Báo cáo tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán tiền lương tại DNTN Xí nghiệp cơ khí Long Quân

Chia sẻ: Huy Quang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:73

3
2.024
lượt xem
1.286
download

Báo cáo tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán tiền lương tại DNTN Xí nghiệp cơ khí Long Quân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiền lương là đề tài ít được sự quan tâm của các bạn sinh viên bởi tính đơn giản của nó. Tuy nhiên, khi bước vào thực tế tại doanh nghiệp, em nhận thức được rằng tiền lương thực sự quan trọng. Việc hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương một cách đúng đắn, đầy đủ, kịp thời chính là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Marx đã từng nói: ”Con người là tiền đề cho sự phát triển, quyết định sự tồn tại của quá trình sản xuất, giữ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán tiền lương tại DNTN Xí nghiệp cơ khí Long Quân

  1. TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- Báo cáo tốt nghiệp Đề tài: Tổ chức công tác kế toán tiền lương tại DNTN.Xí nghiệp cơ khí Long Quân Sv: Nguyễn Thị Xuân 1 Lớp K35-T4
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................3 CHƯƠNG 1: ....................................................................................................5 LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG...............................................................5 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA TIỀN LƯƠNG ................................5 TK 338 - Phải trả phải nộp khác ................................................................19 CHƯƠNG 2: ..................................................................................................23 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG TẠI DNTN. XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ LONG QUÂN ........................................23 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DNTN. XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ LONG QUÂN 23 CHƯƠNG III: ................................................................................................68 NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG.............................................................68 1. NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI DNTN.XNCK LONG QUÂN .........................................68 KẾT LUẬN ....................................................................................................72 Sv: Nguyễn Thị Xuân 2 Lớp K35-T4
  3. LỜI MỞ ĐẦU Tiền lương là đề tài ít được sự quan tâm của các bạn sinh viên bởi tính đơn giản của nó. Tuy nhiên, khi bước vào thực tế tại doanh nghiệp, em nhận thức được rằng tiền lương thực sự quan trọng. Việc hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương một cách đúng đắn, đầy đủ, kịp thời chính là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Marx đã từng nói: ”Con người là tiền đề cho sự phát triển, quyết định sự tồn tại của quá trình sản xuất, giữ vai trò chủ chốt trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần trong xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả cao là nhân tố đảm bảo sự phồn vinh của mỗi quốc gia.” Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi công sức của họ bỏ ra được đền bù một cách chính đáng. Đó là số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động để họ tái sản xuất sức lao động và tích luỹ gọi là tiền lương. Người sử dụng lao động, một mặt muốn giảm thiểu chi phí, một mặt muốn lôi kéo và giữ chân người lao động. Như vậy, tiền lương vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội. Giải quyết tốt vấn đề tiền lương sẽ góp phần ổn định tâm lí người lao động, thúc đẩy năng suất lao động và nâng cao hiệu quả công việc. DNTN. Xí nghiệp cơ khí Long Quân là một doanh nghiệp sản xuất thuộc dạng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sản phẩm cơ khí chế tạo rất đa dạng. Chính vì vậy, tổ chức công tác kế toán tiền lương sao cho hợp lý, đúng đắn, nhằm mục tiêu thúc đẩy năng suất lao động, gắn vấn đề tiền lương vào kế hoạch sản xuất. Đó thực sự là công tác kế toán tiền lương thiết thực và độc đáo. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên nên em đã chọn đề tài “Tổ chức công tác kế toán tiền lương tại DNTN.Xí nghiệp cơ khí Long Quân” Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm 3 phần: Sv: Nguyễn Thị Xuân 3 Lớp K35-T4
  4. Chương 1: Những lí luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tiền lương tại DNTN. Xí nghiệp cơ khí Long Quân Chương 3: Nhận xét và ý kiến đóng góp về kế toán tiền lương và các khoản phải trích theo lương. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: Nguyễn văn Dậu cùng toàn thể cán bộ công nhân viên xí nghiệp cơ khí Long Quân đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp em hoàn thành đề tài này. Hà nội: 02/ 04/ 2009 Sinh viên: Nguyễn Thị Xuân Sv: Nguyễn Thị Xuân 4 Lớp K35-T4
  5. CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA TIỀN LƯƠNG 1.1. Khái niệm tiền lương Tiền lương (hay tiền công) là số tiền thù lao mà danh nghiệp trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp cho doanh nghiệp, để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo QĐ số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của chi phí nhân công mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc mà họ đã cống hiến cho doanh nghiệp. 1.2. Vai trò của tiền lương. Tiền lương duy trì thúc đảy và tái sản xuất sức lao động. Trong mỗi doanh nghiệp hiện nay, muốn tồn tại và phát triển thì tiền lương cũng là một vấn đề đáng được quan tâm, đặc biệt trong nền kinh tế thị truờng như hiện nay nếu có chính sách tiền lương hợp lí thì mới có thể thu hút được nguồn nhân lực có chât lượng. Trong bất kì một doanh nghiệp nào cũng cần sủ dụng một lực lượng lao đọng nhất định tuỳ theo quy mô và yêu cầu sản xuất cụ thể. Chi phí về tiền lương là một trong nhũng chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xất ra. Vì vậy sử dụng hợp lí lao động cũng là tiết kiệm chi phí lao động hay lương, từ đó hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tiền lương không phải là vấn đề nội bộ tồn tại trong mỗi doanh nghiệp mà còn là một vấn đè kinh tế- chính trị- xã hội cần được sự quan tâm của mỗi quốc gia. 1.3. ý nghĩa của tiền lương 1.3.1. Duy trì và tái sản xuất sức lao động Theo Marx “sức lao động là toàn bộ khả năng và thể lực, trí tuệ tạo nên cho con người khả năng tạo ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội”. Sức lao động là sản phẩm của lịch sử, luôn được hoàn thiện và nâng cao chất lượng, thường xuyên được khôi phục và Sv: Nguyễn Thị Xuân 5 Lớp K35-T4
  6. phát triển. Bản chất của tái sản xuất sức lao động là duy trì và phát triển sức lao động, nghĩa là đảm bảo cho người lao động có được lượng tiền lương nhất định để họ phục vụ cho hoạt động sinh hoạt như: - Duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân người lao động. - Sản xuất ra sức lao động mới. - Tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hoàn thành kỹ năng lao động, tức là phải nâng cao chất lượng lao động. - Với ý nghĩa này, tiền lương chỉ phát huy tác dụng khi được hạch toán theo đúng nguyên tắc “trao đổi ngang giá giữa hoạt động và kết quả lao động” 1.3.2. Là đòn bẩy kinh tế Thực tế cho thấy rằng: Khi được trả lương xứng đáng, người lao động sẽ làm việc tích cực, gắn chặt trách nhiệm của bản thân vào lợi ích của tập thể, họ không ngừng phấn đấu để hoàn thiện mình hơn. Ở một mức độ nhất định, tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của người lao động trong gia đình, ở một doanh nghiệp và ngoài xã hội. Thể hiện sự đánh giá đúng năng lực và công lao của họ đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó tiền lương sẽ trở thành công cụ khuyến khích vật chất là động lực thúc đẩy phát triển. Muốn thể hiện tốt ý nghĩa này, tiền lương phải được trả theo lao động, nghĩa là người nào “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít”. Lấy kết quả và hiệu quả công việc làm cơ sở cho việc tính toán tiền lương một cách hợp lý. Có như vậy tiền lương mới thực sự phát huy được ý nghĩa làm đòn bẩy kinh tế. 1.3.3. Là công cụ quản lý Nhà nước. Hoạt động sản xuất kinh doanh, người chủ sử dụng lao động thường đứng trước hai nghịch lý đó là: + Tìm mọi biệt pháp để giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Trong đó có tiền lương phải trả cho người lao động. + Hai là phải đảm bảo chính sách cho Nhà nước về quyền lợi tối thiểu của người lao động. Nhà nước dựa vào chức năng trên của chế độ tiền lương, kết hợp với tình hình kinh tế xã hội. Cụ thể là xây dựng một cơ chế tiền lương phù hợp và ban hành nó như một văn bản pháp luật buộc người sử dụng lao động phải tuân theo. Sv: Nguyễn Thị Xuân 6 Lớp K35-T4
  7. 1.3.4. Điều tiết lao động Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển, cân đối giữa các ngành, các vùng và trên toàn quốc. Nhà nước thường thông qua hệ thống chế độ chính sách về tiền lương như hệ thống thang lương, bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành, từng khu vực để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ vậy tiền lương đã góp phần tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển của đất nước. 1.3.5. Là thước đo hao phí lao động xã hội. Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc qua đó mà xã hội có thể tính chính xác hao phí lao động của toàn cộng đồng, thông qua toàn bộ quỹ lương của toàn bộ người lao động. Điều này rất có ý nghĩa trong công tác thống kê, giúp Nhà nước hoạch định các chính sách và vạch ra được chiến lược lâu dài. Qua 5 ý nghĩa của tiền lương cho thấy tiền lương đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. 1.4. Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Quản lý tiền lương là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, nó là nhân tố giúp doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế họach sản xuất của mình. Tổ chức công tác hạch toán lao động tiền lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt quỹ lương, đảm bảo việc trả lương và các khoản trích theo lương đúng nguyên tắc chế độ, kích thích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao đồng thời tạo cơ sở cho việc phân phối chi phí nhân công và giá thành sản xuất được chính xác. Vì vậy nhiệm vụ hạch toán lao động tiền lương trong doanh nghiệp là: + Tổ chức ghi chép phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời, đầy đủ tính hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động. + Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền lương và thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động. Phản ánh kịp thời đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động. + Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình hình thực hiện các chính sách, chế độ về lao động tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ. Tình hình sử dụng quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KHCĐ. Sv: Nguyễn Thị Xuân 7 Lớp K35-T4
  8. + Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương, các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh- hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ, đúng đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động tiền lương, BHXH, BHYT. Mở sổ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT, KPCĐ đúng chế độ, đúng phương pháp kế toán. + Lập các báo cáo lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động. Đấu tranh chống lại hành vi vô trách nhiệm, vi phạm luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương, BHXH, BHYT, chi tiết KPCĐ, chế độ phân phối theo lao động. 2. NGUYÊN TẮC TRẢ LƯƠNG Tiền lương là động lực chủ yếu khích lệ người lao động làm việc tích cực hơn, thúc đẩy người lao động cải tiến một cách có hệ thống các phương pháp tổ chức lao động, sử dụng tốt và có hiệu quả ngày công lao động, máy móc thiết bị, tiết kiệm nguyên vật liệu...ở một mức độ nhất định, tiền lương thể hiện uy tín, giá trị của người lao động cũng như tăng năng lực và công lao của họ với sự phát triển của đơn vị. Để đảm bảo đầy đủ yêu cầu của tổ chức tiền lương cho người lao động, đảm bảo tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động, làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên thì tổ chức tiền lương phải đảm bảo những nguyên tắc sau: - Một là: Nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng lao động. Nguyên tắc này nhằm khắc phục chủ nghĩa bình quân trong phân phối, mặt khác tạo cho người lao động ý thức với kết quả lao động của mình. Nguyên tắc này còn đảm bảo trả lương công bằng cho người lao động giúp họ phấn đấu tích cực và yên tâm công tác. - Hai là: Nguyên tắc đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao mức sống. Quá trình sản xuất chính là sự kết hợp đồng thời các yếu tố như quá trình tiêu hao các yếu tố lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong đó lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng lao động tạo ra các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình sản xuất, trước hết cần tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động. Sv: Nguyễn Thị Xuân 8 Lớp K35-T4
  9. Mặt khác tiền lương còn là đảm bảo kinh tế để khuyến khích hàng hoá lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ. Vì vậy công tác tổ chức tiền lương cần chú ý đến việc tăng tiền lương thực tế cho người lao động. - Ba là: Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Về bản chất, tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm và giá cả hàng hoá, trong doanh nghiệp việc trả lương có tác dụng kích thích sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tiền lương bình quân chỉ tăng lên trên cơ sở nâng cao năng suất sức lao động, nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt tổn thất về thời gian lao động... Như vậy, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như trong phạm vi toàn doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ thì không còn con đường nào khác là phải đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân. - Bốn là: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương cho những người lao động ở mỗi ngành với trình độ lành nghề khác nhau, điều kiện khác nhau. Việc thực hiện nguyên tắc này giúp cho nhà nước tạo sự cân đối giữa các ngành, khuyến khích sự phát triển nhanh chóng ngành mũi nhọn, đồng thời đảm bảo lợi ích cho người lao động. Nếu chính sách tiền lương không giải quyết đúng đắn thì không những ảnh hưởng xấu đến sản xuất, đến tình hình phát triển kinh tế xã hội mà còn trở thành vấn đề chính trị không có lợi. Tiền lương có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào. Tuy nhiên để thấy hết tác dụng của nó thì chúng ta phải nhận thức đúng, đầy đủ về tiền lương, lựa chọn những phương pháp trả lương thích hợp, khi đó người lao động sẽ hăng hái lao động trong công việc. 3. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG, QUỸ TIỀN LƯƠNG 3.1. Các hình thức lương Các doanh nghiệp hiện nay thực hiện tuyển dụng lao động theo chế độ hợp đồng lao động. Người lao động phải tuân thủ những điều cam kết trong hợp đồng lao động, doanh nghiệp phải đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong đó có tiền lương và các khoản khác theo quy định trong hợp đồng. Việc tính trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp được thực hiện theo các hình thức trả lương như sau: Sv: Nguyễn Thị Xuân 9 Lớp K35-T4
  10. 3.1.1. Hình thức trả lương theo thời gian. Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động tính theo thời gian làm việc, cấp bậc hoặc chức danh và thang lương theo quy định. Có 2 hình thức lương thời gian là lương thời gian giản đơn và lương thời gian có thưởng. • Lương thời gian giản đơn: Là tiền lương được tính theo thời gian làm việc và đơn giá lương thời gian. • Lương thời gian có thưởng: Là hình thức tiền lương thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất Lương thời gian được áp dụng cho: nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất. Hình thức tiền lương thời gian mặc dù đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tuy nhiên nó vẫn có hạn chế nhất định đó là chưa gắn tiền lương với chất lượng và kết quả lao động. Vì vậy doanh nghiệp cần khuyến khích vật chất, kiểm tra chấp hành kỷ luật lao động nhằm tạo cho người lao động tự giác làm việc, làm việc có kỷ luật và năng suất cao. 3.1.2. Hình thức tiền lương theo sản phẩm. Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm hoàn thành hoặc lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu. Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương hợp lý trả cho từng sản phẩm, công việc và phải kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ. Định mức này được xây dựng trên cơ sở định mức kỹ thuật hoặc định mức kinh nghiệm, nhằm khuyến khích người lao động làm theo năng lực, hưởng lương theo khả năng, có tác dụng khuyến khích tăng năng suất, nhanh chóng hoàn thành kế hoạch được giao. * Hình thức tiền lương sản phẩm gồm: + Trả lương theo sản phẩm trực tiếp: Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá lương sản phẩm. Tiền lương Đơn giá tiền Số lượng sản phẩm hoàn = ế Sản phẩm Lương trực tiếp thành Sv: Nguyễn Thị Xuân 10 Lớp K35-T4
  11. Hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếp áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất. Trong đó đơn giá lương sản phẩm không thay đổi theo tỷ lệ hoàn thành định mức lao động nên còn gọi hình thức tiền lương này là hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế. + Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận sản xuất như: Công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Tiền lương Đơn giá tiền Số lượng sản phẩm hoàn thành = ừ SP gián tiếp lương gián tiếp của CNSX chính + Trả lương theo sản phẩm có thưởng thực chất là kết hợp trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất (thưởng tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm). + Trả lương theo sản phẩm luỹ kế: Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền lương tính theo tỷ lệ luỹ tiến căn cứ vào mức độ vượt định mức lao động của họ. Lương sản phẩm luỹ kế kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động, nó áp dụng ở nơi cần thiết phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất để đảm bảo sản xuất cân đối hoặc hoàn thành kịp thời đơn đặt hàng. Tổng tiền Đơn giá Số lượng SP Đơn giá SLSP Tỷ lệ lương = ừ + ừ Vượt KH ừ lương SP đã HT lương SP TLLT SP luỹ tiến + Trả lương khoán khối lượng hoặc khoán công việc: Là hình thức trả lương cho người lao động theo sản phẩm. Hình thức tiền lương này thường áp dụng cho những công việc lao động giản đơn, công việc có tính chất đột xuất như khoán, bốc vác, vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm… + Trả lương khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng: tiền lương được tính theo đơn giá tổng hợp cho sản phẩm hoàn thành đến công việc cuối cùng. + Trả lương theo sản phẩm tập thể: Theo hình thức này trước hết tính tiền lương cho cả tập thể, sau đó tiến hành việc chia lương cho từng người trong tập thể. Các phương pháp chia lương: Sv: Nguyễn Thị Xuân 11 Lớp K35-T4
  12. * Nguyên tắc: kế toán phải tính cho từng người lao động, trong trường hợp tiền lương trả theo sản phẩm đã hoàn thành là kết quả của tập thể người lao động thì kế toán phải tính lương trả cho từng người lao động theo một trong các phương pháp sau: - Phương pháp 1: Chia lương sản phẩm theo thời gian làm việc và cấp bậc kỹ thuật của công việc. Lt Li = n × TiHi ∑ TiHi 1 Trong đó: Li: Tiền lương sản phẩm của công nhân i Ti: Thời gian làm việc thực tế của công nhân i Hi: Hệ số cấp bậc kỹ thuật của công nhân i Lt: Tổng tiền lương sản phẩm tập thể n: Số lượng người lao động của tập thể Số giờ làm việc Số giờ làm việc Hệ số cấp bậc kỹ thuật công = ừ tiêu chuẩn thực tế việc Tiền lương một giờ làm việc Tổng tiền lương sản phẩm hoàn thành = tiêu chuẩn Tổng số giờ làm việc tiêu chuẩn Tiền lương phải trả cho Số giờ làm việc theo tiêu Tiền lương trong 1 giờ = ừ từng công nhân chuẩn của từng người làm việc tiêu chuẩn - Phương pháp 2: Chia lương theo cấp bậc công việc, thời gian làm việc kết hợp với bình công, chấm điểm. Điều kiện áp dụng: Cấp bậc công nhân không phù hợp với cấp bậc công việc do điều kiện sản xuất có sự chênh lệch rõ rệt về năng suất lao động trong tổ hoặc trong nhóm sản xuất. Toàn bộ lao động được chia thành hai phần: chia theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc của mỗi người, chia theo thành tích trên cơ sở bình công chấm điểm cho mỗi người. Sv: Nguyễn Thị Xuân 12 Lớp K35-T4
  13. Tiền lương chia theo cấp bậc kỹ thuật Thời gian làm Hệ số cấp bậc kỹ công việc và thời gian làm việc TT của = việc thực tế ừ thuật công việc từng công nhân Số tiền lương cần chia Mức tiền lương của một điểm = Tổng số điểm của nhóm công nhân - Phương pháp 3: chia lương bình công điểm: Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp công nhân làm việc có kỹ thuật giản đơn, công cụ thô sơ, năng suất lao động chủ yếu do sức khoẻ và thái độ lao động của người lao động. Sau mỗi ngày làm việc, tổ trưởng phải tổ chức bình công chấm điểm cho từng người lao động. Cuối tháng căn cứ vào số điểm đã bình bầu để chia lương. 3.1.3. Các chế độ trả thưởng và trợ cấp áp dụng tại doanh nghiệp - Lương phép: Người lao động nghỉ phép thì được tính lương phép. Theo chế độ hiện hành thì lương phép bằng 100% lương cấp bậc (chức vụ). Hiện nay mỗi người lao động được hưởng 12 ngày phép trong một năm, nếu làm việc từ 5 năm liên tục thì được thêm 1 ngày; nếu thời hạn làm việc 30 năm trở lên thì thời gian nghỉ phép tăng lên 6 ngày. - Chế độ phụ cấp: Phụ cấp lương là khoản tiền lương doanh nghiệp trả thêm cho người lao động khi họ làm việc ở những điều kiện đặc biệt. Theo điều 4 thông tư số 20/ LB- TT ngày 2/6/1993 của Liên bộ Lao động - Thương binh Xã hội - Tài chính: + Phụ cấp làm đêm Nếu người lao động làm thêm giờ vào ban đêm (từ 22h đến 6h sáng) thì ngoài số tiền trả cho những giờ làm thêm người lao động còn được hưởng phụ cấp làm đêm. 30% Tiền lương cấp bậc Hoặc Số giờ hoặc chức vụ tháng × Phụ (kể cả phụ cấp công việc 40% × làm cấp l m Sv: Nguyđêm ị Xuân ễn Th 13 Lớp K35-T4
  14. Số giờ tiêu chuẩn quy định trong tháng Trong đó: - 30% đối với những công việc không thường xuyên làm việc ban đêm. - 40% đối với những công việc thường xuyên làm việc theo ca (chế độ ba ca) hoặc chuyên làm việc đêm. + Phụ cấp trách nhiệm Nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ vừa kiểm nghiệm công tác quản lý không thuộc chức vụ lãnh đạo bổ nhiệm hoặc làm những công việc đòi hỏi trách nhiệm cao được xác định trong mức lương. Gồm có các mức lương: 0,1; 0,2; 0,3; 0,4 ..... so với mức lương tối thiểu tuỳ thuộc vào công tác quản lý của mỗi lao động. Phụ cấp trách nhiệm được tính trả cùng kỳ lương hàng tháng. Đối với doanh nghiệp khoản phụ cấp này được tính vào đơn giá tiền lương và hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông. + Chế độ trả lương thêm giờ. Theo điều 7 Nghị định 114/ NĐ-CP ngày 31/12/2002 những người làm việc trong thời gian ngoài giờ làm việc quy định trong hợp đồng lao động được hưởng tiền làm thêm giờ. Cách tính như sau: Tg = Tt x Hg x Gt Trong đó: - Tg: Tiền lương trả thêm giờ - Tt: Tiền lương giờ thực tế - Hg: Tỷ lệ phần % lương được trả thêm - Gt: Số giờ làm thêm Mức lương trả lương thêm nhà nước quy định: - Bằng 150% nếu làm thêm vào ngày thường. - Bằng 200% nếu làm thêm vào ngày nghỉ cuối tuần. - Bằng 300% nếu làm thêm vào ngày lễ. Nếu doanh nghiệp bố trí làm việc vào ban đêm, ngoài lương hưởng theo thời gian còn phải trả thêm ít nhất 30% theo lương thực tế cho người lao động. Sv: Nguyễn Thị Xuân 14 Lớp K35-T4
  15. 3.1.4. Tiền thưởng: Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ xung tiền lương nhằm quán triệt phân phối theo lao động gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tiền lương nhiều hay ít là do kết quả thực hiện các chỉ tiêu thưởng. Tiền thưởng chia được phân loại như sau: - Thưởng thường xuyên (có tính chất lương): thực chất là một phần quỹ lương được tách ra để trả cho người lao động dưới hình thức tiền lương theo một tiêu chí nhất định. + Tiền thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm: áp dụng khi công nhân có sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm. Khoản tiền thưởng này tính trên cơ sở tỷ lệ chung không quá 40% phần chênh lệch giá giữa sản phẩm có phẩm cấp cao với sản phẩm có phẩm cấp thấp. + Tiền thưởng về tiết kiệm vật tư: Là thưởng nhằm khuyến khích người lao động giảm chi phí sản xuất dẫn đến hạ giá thành sản phẩm. Căn cứ để quy định chỉ tiêu thưởng là định mức tiêu hao NVLC,VLP năng lượng cho một đơn vị sản phẩm. Để có quy chế thưởng cho hình thức này phù hợp doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến và xác định đúng đối tượng vật tư quý hiếm, có tỷ trọng lớn. Mức tiền thưởng tính trên cơ sở giá trị vật tư và lao động tiết kiệm được so với định mức và tỷ lệ quy định không quá 40%. - Thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật: là hình thức khuyến khích cán bộ công nhân phát huy khả năng sáng tạo của mình trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm hoặc cải thiện điều kiện làm việc mang lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mức thưởng tuỳ theo điều kiện của từng doanh nghiệp và hiệu quả lợi ích kinh tế xã hội mà có quy chế, quy đinh cụ thể. Tuy nhiên phải đảm bảo được vai trò khuyến khích người lao động đóng góp trí tuệ cho sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội. 3.2. Quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương của doanh nghiệp 3.2.1. Quỹ tiền lương Quỹ lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền trả cho số công nhân viên do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương. Quỹ lương của doanh nghiệp gồm: - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế. Sv: Nguyễn Thị Xuân 15 Lớp K35-T4
  16. - Các khoản phụ cấp thường xuyên, phụ cấp học nghề, thâm niên, phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, khu vực, phụ cấp cho những người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do những nguyên nhân khách quan, thời gian đi học, nghỉ phép. - Tiền lương trả cho công nhân làm ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định. 3.2.2 Các khoản trích theo lương Ngoài tiền lương phải trả cho người lao động còn có các khoản trích BHXH, BHYT. 3.2.2.1. Quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội nhằm mục đích trả lương cho người lao động khi nghỉ hưu hoặc giúp đỡ người lao động trong các trường hợp : ốm đau, thai sản, tai nạn, mất sức lao động phải nghỉ việc,…. Theo quy định hiện hành hàng tháng doanh nghiệp phải trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ quy định bằng 20% mức lương cơ bản + phụ cấp (nếu có) hoặc theo lương hợp đồng của người lao động.Trong đó 15% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 5% trừ vào lương của người lao động. Tuỳ theo quy chế cụ thể mà việc quản lý sử dụng quỹ BHXH có thể ở lại doanh nghiệp hay ở cơ quan chuyên trách. Quỹ BHXH do cơ quan cấp trên quản lý và chi cho các trường hợp như thay lương cho người lao động ốm đau, nghỉ chế độ thai sản, tai nạn lao động không thể làm việc tại doanh nghiệp; chi trợ cấp hưu trí cho người lao động khi nghỉ hưu, trợ cấp bồi dưỡng cho người lao động khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. 3.2.2.2. Quỹ bảo hiểm y tế Thực chất BHYT tài trợ cho việc phòng, chữa và chăm sóc sức khoẻ người lao động. Mục đích của BHYT là tạo ra một mạng lưới bảo vệ sức khoẻ cho toàn thể cộng đồng, bất kể địa vị cao hay thấp. Hiện nay Nhà nước quy định trích BHYT bằng 3% mức lương cơ bản + phụ cấp (nếu có) hoặc lương theo hợp đồng của người lao động. Trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn, chuyên trách và được chi dùng cho việc khám chữa, điều trị, tiền thuốc chữa bệnh ngoại trú, phí khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Sv: Nguyễn Thị Xuân 16 Lớp K35-T4
  17. * Hiên tại DNTN- XN Cơ Khí Long Quân chưa lập quỹ kinh phí công đoàn. 4. Thủ tục và chứng từ sử dụng Chứng từ ban đầu về lao động là cơ sở để chi trả lương và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người lao động và là cơ sở để thực hiện kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương, tài liệu quan trọng để đánh giá hiệu quả các biện pháp quản lý lao động vận dụng ở doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp vận dụng và lập các chứng từ ban đầu về lao động phải phù hợp với các yêu cầu quản lý lao động, phản ánh rõ ràng, đầy đủ số lượng , chất lượng lao động. - Để quản lý lao động về mặt số lượng, các doanh nghiệp sử dụng sổ danh sách lao động. Sổ này do phòng lao động tiền lương lập (lập chung cho toàn doanh nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận) để nắm tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có trong doanh nghiệp. Trên sổ thể hiện rõ các thông tin như: số lượng lao động hiện có, tình hình tăng, giảm lao động, di chuyển lao động, trình độ lao động, tuổi đời, tuổi nghề... Số lượng lao động của doanh nghiệp được phản ánh trên sổ sách dựa vào số lao động hiện có của doanh nghiệp bao gồm số lượng từng loại lao động theo nghề nghiệp công việc và trình độ tay nghề, cấp bậc kỹ thuật, bao gồm cả số lao động dài hạn và số lao động tạm thời, cả lực lượng lao động trực tiếp, gián tiếp và lao động thuộc lĩnh vực khác ngoài sản xuất. Chứng từ sử dụng để hạch toán lao động là “Bảng chấm công”. Bảng này được lập riêng cho từng bộ phận, tổ, đội lao động sản xuất, trong đó ghi rõ ngày làm việc, nghỉ việc của mỗi người lao động. Bảng chấm công do tổ trưởng hoặc trưởng các phòng ban, trực tiếp ghi và để nơi công khai để người lao động giám sát thời gian lao động của họ. Ngoài ra, doanh nghiệp còn sử dụng các chứng từ khác như phiếu báo làm thêm giờ, phiếu nghỉ hưởng BHXH. Sau đó tập hợp báo cáo cho phòng Tổ chức lao động tiền lương và chuyển sang phòng kế toán để tính lương. - Các chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động: “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, “Hợp đồng giao khoán”, “Bảng theo dõi công tác tổ”….. Các chứng từ ban đầu này được sử dụng từng loại tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chứng từ hạch toán kết quả lao động do người lập ký, cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận, quản đốc phân xưởng hoặc trưởng bộ phận duyệt. Bộ phận lao động tiền lương thu thập, kiểm tra, đối chiếu với chế độ của Nhà nước, của doanh nghiệp và thoả thuận theo hợp đồng lao động, sau đó ký xác nhận chuyển vào kế toán tiền lương làm căn cứ lập các bảng thanh toán lương và các khoản trích theo lương cho các tổ đội. Sau đó kế toán tiền lương sẽ lập “Bảng thanh toán lương” (Mẫu số 04 Sv: Nguyễn Thị Xuân 17 Lớp K35-T4
  18. – LĐTL) cho toàn doanh nghiệp. Việc thanh toán BHXH phải căn cứ vào các chứng từ liên quan như: “Biên bản điều tra tai nạn lao động” (Mẫu số 09 – LĐTL), “Phiếu nghỉ hưởng BHXH” (Mẫu số 03 – LĐTL), “giấy chứng nhận khám bệnh được hưởng trợ cấp BHXH”. - Sau khi kế toán trưởng kiểm tra, xác nhận và ký, giám đốc duyệt bảng thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương sẽ được dùng làm căn cứ viết phiếu chi và thanh toán tiền lương cho người lao động trong từng tổ đội. - Việc thanh toán lương được thực hiện làm hai kỳ trong tháng: Kỳ một được gọi là tạm ứng, kỳ hai thanh toán phần còn lại sau khi đã trừ đi khoản khấu trừ. Tiền lương phải trả tận tay cho người lao động hoặc người đại diện tập thể. Thủ quỹ phát lương và người nhận ký vào bảng thanh toán tiền lương của bộ phận mình. 4.1. Các tài khoản kế toán chủ yếu sử dụng. Để tiến hành kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng một số tài khoản sau: TK 334 – Phải trả công nhân viên TK 338 – Phải trả phải nộp khác Các TK khác liên quan: TK 622, 623, 627, 641, 642, 111, 112, 335…. * Tài khoản 334 – Phải trả người lao động: Dùng để phản ánh các khoản thanh toán cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người lao động. Nội dung kết cấu: TK 334 - Phải trả người lao động Bên Nợ Bên Có - Các khoản tiền lương (tiền công), tiền - Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng, các khoản trích theo lương và các thưởng, các khoản trích theo lương và các khoản khác đã trả, đã chi, đã ứng trước cho khoản khác phải chi cho NLĐ. NLĐ. - Các khoản khấu trừ vào tiền lương (tiền công) của NLĐ. - SD(nếu có): Số tiền đã trả lớn hơn số phải - SD: Các khoản tiền lương (tiền công), tiền trả cho NLĐ thưởng và các khoản khác còn phải trả, phải chi cho NLĐ. Sv: Nguyễn Thị Xuân 18 Lớp K35-T4
  19. * Tài khoản 338 – Phải trả phải nộp khác: dùng để phản ánh tình hình thanh toán các khoản phải trả, phải nộp ngoài nội dung đã được phản ánh các tài khoản khác (từ TK 331 đến TK 336). Nội dung kết cấu: TK 338 - Phải trả phải nộp khác Bên Nợ Bên Có - Kết chuyển giá trị tài sản thừa vào các tài sản liên Giá trị tài sản thừa chờ xử lý (chưa rõ nguyên nhân). quan theo quyết định ghi trong biên bản xử lý. - Giá trị tài sản thừa phải trả cho cá nhân tập thể (trong - BHXH phải trả cho NLĐ. và ngoài đơn vị ) theo quyết định ghi trong biên bản xử - KPCĐ chi đơn vị lý do xác định ngay được nguyên nhân. - Số BHXH, BHYT, KPCĐ đã nộp cho cơ quan - Trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí SXKD. quản lý quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ. - Trích BHXH, BHYT, KPCĐ khấu trừ vào lương của - Doanh thu ghi nhận cho từng kỳ kế toán; Trả lại tiền NLĐ. nhận trước cho khách hàng khi không tiếp tục thực - - Các khoản thanh toán cho NLĐ tiền nhà, điện nước ở hiện việc cho thuê tài sản. tập thể. - Các khoản đã trả và đã nộp khác. - - BHXH và KPCĐ vượt chi được cấp bù. - - Doanh thu chưa thực hiện. - - Các khoản phải trả khác. SD (nếu có): - Số đã trả, đã nộp nhiều hơn số phải trả, - SD: - Số tiền còn phải trả, phải nộp phải nộp hoặc nhiều hơn số BHXH đã chi, KPCĐ chi - - BHXH, BHYT, KPCĐ đã trích chưa nộp cho cơ vượt chưa được cấp bù. quan quản lý hoặc số quỹ để lại cho đơn vị chưa chi chi hết. Giá trị tài sản phát hiện thừa còn chờ giải quyết. TK338 – Phải trả phải nộp khác có các TK cấp 2 sau: - TK3381 – Tài sản thừa chờ giải quyết - TK3382 – Kinh phí công đoàn - TK3383 – Bảo hiểm xã hôi Sv: Nguyễn Thị Xuân 19 Lớp K35-T4
  20. - TK3384 – Bảo hiểm y tế - TK3387 – Doanh thu chưa thực hiện - TK3388 – Phải trả phải nộp khác 4.2. Các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan đến tiền lương và các khoản trích theo lương. (1) Hàng tháng tính tiền lương, các khoản phụ cấp theo quy định phải trả cho người lao động và phân bổ cho các đối tượng, kế toán ghi sổ theo định khoản: Nợ TK 241: Tiền lương trả cho bộ phận xây dựng cơ bản. Nợ TK 622: Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm. Nợ TK 623: Tiền lương phải trả cho công nhân sử dụng máy. Nợ TK 627: Tiền lương phải trả cho nhân viên quản lý và phục vụ sản xuất ở phân xưởng sản xuất. Nợ TK 641: Tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng. Nợ TK 642: Tiền lương phải trả cho nhân viên các phòng, ban quản lý doanh nghiệp. Nợ TK 335 – (Tiền lương CNSX nghỉ phép phải trả, nếu doanh nghiệp đã trích trước vào chi phí SXKD) Có TK 334: Tổng tiền lương phải trả cho người lao động trong tháng. (2) Tính trước tiền lương nghỉ phép của CNSX Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp Nợ TK 623 – Chi phí nhân công sử dụng máy Có TK 335 – Chi phí phải trả (3) Tiền thưởng phải trả công nhân viên 3.1. Tiền thưởng có tính chất thường xuyên tính vào chi phí SXKD Nợ TK 622, 627, 641, 642,… Có TK 334 – Phải trả người lao động 3.2. Thưởng người lao động trong các kỳ sơ kết, tổng kết… tính vào quỹ khen thưởng Nợ TK 431 (4311) – Quỹ khen thưởng phúc lợi Có TK 334 – Phải trả người lao động (4). Tính tiền ăn ca phải trả người lao động Nợ TK 622, 627, … Sv: Nguyễn Thị Xuân 20 Lớp K35-T4

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản