Báo cáo "Vai trò của xuất khẩu trong phát triển kinh tế"

Chia sẻ: anhluadem

Tham khảo luận văn - đề án 'báo cáo "vai trò của xuất khẩu trong phát triển kinh tế"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo "Vai trò của xuất khẩu trong phát triển kinh tế"

Báo cáo "Vai trò của xuất khẩu
trong phát triển kinh tế"

§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


MỤC LỤC

Lời nói đầu

PHẦN I : VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG PHÁT 2
TRIỂN KINH TẾ

1/ Đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế 2

2/ Đóng góp của xuất khẩu vào nâng cao chất lượng sản phẩm 3

3/ Đóng góp của xuất khẩu vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4

4/ Đóng góp của xuất khẩu vào giải quyết công văn việc làm 5

5/ Xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại 6

6/ Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu 6

PHẦN II : TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ VÀO HOẠT ĐỘNG 7

XUẤT KHẨU

I. Tác động của các yếu tố trong nước 7

1/ Môi trường kinh tế 7

2/ Môi trường Chính trị xã hội 8

II. Tác động của các yếu tố thuộc môi trường quốc tế 9

1/ Mặt thuận lợi 9

2/ Mặt khó khăn 10

III. Vai trò của Nhà nước trong hoạt động xuất khẩu 11

IV. Thực trạng của vai trò của Nhà nước trong hoạt động xuất 15
khẩu

1/ Thực trạng việc thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái 15


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 2
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


2/ Thực trạng việc thực hiện chính sách thuế xuất khẩu 20

3/ Thực trạng việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt 21
động xuất khẩu

PHẦN III : NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VAI TRÒ QUẢN 22
LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

I. Giải pháp 22

II. Định hướng 25

Tài liệu tham khảo 27




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 3
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng




LỜI MỞ ĐẦU


Hiện nay xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ vì
vậy hoạt động ngoại thương chiếm vị trí quan trọng và có tính quyết định đến
toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội và quá trình hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới.

Nhưng bản thân hoạt động ngoại thương ở nước ta hiện nay còn chứa
đựng nhiều những bất cập như tình trạng xuất khẩu bừa bãi thiếu định hướng,
gian lận thương mại, trốn thuế..... Vì vậy để nâng cao hiệu qủa của hoạt động
ngoại thương góp phần phát triển kinh tế thì cần phải có vai trò quản lý của

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 4
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


nhà nước. Vai trò quản lý của nhà nước ở đây phải mang tính định hướng và
khuyến khích hoạt động ngoại thương. Trong qúa trình thực hiện vai trò đó ở
nhiều lúc, nhiều nơi nhà nước chưa thực sự thực hiện được vai trò định
hướng và khuyến khích cho hoạt động ngoại thương tức là hoạt động quản lý
của nhà nước đối với hoạt động ngoại thương còn chứa đựng nhiều bất cập vì
vậy em xin chọn đề tài này, nhưng do hạn chế về kiến thức và do phạm vi của
đề tài em chỉ xin đề cập đến vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất
khẩu.

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Lệ Thuý đã tận
tình hướng dẫn em và em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
khoa cũng như các bạn lớp quản lý kinh tế 39B đã giúp em hoàn thành đề tài
này.




PHẦN I

VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Đóng góp của Xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế :

Từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở cửa nền kinh tế thì nền
kinh tế nước ta đã có những bước phát triển đáng kể đặc biệt trên thị trường
xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của nước ta đã tăng trưởng vượt
bậc, năm 1990 kim ngạch xuất khẩu đạt 2300 triệu USD và thời kỳ 1991 -
1995 tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm đạt 28%/ năm,
năm 1996 tăng 31,1% so với năm 1995, năm 1997 tăng 22,7% so với năm
1996, năm 1998 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực và trên thế
Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 5
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


giới nên chỉ tăng 2,4% so với năm 1997. Vì vậy mà GDP do hoạt động xuất
khẩu tạo ra cho nền kinh tế không ngừng tăng lên cụ thể là :

Năm GDP theo giá hiện hành

1990 5460 ( tỷ đồng )

1991 9742

1992 15281

1993 17549

1994 25072

1995 37491

1996 43125

1997 48914

1998 4559

Do đó mà mức đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào tăng trưởng của GDP
tương ứng là

Năm Tính theo giá cố định Năm Tính theo giá cố định

năm1989 năm 1994

1990 5,3% 1994 9,0%11,8%

1991 4,8% 1995 9,7%

1992 6,1% 1996 6,9%

1993 6,0% 1997 4,4%

1994 9,0% 1998




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 6
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


2. Đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào nâng cao chất lượng sản
phẩm :

Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, hàng hoá
các nước phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với hàng hoá các nước khác và
gặp phải sự cản trở quyết liệt của các hàng rào thuế quan và phi thuế quan
của các nước đặt ra vì vậy để tồn tại, đứng vững và phát triển được thì các
nước phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản
phẩm... để tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá nước mình nhằm đứng
vững, phát triển trên thị trường và chống trả được sự cạnh tranh quyết liệt của
hàng hoá các nước khác.

Riêng đối với Việt Nam để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu
vực thì với điều kiện là một nước đi sau và có trình độ công nghệ và năng lực
công nghệ thấp kém nếu chất lượng sản phẩm sản xuất ra còn chưa cao, giá
thành sản phẩm cao nên sức cạnh tranh của hàng hoá còn rất thấp so với hàng
hoá của các nước khác trên thế giới, vì vậy để thực hiện thành công quá trình
hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì nước ta phải không ngừng
nâng cao chất lượng hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm... tạo sức cạnh tranh
cho hàng hoá trong nước, đặc biệt là khi nước ta tham gia AFTA, APEC,
WTO thì hàng hoá của nước ta càng phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn trên
thị trường thế giới và khu vực cũng như thị trường trong nước vì vậy nâng
cao chất lượng hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ
cho hàng hoá của nước ta là yêu cầu mang tính tất yếu khi tham gia hội nhập
vào nền kinh tế thế giới và khu vực.

Vậy thông sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường xuất khẩu tức là
thông qua tiến hành hội nhập kinh tế mà chất lượng sản phẩm hàng hoá trên
toàn thế giới nói chung và của nước ta nói riêng ngày một được nâng cao.

3. Đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào chuyển dịch cơ cấu kinh
tế sang nền kinh tế hướng ngoại :
Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 7
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là do tác động của rất nhiều yếu tố như tiến
bộ khoa học kỹ thuật, tốc độ phát triển kinh tế.

Trong đó hoạt động xuất khẩu là một yếu tố tác động đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thật vậy kể từ khi Đảng và Nhà nước ta phát triển nền kinh tế
dựa trên mô hình hướng về xuất khâủ kếp hợp song song với mô hình thay
thế nhập khẩu đã và đang làm cho cơ cấu kinh tế của nước ta chuyển dịch
tích cực và nó làm cho cơ cấu kinh tế của nước chuyển dịch phù hợp với xu
hướng phát triển của kinh tế thế giới và khu vực.

Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế có thể được nhìn nhận theo các hướng sau

- Xuất khẩu những sản phẩm của nước ta cho nước ngoài

- Xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và
xuất khẩu những mặt hàng mà các nước khác cần, điều đó có tác động tích
cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có điều kiện phát triển thuận
lợi.

- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu
vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước.

- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường
xuyên năng lực sản xuất trong nước.Nói cách khác xuất là cơ sở tạo thêm vốn
và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm
hiện đại hoá nền kinh tế nước ta.

- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh đòi
hỏi phải tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường.



Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 8
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp hoàn thiện và đổi mới công
tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng hạ giá thành.

4. Đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào giải quyết công ăn việc
làm, nâng cao đời sống nhân dân

Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt,trước hết
sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có
thu nhập không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm
tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

Ở nước ta hiện nay, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách
mở cửa nền kinh tế thì kim ngạch xuất khẩu của nước ta không ngừng tăng
lên đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo nguồn thu
cho ngân sách và giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động.



5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
đối ngoại :

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế
nước ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thường hoạt động
xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc
đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng hoá
thúc đẩy các quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế.... đến lựơt nó chính các
quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện để cho mở rộng xuất khẩu.

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
để phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhất là
trong điều kiện hiện nay xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh
mẽ trên toàn thế giới và nó là cơ hội cho mỗi quốc gia hội nhập vào nền kinh
tế thế giới và khu vực.
Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 9
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghiệp hoá đất
nước đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật
vật tư và công nghệ tiên tiến.

Nguồn vốn nhập khẩu có thể sử dụng từ các nguồn

- Liên doanh đầu tư nước ngoài với nước ta

- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ

- Xuất khẩu sức lao động

Trong các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ... cũng
phải trả bằng cách này hay cách khác để nhập khẩu nguồn vốn quan trọng
nhất là từ xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ phát triển của
nhập khẩu.

Trong thời kỳ 1986 - 1990 nguồn thu của nước ta về xuất khẩu chiếm
3/4 tổng nguồn thu ngoại tệ, năm 1994 thu từ xuất khẩu đã đảm bảo được
80% nhập khẩu so với 24,6% năm 1986.



PHẦN II

TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ VÀO

HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

I. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG NƯỚC :

1. Môi trường kinh tế :

Trước hết Việt Nam tự hào về nguồn khoáng sản giàu có và đa dạng,
còn ít được khai thác, chủ yếu là dầu lửa, quặng sắt, bô xít và các khoáng sản
quý hiếm khác. Nguồn khoáng sản này tạo cơ sở vững chắc cho việc phát
triển một nền kinh tế đa dạng và tham gia tích cực vào phân công lao động

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 10
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


quốc tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động xuất khẩu
đặc biệt là việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hoá các mặt hàng
xuất khẩu. Tuy nhiên việc khai thác tất cả các nguồn tài nguyên này đòi hỏi
một số vốn lớn với công nghệ thích hợp, khả năng tổ chức sản xuất và quản
lý tốt. Đây là một trong những khó khăn cho việc phát triển sản xuất trong
nước thông qua đó nó có những tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu
làm kìm hãm hoạt động xuất khẩu.

Khí hậu và các nguồn tài nguyên đất đai, sinh vật và du lịch giúp tạo
khả năng tốt cho sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp đặc biệt đối với cây
công nghiệp nhiệt đới, hoa quả tươi và rau xanh, tạo điều kiện thuận lợi cho
nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng... chính yếu tố này là nhân tố quyết định đến
kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp của nước ta làm cho kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp của nước ta không ngừng tăng lên
: xuất khẩu gạo đứng vị trí thứ 2 trên toàn thế giới, xuất khẩu ca phê vối đứng
vị trí thứ 2 trên thế giới...

Vị trí địa lý mang lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam trong việc phát
triển kinh tế nói chung và phát triển hoạt động ngoại thương nói riêng vì Việt
Nam nằm ở khu vực có nhiều đường hàng không và hàng hải, đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ vận tải quốc tế và xây dựng các
trung tâm thương mại, tuy nhiên điều này đòi hỏi đầu tư vốn lớn vào kết cấu
hạ tầng tức là phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối phát triển nhưng
thực trạng của hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay hết sức lạc hậu
điều này đã tác động xấu đến hoạt động sản xuất nói chung và hoạt động xuất
khẩu nói riêng.

Lực lượng lao động phong phú và dồi dào là tiềm năng lớn của đất
nước, mức lương quá thấp cũng là một lợi thế đáng kể trong việc hạ giá thành
sản phẩm để tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá của nước ta. Từ đó
mà nó có vai trò quyết định đến sự tồn tại, đứng vững và phát triển của hàng

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 11
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


nước ta trên thị trường trong nước cũng như trên thị trường thế giới, tức là nó
là nhân tố quan trọng quyết định đến việc mở rộng thị trường cho hàng xuất
khẩu của nước ta. Tuy nhiên, lực lượng lao động của nước ta có chất lượng
thấp cần phải đẩy mạnh đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và quản lý, mặt khác
lực lượng lao động của nước ta còn chưa được khai thác một cách có hiệu
quả. Cẩn phải khai thác có hiệu quả hơn để tạo lợi thế so với các nước khác
trong việc phát triển sản xuất nói chung và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.

Mặt khác thông qua quá trình đổi mới thì nền kinh tế nước ta đã có sự
chuyển biến tích cực về mọi mặt kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có bước phát
triển nhất định, tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định, môi trường kinh tế
ổn định,..... đã tác động góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu làm cho kim
ngạch xuất khẩu của nước ta tăng trung bình 22%/ năm.

2. Môi trường Chính trị - xã hội

Cùng với quá trình mở cửa để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu
vực. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trưởng phát triển hoạt động ngoại thương
theo hướng

- Nhà nước quản lý thống nhất đối với hoạt động ngoại thương theo
chính sách và pháp luật, đồng thời mở rộng quyền hạn cho các ngành, các địa
phương và các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu thuộc mọi thành
phần kinh tế, xoá bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất kinh doanh xuất
khẩu.

- Mọi doanh nghiệp đều được phép kinh doanh xuất khẩu trực khi có
đủ các điều kiện theo quy định của nhà nước.

- Thực hiện chính sách đa phương hoá thị trường : những thị trường
quan trọng của Việt Nam là ASEAN, Nhật Bản, EU, Nga, Trung Quốc và
tương lai là Mỹ.


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 12
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã góp phần tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thúc đâỷ hoạt động ngoại thương phát triển và nó là
tiền đề cho việc phát triển liên tục với tốc độ cao ( 22%/ năm ) trong thời gian
qua.

II. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUỘC MÔI TRƯỜNG KINH TẾ
QUỐC TẾ

1. Mặt thuận lợi :

Thông qua xu hướng toàn cầu hoá thì môi trường kinh tế quốc tế đã tác
động mạnh mẽ vào nền kinh tế nước ta nói chung và hoạt động xuất khẩu của
nước ta nói riêng.

Toàn cầu hoá nền kinh tế đã đưa đến hệ quả tất yếu đó là các quốc gia
phải mở cửa để hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã và đang tích
cực tham gia và xu thế này, từng bước ký kết các hiệp định thương mại song
phương, khu vực và đa phương. Đến nay nước ta đã là thành viên của tổ chức
khu vực thương mại tự do ASEA ( AFTA ), và diễn đàn kinh tế Châu Á Thái
Bình Dương ( APEC), đã ký kết hiệp định thương mại song phương với Mỹ,
chuẩn bị gia nhập tổ chức thương mại thế giới ( WTO ), quan hệ thương mại
với Nhật Bản, EU, Nga, Trung Quốc.... đang tiếp tục mở rộng.

Là một nước đang phát triển tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nước ta
có thêm nhiều cơ hội mới để phát triển kinh tế nói chung và thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu nói riêng.

Tạo khả năng mở rộng thị trường ra nước ngoài trên cơ sở các hiệp
định thương mại đã ký kết với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nếu
thực hiện đầy đủ các cam kết trong AFTA thì đến năm 2006 hàng công
nghiệp chế biến có xuất xứ từ nước ta sẽ được tiêu thụ trên tất cả thị trường
các nước ASEAN với dân số trên 500 triệu người và GDP trên 700 tỷ USD.
Nếu sau khi nước ta ra nhập WTO thì sẽ được hưởng ưu đãi dành cho các

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 13
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


nước đang phát triển theo quy chế tối huệ quốc trong quan hệ với 132 nước
thành viên của tổ chức này do vậy hàng hoá của nước ta xuất khẩu vào các
nước đó được dễ dàng hơn, từ năm 2020 hàng rào thuế quan của các nước
APEC sẽ được dỡ bỏ. Đây cũng là cơ hội để nước ta xuất khẩu hàng hoá vào
các nước thành viên APEC.

Toàn cầu hoá đã và đang tạo điều kiện, cơ hội cho nước ta đẩy mạnh
xuất khẩu để khai thác triệt để lợi thế so sánh về lao động, tài nguyên của
nước ta để phát triển sản xuất trong nước thông qua đó đa dạng hoá các mặt
hàng xuất khẩu và đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới.

2. Mặt khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi thì thông qua quá trình toàn cầu hoá thì môi
trường thế giới cũng đặt ra cho hoạt động xuất khẩu của nước ta không ít
những khó khăn và thách thức.

Tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế để đi đến tự do hoá thương
mại tức là chấp nhận tư cách thành viên cạnh tranh ngang bằng với các nước
khác, nhưng hiện nay nước ta vẫn còn bị tụt hậu khá xa về kinh tế ( nhất là
trình độ công nghệ và thu nhập bình quân đầu người ) vì vậy chất lượng hàng
hoá của nước ta còn kém xa các nước khác do đó mà sức cạnh tranh của hàng
hoá nước ta còn kém xa sức cạnh tranh của hàng hoá các nước khác.

Vì vậy hàng hoá của nước ta phải cạnh tranh ngang bằng với hàng hoá
nước khác thì đó là một khó khăn rất lớn cho hàng hoá nước ta tồn tại, đứng
vững, phát triển được trên thị trường trước sự cạnh tranh quyết liệt của hàng
hoá các nước khác.

Trên thị trường thế giới nước ta mới xuất khẩu chủ yếu là các nguyên
liệu và sản phẩm sơ chế, như dầu thô, gạo, cà phê, chè, cao su. Còn các sản
phẩm công nghiệp chế biến nhất là sản phẩm chất lượng cao còn ít, sức cạnh


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 14
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


tranh yếu. Trong khi đó giá cả các mặt hàng nguyên liệu và sơ chế lại bấp
bênh hay bị tác động xấu bất lợi cho nước xuất khẩu.

Ngoài ra, môi trường quốc tế còn đặt ra cho hoạt động xuất khẩu của
nước ta nhiều khó khăn bất lợi như tình trạng mất ổn định của nền kinh tế
thế giới và khu vực, hệ thống hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các
nước đặt ra, tình trạng gian lận thương mại..... là những yếu tố có tác động
mạnh mẽ đến thị trường, giá cả của hàng hoá xuất khẩu của nước ta, do đó
mà môi trường quốc tế có tính quyết định đến sự tồn tại, đứng vững và phát
triển của hàng hoá nước ta.

III. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

1. Chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển thị
trường xuất khẩu

Thành công đáng kể trong công tác thuế đẩy xuất khẩu trong thời gian
qua là đã vượt qua được cơn sốc xảy ra năm 1991 - 1992 do sự biến đổi
chính trị của các nước XHCN, Đông Âu và Liên Xô cũ. Việc mất đi thị
trường lớn này đã kích thích nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam phải
tìm và khai thác các thị trường mới. Bằng cách nỗ lực ngoại giao và chính
sách kinh tế đối ngoại đúng đắn nhằm mở đường và kích thích quan hệ buôn
bán của các doanh nghiệp, chính phủ Việt Nam đã ký trên 70 hiệp định
thương mại và hiện nay có quan hệ buôn bán với trên 110 nước trong đó đáng
chú ý là hiệp định hợp tác kinh tế với Liên minh Châu Âu ký ngày 17/7/1995,
tham gia vào AFTA, bình thường hoá quan hệ buôn bán Việt Nam - Trung
Quốc, ký hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC, WTO, cơ cấu thị
trường xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là Châu Á 80%, Châu Âu 15%,
Châu Phi 3%, Châu Mỹ 2%.

2. Nhà nước phải thành lập các Tổng công ty và các tập đoàn kinh
doanh lớn để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 15
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Trong những năm gần đây, hàng loạt các Tổng công ty, các tập đoàn
đã được thành lập. Trong điều kiện thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý và
khả năng vươn tầm hoạt động ra thị trường thế giới của từng doanh nghiệp
còn hạn chế, việc làm này đã giúp các doanh nghiệp trong cùng ngành liên
kết để phát huy sức mạnh tổng hợp với tầm vóc ( thế và lực ) đủ lớn thì khả
năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và khả năng thâm nhập thị trường
nước ngoài đã và sẽ được tăng lên đáng kể.

3. Nhà nước phải xây dựng một cơ cấu kinh tế theo mô hình công
nghiệp hoá hướng về xuất khẩu

Các ngành định hướng vào xuất khẩu được phát triển mạnh mẽ, các
sản phẩm xuất khẩu của ngành nông lâm, ngư nghiệp trong những năm gần
đây luôn chiếm 30% tổng gía trị xuất khẩu.

Các công nghệ mới phục vụ sản xuất hàng hoá xuất khẩu nói riêng và
công nghệ mới nói chung được khuyến khích đưa vào Việt Nam thông qua
chế độ ưu đãi trong việc đánh thuế nhập khẩu.

Chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng một cơ cấu kinh tế theo mô
hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, khai thác lợi thế so sánh của nền
kinh tế Việt Nam và tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam
trên thị trường thế giới. Việc xác định ngành trọng điểm của nền kinh tế Việt
Nam có ý nghĩa quan trọng và cần được cân nhắc kỹ càng, có ý kiến cho rằng
nền kinh tế Việt Nam có thể coi những ngành sau đây là trọng điểm : Ngành
nông nghiệp, khai thác dầu khí, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất phân bón
khoa học, lắp ráp ô tô.

4. Xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung và khu
công nghệ cao

Chính phủ đã cấp giấy phép thành lập 6 khu chế xuất với quy chế đầu
tư ưu đãi và bước đầu một số khu đã hoạt động, đem lại kết quả đáng khích

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 16
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


lệ. Các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao cũng đã được thành lập
ở Việt Nam và được sự quan tâm của Chính phủ. Tháng 4/1997 Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao ở Việt Nam. Đây là bước đi rất quan trọng của quá trình hay thế
nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu ở nước ta đồng thời tiến tới xuất khẩu
sản phẩm chế biến và sản phẩm có công nghệ cao khắc phục tình trạng chỉ
xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơ chế như hiện nay.

5. Nhà nước phải điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu cho phù
hợp với điều kiện hiện nay

Nhà nước Việt Nam sử dụng chính sách thuế xuất khẩu với tư cách là
một công cụ quan trọng để khuyến khích và quản lý hoạt động xuất khẩu. Đối
với các ngành, các khu vực cần ưu tiên có những quy định miễn, giảm thuế.
Sau khi có luật thuế, cơ cấu biểu thuế xuất nhập khẩu thì chính phủ Việt Nam
đã không ngừng sửa đổi cho phù hợp với tình hình trong nước cũng như trên
toàn thế giới và khuyến khích xuất khẩu ( luật thuế xuất nhập khẩu được sửa
đổi vào 5/1992 và tháng 1/1993 )

Chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt tạo điều kiện cho việc thúc đẩy
xuất khẩu :

Từ năm 1987 Việt Nam bắt đầu thực hiện cải cách trong cơ chế điều
hành tỷ giá đồng Việt Nam ( VNĐ ) với đô la Mỹ ( đồng tiền đóng vai trò
quan trọng trong quan hệ thanh toán của Việt Nam với nước ngoài ). Khoảng
cách giữa tỷ giá quy định của ngân hàng Trung ương so với tỷ giá thị trường
tự do được thu hẹp qua các năm. Thời kỳ 1991 - 1992 mức tỷ giá hối đoái
danh nghĩa được điều chỉnh linh hoạt trong giai đoạn 1993 - 1995 Việt Nam
đã theo đuổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định đến đầu năm 1995 tỷ giá của
hệ thống ngân hàng so với tỷ giá thị trường tự do chênh lệch không đáng kể
nữa. Chính sách tỷ giá hối đoái trên góp phần giữ vững được giá trị đồng tiền


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 17
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Việt Nam cả về danh nghĩa và giá trị thực và kiềm chế lạm phát, khuyến
khích xuất khẩu tăng lên hàng năm.

7. Nhà nước phải thành lập các tổ chức xúc tiến thương mại của
Việt Nam

Một kinh nghiệm quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu là thành lập
các tổ chức xúc tiến thương mại. Đây là các tổ chức phi lợi nhuận có nhiệm
vụ thu thập và nghiên cứu thông tin về thị trường ngoài nước, bố trí triển lãm,
tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế nhằm hỗ trợ phát triển các mặt hàng
mới hoặc ngành nghề sản xuất cụ thể hỗ trợ việc thực hiện các chương trình
nằm trong chính sách xuất khẩu của Nhà nước và tổ chức hợp tác kinh tế đối
ngoại.

Việt Nam nên có một tổ chức xúc tiến thương mại đủ mạnh để chuyên
làm các nhiệm vụ kể trên. Việc thành lập tổ chức này sẽ cho phép mở rộng
khả năng phối hợp giữa các Bộ, các cơ quan trong việc quản lý nhà nước về
hoạt động xuất khẩu cũng như khả năng cung cấp thông tin và khả năng tham
gia vào thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Một điều đáng lưu ý là hiện nay một số tổ chức xúc tiến, thương mại
đã có mặt ở nước ta song chúng ta còn yếu trong công tác phối hợp hoạt động
của các tổ chức này.




IV. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

1. Thực trạng của việc thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái trong
điều hành hoạt động xuất khẩu :



Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 18
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Trong quan hệ với các nước thuộc khối XHCN trước đây, tỷ giá của
Việt Nam được tính theo đồng rúp Clearing ( sau này đổi là rúp chuyển
khoản - transferable ruble ) đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh toán mậu dịch
giữa các nước thuộc khối XHCN tự quy định với nhau để làm sao cho tài
khoản giữa các bên sau khi trao đổi ngoại thương theo khối lượng đã được
quy định hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm không còn số dư. Đặc
trưng của chế độ tỷ giả, đã bộc lộ nhiều mặt bất hợp lý nó không những
không thể hiện thể vai trò điều tiết tỷ giá trong việc cân bằng cán cân thanh
toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm các hoạt động kinh tế đối ngoại
của nước ta, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ trong một thời gian dài.

Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay nhà nước ta đã có những chủ
trương và giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại và chính sách tỷ giá, đã
từng bước xóa bỏ cơ chế độc quyền ngoại thương - cho phép các tổ chức kinh
tế được phép xuất khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được
trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên cùng với việc mở
rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng được thay đổi căn bản, Nhà nước đã áp
dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của nhà nước nhưng việc điều
hành của nhà nước trong từng năm có khác nhau ta có thể tạm thời chia ra 3
giai đoạn.




a. Giai đoạn thả nổi tỷ giá : 1989 - 1993

Trong giai đoạn này tỷ giá hối đoái VNĐ/ USD thể hiện qua




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 19
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Tỷ giá USD/ VNĐ

Năm Giá chính Giá thị trường Tăng, giảm Lạm phát
thức Nhà tự do
nước

1 2 3 4 5

1989 4.200 4370 + 8,80 + 34,70

1990 6.650 7330 + 13,30 + 67,30

1991 12.720 12330 - 0,02 + 68,00

1992 10.720 10550 - 0,02 + 17,30

1993 10.835 10736 -0,01 + 3,20



Bảng số liệu trên cho ta thấy tỷ giá VNĐ/USD qua các năm có biến
động lên xuống. Tuy nhiên tổng quát mà nói trong khoảng thời gian này tỷ
giá VNĐ/USD có khuynh hướng tăng và được nhà nước điều chỉnh sát với
giá thị trường tự do. Điều này chứng tỏ nhà nước bắt đầu thả nổi tỷ giá, quan
hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan tâm đầy đủ hơn, tuy nhiên sự thả nổi tỷ
giá đã:

- Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ nhằm mục đích hưởng chênh lệch

- Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại lệ đã gây ra
những cơn sốt USD làm mất ổn định nền kinh tế

- Quản lý ngoại tệ của Chính phủ không đạt được kết quả mong muốn

- Nhà nước đã không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ.



b. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 20
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Năm Tỷ giá USD/ VNĐ So sánh % năm trước Tốc độ lạm phát

1 2 3 4

1993 1083300 100,00% 3,2%

1994 1103000 + 1,98% 14,4%

1995 1104000 0% 12,7%

1996 1106600 + 0,18% 4,3%



Do tỷ giá chính thức của Nhà nước và tỷ giá thị trường tự do trong thời
gian này không chênh nhiêù nên chúng ta chọn tỷ giá chính thức của Nhà
nước làm cơ sở tính toán. Qua số liệu trên bảng trên chúng ta thấy tốc độ tăng
tỷ giá chậm hơn tốc độ tăng của lạm phát vì phụ thuộc vào quan hệ cung cầu
ngoại tệ, vào cụm các nhân tố kinh tế đối ngoại.

Tuy nhiên việc cố định tỷ giá trong một thời gian dài ( 1993 - 1996 ) đã
không khuyến khích được xuất khẩu đã làm cho ngoại thương kém phát triển
biểu hiện cụ thể qua bảng sau :

Năm Xuất khẩu Nhập khẩu So sánh

1 2 3 4=3-2

1993 1985 3924 - 939

1994 4054 3823 - 1771

1995 3448,9 8133,4 - 2706,3

1996 7233 11143 - 3888




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 21
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Tình trạng nhập siêu trong giai đoạn này đã tác động xấu đến xuất
khẩu và khuyến khích xuất khẩu gây thâm hụt cán cân thương mại dẫn tới
tình trạng hoặc phải tiêu giảm dự trữ ngoại hối quốc gia hoặc phải vay nợ
nước ngoài để bù đắp cán cân thanh toán...

Đứng trước tình hình đó ngay từ năm 1999 cho đến nay nhà nước đã
có chỉ đạo

- Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mở
LC thanh toán tràn lan và cuối năm 1996 thông qua khống chế mức mở LC
Sight là chủ yếu, hạn chế mở LC trả chậm xem xét cho nhập khẩu những mặt
hàng chủ yếu là những mặt hàng về tư liệu sản xuất

- Điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường

c. Giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước từ
năm 1997 đến nay

Giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cũng như thị trường
ngoại tệ nói chung bị giảm sút. Thực tế sáu tháng cuối năm 1997 nhu cầu
mua ngoại tệ luôn cao hơn nhu cầu bán ngoại tệ và hoạt động của thị trường
có lúc ngừng trệ, doanh số mua 6 tháng cuối năm 1997 đạt 7,5 tỷ USD giảm
5% so với 6 tháng cuối năm 1997. Doanh số bán đạt 7,6 tỷ USD giảm 1% so
với 6 tháng đầu năm 1997, nhiều doanh nghiệp không mua được ngoại tệ đã
phải mua với giá cao và chịu lỗ rất lớn do tỷ giá tăng đột biến - ngoại tệ tăng
giá mạnh đã làm tăng nhu cầu vay vốn VNĐ do lãi suất thấp hơn và không
chịu rủi ro về tỷ giá đã gây mất cân đối cung cầu VNĐ trên thị trường.

Năm 1997 dư nợ LC ngắn hạn chỉ còn gần 700 triệu USD so với 1,4 tỷ
USD vào tháng 6 năm 1996. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực
Châu Á đã ảnh hưởng gây sức ép do yếu tố tâm lý đầu cơ của thị trường đã
đẩy tỷ giá ở thị trường tự do tăng mạnh có lúc lên đến 14.600 VNĐ/USD.


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 22
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Mặc dù trong năm 1997 tỷ giá đã có nhiều biến động nhưng vẫn đạt
được những thành tựu quan trọng.

- Chính sách tỷ giá đã được điều chỉnh từng bước linh hoạt, một mặt
tạo điều kiện cho giá trị VNĐ phản ánh tương đối xác thực cung cầu ngoại tệ
góp phần kiềm chế lạm phát, một mặt đáp ứng khả năng hỗ trợ xuất khẩu
mặc dù giá cao su giảm 42%, dầu thô giảm 30%, giày da và may mặc cũng
đang giảm mạnh. Riêng mặt hàng gạo trong năm qua bị thiên tai, lũ lụt do
cơn bão số 5 gây ra nhưng ta vẫn cố gắng khắc phục và nhanh chóng duy trì
xuất khẩu gaọ.

- Nguyên nhân nhập siêu trong thời gian qua là do ngân hàng điều
hành tỷ giá bị đông cứng, do tỷ giá có tác động lớn đến nhập khẩu, nó là giá
của hoạt động xuất nhập khẩu. Tỷ giá đứng ( trên thực tế là giảm so với biến
động giá trong nước ) làm cho bán cũng rẻ mà mua cũng rẻ.

- Bán rẻ không khuyến khích bán, mua rẻ sẽ khuyến khích mua, mua
được khuyến khích, bán bị hạn chế do đó đưa đến tình trạng nhập siêu, ngoài
ra còn nguyên nhân khác là định hướng xuất khẩu yếu, tình trạng nhập lậu
tràn lan, trốn thuế, chưa được quản lý chặt chẽ.

Bước sang năm 1998 tình hình tỷ giá hối đoái trong nước ngày càng
trở lên phức tạp, giá USD mỗi ngày một tăng thậm chí có ngày thay đổi vài
lần đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội nói chung và hoạt động
xuất khẩu nói riêng.

Trước tình hình đó Chính phủ có một quyết định đúng đắn nhằm kiểm
soát hoạt động ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam bằng việc ban hành quyết
định 37/1998/QĐ - TTg ngày 14/2/1998 về một số biện pháp quản lý ngoại
tệ đây là một bước thành công lớn của Nhà nước nhằm kiểm sóat và quản lý
ngoại tệ làm cho tỷ giá của thị trường tự do và tỷ giá thị trường có tổ chức (



Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 23
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Thị trường liên ngân hàng ) đã sát lại gần nhau và hiện nay ngân hàng đã
kiểm soát được trên 90% lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường.

2. Thực trạng của việc thực hiện chính sách thuế xuất khẩu trong
điều hành hoạt động xuất khẩu

Chính sách thuế xuất khẩu được thể hiện ở luật thuế xuất khẩu và các
văn bản pháp quy dưới luật như Nghị định, quyết định của Chính phủ, các
thông tư hướng dẫn của Bộ, ban ngành có liên quan trong lĩnh vực xuất khẩu.

Luật thuế xuất khẩu hiện hành được quốc hội ban hành từ năm 1987 và
đã được sửa đổi và bổ sung hai lần vào năm 1991, 1993 cho phù hợp với
chính sách mở rộng kinh tế đối ngoại và thực tiến hoạt động xuất khẩu của
nước ta trong từng thời kỳ phát triển kinh tế. Trong những năm qua nhờ việc
thực hiện luật thuế xuất có hiệu quả đã phát huy tác dụng đó là việc thúc đẩy
và hỗ trợ cho kinh tế trong nước, thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Việt
Nam phát triển và huy động nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước từ
hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đặc biệt là sau
Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, kinh tế trong nước
cũng như hoạt động xuất khẩu của ta đã có những thay đổi cơ bản, nền kinh
tế chuyển sang thời kỳ phát triển mới, mở cửa và hội nhập với nền kinh tế
khu vực và thế giới đã và sẽ tham gia vào các tổ chức như ASEAN, tổ chức
thương mại thế giới WTO, tổ chức kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (
APEC ) để thực hiện được mục tiêu này Đảng ta chủ trương xây dựng một
nền kinh tế mở cửa, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại,
tranh thủ vốn, công nghệ của nước ngoài, phát triển sản xuất trong nước và
đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý, bảo đảm khả năng giữ vững tự chủ về kinh tế, có đủ nội lực
cần thiết để chủ động tham gia phân công lao động và hợp tác quốc tế. Đứng
trước yêu cầu mới này thì vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế nói chung
và quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu nói chung có vị trí đặc biệt

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 24
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


quan trọng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vai trò quản lý của mình đã
bộc lộ một số sai sót nghiêm trọng, mà nguyên nhân của sự sai xót này đó là
do luật thuế xuất khẩu của ta có những hạn chế cần sửa đổi và bổ xung.

Để giải quyết vấn đề này thì nhà nước ta đã tiến hành sửa đổi và bổ
sung luật thuế xuất khẩu, thật vậy luật thuế xuất khẩu năm 1987 đã được thay
thế gần như toàn bộ bằng luật thuế xuất khẩu đã được quốc hội thông qua
ngày 26/12/1991 nhờ sự thay đổi này đã làm cho quan hệ kinh tế đối ngoại
nói chung và ngoại thương nói riêng đến thời điểm năm 1991 đã có sự biến
đổi căn bản.

Tuy nhiên từ năm 1992 đến nay nhà nước ta đã nhiều lần sửa đổi
khung thuế suất, sửa đổi bổ xung nhiều biểu thuế xuất cũng như sửa đổi mức
thuế suất nhiều mặt hàng. Mặt khác trên cơ sở các văn bản pháp lý được quốc
hội thông qua, chủ tịch nước ban hành và chính phủ hướng dẫn Bộ Tài Chính
cùng với các Ban, ngành có liên quan căn cứ vào chính sách khuyến khích
xuất khẩu từng mặt hàng. Sự biến động về giá cả, thị trường trong từng thời
gian để trình thủ tướng chính phủ điều chỉnh các mức thuế suất, biểu thuế
suất. Đến năm 1997 thì biểu thuế suất khẩu thu vào 60 nhóm hàng với 10
thuế suất từ 1% đến 45% tuỳ vào mặt hàng.

Ngoài nguyên nhân do luật thuế xuất khẩu của ta còn những hạn chế đã
gây ra những sai sót trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất
khẩu thì còn nguyên nhận thuộc về phía người quản lý đó là việc còn nhiều
cán bộ quản lý thiếu năng lực quản lý, quan liêu tham ô, nhưng ngoài ra thủ
tục hành chính trong điều hành hoạt động xuất khẩu còn quá rườm rà đã gây
ra những trở ngại cho hoạt động xuất khẩu

3. Thực trạng việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động xuất khẩu




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 25
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu ngày càng được cải
tiến và hoàn thiện theo hướng khuyến khích xuất khẩu. Vừa qua Quốc hội đã
thông qua luật thương mại tạo nên khuôn khổ pháp lý ổn định cho hoạt động
xuất nhập khẩu Nhà nước tập trung quản lý xuất khẩu vào một đầu mối đó là
Bộ Thương Mại. Bộ Thương mại thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà
nước và phối hợp với các Bộ và các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính
phủ để quản lý hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói
riêng.

Hiện nay tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình không phân biệt
thành phần kinh tế đều được tự do buôn bán với nước ngoài trên cơ sở luật
định. Đối với các doanh nghiệp đã có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
chính thức được xuất khẩu và nhận uỷ thác xuất khẩu cả những mặt hàng
ngoài phạm vi ngành hàng ghi trong giấy phép kinh doanh trừ một số mặt
hàng có quy định riêng như gạo, hàng dệt may xuất khẩu vào EU, Canađa,
Thổ Nhĩ Kỳ. Cà phê, sản phẩm gỗ, lâm sản và lâm sản chế biến, hàng xuất
khẩu theo quy chế quản lý chuyên ngành.

Từ cuối năm 1995, thủ tục cấp giấy phép xuất, nhập khẩu từng chuyến
hàng đã được bãi bỏ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất
khẩu cũng như các doanh nghiệp sản xuất và đưọc đông đảo các doanh
nghiệp đánh giá cao. Đây là một trong các lý do giải thích vì sao kim ngạch
xuất khẩu tăng nhanh.




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 26
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng




PHẦN III

NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong việc thực hiện vai trò quản
lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu thì vẫn còn chứa đựng những sai
sót, bất cập trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu do
đó để nâng cao năng lực quản lý của mình và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
phát triển thì nhà nước cần phải :

I. GIẢI PHÁP :

1. Nhà nước phải ban hành chính sách thuế xuất khẩu phù hợp với
mục tiêu xây dựng nền kinh tế mới hướng mạnh về xuất khẩu

Chính sách thuế xuất khẩu phải phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, với chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, hướng mạnh về
xuất khẩu, chủ động tham gia phân công lao động và hợp tác quốc tế mà đại
hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã đề ra. Chính sách thuế
xuất khẩu của thời kỳ này phải đạt được yêu cầu là công cụ định hướng và hỗ
trợ phát triển các ngành kinh tế của Việt Nam được xác định là có lợi thế
cạnh tranh trong thương mại khu vực và thế giới.

2. Nhà nước cần xây dựng chính sách tỷ giá phù hợp với tình hình
mới, có lợi cho xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, giảm thâm hụt cán cân thanh

Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 27
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


toán vãng lai và áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt theo yêu cầu cung
cầu phù hợp với sức mua thực tế của đồng Việt Nam đồng thời xác định các
chỉ tiêu trong cán cân thanh toán, tiến tới cân bằng cán cân vang lai, cán cân
thương mại và những biến động của dự trữ ngoại tệ.

3. Ngân hàng Trung Ương chủ động can thiệp thị trường hối đoái khi
cần thiết, bán ngoại tệ để kéo tỷ giá xuống hoặc mua ngoại tệ vào để đẩy tỷ
giá lên và điều quan trọng là phải có quỹ bình ổn hối đoái.

4. Ngoài cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, Chính phủ cũng cần
quan tâm đúng mức đến chính sách lãi suất, cần điều chỉnh lãi suất hợp lý
( linh hoạt trên cơ sở phản ánh đúng cung cầu tín dụng thực tế trên thị
trường) phù hợp với tình hình biến động của tỷ giá

5. Nhà nước cần tiến tới xây dựng một kế hoạch định hướng quản
lý quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia theo hướng tập trung, thống nhất, an
toàn, đáp ứng nhu cầu kịp thời khi cần thiết đồng thời phải hình thành thị
trường nội địa nội địa hoàn chỉnh với đầy đủ các công cụ hoạt động nhằm
phát triển tương xứng với thị trường ngoại tệ. Ngân hàng nhà nước sử dụng
hiệu quả công tụ thị trường mở để có thể phối hợp can thiệp linh hoạt hợp lý
trên cơ sở phát triển và hoàn thiện song song hai thị trường này.

6. Mở rộng nghiệp vụ thu đổi, thu mua ngoại tệ ra VNĐ rộng rãi ở
các điểm giao dịch của ngân hàng thương mại quốc doanh, đẩy mạnh việc
mua ngoại tệ ở các ngân hàng thương mại, tăng dự trữ ngoại tệ ở ngân hàng
Nhà nước đồng thời có biện pháp quản lý các luồng chuyên ngoại tệ về nước
qua ngân hàng, hạn chế tối đa phạm vi sử dụng đồng ngoại tệ, nhằm thu hút
các nguồn vốn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, đồng thời kiểm soát được
một cách có hiệu quả các luồng chu chuyển ngoại tệ tạo một cơ sở nền tảng
cho điều hành chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tỷ giá hối đoái nói
riêng.Mặt khác cần tiếp tục chỉnh sửa chính sách quản lý ngoại hối cho phù
hợp không gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho
Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 28
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


hoạt động xuất khẩu. Việc quy định các ngân hàng cổ phần chỉ giữ được một
lượng ngoại tệ tối đa bằng 15% vốn tự có cũng gây trở ngại cho ngân hàng và
cả các doanh nghiệp.

7. Nhà nước cần ban hành chính sách thuế xuất khẩu phải tạo điều
kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia bình đẳng vào hoạt động xuất
khẩu đồng thời chính sách thuế xuất khẩu phải phù hợp với những yêu cầu
của hội nhập kinh tế, thông lệ quốc tế, chống lại thủ đoạn cạnh tranh không
lành mạnh của nước ngoài.

8. Nhà nước phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý cho các
cán bộ quản lý trong lĩnh vực xuất khẩu làm cho đội ngũ cán bộ quản lý
đáp ứng được yêu cầu của tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
khu vực.

9.Nhà nước phải không ngừng cải cách thủ tục hành chính trong
việc điều hành hoạt động xuất khẩu đồng thời nhà nước cũng phải có biện
pháp làm cho bộ máy quản lý của mình trong hoạt động xuất khẩu được gọn
nhẹ hơn và có hiệu quả hơn.

II. ĐỊNH HƯỚNG CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU

Cùng với quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì
hoạt động xuất khẩu của nước ta có những bước phát triển nhất định vì vậy
vai trò quản lý của Nhà nước trong hoạt động xuất khẩu phải được đổi mới
theo hướng

- Nhà nước phải thực hiện vai trò định hướng cho hoạt động xuất khẩu
thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu

- Nhà nước phải thực hiện vai trò trong việc tìm kiếm thị trường cho
hàng xuất khẩu... và làm cho nhà nước thực sự trở thành nhân tố quyết định


Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 29
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng


trong việc phát triển hoạt động xuất khẩu đồng thời làm cho hoạt động xuất
khẩu phát triển lành mạnh góp phần phát triển kinh tế.

- Nhà nước phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý của mình và
làm cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu có hiệu quả hơn
đồng thời đáp ứng được yêu cầu của thế giới.




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 30
§Ò ¸n m«n häc NguyÔn H¶i §¨ng




TÀI LIỆU THAM KHẢO



I. SÁCH

1/ Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyên : Giáo trình chính sách
Kinh tế - Xã hội : NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội 2000

2/ Bùi Xuân Lưu giáo trình Kinh tế Ngoại thương : NXB Giáo dục -
1997

3/ Nguyễn Duy Bột giáo trình Thương mại Quốc tế : NXB Thống Kê
Hà Nội 1997

4/ Per Ronnas organ Sjoberg : Phát triển Kinh tế - Xã hội ở Việt Nam :
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 1996

II. TẠP CHÍ

1/ Con số sự kiện số 11/1997

2/ Kinh tế và dự báo số 2/1998

3/ Tài chính số 10/1997, số 1 + 2/ 1998, số 7/ 2000, số 14/2000

4/ Thương mại số 2 + 3/ 1998, số 14/ 1998, số 22/1998, số 6, 7, 8/2000

5/ Thông tin giá cả số 4/1998, số 11/1998, số 12/1998

6/ Phát triển kinh tế số 93/1998, số 94/1998




Líp : Qu¶n lý kinh tÕ 39B 31

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản