vấn đề có liên quan. 6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: khái quát thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia, lấy ý kiến các nhà quản lý thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, điều tra thông qua phát phiếu thăm dò, thống kê bằng toán học xử lí số liệu.
  9. =9= 6.3. Nhóm các phương pháp bổ trợ: Thống kê, toán học, bảng biểu, sơ đồ, mô hình hoá, … 7. Cấu trúc của luận văn: Phần 1: Mở đầu. Phần 2: Nội dung gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở trường Đại học Vinh. Chương 3: Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trường đại học Vinh trong giai đoạn mới . Phần 3: Kết luận và khuyến nghị. - Tài liệu tham khảo.
  10. = 10 =
  11. = 11 = NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Một số khái niệm cơ bản: 1.1.1. Khái niệm quản lý: Hiện nay, có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Có quan niệm cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị, quan niệm khác lại cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Các cách nói này đều không khác gì nhau về nội dung mà chỉ khác nhau ở chỗ dùng thuật ngữ. Song, nếu xem xét quản lý dưới góc độ chính trị - xã hội, và góc độ hành động thiết thực, thì quản lý được hiểu như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan” {38, tr.84} 1.1.2. Khái niệm quản lý Nhà nước: Quản lý Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện Nhà nước, là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân. Đây là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. Khác với dạng quản lý của chủ thể khác (Công đoàn, phụ nữ, thanh niên, ...) chỉ dùng phương thức giáo dục vận động quần chúng. Từ sự phân biệt đó có thể định nghĩa quản lý Nhà nước như sau: “Quản lý Nhà nước là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực Nhà nước, do tất cả các cơ quan Nhà nước (Luật pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành, để tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân” {38, tr.87}.
  12. = 12 = 1.1.3. Quản lý hành chính Nhà nước: Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động hành chính của các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật. Đó là Chính phủ và cơ quan chính quyền địa phương các cấp không kể các tổ chức thuộc Nhà nước nhưng không nắm trong cơ cấu quyền lực như các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp. Các cơ quan quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính, nhưng trong cơ chế vận hành bộ máy của mình cũng có công tác hành chính như chế dộ công vụ, quy chế công vụ, quy chế công chức, công tác tổ chức cán bộ ... Phần công tác hành chính của các cơ quan này cũng tuân thủ những quy định thống nhất của nền hành chính Nhà nước. Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và tổ chức xã hội theo pháp luật. Quyền hành pháp được thực hiện bởi các thẩm quyền: - Một là: Lập quy được thực hiện bằng việc ra văn bản quy phạm pháp luật để chấp hành luật. - Hai là: Quản lý hành chính tức là tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội. Vậy có thể định nghĩa quản lý hành chính Nhà nước như sau: “Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành, để thực hiện những nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự pháp luật, thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân dân” {11, tr.72}. 1.1.4. Khái niệm quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo:
  13. = 13 = Quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động giáo dục - đào tạo do các cơ quan giáo dục - đào tạo của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước uỷ quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, duy trì kỉ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục - đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của Nhà nước. Có thể nói một cách ngắn gọn: “Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự quản lý của các cơ quan quyền lực Nhà nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ Trung ương đến cơ sở lên hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho công dân” {38, tr.79}. 1.1.5. Khái niệm về quản lý trường học. Trường học là một hệ thống xã hội, nó nằm trong môi trường xã hội và có tác động qua lại với môi trường đó. Qua việc nghiên cứu một số nội dung về lý luận quản lý giáo dục, theo chúng tôi: quản lý trường học chính là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Việc quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục. Như vậy, phải hiểu công tác quản lý trường học bao gồm quản lý các quan hệ giữa trường học với xã hội và quản lý nội bộ (bên trong) nhà trường. Quản lý nội bộ nhà trường bao gồm: + Quản lý các quá trình dạy học, giáo dục.
  14. = 14 = + Quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực, tài chính ... Một hệ thống xã hội gồm 3 yếu tố chính, đó là: con người, tinh thần, vật chất. Sự kết hợp và tác động qua lại của 3 yếu tố này trong không gian và thời gian tạo thành các quá trình xã hội. Trường học là một hệ thống xã hội, trong đó đặc trưng nhất của hệ thống xã hội đó là quá trình giáo dục - đào tạo và người ta có thể coi đó là hệ thống giáo dục gồm 6 thành tố: - Mục đích giáo dục (1) - Nội dung giáo dục (2) - Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục (3) - Thầy giáo (4) - Học sinh (5) - Cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện dạy học (6) Các thành tố 1, 2, 3 về yếu tố tinh thần, các thành tố 4, 5 về yếu tố con người, thành tố 6 là yếu tố vật chất. Nhà trường thực hiện quá trình giáo dục - đào tạo có hiệu quả là nhờ vào từng thành tố và đặc biệt quan trọng là nhờ vào mối liên hệ tác động qua lại giữa các thành tố với nhau. 1.1.6. Khái niệm về quản lý trường đại học. Từ khái niệm quản lý trường học thì quản lý trường đại học là: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học. - Xây dựng cơ chế chính sách và quy chế quản lý nội dung và chất lượng đào tạo, cụ thể: + Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo đại học; Ban hành Điều lệ nhà trường; Ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở đào tạo đại học;
  15. = 15 = + Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo; Tiêu chuẩn giáo viên; Tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị của Trường đại học, cao đẳng; Biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng; + Tổ chức bộ máy trường Đại học; + Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo, cán bộ quản lý Trường đại học. + Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp đào tạo; + Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học - công nghệ trong nhà trường đại học, cao đẳng; + Tổ chức quản lý công tác quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo; + Tổ chức khen thưởng và tặng thưởng các danh hiệu vinh dự cho các tập thể và cá nhân có nhiều công lao đối với sự nghiệp đào tạo; - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước; Giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước. Hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của cơ sở đào tạo đại học phải hướng tới: - Thích ứng với nhu cầu của toàn xã hội, với môi trường việc làm, với mục tiêu phát triển của Nhà nước. - Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; nâng cao chất lượng nội dung chương trình giảng dạy; cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy; Quá trình hội nhập khu vực và từng bước thích ứng với xu thế quốc tế hoá giáo dục đại học; 1.1.7. Khái niệm cán bộ, công chức:
  16. = 16 = Trong các văn bản pháp luật ở nước ta các thuật ngữ công chức, viên chức được sử dụng như sau: a. Công chức: Theo điểm b, điểm c, khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh cán bộ, công chức được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 02 năm 1998 và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 thì: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; - Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm soát viên Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp. b. Viên chức: Theo Nghị định số: 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp Nhà nước ở điều 2 ghi rõ: “Viên chức là công
  17. = 17 = dân Việt Nam, trong biên chế được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thương xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 1 pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật”. 1.1.8. Khái niệm cán bộ, công chức hành chính: Cán bộ, công chức hành chính bao gồm những cán bộ, công chức thực thi công vụ trong bộ máy hành chính Nhà nước; trong đó có một số cán bộ dân cử, kể cả cán bộ chính quyền xã. 1.1.9. Khái niệm cán bộ, công chức hành chính trường Đại học: Các cán bộ, công chức hộ trợ cho việc thực hiện các chương trình đào tạo và hoạt động chung của trường, cụ thể: +) Các cán bộ quản lý nghiệp vụ: Những người giúp việc Ban giám hiệu, các cán bộ, công chức làm công tác nghiệp vụ trong các phòng ban hoặc lĩnh vực như: lập kế hoạch, giáo vụ, thống kê, tài vụ, ... +) Nhân viên hành chính, như nhân viên vệ sinh, điện nước, văn thư, điện thoại, lái xe, bảo vệ, ... +) Nhân viên phục vụ giảng dạy: những người làm việc trong các phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng, trạm trại ... phục vụ giảng dạy và học tập. +) Cán bộ quản lý nghiệp vụ khác ví dụ như: cán bộ Đảng, Đoàn, Công đoàn chuyên trách và các công việc khác của trường. Tóm lại: Cán bộ, công chức hành chính trường Đại học bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp, các cơ quan chức năng, cơ quan chuyên môn, cán bộ làm công tác chuyên trách Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chính Minh, nhân viên hành chính sự nghiệp, nhân viên, công nhân kỉ thuật, công tác trong các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của trường.
  18. = 18 = 1.1.10. Khái niệm về đội ngũ: Theo từ điển tiếng Việt thì: “Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng” {21, tr 442}. Trong các tổ chức xã hội khái niệm về đội ngũ được dùng như đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ, công chức đều có gốc xuất phát từ đội ngũ theo thuật ngữ quân sự, đó là một khối đông người, được tổ chức thành một lực lượng để chiến đấu hoặc để bảo vệ .v.v. Các khái niệm tuy có khác nhau nhưng đều phản ánh một điều, đó là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng một nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định. 1.1.11. Khái niệm về phát triển: Theo chúng tôi phát triển được hiểu là cả một quá trình quan trọng mà qua đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt được những tiềm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian. Các học giả Việt Nam cũng định nghĩa phát triển theo nhiều góc độ khác nhau. Nguyễn Văn Đạm cho rằng: Phát triển là sự “lớn lên về mặt kích thước, độ rộng (số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng)”. Ví dụ ta thường nói “bước phát triển nhảy vọt” … {23, tr.636}. Từ điển Anh – Việt thì giải thích rằng phát triển ai, cái gì chính là việc “làm cho ai/cái gì tăng trưởng dần dần; trở nên hoặc làm cho trưởng thành hơn, tiến triển hơn hoặc có tổ chức hơn” {20, tr.442}. Trong quản lí nguồn nhân lực, các nhà quản lí không chỉ quan tâm đến việc cung cấp và nâng cao các kiến thức và kỉ năng cho nhân viên của mình để cải thiện năng lực thực thi công việc, trong hiên tại cũng như trong tương lai. “Phát triển có thể xem như một sự thúc đẩy nhân viên có những khả năng vượt ra khỏi những đòi hỏi của công việc hiện hành. Nó thể hiện những nổ lực
  19. = 19 = nâng cao năng lực nhân viên để giải quyết những nhiệm vụ được giao khác nhau, mang lại lợi ích cho tổ chức cũng như cho cá nhân. Thông qua quá trình phát triển, cả nhân viên cũng như người lãnh đạo với những kinh nghiệm và khả năng thích ứng sẽ tăng cường năng lực của tổ chức mình để thích nghi với sự thay đổi của môi trường {39, tr.350}. Theo Leap, trong thực tế, mỗi một cán bộ, công chức sẽ cần có những kiến thức kỉ năng và khả năng không ngừng đổi mới để thực thi tốt không những công việc hiện hành mà cả những công việc trên các cương vị chức nghiệp về sau cao hơn có thể có của mình. Sự chuẩn bị lâu dài trong nghề nghiệp của một nhân viên cho những cương vị này chính là sự phát triển đối với nhân viên. Chính vì vậy có thể nói rằng: Phát triển bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị cho công nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức khi nó thay đổi và phát triển. Một điều có thể khẳng định là mỗi cá nhân chúng ta đều trưởng thành cùng với thời gian và phát triển là quá trình cho phép mỗi cá nhân đạt được đầy đủ, trọn vẹn tiềm năng cá nhân của mình. Cũng chính vị vậy, xét về mặt tổng thể, phát triển thường nhấn mạnh vào tương lai xa. Nó thể hiện sự đầu tư lâu dài cho phát triển nghề nghiệp của mỗi cán bộ, công chức nhằm đáp ứng những nhu cầu thay đổi của tổ chức. Khác với đào tạo (được coi là sự bổ trợ ngắn hạn hơn cho quá trình phát triển và thường nhấn mạnh vào công việc hiện hành); hoặc giáo dục (mà trọng tâm có thể vượt ra khỏi khuôn khổ công việc hiện hành, trong tương lai) thì phát triển có một phạm vi rộng hơn. Nó có thể không nhấn mạnh vào công việc cả trong hiện tại cũng như tương lai nhưng lại nhấn mạnh nhiều hơn vào công việc đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi trong tương lai tương đối dài của tổ chức. Kết quả mà phát triển mang lại
  20. = 20 = khó có thể trực tiếp thấy được ngay mà thường được đánh giá trong tương lai. Có thể nêu lên định nghĩa phát triển như sau: “Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. {21. tr.527} 1.2. Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của trường đại học trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội. 1.2.1. Vị trí của trường đại học. Trường Đại học là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao; - Trường Đại học là cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng đào tạo của trường; - Trường Đại học do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Trường Đại học có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; 1.2.2. Nhiệm vụ của trường Đại học: Theo quyết định số: 153/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30 tháng 7 năm 2003 về việc ban hành “Điều lề trường Đại học”, trường Đại học có các nhiệm vụ sau: - Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. - Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản