báo cáo tốt nghiệp: tỷ giá hối đoái và tác động đến cán cân thanh toán của việt nam - nguyễn đức toàn - 3

Chia sẻ: muaythai5

Tổn thất kinh tế (economic exposure) Tổn thất kinh tế là tổn thất phát sinh do sự thay đổi của tỷ giá làm ảnh hưởng đến ngân lưu qui ra nội tệ hoặc ngoại tệ của doanh nghiệp. Tổn thất kinh tế xảy ra tương tự như tổn thất giao dịch, chỉ khác biệt ở chỗ nó là những khoản tổn thất không xuất phát từ các khoản phải thu hoặc phải trả có hợp đồng rõ ràng mà từ ngân lưu hoạt động của doanh nghiệp. Chẳng hạn, sự lên giá của nội tệ làm sụt giảm doanh thu...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: báo cáo tốt nghiệp: tỷ giá hối đoái và tác động đến cán cân thanh toán của việt nam - nguyễn đức toàn - 3

Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
thất các khoản phải trả ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị qui ra nội tệ
chi ra tăng lên do ngoại tệ lên giá so với nội tệ.
1.5.2.1.b.Tổn thất kinh tế (economic exposure)
Tổn thất kinh tế là tổn thất phát sinh do sự thay đổi của tỷ giá làm ảnh
hưởng đến ngân lưu qui ra nội tệ hoặc ngoại tệ của doanh nghiệp. Tổn thất
kinh tế xảy ra tương tự như tổn thất giao dịch, chỉ khác biệt ở chỗ nó là
những khoản tổn thất không xuất phát từ các khoản phải thu hoặc phải trả có
hợp đồng rõ ràng mà từ ngân lưu hoạt động của doanh nghiệp. Chẳng hạn, sự
lên giá của nội tệ làm sụt giảm doanh thu xuất khẩu của doanh nghiệp, do
hàng xuất khẩu bây giờ trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng nước
ngoài. Tổn thất kinh tế có thể xác định theo công thức sau: ”V = CFt.”St, trong
đó:
• ”∆V là tổn thất ngoại hối kinh tế
1
• CFt là ngân lưu của doanh nghiệp ở thời điểm t
2
• ”∆St là mức độ thay đổi tỷ giá, ”St = St – S0, trong đó St, S0
3
lần lượt là tỷ giá ở thời điểm t và thời điểm gốc.
Tổn thất kinh tế rõ ràng là khó xác định và ước lượng hơn tổn thất giao
dịch, do nó phụ thuộc vào cả hai biến cùng thay đổi là CFt và ”St .
1.5.2.1.b.Tổn thất chuyển đổi (translation exposure)
Tổn thất chuyển đổi là tổn thất phát sinh do thay đổi tỷ giá khi sáp nhập
và chuyển đổi tài sản, nợ, lợi nhuận ròng và các khoản mục khác của các báo
cáo tài chính từ đơn vị tính toán ngoại tệ sang đơn vị nội tệ.
1.5.2.1.c.Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính của doanh nghiệp
1.5.2.1.d.Tác động bất ổn đến hoạt động doanh nghiệp
Rủi ro tỷ giá tác động đến việc hoạch định tài chính doanh nghiệp
thường thấy trong khi phân tích và xem xét dự án đầu tư mà ngân lưu kỳ vọng
chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của tỷ giá ngoại hối trong tương lai.Chẳng
hạn , một trong những chỉ tiêu đánh giá xe có nên đầu tư hay không vào dự án
này là hiện giá ròng NPV. . Tỷ giá thay đổi làm thay đổi dòng tiền ròng từ đó
làm ảnh hưởng đến NPV và ảnh hưởng đến việc hoạch định đầu tư vốn của
doanh nghiệp.
1.5.2.b.Tác động đến sự tự chủ tài chính của doanh nghiệp
Sự chịu đựng tài chính của doanh nghiệp được xác định và đo lường bởi
sự tự chủ về tài chính. Trong tài chính công ty, chúng ta đã biết sự tự chủ tài
chính được xác định bởi tỷ số vốn chủ sở hữu trên nợ hoặc trên tổng tài sản.
Khi có rủi ro tỷ giá, doanh nghiệp đối mặt với tổn thất làm cho giá trị phần
vốn chủ sở hữu trở nên bất ổn và có nguy cơ sụt giảm khiến cho tỷ số chủ
động về tài chính giảm theo.
1.5.2.3.Các cách để phòng chống rủi ro tỷ giá
Để phục vụ cho mục tiêu phòng ngừa rủi ro tỷ giá, doanh nghiệp có thể
sử dụng các loại giao dịch hay các loại hợp đồng sau: Hợp đồng kỳ hạn
(forward contract), Hợp đồng hoán đổi (swap contract), Hợp đồng giao sau
(future contract), Hợp đồng quyền chọn (options contract), Kết hợp các giao
dịch trên thị trường tiền tệ (money market hedge)
A.Giao dịch giao ngay



SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 27
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
Hối đoái giao ngay (spot transactions) là nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại
tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là
trong hai ngày làm việc kể từ khi thoả thuận hợp đồng mua bán. Giao dịch hối
đoái giao ngay được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ
giao ngay phục vụ cho thanh toán của khách hàng. Chẳng hạn, một công ty
xuất khẩu vừa thu ngoại tệ từ một hợp đồng xuất khẩu nhưng cần VND để
chi trả tiền lương và trang trải chi phí thu mua nguyên liệu trong nước sẽ có
nhu cầu bán ngoại tệ lấy VND. Ngân hàng thương mại đứng ra mua số ngoại
tệ này của nhà xuất khẩu, sau đó bán lại cho nhà nhập khẩu là người có nhu
cầu mua ngoại tệ để thanh toán hợp đồng nhập khẩu đến hạn.

B.Giao dịch kỳ hạn
B.1.Giới thiệu chung
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn (forward) là giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ
mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện sau một thời hạn nhất định kể
từ khi thoả thuận hợp đồng. Ở Việt Nam, hợp đồng kỳ hạn mặc dù đã được
chính thức đưa ra thực hiện từ năm 1998, nhưng đến nay nhu cầu giao dịch
loại hợp đồng này vẫn chưa nhiều. Lý do, một mặt, là khách hàng vẫn chưa
am hiểu lắm về loại giao dịch này. Mặt khác, do cơ chế điều hành tỷ giá của
Ngân hàng Nhà nước trong suốt thời gian qua khá ổn định theo hướng VND
giảm giá từ từ so với ngoại tệ để khuyến khích xuất khẩu nhưng vẫn đảm
bảo ổn định đối với hoạt động nhập khẩu. Tuy nhiên, trong tương lai khi
Việt Nam gia nhập WTO và dần dần hội nhập tài chính với quốc tế thì Ngân
hàng Nhà nước sẽ bớt dần can thiệp vào thị trường ngoại hối, khi ấy rủi ro tỷ
giá đáng lo ngại và nhu cầu giao dịch hối đoái kỳ hạn sẽ
B.2 Tỷ giá kỳ hạn
Tỷ giá có kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng
được xác định ở hiện tại. Gọi F là tỷ giá có kỳ hạn; S là tỷ giá giao ngay; rd là
lãi suất của đồng tiền định giá; ry là lãi suất của đồng tiền yết giá, ta có tỷ
giá có kỳ hạn được xác định bởi công thức sau: F = S(1 + rd)/(1+ ry) (1). Nói
chung tỷ giá có kỳ hạn phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay và lãi suất đồng tiền
yết giá và đồng tiền định giá. Trên thị trường tiền tệ, lãi suất đồng tiền định
giá có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn lãi suất đồng tiền yết giá. Dựa vào công
thức (1), chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
• Nếu lãi suất đồng tiền định giá lớn hơn lãi suất đồng tiền yết
1
giá: rd > ry => 1+rd > 1+ry => (1+rd)/ (1+ry) >1 => F > S.
• Nếu lãi suất đồng tiền định giá nhỏ hơn lãi suất đồng tiền yết
2
giá: rd < ry => 1+rd < 1+ry =>(1+rd)/ (1+ry) F < S.
• Kết hợp hai trường hợp trên chúng ta thấy rằng tỷ giá có kỳ
3
hạn có thể tóm tắt như sau:
Tỷ giá có kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + Điểm kỳ hạn
Ở đây, có hai trường hợp xác định tỷ giá có kỳ hạn: tỷ giá mua có kỳ hạn
và tỷ giá bán có kỳ hạn. Để tiện việc tính toán, chúng ta đặt:
1 • Fm, Sm lần lượt là tỷ giá mua có kỳ hạn và tỷ giá mua giao ngay

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 28
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
2 • Fb, Sb lần lượt là tỷ giá bán có kỳ hạn và tỷ giá bán giao ngay
3 • Ltg(VND), Lcv(VND) lần lượt là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
đồng Việt Nam
4 • Ltg(NT), Lcv(NT) lần lượt là lãi suất tiền gửi và cho vay ngoại tệ.
5 • N là số ngày của hợp đồng có kỳ hạn
1. Tỷ giá mua có kỳ hạn
2. Tỷ giá bán có kỳ hạn
(3)
(4) 360*100Lcv(NT)]N-)Sm[Ltg(VNDSm Fm+=360*
100Ltg(NT)]N-)Sb[Lcv(VNDSbFb+=
Trong công thức (3) và (4) trên đây, người ta giả định năm tài chính có
360 ngày và lãi suất được tính theo %/năm.
B.3 Sử dụng giao dịch kỳ hạn
Hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn thường được ngân hàng áp dụng để
đáp ứng nhu cầu ngoại tệ kỳ hạn của khách hàng nhằm mục tiêu phòng ngừa
rủi ro tỷ giá.
B.4Hạn chế của giao dịch kỳ hạn
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thoả mãn được nhu cầu mua bán ngoại tệ của
khách hàng mà việc chuyển giao được thực hiện trong tương lai. Tuy nhiên,
do giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi
hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng. Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳ
hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng chỉ cần mua hoặc bán
ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại
tệ.
C.Giao dịch hoán đổi (swaps)
C.1 Sử dụng giao dịch hoán đổi
Giao dịch hoán đổi là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời cả hai giao
dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với
đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ
giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng.Trong hợp
đồng giao dịch hoán đổi, hai bên ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau
một số nội dung chính như sau:
Thời hạn giao dịch – Thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6
tháng. Nếu ngày đáo hạn rơi vào ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ
thoả thuận chọn một ngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính
trên số ngày thực tế.
Ngày thanh toán – Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm hai
loại ngày khác nhau: ngày hiệu lực và ngày đáo hạn. Ngày hiệu lực là ngày
thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay trong khi ngày đáo hạn là ngày thực
hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn.
Xác định tỷ giá hoán đổi – Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại
tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn. Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do ngân
hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch do hai bên thoả thuận. Tỷ giá có kỳ hạn

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 29
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay, chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại
tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng.
C.2 Lợi ích và hạn chế của giao dịch hoán đổi
Với khách hàng lợi ích thể hiện ở chỗ khách hàng thoả mãn được nhu
cầu ngoại tệ hoặc nội tệ của mình ở thời điểm hiện tại, đồng thời cũng thoả
mãn nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ vào này đáo hạn. Tuy nhiên, cũng như
giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi vẫn còn hạn chế ở hai điểm:
• Nó là hợp đồng bắt buộc yêu cầu các bên phải thực hiện khi đáo hạn
bất chấp tỷ giá trên thị trường giao ngay lúc đó như thế nào.
• Nó chỉ quan tâm đến tỷ giá ở hai thời điểm: thời điểm hiệu lực và
thời điểm đáo hạn, mà không quan tâm đến sự biến động tỷ giá trong suốt
quảng thời gian giữa hai thời điểm đó.
D.Giao dịch giao sau
D.1 Giới thiệu chung
Hợp đồng giao sau là một thoả thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã
biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển
giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi
Sở giao dịch (IMM).
D.2 So sánh hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau

Điểm khác biệt Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng giao sau
Loại hợp đồng Một thoả thuận giữa NH và Được tiêu chuẩn hoá theo
khách hàng. Điều khoản của những chi tiết của Sở
HĐ rất linh động giao dịch
Thời hạn Các bên tham gia HĐ có thể Chỉ có một vài thời hạn
lựa chọn bất kỳ thời hạn nhất định
nào, nhưng thường là hệ số
của 30 ngày
Trị giá HĐ Nói chung rất lớn, trung bình Nhỏ đủ để thu hút nhiều
trên 1 triệu USD một HĐ người tham gia
Thoả thuận an Khách hàng phải duy trì số Tất cả các nhà giao dịch
dư tối thiểu ở NH để bảo phải duy trì tiền ký quỹ
toàn
đảm cho HĐ theo tỷ lệ phần trăm trị
giá HĐ
Thanh toán tiền Không có thanh toán tiền tệ Thanh toán hàng ngày
tệ trước ngày HĐ đến hạn bằng cách trích tài khoản
của bên thua và ghi có
vào tài khoản bên được

D.3 Thành phần tham gia giao dịch
Nhà kinh doanh ở sàn giao dịch (floor traders): thường là các nhà đầu cơ
(speculators) hoặc đại diện cho các ngân hàng, công ty mà sử dụng thị trường
giao sau để bổ sung cho các giao dịch có kỳ hạn. Nhà môi giới ở sàn giao dịch


SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 30
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
(floor brokers): nói chung là đại diện của các công ty đầu tư, những công ty
chuyên môi giới đầu tư ăn hoa hồng.
D.4 Cơ chế giao dịch
Tất cả các hợp đồng giao sau đều thực hiện giao dịch ở Sở giao dịch có
tổ chức. Sở giao dịch là người đề ra qui chế và kiểm soát hoạt động của các
hội viên. Hội viên của Sở giao dịch là các cá nhân, có thể là đại diện của các
công ty, ngân hàng thương mại hay cá nhân có tài khoản riêng.
D.5 Đặc điểm của giao dịch giao sau
Mặc dù các hợp đồng có kỳ hạn thường rất linh hoạt về phương diện
thời hạn và số tiền giao dịch nhưng chúng hạn chế về mặt thanh khoản
(liquidity) bởi vì các bên tham gia hợp đồng không thể bán hợp đồng khi thấy
có lời cũng không thể xoá bỏ hợp đồng khi thấy bất lợi. Trong khi đó, hợp
đồng giao sau có tính thanh khoản cao hơn bởi vì phòng giao hoán sẵn sàng
đứng ra “đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu. Khi đảo hợp
đồng thì hợp đồng cũ bị xoá bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh
lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng.
D.6 Minh hoạ giao dịch giao sau
Để dễ hiểu hơn về cách thức thực hiện một hợp đồng giao sau, dưới
đây xin lấy một ví dụ minh hoạ. Nhà đầu cơ thị trường giao sau dự báo vài
ngày tới CHF sẽ lên giá so với USD. Nhằm kiếm tiền từ cơ hội này, vào sáng
ngày thứ ba, một nhà đầu tư trên thị trường giao sau Chicago mua một hợp
đồng giao sau trị giá 125.000 CHF với tỷ giá 0,75 USD cho 1 CHF. Sau khi
mua hợp đồng giao sau, nhà đầu cơ sốt ruột theo dõi diễn biến tình hình thị
trường.
Thời gian Hoạt động Thanh toán
Sáng ngày thứ ba Chưa xảy ra
• Nhà đầu tư mua hợp đồng giao
sau, đến hạn vào chiều ngày thứ
năm với tỷ giá 0,75 $/CHF
• Nhà đầu tư ký quỹ 2.565$

Cuối ngày thứ ba Giá CHF tăng đến 0,755$, vị trí Nhà đầu tư nhận:
của nhà đầu tư được ghi nhận 125.000 x (0,755 –
trên thị trường 0,75) = 625$
Cuối ngày thứ tư Giá CHF giảm còn 0,752$, vị trí Nhà đầu tư phải trả:
mới của nhà đầu tư được ghi 125.000 x (0,755 –
nhận 0,752) = 375$
Cuối ngày thứ Giá CHF giảm còn 0,74$ Nhà đầu tư phải trả:
• Hợp đồng đến hạn thanh toán
năm 1 (1)
• Nhà đầu tư nhận ngoại tệ 125.000(0,752 – 0,74)
chuyển giao = 1500$
2 (2) 125.000 x
0,74 = 92.500$

D.7 Sử dụng giao dịch giao sau để đầu cơ

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 31
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
Từ ví dụ minh hoạ hợp đồng giao sau trên đây chúng ta dễ nhận thấy
rằng giao dịch giao sau giống như hoạt động “cá cược”, trong đó Sở giao dịch
đóng vai trò người tổ chức, người mua hợp đồng giao sau một loại ngoại tệ
nào đó chính là người đánh cược rằng ngoại tệ đó sẽ lên giá. Ngược lại,
người bán hợp đồng giao sau một loại ngoại tệ nào đó chính là người đánh
cược rằng ngoại tệ đó sẽ xuống giá trong tương lai.
D.8 Khả năng phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng giao dịch giao sau
Hợp đồng giao sau có thể sử dụng như là một công cụ phòng ngừa rủi ro
tỷ giá. Nguyên lý chung là khi có một khoản phải trả bằng ngoại tệ và lo sợ
rằng ngoại tệ đó sẽ lên giá khi khoản phải trả đến hạn thì nên mua một hợp
đồng giao sau ngoại tệ đó. Bằng cách này có thể tạo ra hai trạng thái ngoại tệ
trái ngược nhau: trạng thái âm khi nợ một khoản phải trả và trạng thái dương
khi mua hợp đồng giao sau với cùng loại ngoại tệ đó. Hai trạng thái ngoại tệ
trái chiều nhau ấy sẽ tự hoá giải rủi ro. Trường hợp có một khoản phải thu,
thay vì khoản phải trả, thì làm ngược lại.
D.9 Khả năng thực hiện giao dịch giao sau ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện tại chưa thực hiện loại giao dịch này nhưng tương lai
liệu loại giao dịch này có khả năng được thực hiện hay không? Điều này còn
tùy thuộc dịch nhiều thứ nhưng trong đó có ba điều kiện cơ bản để loại giao
dịch này có thể được đưa ra thị trường hay không:
• Thứ nhất là khả năng nhận thức về loại giao dịch này.
1
• Thứ hai là mức độ hiệu quả của thị trường.
2
• Thứ ba là cơ sở hạ tầng phục vụ giao dịch.
3

D.10 Ưu nhược điểm của giao dịch giao sau
Ưu điểm của hợp đồng giao sau trước tiên là sẵn sàng cung cấp những
hợp đồng có trị giá nhỏ. Kế đến, nó cho phép các bên tham gia có thể sang
nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn.
Ngược lại, hợp đồng giao sau có nhược điểm trước hết là chỉ cung cấp giới
hạn cho một vài ngoại tệ mạnh và một vài ngày chuyển giao ngoại tệ trong
năm mà thôi. Kế đến, hợp đồng giao sau là hợp đồng bắt buộc phải thực hiện
khi đến hạn chứ không cho người ta quyền được chọn như trong hợp đồng
quyền chọn.
E. Giao dịch quyền chọn
E.1Giới thiệu chung
Quyền chọn (options) là một công cụ tài chính mà cho phép người mua
nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua (call) hay bán (put) một công
cụ tài chính khác ở một mức giá và thời hạn được xác định trước. Để có thể
hiểu rõ thêm khái niệm quyền chọn, một số thuật ngữ liên quan cần được
giải thích chi tiết hơn như sau:
• Người mua quyền (holder) – Người bỏ ra chi phí để được nắm
1
giữ quyền chọn và có quyền yêu cầu người bán có nghĩa vụ thực hiện quyền
chọn theo ý mình.


SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 32
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
• Người bán quyền (writer) – Người nhận chi phí mua quyền
2
của người mua quyền, do đó, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu
cầu của người mua quyền.
• Tài sản cơ sở (underlying assets) – Tài sản mà dựa vào đó
3
quyền chọn được giao dịch. Giá cả trên thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ
để xác định giá trị của quyền chọn. Tài sản cơ sở có thể là hàng hoá như cà
phê, dầu hoả, vàng,.. hay chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu hoặc ngoại tệ
như EUR, CHF, CAD,...
• Tỷ giá thực hiện (exercise or strike rate) – Tỷ giá sẽ được áp
4
dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyền chọn.
• Trị giá hợp đồng quyền chọn (volume) – Trị giá được chuẩn
5
hoá theo từng loại ngoại tệ và thị trường giao dịch.
• Thời hạn của quyền chọn (maturity) – Thời hạn hiệu lực của
6
quyền chọn. Quá thời hạn này quyền không còn giá trị.
• Phí mua quyền (premium) – Chi phí mà người mua quyền phải
7
trả cho người bán quyền để được nắm giữ hay sở hữu quyền chọn. Chi phí
này thường được tính bằng một số nội tệ trên mỗi ngoại tệ giao dịch.
• Loại quyền chọn – Loại quyền mà người mua nắm giữ. Loại
8
quyền chọn nào cho phép người mua có quyền được mua một loại tài sản cơ
sở ở mức giá xác định trước trong thời hạn nhất định gọi là quyền chọn mua
(call). Ngược lại, loại quyền chọn nào cho phép người mua có quyền được
bán gọi là quyền chọn bán (put).
• Kiểu quyền chọn – Kiểu giao dịch do hai bên thoả thuận cho
9
phép người mua quyền được lựa chọn thời điểm thực hiện quyền. Kiểu
quyền chọn cho phép người mua quyền được thực hiện bất cứ thời điểm nào
trong thời hạn hiệu lực của quyền chọn gọi là quyền chọn kiểu Mỹ. Kiểu
quyền chọn chỉ cho phép người mua thực hiện khi quyền chọn đến hạn gọi là
quyền chọn kiểu châu Âu.
E.2 Định giá quyền chọn
Đối với quyền chọn theo kiểu Mỹ: Gọi giá trị của quyền chọn mua là
Ca, giá trị của quyền chọn bán là Pa, tỷ giá thực hiện là E và tỷ giá giao ngay
là S. Ta có giá trị quyền chọn kiểu Mỹ được xác định bởi công thức :
Ca(S, E) e" max(0, S – E) và Pa(S, E) e" max(0, E – S)
Đối với Quyền chọn theo kiểu châu Âu: Gọi giá trị của quyền chọn mua
là Ce, giá trị của quyền chọn bán là Pe, tỷ giá thực hiện là E, tỷ giá giao ngay
là S, lãi suất phi rủi ro của đồng tiền A là a, lãi suất phi rủi ro của đồng tiền
B là b, và thời hạn hợp đồng là T. Ta có giá trị quyền chọn kiểu châu Âu
được xác định theo công thức:
Ce(S, T, E) e" max{0, S(1 + b)-T – E(1 + a)-T} và
Pe(S, T, E) ≥ max{0, E(1 + a)-T – S(1 + b)-T}
E.3 Định giá quyền chọn theo mô hình Black-Scholes
Đối với quyền chọn mua theo kiểu châu Âu, mô hình Black-Scholes có
thể diễn tả bởi công thức sau: Ce = Se-bTN(d1) – Ee-aTN(d2), trong đó:

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 33
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
Ce là giá cả của quyền chọn mua theo kiểu châu Âu
S là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền A và đồng tiền B
E là tỷ giá thực hiện
T là thời hạn hợp đồng, tính bằng năm
a là lãi kép liên tục không có rủi ro của đồng tiền A
b là lãi kép liên tục không có rủi ro của đồng tiền B
e = 2,71828 là hằng số Nê-pe
Ã∆ là độ lệch chuẩn hàng năm của phần trăm thay đổi tỷ giá giao ngay
N(d1) và N(d2) là giá trị của hàm phân phối xác xuất chuẩn và d1, d2
được xác định như sau: d1 = {ln(S/E)+[a-b+Ã2/2]}/Ã∆ (T)1/2 và d2 = d1 –
Ã∆ (T)1/2

E.4 Mối quan hệ giữa giá trị quyền chọn mua và quyền chọn bán
Mối quan hệ giữa quyền chọn mua và quyền chọn bán được diễn tả qua
sự cân bằng chọn mua-chọn bán (put-call parity). Trong trường hợp quyền
chọn theo kiểu châu Âu mối quan hệ này thể hiện qua công thức sau:
Ce(S, T, E) = Pe(S, T, E) + S(1 + b)-T – E(1 + a)-T
trong đó Ce và Pe lần lượt là giá cả của quyền chọn mua và quyền chọn
bán theo kiểu châu Âu.
E.5 Sử dụng giao dịch quyền chọn
Giao dịch quyền chọn có thể sử dụng cho cả hai mục tiêu : đầu cơ và
phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Mục tiêu sử dụng quyền chọn để phòng ngừa rủi ro
tỷ giá sẽ được tập trung xem xét chi tiết ở chương sau. Ở Việt Nam giao dịch
quyền chọn được Eximbank đưa ra giao dịch thí điểm năm 2002. Với sự thành
công của Eximbank, các ngân hàng khác như Citi Bank, ACB, Techombank
cũng bắt đầu triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn.




SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 34
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh

CHƯƠNG 2
Thực trạng về chính sách quản lí tỷ giá hối đoái của
Việt Nam trong thời gian qua
1. Sự hình thành và vận động của tỷ giá cùng chính sách TGHĐ trong giai
đoạn trước tháng 3/1989 thời kế hoạch hoá , tập trung kinh tế.
Năm 1950 được coi như là một cái mốc khi mà Trung Quốc , Liên Xô và
các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt
Nam , đặt nền móng đầu tiên cho việc hình thành các quan hệ kinh tế -
thương mại giữa Việt Nam và các nước.Trong hai năm liên tiếp,1952-
1953,Việt Nam lần lượt kí hiệp định thương mại và nghị định thư mậu dịch
tiểu nghạch với Trung Quốc.Từ ngày 25 tháng 11 năm 1955, tỷ giá chính thức
được quy định giữa đồng Việt Nam(VND) và nhân dân tệ Trung Quốc(CNY)
là 1 CNY=1470 VND. Tỷ giá giá này được xác định dựa trên việc so sánh giá
bán lẻ của 34 mặt hàng tiêu dùng tại một số tỉnh lớn của hai nước. Vào thời
điểm này, tỷ giá Rúp của Liên Xô (SUR) và nhân dân tệ của Trung Quốc
(CNY) là 1 CNY = 2SUR. Từ đó,tỷ giá tính chéo tạm thời giữa đồng Việt
Nam và Rup của Liên Xô là 1 SUR = 735VND.Sau đợt đổi tiền vào đầu năm
1959 (1 đồng Việt Nam mới bằng 1000 đồng Việt Nam cũ) cũng đã có những
điều chỉnh tỷ giá tương ứng với sự thay đổi mệnh giá của đồng tiền (1SUR =
0,735VND). Đến đầu năm 1961 tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Rup của Liên
Xô được điều chỉnh lại là 1SUR=3,27VND,do hàm lượng vàng trong đồng
Rup được điều chỉnh tăng 4,44 lần.
Năm 1977, các nước xã hội chủ nghĩa thoả thuận thanh toán với nhau
bằng tiền Rup chuyển nhượng ( là đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh toán
mậu dịch giữa các nước trong khối với tỷ giá được quy định sao cho tài khoản
giữa các bên sau khi trao đổi ngoại thương theo khối lượng đã được ghi trong
hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm số dư phải bằng zero ) có hàm
lượng vàng quy định là 0,98712 gam trên mỗi đồng Rup chuyển nhượng. Bên
cạnh tỷ giá Nhà nước còn sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ 1SUR=5,64VND ,
được hình thành từ năm 1958 và được xác định trên cơ sở so sánh giá cả hàng
hoá xuất khẩu của Việt Nam bằng đồng Rup nhân dân tệ với giá hàng hoá đó
bằng đồng Việt Nam trong 3 năm 1955, 1956, 1957. Tỷ giá kết toán nội bộ
này dùng để thanh toán giữa các tổ chức và đơn vị kinh tế Nhà nước có thu
chi ngoại tệ với ngân hàng, tính thu chi với các đối tác ngoại thương. Tỷ giá
kết toán nội bộ này được xác định cố định cho đến tận năm 1986 mới được
điều chỉnh lại là 1SUR=18VND, năm 1987 điều chỉnh lại là 1SUR=150VND ,
cuối năm 1988 mới được điều chỉnh lại là 1SUR=700VND và cho đến tháng 3
năm 1989 thì huỷ bỏ chế độ kết toán nội bộ này. Sau khi bắt đầu có chủ
trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài (1985 ) thì vấn đề luồng ngoại tệ bằng
Dola Mỹ vào Việt Nam phải được tính đến ( nhất là khi Việt Nam thông
qua luật đầu tư nước ngoài vào năm 1987). Và TGHD chính thức giữa đồng
Việt Nam và Dola Mỹ đã được xác định một cách chủ quan theo tỷ giá hiện
tại giữa đồng Việt Nam và đồng Rup ( năm 1985: 1SUR=18VND và mối

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 35
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
tương quan Dola-Rup xem như tương đương 1:1.Do đó, TGHD chính thức
giữa đồng Việt Nam và Dola Mỹ vào năm 1985 là 1USD=18VND ) . Cũng bắt
đầu từ năm này, thị trường ngoại tệ chợ đen mà chủ yếu là thị trường Dola
Mỹ bắt đầu bột phát một cách mạnh mẽ với sự trợ lực của ba dòng chảy là:
dòng kiều hối của kiều bào đổ về thay thế dân cho những kiện hàng quà biếu
mà một phần đáng kể là dưới hình thức bất hợp pháp. Những lượng lớn Dola
Mỹ được cất trữ từ khi miền Nam được giải phóng bởi các tiểu tư sản Sài
Gòn cũ cũng bắt đầu được tung ra ít nhiều.Thứ ba, cùng với việc xoá bỏ ngăn
sông cấm chợ thì dòng chảy hàng buôn lậu qua biên giới cũng gia tăng theo.
Mức TGHD trên thị trường chợ đen được hình thành và vận động theo những
tín hiệu quy luật thị trựờng đã có một sự chệnh lệch lớn so với tỷ giá chính
thức, sự bất hợp lý trong việc xác lập TGHD ở giai đoạn này thực chất không
quan trọng đối với cả nền kinh tế nói chung vì tỷ giá là một loại giá cả, mà
bản thân phạm trù giá cả cơ bản là không tồn tại trong nền kinh tế tập trung,
bao cấp ngoại trừ việc có ảnh hưởng xấu đến ngân sách Nhà nước.
Với việc thực hiện tỷ giá kết toán nội bộ, mức tỷ giá chính thức thường
cố định trong thời gian tương đối dài và thấp hơn rất nhiều so với mức tỷ giá
trên thị trường.VD:giai đoạn từ năm 1985 đến 1988, 1 Rup có giá vào khoảng
1500 VND, 1 Dola có giá vào khoảng 3000 VND . Trong khi đó, tỷ giá kết toán
nội bộ trong thanh toán quan hệ xuất nhập khẩu ở mức khoảng
1SUR=150VND và 1USD=225VND. Từ đó, 1 Rup nhập khẩu Nhà nước phải
bù lỗ một số tiền là 1350 đồng và 1 Dola phải bù lỗ 2775 đồng. Như vậy,
nếu kim ngạch trong năm 1987 là 650 triệu SUR-USD , trong đó khu vực
đồng Rup là 500 triệu và khu vực Dola là 150 triệu thì số tiền phải bù lỗ lên
đến 900 tỷ VND . Tình hình này dẫn đến một thực trạng là những địa
phương, những ngành nghề nào đó càng xuất khẩu nhiều thì ngân sách Nhà
nước càng phải bù lỗ nhiều. Nếu bù lỗ không đủ hay chậm trễ sẽ dẫn đến
tình trạng nợ chồng chất lẫn nhau và thiếu vốn kinh doanh. Bên cạnh đó, do
tỷ giá chính thức quy định thấp, các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ lại
tìm cách không bán cho ngân hàng, các tổ chức đại diện nước ngoài hoặc cá
nhân nước ngoài cũng hạn chế việc chuyển tiền vào tài khoản ở ngân hàng
để chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước ngoài vào hay sử dụng trực tiếp tiền
mặt trên thị trường. Thực tế này vừa gây thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước
vừa làm phát sinh những tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội, thúc đẩy
mạnh mẽ những hoạt động phi pháp và chính điều này tác động ngược trở lại
làm tình hình tỷ giá trong thị trường càng diễn biến phức tạp. Đối với nhập
khẩu, Nhà nước thường đứng ra phân phối nguyên vật liệu, trang thiết bị,
máy móc nhập khẩu cho các ngànhh đơn vị trong nền kinh tế với giá rẻ ( theo
tỷ giá chính thức). Như vậy, các ngànhh, các đơn vị được phân phối hàng
nhập khẩu thì được chênh lệch giá. Do đó, cách thức xây dựng và điều hành
tỷ giá cùng cơ chế ngoại thương như vậy đã được xem là một trong những
nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thâm hụt trầm trọng trong ngân sách Nhà
nước ở giai đoạn này. Tóm lại, TGHD được xác lập và vận hành ở Việt Nam
trong giai đoạn trước tháng 3/1989 là một hệ thống khá phức tạp, được xác
lập theo ý đồ phục vụ cho kế hoạch do Nhà nước quyết định, không xuất
phát từ luật thực tại trong nền kinh tế trong và ngoài nước mà hậu quả là làm

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 36
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
cho việc tính toán,phản ánh thu chi ngân sách Nhà nước bị sai lệch, công tác
điều hành ngân sách Nhà nước gặp khó khăn, cản trở các quan hệ kinh tế cả
trong và ngoài nước. Đây cũng là vừa một biểu hiện và cũng vừa là kết quả
của một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
2.2. Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến nay,
thời kì nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định hướng xã
hội chủ nghĩa.
2.2.1. Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển
TGHĐ ở nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường
truyền thống Đông Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúnh ta phải
chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng dola Mỹ.Kể từ đó cơ chế
tỷ giá ổn định đã được thay thế dần bằng cơ chế Nhà nước điều tiết theo
quan hệ thị trường.Để đi tới một chính sách TGHĐ tự chủ như ngày nay,cơ
chế quản lý ngoại tệ nói chung , quản lý hối đoái nói riêng đã trải qua những
điều chỉnh lớn.
Chính trong giai đoạn này nền kinh tế chịu tác động của chính sách thả
nổi tỷ giá.Tỷ giá hối đoái VND/USD biến động mạnh theo xu hướng giá trị
đồng dola Mỹ tăng liên tục kèm theo các cơn “sốt”, các đột biến với biên độ
rất lớn ( Từ cuối năm 1990 trở đi ) . Đỉnh cao của mức tăng tỷ giá USD là
cuối năm 1991 . Ngày 4/12/1991 giá dola Mỹ trên thị trường tư nhân tại Hà
nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 14.450 VND/USD . Giá dola trong tháng
12/1990 đã tăng từ 60 đến 80% so với mức giá đầu năm.
Mặc dù trong giai đoạn 1989-1992 chính sách quản lý ngoại tệ của Nhà
Nước đã có nhiều thay đổi , như chuyển từ hình thức quản lý theo tỷ giá kết
toán nội bộ bình quân cho tất cả các nhóm hàng hoá và duy trì tương đối ổn
định các tỷ giá này , hoặc nếu có thay đổi thì cũng chỉ ở mức nhỏ nhằm ổn
định hệ thống giá vật tư và xuất khẩu , nhập khẩu , nên tỷ giá công bố vẫn
cách xa mức giá hình thành trên thị trường.
Diễn biến tỷ giá hối đoái từ năm1989 đến năm 1992 không những nói
nên khoảng cách giữa tỷ giá của nhà nước với tỷ giá hình thành trên thị
trường tự do mà còn phản ánh xu hướng tăng nhanh của giá trị đồng dola ở cả
khu vực nhà nước lẫn thị trường . Năm 1990,giá trị đồng dola vào thời điểm
cuối năm đã tăng tới 50% so với đầu năm . Mức tăng giá USD trong 1991 còn
cao hơn .Tình trạng leo thang của giá đồng dola đã kích thích tâm lý nắm giữ
đồng dola , nhằm đầu cơ ăn chênh lệch giá . Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại
không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo
giữa các tổ chức trong nước . Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít
đem lại hiệu quả . Giai đoạn này Ngân hàng không kiểm soát được lưu thông
tiền tệ . Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ vỡ các mối quan
hệ ngoại thương với LiênXô và Đông Âu , nhập khẩu giảm sút một cách
nghiêm trọng ( năm 1991 là 357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1 triệu
USD ). Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả chậm và


SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 37
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
phải chịu một lãi suất cao do thiếu dola , dola đã thiếu lại càng thiếu dẫn đến
các cơn sốt dola theo chu kỳ vào giai đoạn này.
Đến đầu năm 1992 Chính phủ đã có một số cải cách trong việc điều
chỉnh tỷ giá ( như buộc các doanh nghiệp có dola phải gửi vào ngân hàng , bãi
bỏ hình thức quy định tỷ giá theo nhóm hàng..) làm cho giá dola bắt đầu giảm
( cuối năm 1991 tỷ giá VND/USD có lúc lên tới 14500 đến tháng 3/1992chỉ
còn 11550 VND/USD và tiếp tục giảm cho đến cuối năm 1992.
2.2.2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993-1996.
Vào thời điểm cuối năm 1992 , do kết quả sự can thiệp của Ngân hàng
Nhà nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá dần ổn định khiến cho lượng ngoại
tệ đầu cơ trong các doanh nghiệp được tung ra , hướng mạnh vào kinh doanh
xuất nhập khẩu . Động thời có một lượng ngoại tệ được chuyển về do
người Việt Nam ở nước ngoài gửi về cho người thân tăng lên khoảng 300-
400 triệu USD làm cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và kéo theo tỷ giá
VND/USD giảm mạnh. Lĩnh vực tài chính - tiền tệ bắt đầu trở ngại. Bên
cạnh đó, cùng với việc quản lý các đại lý thu đổi ngoại tệ còn lỏng lẻo, sự
chênh lệch lớn giữa TGHĐ ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen dẫn
đến việc các đại lý lợi dụng danh nghĩa của Nhà nước để buôn bán trục lợi,
các ngân hàng không thu mua được lượng ngoại tệ đáng kể qua nguồn này.
Một mặt tình trạng này làm hạn chế khả năng kiểm soát các luồng ngoại tệ
lưu hành trong nước. Mặt khác làm gia tăng các giao dịch trên thị trường chợ
đen bất hợp pháp, tâm lý đầu cơ, găm giữ ngoại tệ tăng mạnh.
- Việc ngân hàng Nhà nước khống chế chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ
giá bán là cứng nhắc. Điều này làm cho tỷ giá vận hành thoát ly hoàn toàn
quan hệ cung cầu và không khuyến khích các tổ chức tín dụng, các ngân hàng
thương mại hoạt động theo đúng quan hệ nội tại của nó và thực tế không ít
các ngân hàng thương mại đã phá rào. Cuối cùng sự vận động của tỷ giá trong
giai đoạn này đã gợi nên một số điểm cần lưu ý trong việc điều hành chính
sách như sau:
* Trước tiên, những vận động của TGHĐ trong giai đoạn này cho thấy
TGHĐ của Việt Nam phá nhạy cảm trước những thay đổi của tình hình kinh
tế từ bên ngoài và yếu tố tâm lý, cán cân thương mại luôn là những yếu tố có
trọng số lớn đối với sự vận động của TGHĐ.
* Việc sử dụng các công cụ hành chính trong can thiệp vào tỷ giá là cần
thiết vào những lực cung cầu, ngoại tệ có những mất cân bằng nhưng phải
đủ mạnh để yếu tố tâm lý không có khả năng phát huy tác động xấu.
Các nghiệp vụ trên thị trường còn quá sơ sài, khi thị trường mua 2.2. Giai
đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam á (tháng 7
năm 1997).
Trước những tồn tại của việc”thả nổi” mất kiểm soát tỷ giá, chính phủ
đã thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể sau:
- Quy định biên độ giao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức được công
bố bởi Ngân hàng nhà nước (công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác định

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 38
Simpo PDF Merge and c: NhUnregistered Version t-ệ
Đề án môn họ Split ập môn tài chính tiền http://www.simpopdf.com Đặng Ngọc
GVHD:
Anh
rõ biên độ giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính
mà cụ thể là buộc các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh)
có ngoại tệ phải bán cho Ngân hàng theo tỷ giá nhất định.
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán
ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động
ngoại thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng
nhà nước công bố.
Để hạn chế tác động của các yếu tố phi kinh tế, một mặt chính phủ đã
tăng cường công tác thông tin, cho công khai hoámột cách nhanh chóng và
chính xác chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường,
chỉ số giá, sự biến động giá vàng… Nhờ vậy hạn chế được hoạt động đầu
cơ, giải tâm lý hoang mang.
Mặt khác, chính phủ cũng thông quan nhiều hình thức, tốc độ, mức can
thiệp để thể hiện rõ quyết tâm cải cách triệt để nền kinh tế nói chung và áp
dập tắt nguy cơ bùng nổ trở lại lạm phát nói riêng.
Mặt khác, chính phủ cũng cho thấy có sự chú trong tăng cường thực lực
kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự
trữ ngoại tệ, lập quỹ ổn giá. theo số liệu báo cáo thường niên của Ngân hàng
nhà nước cho thấy, chính phủ thường dành một tỷ trọng khá lớn trong tổng
lượng tiền cung ứng thêm cho nền kinh tế để tăng tài sản có ngoại tệ. Những
biện pháp can thiệp trên đã phần nào xoá đi tâm lý gặm giữ ngoại tệ, góp
phần làm giảm Dola và tỷ giá được ổn định trong những năm tiếp theo.
- Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ ( trung tâm giao
dịch ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh được mở cửa từ tháng 8 năm 1991 )
để cho các đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi , mua bán ngoại tệ
với nhau theo giá tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu
thực sự gặp nhau . Sau đó, tiến dần tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên
Ngân hàng tháng 9 năm 1994.
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện pháp can thiệp đã
đem lại một kết quả như mong đợi, nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được
giải toả, những đồng ngoại tệ đã được hướng mạnh và hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu. Tình hình cung - cầu ngoại tệ đã được cải thiện với cùng kỳ
trong những năm trước đó, Dola có xu hướng giảm giá. Mức tỷ giá trên thị
trường chợ đen chỉ giao động trong phạm vi từ 10200 đến 10400 đồng Việt
Nam ăn 1 Đôla Mỹ. Thậm chí có lúc tỷ giá tụt xuống ở mức 1USD =
9750VND. Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng tình hình này phần lớn là nhờ
vào lượng kiều hối vào nhiều (ước tính trong tháng 1 năm 1993, nhân dịp tết
nguyên đán, có trên 60.000 việt kiều về thăm quê đã đem theo một lượng
ngoại tệ khoảng 400 triệu Dola Mỹ). Dĩ nhiên không thể phủ nhận đóng góp
của lượng kiều hối này vào việc làm ra tăng cung ngoại tệ trên thị trường.
Trên thực tế cho thấy, lượng kiều hối này tăng giảm hoàn toàn không ổn định
qua các năm và chỉ tập trung vào những thời gian ngắn nhất định trong năm,
trong khi tình hình cung - cầu ngoại tệ và TGHĐ luôn được ổn định trong suốt
thời gian dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.

SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 39

Top Download

Xem thêm »

Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản