Báo cáo “Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn trong nước và nước ngoài với tăng trưởng và phát triển kinh tế”

Chia sẻ: marukodung

Đánh giá thực trạng về vai trò, mối quan hệ của 2 nguồn vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam những năm gần đây và đề xuất một số giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả vai trò, mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Báo cáo “Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn trong nước và nước ngoài với tăng trưởng và phát triển kinh tế”

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP


Báo cáo


“Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn
trong nước và nước ngoài với tăng trưởng
và phát triển kinh tế”
MỤC LỤC:
 Giới thiệu.
 Chương 1 : Những vấn đề lí luận chung về vai trò và mối quan
hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư
nước ngoài.
I. Khái niệm phân loại và bản chất nguồn vốn đầu tư.
II. Vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong
nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
 Chương II.Thực trạng về vai trò và mối quan hệ giữa nguồn
vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
I. Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong
nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
II. Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn nước
ngoài trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
III. Thực trạng mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và
nguồn vốn nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển
kinh tế ở Việt Nam.
Chương III. Giải pháp tăng cường vai trò và mối quan hệ giữa
nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn
2001 - 2010 là: Đưa nước ta ra thoát khỏi khủng hoảng và tình trạng kém phát
triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi nền kinh tế của Việt Nam
phải có được một sự phát triển toàn diện theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Lúc này,
nguồn vốn đầu tư trở thành một vấn đề được quan tâm và đề cập đền thường xuyên
nhất.
Trong cơ cấu vốn đầu tư, nguồn vốn trong nước là nội lực đóng một vai trò
quyết định, nguồn vốn đầu tư nước ngoài là ngoại lực đóng một vai trò quan trọng
đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Hai nguồn vốn này không
chỉ có vai trò đặc thù mà còn có những mối liên hệ, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
cùng tác động lên sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Nhóm chúng em được phân công đề tài “Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn
trong nước và nước ngoài với tăng trưởng và phát triển kinh tế” làm đề tài
nghiên cứu không ngoài mục tiêu tổng kết lại những kiến thức về chuyên ngành
Kinh tế Đầu tư, trên cơ sở đánh giá thực trạng về vai trò, mối quan hệ của 2 nguồn
vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam những năm gần đây và đề
xuất một số giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả vai trò, mối quan hệ giữa
2 nguồn vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong quá trình nghiên cứu,
tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương và thầy Phạm Văn
Hùng đã giúp đỡ hoàn thành đề tài. Trong bài viết không tránh khỏi những thiếu
sót, kính mong Thầy cùng các bạn góp ý để bài viết được hoàn chỉnh.
Chương 1 : Những vấn đề lí luận chung về vai trò và mối quan hệ giữa nguồn
vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
I. Khái niệm phân loại và bản chất nguồn vốn đầu tư.
1. Khái niệm.
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị
được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
2. Phân loại và bản chất nguồn vốn đầu tư.
2.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết
kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của
chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.
Đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát
triển trong nước. Theo lí luận cũng như thực tiễn đã chứng minh bất kì nước nào
cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính. Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ
mang tính chất tạm thời và chỉ khi sử dụng nguồn vốn trong nước có hiểu quả thì
mới nâng cao được vai trò của nguồn bên ngoài này.
2.1.1. Nguồn vốn nhà nước.
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn
vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của
doanh nghiệp nhà nước.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Thường chiếm một tỉ
trọng nhất định trong toàn bộ khối lượng đầu tư, giữ một vai trò quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Thường được sử dụng cho
các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án
đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước. Đây là nguồn cung quan trọng để
xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then
chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nguồn kinh phí trong ngân sách
cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, khi các
doanh nghiệp gặp khó khăn cần sự trợ giúp của nhà nước.
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ
hình thức cấp phát vốn ngân sách sang hình thức tín dụng đối với các dự án có khả
năng thu hồi vốn trực tiếp. Đây là hình thức cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn lãi
suất thị trường tín dụng nên nhà nước phải dành ra một phần ngân sách để trợ cấp
bù lãi suất. Có tác dụng giảm chi ngân sách nhà nước và nâng cao trách nhiệm của
người sử dụng vốn. Đồng thời có vai trò đáng kể trong việc phục vụ công tác quản
lí và điều tiết kinh tế vĩ mô. Do mang tính ưu đãi nên nhà nước chủ động định
hướng dòng chảy của nguồn vốn này theo chiến lược quy hoạch đã vạch sẵn để
thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế …
- Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
Nguồn vốn này chủ yếu từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại của
doanh nghiệp nhà nước, thường chiếm 14 – 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ
yếu là đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây
chuyền công nghệ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước là thành phần
chủ đạo của nền kinh tế và nắm giữ một lượng lớn nguồn vốn của đất nước. Hoạt
động của các doanh nghiệp nhà nước là hoạt động then chốt của nền kinh tế nó và
góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào
phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế,
tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả
các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, chống lạm phát...
2.1.2. Nguồn vốn của dân cư và khu vực tư nhân.
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của khu vực dân cư, phần
tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Trong giai đoạn 2001 –
2005 vốn đầu tư của dân cư va khu vực tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu
tư toàn xã hội, nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động được của
hệ thông ngân hàng. Tiềm năng vốn của khu vực này là rất lớn, nếu có thể huy
động triệt để thì sẽ tạo ra được số vốn khổng lồ phục vụ cho nhu cầu đầu tư của cả
nền kinh tế. Có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương. Đây là khhu vực năng động,
nhạy bén, tạo nhiều công ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thất nghiệp
thời vụ tại các vung nông thôn, phát huy được các lợi thế của địa phương.

2.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào
quá trình đầu tư của nước sở tại.
Đây là nguồn vốn quan trọng mà mỗi quốc gia đều quan tâm, nó có thể tạo ra cú
hích cho sự phát triển. Nó bổ sung vốn cho đầu tư khi nguồn vốn trong nước không
đáp ứng đủ nhu cầu, nhất là đối với các nước đang phát triển khi nội lực chỉ mới
đáp ứng hơn 50% tổng nhu cầu về vốn.
2.2.1. Tài trợ phát triển chính thức :ODF. Với ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu.
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ
nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. Với các điều
kiện ưu đãi hấp dẫn về lãi suất thấp, thời hạn cho vay dài, khối lượng cho vay lớn
và đặc biệt bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%.
Nguồn vốn này được cấp qua các cơ quan chính thức của chính phủ nước nhận
viện trợ, và để được nhận ODA thì nước nhận đầu tư phải có nguồn vốn đối ứng
tương ứng. Nguồn vốn ODA mang mục đích nhân đạo, tăng cường mối quan hệ
giữa các nước nên không cấp cho dự án mang tích thương mại.
Tuy có nhiều ưu đãi song đi kèm với loại vốn này thường là các điều kiện và ràng
buộc bất lợi cho nước nhận viện trợ. Các nước khi đi viện trợ vốn ODA đều gắn
với nhũng lợi ích và chiến lược lâu dài để mở rộng thi trường, mở rộng các quan hệ
có lợi cho mình, gây ra sự lệ thuộc về quân sự, chính trị, … các nước viện trợ ODA
thường yêu cầu các nước nhậ viện trợ phải dỡ bỏ dần hang rào thuế quan bảo hộ
các ngành công nghiệp non trẻ, giảm thuế nhập khẩu. Hơn nữa các dự án ODA
thường đòi hỏi phải do các công ty của nước viện trợ trực tiếp thực hiện dự án, với
giá cả đắt hơn hẳn so với giá cả chung của thị trường, bỏi vậy cho nên thường hơn
90% nguồn vốn ODA lại chảy về nước viện trợ qua các công ty này. Bởi vây nhiều
lúc bản chất của viện trợ ODA là các nước viện trợ tạo điều kiện cho các công ty
của nước mình có các hợp đồng béo bở, bởi vậy thực sự khi đi viện trợ họ lại được
nhiều hơn mất. Bởi vậy khi đàm phán xin viện trợ cần cố gắng hạn chế đến mức
thấp nhất bất lợi này.

2.2.2. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.

Đây là nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại quốc tế với lãi suất tương
đối cao, có thời gian trả nợ chính xác và thủ tục cho vay khắt khe. Tuy nhiên nó
không có các ràng buộc về chính trị xã hội. Đây là nguồn vốn cho vay với lãi suất
thương mại nên nếu các nước tiếp nhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì
có nguy cơ dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ. Đây là
những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo khi hiệu quả sử dụng vốn chưa
cao. Bởi vậy nguồn vốn này thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn
của các hoạt động xuất nhập khẩu thường là ngắn hạn.
2.2.3. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước này đến để đầu tư cho sản
xuất kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận ở một nước khác. Hình
thức này không làm phát sinh nợ ở nước nhận đầu tư bởi vì nhà đầu tư thay vì nhận
lãi suất trên vốn đầu tư thì họ sẽ thu được lợi nhuận khi kết quả đầu tư đi vào hoạt
động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường mang theo tất cả tài nguyên
kinh doanh như phương pháp quản lí, mô hình hoạt động, công nghệ máy móc, …
nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, như ngành công nghệ cao hay
ngành cần nhiều vốn. Bởi vậy nguồn vốn này có tác động cực kì lớn tới quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa đấy nước, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tốc độ tăng
trưởng cao và tăng thu cho ngân sách ở nước nhận đầu tư.
2.2.4. Nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế.
Đây là nguồn vốn được huy động từ thị trường chứng khoán trên thế giới bằng việc
bán các chứng khoán của chính phủ và các công ty trong nước ra nước ngoài.
Có thể huy động vốn với số lượng lớn, trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu về
vốn cho nến kinh tế mà không bị ràng buộc bởi các điều kiện về tín dụng, quan hệ
cho vay để gây sức ép với nước huy động vốn trong các quan hệ khác.
II. Vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu
tư nước ngoài.
1. Vai trò của vốn đầu tư trong nước.
Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định đối với tăng
trưởng và phát triển của từng đơn vị kinh tế cũng như của cả đất nước. Bởi sự phát
triển của bất cứ hiện tượng sự vật nào cũng phải bắt đầu từ sự chuyển biến thay đổi
trong ngay bản thân sự vật hiện tượng đó. Đây là nội lực của mỗi quốc gia nên
chúng ta chủ động trong việc thu hút và sử dụng vào các lĩnh vực cần thiết mà
không phải chịu bất cứ sự lệ thuộc nào và nó có tính ổn định, đảm bảo hơn nguồn
vốn từ nước ngoài..
- Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP , góp phần thúc đẩy tăng
trưởng phát triển kinh tế. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư cho các dự án
kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đã tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực khác phát triển. Bởi các dự án này thường đòi hỏi
nguồn vốn lớn, khả năng thu hồi vốn chậm, cho nên các doanh nghiệp không đủ
khẳ năng để thực hiện. Hơn nữa vốn trong nước thường được bổ sung cho các
doanh nghiệp vơi lãi suất ưu đãi để các doanh nghiệp này tận dụng được cơ hội đầu
tư tăng lợi nhuận. Từ đó làm tăng GDP cho xã hội.
- Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đổi cơ cấu
kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng,
phát triển toàn diện, đồng đều và bền vững giữa các vùng miền. Vốn của nhà nước
thường được đầu tư vào cách lĩnh vực đòi hỏi quy mô vốn rất lớn như điện lực, dầu
khí,… hay vào những ngành có tỉ suất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn lâu dài
như các ngành xây dựng đường, các công trình công cộng. Để ưu tiên vốn của các
thành phần kinh tế khác đầu tư vào các lĩnh vực sinh lời. Việc phân bổ nguồn vốn
của nhà nước theo kế hoạch cũng nhanh chóng tạo xu thế thay đổi cơ cấu kinh tế
theo định hướng của nhà nước.
- Thường nguồn vốn trong nước được ưu tiên để xây dựng cơ sở hạ tầng cho các
vùng kinh tế còn yếu kém. Tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng
cao hiểu quả đầu tư của nguôn vốn, tạo sự vững chắc cho sự tăng trưởng của nền
kinh tế. Bởi nguồn vốn đầu tư nước ngoài chỉ lựa chọn địa điểm đầu tư tại nơi có
lợi thế so sánh nhất. Do đó nguồn vốn trong nước phải đi trước để chuẩn bị sẵn đón
các nhà đầu tư nước ngoài vào như xây dựng các khu công ngiệp, cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất kinh doanh…
- Góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá
trong nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởg và phát triển kinh tế.
Đầu tư quá mức gây ra lạm phát. Một phần việc sử dụng vốn thực hiện hoạt động
đầu tư gây ra lạm phát "cầu kéo". Việc sử dụng vốn đầu tư không hiệu quả lại gây
ra lạm phát "chi phí đẩy". Như vậy, đầu tư trọng tâm, trọng điểm, có hiệu quả và
kiểm soát cả về mặt lượng và mặt chất của việc sử dụng nguồn vốn trong nước đặc
biệt là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và việc kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các
doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp được nêu ra để chống lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nguồn vốn đầu tư trong nước đặc biệt là nguồn vốn
dồi dào của khu vực dân cư và tư nhân là tác động lớn nhất thúc đẩy quá trình cổ
phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra nhanh chóng và đồng bộ. Từ đó giải
quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh
nghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nguồn vốn đầu tư trong nước phải luôn là đối trọng với nguồn vôn đầu tư nước
ngoài để có thể hạn chế được những mặt tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, đồng thời tạo bộ khung kinh tế để có thể chống lại được những tác động của
thị trường thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ không nước
nào không chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng, mà việc quan tâm là mức độ
ảnh hưởng như thế nào và khả năng phục hồi ra sao khi kết thúc khủng hoảng kinh
tế. Nhà nước ta vẫn luôn nắm giữ những ngành then chốt trong nền kinh tế như
điện lực, tài chinh, viễn thông,…và luôn dành một phần ngân sách nhất định để
duy trì, phát triển các lĩnh cực này không cho đầu tư nước ngoài tham gia hay tham
gia góp vốn với tỉ lệ hợp lí để nhà nước vẫn luôn nắm các ngành này trong tay. Mặt
trái của vốn đầu tư nước ngoài là có thể đó là công cụ để nước ngoài thâu tóm
quyền lực chính trị, tạo ra sự phụ thuộc. Bởi vậy việc duy trì những ngành then
chốt này là cần thiết.
Tuy nguồn vốn trong nước có một vai trò quyết định không thể thay thế như vậy,
nhưng nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởng
kinh tế mà không xem xét đến nguồn vai trò của nguồn vốn nước ngoài thì sẽ là
một sự thiếu sót lớn. Trong điều kiện nền kinh tế đất nước ta mới phát triển được
hơn 30 năm, khả năng tích lũy của nền kinh tế còn thấp trong khi nhu cầu phát
triển lại vô cùng cấp bách, đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn thì nguồn vốn đầu
tư trong nước sẽ là không đủ. Do đó, nguồn vốn trong nước luôn rơi vào tình trạng
thiếu và bị hạn chế về cả qui mô và số lượng. Lúc này, sự bổ sung của nguồn vốn
nước ngoài đối với nhu cầu về vốn là rất quan trọng và kịp thời.
2. Vai trò của nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Đây là nguồn vốn có vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển nền
kinh tế. Nó bổ sung nguồn vốn đầu tư cho, nhất là với Việt Nam chúng ta tích lũy
nội bộ còn thấp mới chỉ đáp ứng được hơn 50% nhu cầu vốn đầu tư. Nhờ việc thu
hút vốn đầu tư mà vị thế của đất nước trên chính trường quốc tế càng được nâng
cao. Đi theo dòng tiền thường là các khoa học công nghệ, kĩ thuật, trình độ quản lí
mà nước nhận đầu tư rất cần nhất là với các nước đang phát triển.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nước nhận
đầu tư sẽ từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang nước công nghệp hiện đại. Nó làm
thay đổi cơ cấu từ ngành có trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu chuyển thành trình
độ khoa học tiên tiến hiện đại, nâng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt.
- Nhờ có nguồn vốn này mà các mục tiêu xã hội sẽ được quan tâm hơn tạo điều kiện
xóa đói giảm nghèo làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển. Khi có nguồn vốn
đầu tư nước ngoài vào trong nước, số lượng và quy mô các doanh nghiệp sẽ tăng
lên làm tăng việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội. Ngoài ra,
nguồn vốn này còn là cơ hội để các nước nghèo, kém phát triển giải quyết vấn đề
xoá đói giảm nghèo(đặc biệt là nguồn vốn ODA). Chỉ khi giải quyết được các vấn
đề xã hội thì nước tiếp nhận vốn mới có được môi trường ổn định để phát triển
kinh tế.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện nâng cao trình độ khoa học công nghệ,
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng. Việc đầu tư vào trong nước sẽ đi kèm với
đào tạo đội ngũ lao động hình thành nên đội ngũ lao động có chất lượng cao. Đội
ngũ lao động này một phần làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài, bên cạnh
đó lại góp phần vào xây dựng đất nước. Nguồn vốn nước ngoài khi vào trong nước
sẽ đem theo các công nghệ tiên tiến, hiện đại đồng thời thực hiện chuyển giao công
nghệ. Bởi vậy nước sở tại sẽ được thừa hưởng, học hỏi những công nghệ đó. Trình
độ công nghệ của nước nhận đầu tư sẽ tăng lên đáng kể.
- Vốn đầu tư nước ngoài vào cổ phiếu trong nước sẽ giúp giảm chi phí vốn và đa
dạng hóa rủi ro. Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vô hình chung tạo một
áp lực cải thiện thể chế và chính sách lên nước nhận đầu tư. Không chỉ có vậy, đi
kèm với nguồn vốn đầu tư nước ngoài là các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm sẽ
có tác động tích cực, góp phần cải thiện chất lượng thông tin trên thị trường và nhờ
đó tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán. Cơ chế cáo bạch sẽ tăng lên và
giúp nước sở tại phát triển các dịch vụ về kế toán, kiểm toán, các dịch vụ môi giới
và kinh doanh chứng khoán. Vậy là, cùng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài thị
trường tài chính trong nước sẽ từng bước được cải thiện, hoàn chỉnh, nâng cao chất
lượng và hiệu quả trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia.
- Nguồn vốn nước ngoài làm hình thành các loại hình doanh nghiệp mới, các
phương thức kinh doanh hiện đại tạo ra môi trường cạnh tranh, nâng cao tính cạnh
tranh giữa các thành phần kinh tế trong xã hội tạo động lực cho sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn cung ngoại tệ đáng kể cho cán cân thương
mại quốc tế của đất nước. Tạo điều kiện nâng cao năng lực xuất nhập khẩu, đầu tư
ra nước ngoài và trả nợ từ đó tạo đà cho tăng trưởng và phát triển.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo điều kiên giúp nước nhận đầu tư tiếp cận
với thị trường quốc tế, mở rộng giao lưu quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập với
thế giới va khu vực.
3. Mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước
ngoài.
Đối với các nước đang phát triển thi vấn đề thiếu vốn luôn là một vấn đề nan giải.
Một quốc gia mà chỉ sử dụng những nguồn lực sẵn có của mình thì sẽ không bao
giờ có thể đuổi kịp các nước khác, bởi vậy trên thế giới không có quốc gia nào chỉ
sử dụng nguồn vốn trong nước, các nước đều cố gắng thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay. Vì thế hai nguồn vốn
này có mối lien hệ chặt chẽ, hữu cơ gắn bó với nhau, tác động lẫn nhau theo nhiều
chiều. Tuy nguồn vốn trong nước có một vai trò quyết định, nhưng nếu chỉ dựa vào
nguồn vốn trong nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế mà không xem
xét đến nguồn vốn nước ngoài thì nền kinh tế sẽ mãi trì trệ trong vòng luẩn quẩn
của nghèo đói đó là
Thu nhập bình quân thấp  Tiết kiệm, đầu tư thấp


 


Năng suất thấp  Tăng trưởng chậm


Trong điều kiện nền kinh tế đất nước ta mới phát triển được hơn 30 năm, khả năng
tích lũy của nền kinh tế còn thấp trong khi nhu cầu phát triển lại vô cùng cấp bách,
đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn thì nguồn vốn đầu tư trong nước sẽ là không
đủ. Do đó, nguồn vốn trong nước luôn rơi vào tình trạng thiếu và bị hạn chế về cả
qui mô và số lượng. Lúc này, sự bổ sung của nguồn vốn nước ngoài đối với nhu
cầu về vốn là rất quan trọng và kịp thời. Bên cạnh đó việc sử dụng vốn đầu tư
trong nước còn chưa hiệu quả, chưa tương xứng với tổng số vốn đã chi, gây tổn
thất cho nền kinh tế. Nhưng nếu được sự bổ sung kết hợp của nguồn vốn đầu tư
nước ngoài cùng với sự chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lí thì tổn thất đó
sẽ phần nào được giảm bớt. Như vậy trong mối quan hệ giữa hai nguồn vốn, nguồn
vốn nước ngoài có vai trò tác động ngược trở lại nguồn vốn trong nước, là nguồn
vốn đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc hỗ trợ, khắc phục những
nhược điểm của nguồn vốn trong nước trong tác động đối với sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế của một quốc gia.
* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài sẽ làm tăng tổng
vốn đầu tư toàn xã hội. Xét về mặt lượng thì hai nguồn vốn này hoàn toàn độc lập
vơi nhau do đó khi kết hợp chúng lại ta sẽ có tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội là
tổng của hai nguồn vốn này.

* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
chủ yếu theo bề rộng trong đó nhân tố khối lượng vốn đầu tư chiếm vai trò quan
trọng chủ yếu tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cho nên sự gia tăng
tổng số vốn đầu tư toàn xã hội kéo theo bước tăng trưởng và phát triển đáng kể của
nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá luôn phải giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Yêu cầu có tính
nguyên tắc này đã được bảo đảm trong suốt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế những
năm vừa qua. Mặc dù trong những năm 2001-2005, số lượng doanh nghiệp Nhà
nước đã giảm đáng kể do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hoá, nhưng tỷ
trọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước vẫn duy trì ở
mức trên 38% (Năm 2001 chiếm 38,40%, năm 2002 chiếm 38,38%; 2003 chiếm
39,08%; 2004 chiếm 39,10%; năm 2005 ước tính chiếm 38,42%)

* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội. Một phần vốn đầu tư đã dành cho chương trình phát triển kinh tế-xã hội và
xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ tại các xã đặc biệt khó khăn. Tính chung từ năm
1999 đến hết năm 2005 chương trình đã được đầu tư trên 8850 tỷ đồng. Nhờ vậy,
đến hết năm 2004 đã có 97% số xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô đến trung tâm
xã; 100% số xã có trạm y tế; 70% số xã có điểm bưu điện văn hoá; 90% số xã có
trạm truyền thanh; 65% số xã có công trình nước sạch và 50% số hộ được sử
dụng nước sạch.
* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này có thể tạo ra những cú hích nâng cao năng
lực khoa học công nghệ của nước ta. Đối với mỗi nước thì khoa học công nghệ
luôn là một nguồn lực quan trọng và cần phải đầu tư xây dựng lâu dài, với yêu cầu
vốn và nền tảng kĩ thuật cao. Do đó nếu chỉ dựa vào nội lực với nguồn vốn đầu tư
trong nước thì quá trình phát triển rất chậm không theo kịp với trình độ phát triển
chung của khu vực và thế giới, vì thế cần có sự bổ sung từ nguồn vốn nước ngoài.


- Nguồn vốn đầu tư trong nước hỗ trợ tạo điều kiện cho nguồn vốn đầu tư nước
ngoài. Nguồn vốn trong nước đặc biệt là nguồn vốn ngân sách nhà nước thường
được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng càng hiện đại, càng đồng
bộ thì các hoạt động đầu tư càng thuận lợi và do đó nguồn vốn nước ngoài chảy
vào càng nhiều. Đồng thời các nguồn vốn trong nước thường được ưu tiên để xây
dựng các công trình, lĩnh vực phụ trợ với mức lợi nhuận thấp như xây dựng các
khu công nghiệp, các khu chế xuất,… để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào. Do đã
được giải phóng san lấp mặt bằng, hệ thống giao thông, điện nước… nên nguồn
vốn đầu tư nước ngoài sẽ không mất chi phí này mà được dung trực tiếp đầu tư vào
sản xuất kinh doanh. Do đó mức lợi tức cao hơn nên thu hút được nhiều vốn đầu tư
nước ngoài hơn.
- Nguồn vốn trong nước hạn chế gây cản trợ nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đó là lúc
các nước nhận đầu tư thực hiện các chính sách bảo hộ doanh nghiệp trong nước,
nhà nước dành cho các doanh nghiệp này những ưu đãi đặc biệt như bù lỗ, tạo độc
quyền,…Khiến cho nguồn vốn bên ngoài không thể xâm nhập vào được. Tạo ra
môi trường cạnh tranh không lành mạnh nên làm giảm sức hút đầu tư của bên
ngoài.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện nâng cao hiểu quả sử dụng nguồn vốn
đầu tư trong nước. Do có nguồn vốn đầu tư nước ngoài bổ sung nên nguồn vốn
trong nước sẽ được phân bổ một cách hợp lí hơn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế
và mục tiêu phát triển đồng bộ. Các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, y tế,
giáo dục… sẽ được quan tâm hơn do nguồn vốn được cấp nhiều hơn, đó là vốn
trong nước với tỉ trọng lớn hơn và vốn ODA của các tổ chức quốc tế. Cùng với sự
tăng trưởng kinh tế thì các thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo ra
rất nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động.
Từ đây mà tích lũy của đất nước tăng lên, dẫn đến nguồn vốn đầu tư trong nước
tăng lên. Cùng với quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế với nước ngoài thì những
nguồn lực mà trước đây chưa được sử dụng hay sử dụng với hiệu quả chưa cao do
thiếu vốn, thiếu công nghệ,… nay được đưa vào sản xuất bằng cách hợp tác sản
xuất kinh doanh. Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài này do có thừa hưởng trình
độ quản lí, khoa học kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến nên thường làm ăn có
hiệu quả cao hơn doanh nghiệp trong nước. Do đó cùng với quá trình hoạt động có
hiểu quả của các doanh nghiệp liên doanh thì phần vốn góp của phía Việt Nam
trong các doanh nghiệp cũng tăng lên từ đó làm quy mô vốn trong nước tăng lên.
Hơn nữa thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một nguồn thu
quan trọng đối với các nước đang phát triển.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài làm giảm khối lượng nguồn đầu tư trong nước, do
các khoản vốn đầu tư nước ngoài đến kì phải trả, mà nếu sử dụng các khoản vay
này không hiểu quả thì đây sẽ là vấn đề đáng lo ngại đối với các nước thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Đây là gánh nặng nợ mà nguồn vốn trong nước phải trích ra để
trả nợ, do đó tổng vốn đầu tư trong nước sẽ giảm đi. Không những vậy các khoản
vốn đầu tư nước ngoài thường đi kèm theo các ràng buộc về kinh tế, chính trị. Điều
này có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc mất tự chủ của nước nhận vốn. Nguồn vốn
đầu tư nước ngoài tạo điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới nên cũng làm cho các
nước này dễ bị ảnh hưởng của các khủng hoảng kinh tế thế giới. Mà khi bị khủng
hoảng thì tất cả mọi mặt của đất nước sẽ bị giảm sút.




Chương II.Thực trạng về vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong
nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế:
I.Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước trong việc
thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
Có thể nói vốn có vai trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất va
tiến bộ xã hội, vì thế nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng
dụng tiên bộ khoa học kĩ thuật, phát triển cơ sở hạ tâng, chuyển dịch cơ cấu và đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Từ đó tác động mạnh đến cơ cấu kinh tế của đất
nước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
làm cho nền kinh tế có các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao và hướng
mạnh về xuất khẩu. Chính điều đó đã dẫn tới nền kinh tế có tốc độ tăng cao và ổn
định.
Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới đã có những chuyển biến quan trọng và
đạt được những thành tựu lớn lao, nhưng chúng ta vẫn là nước nghèo, mức sống
còn thấp, tích tụ và tập trung vốn trong nội bộ nền kinh tế còn quá thấp, Trong khi
đó nhu cầu vốn đầu tư cho cả nền kinh tế nói chung và cho việc phát triển công
nghiệp nói riêng rất lơn và cấp bách.


Trong giai đoạn 2001 – 2005, vốn đầu tư trong nước tăng khá nhanh, từ
1240011 tỷ đồng(chiếm 82,04% tổng vốn đầu tư)(năm 2000) lên 292033 tỉ đồng
(năm 2005) chiếm 85,11 % tổng vốn đầu tư ,tính chung trong cả thời kỳ này vốn
trong nước chiếm 67,61% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,giai đoạn 2006-2007 vốn
đầu tư trong nước chiếm 78,96% tổng vốn đầu tư.
Đối với Việt Nam, trong thành phần của nguồn vốn đầu tư trong nước, nguồn vốn
khu vực nhà nước luôn chiếm một tỉ trọng rất lớn và có một vai trò rất quan trọng;
nó là nguồn hình thành các công trình trọng điểm của quốc gia, nhất là các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước, những công trình mà các thành
phần kinh tế khác không thể hoặc không muốn đầu tư. Nguồn vốn này góp phần
thay đổi cơ bản hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, hình thành những ngành công
nghiệp mới và nhiều lĩnh vực dịch vụ, cải tạo nền nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá, dần tiếp cận với thị trường thế giới; tạo tiền đề cho quá trình tăng trưởng
kinh tế của đất nước.


2. Thực trạng về vai trò của vốn đầu tư trong nước đối với tăng trưởng và
phát triển kinh tế ở Việt Nam
2.1 Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế Việt Nam.
Khả năng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm 2001-2005
vào khoảng 840 nghìn tỷ đồng (theo mặt bằng giá năm 2000) tương đương khoảng
60 tỷ USD, bằng 1,5 lần tổng vốn đầu tư thực hiện thời kỳ 1996-2000; trong đó
nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 2/3.
Vốn đầu tư trong nước giai đoạn 1995-2007
Năm Tổng vốn đầu tư
1995 50447
1996 64694
1997 78070
1998 92834
1999 108500
2000 124011
2001 140485
2002 165350
2003 200946
(nguồn:tổng cục thống kê)


. Tỷ lệ đầu tư so với GDP chiếm khoảng 31-32%, bảo đảm tốc độ tăng
trưởng kinh tế 7,5%/năm.
Đưa tổng sản phẩm trong nước năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995. Nhịp độ
tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm 2001-2005
là 7,51%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3%; công nghiệp và xây dựng
tăng 10,8%; dịch vụ tăng 6,2%.Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%/năm.
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,8%/năm; giá trị sản xuất ngành công
nghiệp tăng 13%/năm; giá trị dịch vụ tăng 7,5%/năm.
Đến năm 2005 tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp trong tổng sản phẩm trong nước
chiếm 20-21%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 38-39%; tỷ trọng các
ngành dịch vụ chiếm 41-42%.

GDP giai đoạn 2000-2008
năm GDP
2000 411646
2001 481295
2002 535762
2003 613443
2004 715307
2005 839211
2006 974266
2007 1144015
Tính ra trong 5 năm 2001-2005, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước
tăng 7,51%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2005 gấp 1,44 lần năm 2000.
Để có thể đạt được thành tựu như trên thì tổng số vốn đầu tư phát triển 5 năm
2001-2005 theo giá thực tế đã đạt trên 1200 nghìn tỷ đồng, gấp trên 2 lần tổng
số vốn đầu tư phát triển huy động được trong kế hoạch 5 năm 1996-2000. Tính
ra, vốn đầu tư phát triển bình quân mỗi năm trong 5 năm 2001-2005 đạt trên 240
nghìn tỷ đồng, bằng 201,6% mức bình quân mỗi năm trong kế hoạch 5 năm
1996-2000.
Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 35,42% năm 2001
lên 37,16% năm 2002; 37,76% năm 2003; 38,45% năm 2004 và ước tính năm
2005 là 38,67%. Tỷ lệ đầu tư của nước ta hiện nay chỉ thấp hơn Trung Quốc,
còn cao hơn hầu hết các nước trong khu vực (Tỷ lệ đầu tư so với tổng sản phẩm
trong nước năm 2004 của Trung Quốc là 45,7%; Hàn Quốc 29,3%; Thái Lan
37,8%; Ma-lai-xi-a 22,5%; Phi-li-pin 19,6%, In-đô-nê-xi-a 19,5%; Xin-ga-po
15,3%.
Trong tổng số vốn đầu tư 5 năm 2001-2005 thì vốn đầu tư trong nước
chiếm tới 84%, cao hơn hẳn tỷ lệ 78,6% của những năm 1996-2000. Sở dĩ có
được kết quả này một mặt do Nhà nước tăng cường đầu tư, nhưng mặt khác còn
do các chính sách khuyến khích kinh tế ngoài Nhà nước phát triển, trong đó có
Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân đã góp
phần rất quan trọng. Trong 5 năm 2001-2005 đã có gần 14 vạn doanh nghiệp dân
doanh đăng ký thành lập với tổng số vốn đăng ký lên tới 294 nghìn tỷ đồng. Nhờ
vậy số vốn của khu vực này chiếm trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ
22,6% năm 2001 lên 26,2% năm 2002; 29,7% năm 2003; 30,9% năm 2004 và
ước tính năm 2005 là 32,4%..
2.2 nguồn vốn trong nước được tập trung đầu tư cho những ngành quan
trọng nhằm tăng cường sự ổn định đồng thời giúp nền kinh tế tăng trưởng
bền vững ,phát triển một cách toàn diện giữa các ngành ,các vùng và các địa
phương khác nhau:.
Đầu tư trong nước là công cụ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kích
thích phát triển sản xuất kinh doanh ,trong những năm gần đây thự hiện chủ trương
của Đảng là thực hiện “công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước”vì vậy, vốn đầu tư
trong nước cũng có những bước chuyển biến hết sức căn bản và mạnh mẽ về cơ
cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực ngành nghề theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vốn dành
cho đầu tư phát triển các dự án công nghiệp nặng, công nghiệp hóa nông nghiệp
nông thôn và hiện đại hóa công nghiệp nhẹ, trong đó chú trọng đến công nghiệp
chế biến nông, lâm, thủy sản
Nguồn vốn đầu tư phân theo ngành kinh tế giai đoạn2000-2006
(đơn vị:tỉ đồng)

Năm 2000 2002 2003 2004 2005 2006
NLNN-thuỷ sản 15938 12945 24130 14706 15962 18412
Công nghiệp-xd 45155 62805 69325 80388 90516 104575
Dịch vụ 54016 72183 73359 94225 107453 120319




(nguồn:tổng cục thống kê)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 năm 2001-2005 tương đối cao và đạt mục tiêu
đề ra. Trong ba khu vực kinh tế thì khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm cao nhất với mức tăng 10,24%/năm (công nghiệp tăng
10,12%; xây dựng tăng 10,75%); khu vực dịch vụ tăng bình quân hàng năm 6,96%;
khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,83%/năm.
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng cao hơn các khu vực khác
nên đóng góp của khu vực này vào tốc độ tăng chung của tổng sản phẩm trong nước
cũng lớn nhất trong 3 khu vực kinh tế. Sau khu vực công nghiệp và xây dựng là
đóng góp của khu vực dịch vụ. Khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp thấp
nhất. Trong 5 năm 2001-2005, hàng năm đóng góp của khu vực này thường không
vượt qua mức một điểm phần trăm.
Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng
tổng sản phẩm trong nước 2001 - 2005
%
2001 2002 2003 2004 2005
Tốc độ tăng tổng sản phẩm
trong nước 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43
Nông lâm nghiệp và thuỷ sản 0,69 0,93 0,79 0,92 0,82
Công nghiệp và xây dựng 3,68 3,47 3,92 3,93 4,19
Dịch vụ 2,52 2,68 2,63 2,94 3,42


Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tuy đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm
5,42% về giá trị sản xuất và 3,83% về giá trị tăng thêm, nhưng tỷ trọng trong tổng
sản phẩm trong nước đã giảm từ 24,53% năm 2000 xuống 23,24% năm 2001;
23,03% năm 2003; 21,81% năm 2004 và ước tính năm 2005 chỉ còn 20,89% phần
lớn giá trị tăng thêm đạt được trong những năm vừa qua là do tăng trưởng của
ngành trồng trọt. Ngành chăn nuôi trong hai năm 2004 và 2005 bị ảnh hưởng lớn
của dịch cúm gia cầm. Tuy nhiên, do có sự tăng nhanh về số lượng gia súc và áp
dụng các phương pháp chăn nuôi có tính chất công nghiệp với qui mô lớn nên giá
trị tăng thêm của ngành chăn nuôi vẫn đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm xấp xỉ
tốc độ tăng chung của ngành nông nghiệp. Trong giai đoạn 1995-2000, ngành
Nông Lâm Ngư nghiệp đóng góp trung bình khoảng 26% GDP, vốn đầu tư cho
Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản chiếm khoảng 14% trong tổng vốn đầu tư
xã hội. Trong đó, nguồn vốn đến chủ yếu từ khu vực ngoài quốc doanh. Tốc độ
tăng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước vào Nông nghiệp tăng bình quân 2,1%/năm
trong giai đoạn 2001-2005, có những năm tốc độ tăng âm. Chính vì sự giảm đầu tư
xã hội cho Nông nghiệp để ưu tiên cho các ngành khác nên tốc độ tăng trưởng
GDP nông nghiệp trung bình trong giai đoạn 2001-2005 chỉ là 3,8%, năm 2006 là
2,8% và năm 2007 là 2,3%.
Giá trị tăng thêm của ngành thuỷ sản bình quân hàng năm tăng 8,9%, cao hơn
tốc độ tăng bình quân 4,9% của thời kỳ 1996-2000, do tăng cả sản lượng nuôi trồng
và sản lượng khai thác, nhất là khai thác biển. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng,
chủ yếu do nhiều địa phương tiếp tục mở rộng diện tích nuôi trồng.
Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp thì tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá
thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xây
dựng đã tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49% năm 2002;
39,47% năm 2003; 40,21% năm 2004 và năm 2005 ước tính chiếm 41,04%. chiếm
khoảng 85% giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng với tốc độ tăng
bình quân hàng năm 10,1%, trong đó công nghiệp chế biến tăng 11,69%; điện, ga,
nước tăng 12,15%. Riêng công nghiệp khai thác có tốc độ tăng bình quân hàng năm
không cao, chủ yếu do sản lượng khai thác dầu thô tăng thấp hoặc có năm bị giảm
sút. Tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành xây dựng bình quân hàng năm đạt
10,75%, cao hơn tốc độ tăng của ngành công nghiệp. Ta thấy, cũng trong lĩnh vực
công nghiệp, tỷ lệ vốn tín dụng của quỹ hỗ trợ phát triển luôn cao hơn tỷ lệ vốn
đầu tư của toàn xã hội, điều này đồng nghĩa với việc lĩnh vực công nghiệp cũng thu
hút các nguồn vốn khác trong nền kinh tế ngày càng nhiều. trong giai đoạn 2006-
2010 ngành Công nghiệp sẽ đầu tư khoảng 388,2 ngàn tỷ đồng, tăng gấp 1,7 lần so
với giai đoạn 2001-2005, chiếm 29,5% tổng vốn đầu tư cộng đồng. Dự kiến nguồn
vốn đầu tư công cộng sẽ tập trung phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp có
tiềm năng, các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư
liệu sản xuất quan trọng và công nghiệp xuất khẩu; đầu tư trang thiết bị cho các
công trình lớn và phức tạp; đầu tư phát triển các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp và các điểm công nghiệp trên cả nước theo quy hoạch để thu hút các nguồn
vốn khác đầu tư vào các khu công nghiệp…
Khu vực dịch vụ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta. Chính vì
vậy Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu tăng trưởng dịch
vụ bình quân hàng năm 7% và đến năm 2010 giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ
phải chiếm 42-43% tổng sản phẩm trong nước. Để đạt mục tiêu này, trong những năm
vừa qua các cấp, các ngành đã quan tâm đầu tư thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển.
Nhờ vậy, tốc độ tăng bình quân hàng năm về giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ thời
kỳ 2001-2005 đã đạt 6,96%, xấp xỉ mục tiêu tăng 7% và cao hơn mức tăng 5,69% của
thời kỳ 1996-2000, trong đó năm 2004 tăng 7,3% và năm 2005 tăng 8,5%.
Trong khu vực dịch vụ, các ngành dịch vụ kinh doanh (bao gồm thương mại;
khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện; tài chính, ngân hàng; kinh doanh tài sản, dịch
vụ tư vấn liên quan) nhìn chung có mức tăng trưởng cao. Đây cũng là những ngành
có chi phí đầu tư không lớn, còn nhiều tiềm năng nên cần được phát triển mạnh hơn
trong những năm tới. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì được tỷ trọng chiếm trên dưới
38% tổng sản phẩm trong nước. Tỷ trọng của ba khu vực qua các năm như trên đã
thể hiện rất rõ nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. . Đây là sự chuyển dịch đúng hướng vì nước ta đang trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu theo 3 khu vực kinh tế, các số liệu động thái về
tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng sản phẩm trong nước còn cho thấy nội bộ từng khu
vực kinh tế cũng có sự chuyển dịch nhất định. Trong nội bộ khu vực nông lâm nghiệp
và thuỷ sản sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng
tỷ trọng của ngành thuỷ sản. Tỷ trọng của ngành lâm nghiệp tương đối nhỏ do vậy ít
ảnh hưởng. Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tức là
giữa trồng trọt và chăn nuôi thì chưa thật rõ nét. Ngành trồng trọt vẫn chiếm trên 80%;
ngành chăn nuôi hàng năm chỉ tạo được gần 20% giá trị gia tăng của ngành nông
nghiệp do chăn nuôi ở nước ta quy mô nhỏ, phân tán, khó chủ động trong phòng
chống dịch bệnh.
Khu vực công nghiệp và xây dựng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp chế biến và tỷ trọng của ngành xây dựng. Ngành điện, ga và nước giữ được
tỷ trọng ổn định. Tỷ trọng ngành công nghiệp khai thác có xu hướng giảm. Tuy
nhiên, tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng không nhiều do các ngành công nghiệp
gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong sản xuất công nghiệp. Giá trị
sản xuất công nghiệp những năm vừa qua tăng trưởng nhanh nhưng chủ yếu là tăng
ở các ngành may mặc, giầy da, lắp ráp ô tô, lắp ráp ti vi, lắp ráp xe máy có giá trị
tăng thêm chỉ chiếm 10-15% giá trị sản xuất.
Khu vực dịch vụ nhìn chung không tăng được tỷ trọng trong tổng sản
phẩm trong nước, chủ yếu là do những ngành dịch vụ có khả năng tạo nhiều giá
trị tăng thêm vẫn chưa được đầu tư thích đáng, nhất là đầu tư chiều sâu cho các
ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cảng biển, dịch vụ hàng không,
dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, trong những năm vừa
qua cũng đã có một số ngành tăng trưởng tương đối khá như: thương mại; khách
sạn, nhà hàng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng.
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, trong 5 năm 2001-2005 cơ cấu
thành phần kinh tế cũng có sự chuyển dịch theo hướng giữ vững vai trò chủ đạo
của kinh tế Nhà nước và tăng đóng góp của các khu vực kinh tế ngoài Nhà nước.
Kinh tế Nhà nước tăng bình quân hàng năm 7,46%, gần bằng mức tăng trưởng
chung của nền kinh tế, do kết quả sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, giảm
đáng kể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ. Do vậy, trong 5 năm
2001-2005, kinh tế Nhà nước vẫn giữ được tỷ trọng tương đổi ổn định, chiếm
khoảng 38-39% tổng sản phẩm trong nước.
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thường chiếm
46-47% tổng sản phẩm trong nước và những năm gần đây có xu hướng giảm do
khu vực kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng 2/3 khu vực kinh tế ngoài Nhà nước nhưng
chỉ tăng bình quân hàng năm 6,26%. Trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thì
kinh tế tư nhân tuy có tốc độ tăng cao, nhưng mới chiếm tỷ trọng trên 8% tổng sản
phẩm trong nước nên không bù được cho sự tăng trưởng thấp của khu vực cá thể
và tập thể.
Nếu nhìn một cách khái quát thì trong những năm vừa qua cơ cấu kinh tế của
nước ta tuy đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ và tích cực, nhưng vẫn chưa ra khỏi
cơ cấu ngành truyền thống với tỷ trọng tương đối cao của khu vực sản xuất vật chất
nói chung và của khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản nói riêng. Trong chiến lược
đổi mới cơ cấu ngành, tuy chúng ta không coi nhẹ khu vực dịch vụ, nhưng chưa tập
trung đầu tư thích đáng trí lực, vật lực và tài lực cho những ngành dịch vụ có khả
năng tạo ra bước đột phá nên tốc độ tăng của khu vực này thường thấp hơn tốc độ
tăng chung của toàn bộ nền kinh tế (Năm 2001 tổng sản phẩm trong nước tăng
6,89% nhưng giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ chỉ tăng 6,10%. Hai chỉ tiêu tương
ứng của năm 2002 là 7,08% và 6,54%; năm 2003 là 7,34% và 6,45%; năm 2004 là
7,79% và 7,26%; ước tính năm 2005 là 8,43% và 8,48%).


Sự phân tích trên cho thấy, trong những năm tới chúng ta có thể và cần phải
đưa ra chiến lược và các giải pháp hợp lý, đồng bộ thúc đẩy khu vực dịch vụ phát
triển, trước hết là khai thác lợi thế so sánh phát triển dịch vụ tài chính, dịch vụ cảng
biển, dịch vụ hàng không, dịch vụ bưu chính viễn thông và dịch vụ du lịch. Sự phát
triển của các ngành dịch vụ này không chỉ làm cho khu vực dịch vụ tăng trưởng
nhanh mà còn tác động tích cực đến sự phát triển của khu vực nông lâm nghiệp và
thủy sản cũng như khu vực công nghiệp và xây dựng.
Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế Việt Nam đã hình thành nên các vùng kinh tế trọng
điểm giữa vai trò đầu tàu của nền kinh tế cả nước. Đó là những vùng có lợi thế về
cơ sở hạ tầng phát triển, nguồn lao động tập trung và có trình độ cao như vùng
Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thời kỳ 1996-2000, vùng Đồng
bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, hai vùng kinh tế trọng điểm của cả nước
chiếm 53,5% vốn đầu tư phát triển, các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm 7,6%, vùng
Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 14%. Các tỷ lệ này tương ứng với năm 2001 là
52,75%; 7,79%; 14,9% và năm 2002 là 51,74%; 8,02%; 15,13%.
bên cạnh những vùng kinh tế trọng điểm, đối với những vùng miền còn lạc hậu,
điều kiện kinh tế xã hội cơ sở hạ tầng kém, Nhà nước ta cũng đã có những khoản
mục đầu tư nhất định và tăng dần tỉ trọng theo các năm nhằm cải thiện tình xóa đói
giảm nghèo. Năm 2001 dự kiến ngân sách nhà nước đầu tư từ 4000 đến 4.500 tỉ
đồng, tăng 16% so với năm 2000; trong đó, Chương trình đầu tư phát triển kinh tế
xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa sẽ được đầu tư
khoảng 1.300 tỉ đồng, tăng 73% so với năm 2000. Dự kiến kinh phí cho chương
trình xóa đói giảm nghèo sẽ có khoảng 1.500 tỉ đồng từ vốn ngân sách Nhà nước,
huy động từ các tổ chức quốc tế từ 500 đến 600 tỉ đồng, vốn tín dụng từ 2.000 đến
2.500 tỉ đồng. Số kinh phí trên sẽ được tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng kết
cấu hạ tầng kết hợp với các chương trình khuyến khích sản xuất như trồng trọt,
chăn nuôi, thủy sản.

2.3Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận
lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng
của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng
trưởng của nền kinh tế Việt Nam
Một trong những vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư trong nước là ổn định và
cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô; tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài. Điều đó thể hiện rất rõ trong các Dự án phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng của
đất nước.Sau hơn 20 năm đổi mới, từ một hệ thống kết cấu hạ tầng yếu kém cả về
số lượng và chất lượng, đến nay kết cấu hạ tầng đã đạt được kết quả đáng kể trong
các lĩnh vực như sau:

- Đường bộ có khoảng : 310.000 Km
Trong đó: Quốc lộ có khoảng : 21.000 Km
- Đường sắt : 3.200 Km
- Năng lực thông qua cảng thuỷ nội địa : 96 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng biển khoảng : 187 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng hàng không : 63 Triệu tấn
khoảng
- Công suất thiết kế hệ thống cấp nước đô : 5,5 Triệu
thị khoảng m3/ngày
- Công suất thực tế hệ thống cấp nước đô thị : 4,5 Triệu
khoảng m3/ngày
- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn đô thị khoảng : 80%
- Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại hai đô thị đặc
biệt của vận tải hành khách công cộng : 20%
khoảng


Để có thể đạt được những kết quả như trên thì trong thời gian qua chúng ta đã
huy động một nguồn vốn to lớn để xây dựng hạ tần kỹ thuật: 13.000 tỷ đồng 126
dự án cầu đường; 4.366 tỷ đồng để đầu tư 14 dự án trong lĩnh vực hàng không;
42.000 tỷ đồng để đầu tư 26 nhà máy phát điện; 7.800 tỷ đồng để thực hiện 116 dự
án cấp nước; 2.920 tỷ đồng để đầu tư 80 dự án xây dựng hạ tầng kinh tế cửa khẩu,
hạ tầng khu công nghiệp. Bước đầu đã đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế-xã hội.
Đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ vận tải hàng năm bình quân 9-11%,
cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và phù hợp với quy luật. Năm 2008 khối
lượng luân chuyển hành khách đạt 77,4 tỷ hành khách/năm, luân chuyển hàng hoá
đạt 160,3 tỷ tấn-km, cấp nước đô thị 4,5 triệu m3/ngày cho khoảng 80% dân số đô
thị, tỷ lệ chất thải rắn đô thị thu gom đạt gần 80% là những con số đầy ấn tượng.
Như vậy nhờ có sự đầu tư một cách đồng bộ của nhà nước cũng như của các
thành phần kinh tế khác mà việc phát triển kết cấu hạ tầng đã đạt được những
thành tựu sau:
Phát triển tương đối đồng bộ giữa các vùng, miền; xây dựng các công trình quy
mô lớn, hiện đại kết hợp với chương trình xoá đói, giảm nghèo trong cả nước. Đã
có chuyển biến mạnh trong đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đô thị nhằm giảm ách
tắc, tai nạn giao thông, tăng thị phần vận tải công cộng tại các đô thị lớn, chất
lượng kết cấu hạ tầng nâng cao theo xu hướng hội nhập, hướng tới tiêu chuẩn quốc
tế, phát triển đồng bộ. Ngành giao thông vận tải đã đưa vào đúng cấp hệ thống giao
thông quốc gia và để hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá-hiện đại hoá vào năm
2020 đã quy hoạch và từng bước xây dựng hệ thống đường cao tốc, đường cấp cao
trong đường bộ, đường sắt; xây dựng các cảng biển quy mô lớn, cảng nước sâu,
cảng trung chuyển quốc tế, đổi mới đội tàu nâng cao chất lượng dịch vụ để tăng thị
phần vận tải, nhất là thị phần vận tải quốc tế; hệ thống cảng hàng không được nâng
cấp hàng loạt cảng hàng không nội địa, bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế, thiết bị bay
đêm để tăng tần suất sử dụng phương tiện bay, cải thiện điều kiện cạnh tranh trong
điều kiện nguồn lực có hạn, xây dựng mới các cảng hàng không quốc tế, mở thêm
nhiều tuyến bay quốc tế, nội địa tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển
đồng bộ; kết cấu hạ tầng đường sắt được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao chất
lượng và tốc độ chạy tàu an toàn. Chất lượng thiết bị trong toàn ngành cũng được
đổi mới, nhất là trong ngành hàng không và vận tải đường bộ. Đã có những hệ
thống cấp nước quy mô lớn (1,2 triệu m3/ngày) sử dụng nguồn nước mặt cung cấp
nước sạch theo vùng, không hạn chế về giới hạn địa lý nhằm sử dụng có hiệu quả
tài nguyên nước; các dự án thoát nước-vệ sinh môi trường bước đầu đã phát huy
hiệu quả, giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường đô thị, nâng cao chất lượng đời
sống nhân dân.
Có chuyển biến trong huy động các nguồn lực
cho đầu tư kết cấu hạ tầng trên cơ sở Nhà nước tạo
môi trường pháp lý, khuyến khích đầu tư từ các
thành phần kinh tế tư nhân và đang tạo ra sức hút từ
nguồn FDI trong các dự án kết cấu hạ tầng quy mô
lớn, trước hết là cảng biển, cảng hàng không quốc
tế.
Một khu đô thị mới tại Hà Nội
Ngoài những công trình đã hoàn thành và đưa vào
sử dụng với những năng lực tăng thêm thì trong những năm 2001-2005 còn khởi
công hàng trăm công trình nhóm A và hàng nghìn công trình nhóm B và nhóm C,
trong đó có những công trình quan trọng như cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh
Tuy, cầu Cần Thơ, đường Hồ Chí Minh, nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy thủy
điện Sơn La... Trong số này, nhiều công trình sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng
trong những năm tới, chắc chắn sẽ phát huy tác dụng tích cực đối với việc thực hiện
kết hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006-2010 và những năm tiếp theo. Đồng thời
theo cam kết viện trợ thì Chính phủ Nhật Bản cũng đã đồng ý hỗ trợ Việt Nam đầu
tư xây dựng 2 dự án lớn vào hạ tầng kỹ thuật, đó là đường sắt cao tốc và đường bộ
cao tốc Bắc - Nam.
Môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam bắt đầu được hoàn thiện và
được cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu
tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực nhờ đó sau 20 năm đổi mới
Việt Nam đã thực hiện cấp giấy phép đầu tư cho khoảng 8.000 dự án có vốn đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký lên đến 72 tỷ USD,
trong đó số vốn thực hiện đầu tư chiếm tỷ lệ khoảng 50%.Vì vậy có thể nói rằng
Việt Nam là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong những năm sắp
tới, mặc dù kinh tế thế giới và Việt Nam đang đứng trước những biến động phức
tạp.


2.4 Nguồn vốn trong nước giúp Nhà nước ổn định nền kinh tế vĩ mô đồng thời
đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho
tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam.
Có thể nói trong điều kiện kinh tế hiện nay thì vài trò của Nhà nước trong
việc điều tiết nền kinh tế ở vĩ mô là cực kỳ quan trọng.Trong số các công cụ có thể
điều tiết hiệu quả biến động của nền kinh tế thì sử dụng hợp lí Ngân sách Nhà nước
được đặt ra một cách cấp bách. Việc sử dụng ngân sách nhà nước hiệu quả là một
trong những công cụ quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và bình ổn giá cả,
đồng thời dung ngân sách có thể kích cầu nền kinh tế giúp nền kinh tế khôi phục
nhanh hơn sau thời kỳ khủng hoảng, Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn
đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác
động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Ở Việt Nam theo tính toán của Bộ Tài chính, tổng thu cân đối NSNN năm
2008 ước tăng 26,3% so với 2007 và vượt 23,5% dự toán cả năm; cơ cấu thu có
tiến bộ, thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng 8,3%, thu từ dầu thô tăng 49,4%, thu
cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 41% so với dự toán.
Bên cạnh đó, tổng chi cân đối NSNN ước tính tăng 22,3% so với năm trước
và vượt 18,9% dự toán năm. Bội chi NSNN trong phạm vi 5% GDP; dư nợ Chính
phủ, dư nợ nước ngoài của Quốc gia trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc
gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Trên cơ sở đó, dự toán thu NSNN năm 2009 là 389.300 tỷ đồng, bằng 21,5%
GDP. Trong đó, thu nội địa (không kể dầu thô) tăng 13,7% , không kể thu tiền sử
dụng đất theo đăng ký của địa phương tăng 15,8% so ước thực hiện năm 2008. Dự
toán chi NSNN là 491.300 tỷ đồng, tăng 92.320 tỷ đồng (tăng 23,1%) so với dự
toán năm 2008.
Chi ngân sách nhà nước theo hướng thắt chặt đã góp phần thực hiện mục
tiêu kiềm chế lạm phát, tập trung nguồn lực để bảo đảm an sinh xã hội với thực
hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh, phát triển sự
nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường.
Cùng với đó, sự gia tăng về quy mô của nguồn vốn trong nước đã thúc đẩy
quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước diễn ra. Theo báo cáo gần đây
của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (tháng 5-2006),
trong 15 năm qua, nước ta đã thực hiện cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà
nước, trong đó có 80% số doanh nghiệp mới thực hiện cổ phần hóa từ năm 2001
đến nay. Từ số liệu trong Báo cáo này, bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ ph
Tính đến ngày 27-10-2005, cả nước đã cổ phần hóa được 1.960 doanh nghiệp nhà
nước, hầu hết đều hoạt động có hiệu quả, vốn điều lệ và doanh thu tăng, thu nhập
của người lao động được cải thiện rõ rệt. Riêng 10 tháng của năm 2005, đã cổ phần
hóa được 400 doanh nghiệp nhà nước. Tại Hà Nội, bình quân của 86 doanh nghiệp
đã cổ phần hóa tăng doanh thu tới 1,5 lần. Vốn nhà nước được bảo toàn và tiếp tục
tăng. Doanh nghiệp “tự thân vận động” tốt hơn khi còn được bảo lãnh vay vốn của
Nhà nước, xóa bỏ được tình trạng giãn nợ và khoanh nợ cho Nhà nước, tiến dần tới
sự liên doanh giữa ngân hàng và doanh nghiệp cùng có lợi và cùng chia sẻ rủi ro
như thông lệ của kinh tế thị trường. Điều đáng lưu ý là, có rất ít doanh nghiệp cổ
phần kinh doanh có hiệu quả mà không hề có cổ đông là Nhà nước. Thực tế cho
thấy những doanh nghiệp mà Nhà nước định bán hết 100% cổ phần, đều rất khó
thực hiện cổ phần hóa. sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động,
huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà
nước, tạo thêm công ăn việc làm. Chỉ có 10% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa
hoạt động kém hiệu quả . Như vậy, nguồn vốn trong nước đã có tác động thúc đẩy
tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước diễn ra đồng bộ, nhanh chóng,
hiệu quả hơn; và chính việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước này cũng có
tác động tích cực ngược trớ lại làm gia tăng về số lượng cũng như chất lượng của
việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước.
2.5 Nguồn vốn trong nước phát huy vai trò giúp Việt Nam hạn chế tiêu ít phụ
thuộc vào nguồn vốn từ nước ngoài do đó làm giảm ảnh hưởng tiêu cực tới nền
kinh tế Việt Nam.
Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, thế giới lại đứng
trước một cuộc khủng hoảng tài chính mà mức độ nghiêm trọng và khả năng tàn
phá lớn hơn gấp nhiều lần. Xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ, do
những chính sách tín dụng dễ dãi của các ngân hàng và tổ chức đầu tư bất động
sản, thông qua mối quan hệ kinh doanh chằng chịt của hệ thống ngân hàng thời đại
toàn cầu hoá, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã nhanh chóng lan rộng ra
nhiều lĩnh vực và khu vực trên toàn thế giới.xem xét một cách sâu xa cuộc khủng
hoảng đó thì một nguyên nhân rất quan trọng là “Chủ quyền kinh tế của các quốc
gia, nhất là những nước có nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài và nội lực kinh tế
thấp sẽ bị ảnh hưởng khi phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc của các tổ
chức kinh tế quốc tế.Ở Việt Nam tăng trưởng GDP năm 2008 đạt mức 6,7%. Lạm
phát hai con số ,ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân,ngoài ra dấu hiệu
thiểu phát đã bắt đầu xuất hiện ở những tháng cuối năm 2008. Kim ngạch xuất
khẩu, đầu tư, thu ngân sách, thị trường chứng khoán, du lịch, vận tải, dịch vụ và
sức mua đều giảm sút so với những tháng gần đây. Chính vì vậy, Việt Nam cần đề
cao vấn đề sử dụng và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong nước, dựa vào
nhân tố nội lực để làm chủ sự phát triển của nền kinh tế, kiềm chế sự gia tăng quá
mức và lạm dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần ổn định nền kinh tế,
chống những cú sốc kinh tế từ bên ngoài.
II/: Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài
trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
Trước đổi mới (năm 1986) Việt Nam gần như không thu hút được vốn nước
ngoài bởi vì chúng ta không mở cửa để hợp tác với các nước mà chủ yếu là nhận
viện trợ từ Liên Xô ,Trung Quốc và các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa.tuy nhiên
kể từ khi mở cửa và nhất là khi có luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29
tháng 12 năm 1987 thì đã tạo ra bước đột phá trong việc thu hút và sử dụng vốn
đầu tư từ nước ngoài.
1-các nguồn huy động vốn đầu tư nước ngoài:
1.1 Vốn FDI
-Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng FDI vào Việt Nam còn nhỏ. Đến
năm 1991, ĐTNN đạt được 214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD
trong đó tổng vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ. Tuy nhiên, con
số FDI đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với tổng vốn
đăng ký lên đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ. Sự tăng mạnh mẽ của FDI này là do nhiều nguyên
nhân. Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang
trong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác.
Thêm vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loại các yếu tố
tích cực khác như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và tỷ lệ biết chữ
cao. Bên cạnh những yếu tố bên trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vào
việc gia tăng của FDI. Thứ nhất là làn sóng vốn chảy dồn về các thị trường mới nổi
trong những năm 80 và đầu những năm 90. Trong các thị trường này, Đông Nam Á
là một điểm chính nhận FDI. Năm 1990, các nước Đông Nam Á thu hút 36% tổng
dòng FDI đến các nước đang phát triển. Thứ hai là dòng vốn nước ngoài vào các
nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi mà họ cho rằng đang có
các cơ hội kinh doanh mới và thu lợi nhuận. Thứ ba, là các nước mạnh trong vùng
(cụ thể là Mã-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất khẩu vốn. Là một
nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có được lợi thế từ
các yếu tố này[1].
Trong khoảng thời gian 1991-1996,. Là giai đoạn bùng nổ ĐTNN tại VN
và được coi là làn sóng ĐTNN đầu tiên vào Việt Nam với 1.781 dự án được cấp
phép với tổng vốn cấp mới là 28.3 tỷ USD. FDI đóng một vai trò quan trọng trong
việc tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã có những
đóng góp cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Trong giai đoạn 1997-1999, Là giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á
(năm 1997), đã làm giảm ĐTNN tại VN. Thời kỳ đó chỉ đạt được 961 dự án được
cấp phép với tổng vốn 13 tỷ USD. Có nhiều dự án được cấp phép trong những năm
trước phải tạm ngưng triển khai hoạt động.Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt
dốc của nguồn FDI đăng ký, cụ thể là 49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm
1999. Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều từ khu vực châu Á và phải đối
mặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình. Để bảo đảm cho hoạt động
kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải huỷ hoặc hoãn các kế
hoạch mở rộng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng cũng buộc các nhà đầu tư phải
sửa đổi thấp đi chỉ tiêu mở rộng sang châu Á. Cuộc khủng hoảng cũng đã dẫn đến
việc đồng tiền của các nước Đông Nam Á bị mất giá. Việt Nam, do vậy, cũng trở
nên kém hấp dẫn đối với những dự án tập trung vào xuất khẩu. Hơn nữa, các nhà
đầu tư nước ngoài cũng nhận ra rằng các dự kiến về nhu cầu của thị trường đã bị
thổi phồng. Các bức rào cản cho việc kinh doanh cũng trở nên rõ ràng hơn.
Giai đoạn 2000-2007:
* Tổng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) qua các năm


Năm 00 01 02 03 04 05 06 07
Tỷ USD 2,01 2,59 1,82 1,95 4,2 5,8 10,2 20,3
Thu hút đầu tư có dấu hiệu phục hồi trở lại nhưng còn chậm. Năm 2000 và
2001 đầu tư nước ngoài tại VN tăng nhẹ, năm 2002 & 2003 giảm nhẹ, năm 2004 &
2005 có xu hướng tăng nhanh.
- Giai đọan 2006-2007: Là giai đoạn đặc biệt. Dòng vốn ĐTNN tăng rất
nhanh. Năm 2006, ĐTNN đạt 10,2 tỷ tăng 75,4% so với năm 2005.
- Tính đến cuối năm 2007, có hơn 8.590 dự án ĐTNN còn hiệu lực hoạt động
tại VN với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khỏang 83,1 tỷ USD. Năm 2007 đạt mức
kỷ lục trong 20 năm qua với 20,3 tỷ USD tăng gấp đôi so với năm 2006. Đây được
xem là làn sóng ĐTNN lớn thứ 2 đổ vào VN từ trước đến nay.
- Năm 2008 tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký của cả nước năm 2008 đạt
64,011 tỉ USD, tăng 199,9% so với năm trước, cao nhất từ trước đến nay. Tổng số
dự án được cấp mới của cả năm là 1.171 dự án. Vốn giải ngân đạt 11,5 tỉ USD,
tăng 43,2% so với năm trước. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng thu hút 572 dự án
với 32,6 tỉ USD, dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỉ USD, số dự án
và vốn đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm - ngư rất nhỏ. Malaysia trở thành nhà đầu tư
đứng đầu tại VN với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỉ USD. Giá trị xuất khẩu của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 24,5 tỉ USD, chiếm khoảng 40%
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đây cũng là khu vực có kim ngạch nhập khẩu
rất lớn (28,5 tỉ USD). Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định
chính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của
các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạo
môi trường đầu tư - kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phù
hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.
Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều
biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi
cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh
hiệu quả, phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.
1.2 nguồn vốn ODA:
Trong thời gian qua ,việc thu hút ODA phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa ở Việt Nam đã diễ ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều
thuận lợi .Kể từ năm 1993 đến hết 2006 ,Việt Nam đã tổ chức được 14 hội nghị
nhóm tư vấn các nhà tài trợ với tổng mức vốn cam kết hơn 36 tỉ usd.Với quy mô
tài trợ khác nhau ,hiện nay Việt Nam có trên 45 đối tác hợp tác phát triển song
phương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ đang hoạt động.
Trong tổng số vốn cam kết nói trên bao gồm cả viên trợ không hoàn lại
chiếm khoảng 15-20% và phần chủ yếu còn lại là vay ưu đãi .Nguồn vốn ODA này
đã được Chính Phủ Việt nam định hướng ưu tiên cho các lĩnh vực giao thông vận
tải ,phát triển hệ thống nguồn điện ,mạng lưới chuyể tải và phân phối điện ,phát
triển nông nghiệp và nông thôn gồm cả thủy lợi , thủy sản,lâm nghiệp kết hợp xóa
đói giảm nghèo ,cấp thoát nước và bảo vệ môi trường ,y tế giáo dục và đào tạo ..
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều và
hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa
phương1 đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Ngoài các nước là thành viên
của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ..
Trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự án ODA
ký kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,5 tỷ USD, trong đó có
nhiều dự án quy mô lớn như Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc, Dự án
phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, Dự án phát triển sinh kế
miền Trung, Chương trình cấp nước nông thôn, giao thông nông thôn và điện khí
hóa nông thôn, Chương trình thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều dự án
phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói, giảm nghèo khác
Năng lượng và Công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với các dự
án đã ký trong thời gian qua đạt trên 7,6 tỷ USD nhằm cải tạo, nâng cấp, phát triển
mới nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn2, cải tạo và phát triển
mạng truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tăng hàng
năm cho sản xuất và đời sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp và
khu vực nông thôn trên cả nước
Giao thông Vận tải và Bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA
lớn nhất với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD thời kỳ 1993-
2008. Nhờ nguồn vốn này, Việt Nam đã khôi phục và bước đầu phát triển các hệ
thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển và đường thủy
Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực
ưu tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương trình, dự án đã
ký đạt tổng số vốn khoảng 4,3 tỷ USD
BIỂU ĐỒ CAM KẾT, KÝ KẾT, GIẢI NGÂN TỪ 1993 - 2008



6000


5000


4000
D




Cam kết
Triệu US




3000 Ký kết
Giải ngân
2000


1000


0
1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008
Năm




Năm 2008 , tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy
thoái,song tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn
ra đầu tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD
(thấp hơn 1 chút so với năm 2007: 5,4 tỉ USD). Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ
USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2,176 tỉ USD).


BIỂU ĐỒ CƠ CẤU ODA THEO NGÀNH VÀ LĨNH VỰC
THỜI KỲ 1993-2008
13,11% 15,66%
3,32%
8,90%


21,78%
9,17%

28,06%


Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo
Năng lượng và công nghiệp
Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông
Cấp, thoát nước và phát triển đô thị
Y tế, giáo dục đào tạo
Môi trường, khoa học kỹ thuật
Các ngành khác


Vì vậy, có thể nói rằng ODA sẽ vẫn tiếp tục là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho
giai đoạn phát triển sắp tới của Việt Nam.
1.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế và từ thị trường
vốn quốc tế
Có thể nói đây là những nguồn huy động vốn tương đối mới mẻ tại Việt Nam
.Tuy nhiên hiên nay, Việt Nam đã được các ngân hàng quốc tế tạo điều kiện khá
thuận lợi trong việc vay vốn song phải chịu mức lãi suất tuơng đối cao cũng như sự
kiểm soát khắt khe của Ngân hàng ,ngoài ra nguồn vốn tín dụng này thường được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu cho xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn một bộ
phận có thể được dùng cho đầu tư phát triển .Bên cạnh nguồn vốn vay này thì việc
xây dựng các đề án phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp ra
nước ngoài cũng đã và đang được triển khai.đặc biệt năm 2005 ,chính phủ Việt
Nam phát hành đợt trái phiếu đầu tiên trên thị trường trái phiếu Hoa Kỳ với kết quả
là huy động được 750 triệu USD với mức lãi suất 7,125%.Điều này cho thấy chúng
ta có thể huy động được nhiều nguồn vốn cho mục tiêu phát triển của đất nước
.Việc phát hành này đưa lại cho chúng ta những thuận lơi:Cầu nối giữa thị trường
vốn trong nước với thị trường tài chính quốc tế. Việc phát hành trái phiếu quốc tế
mở ra một kênh huy động vốn có khả năng đáp ứng các dự án có quy mô lớn, thời
gian dài và nguồn lực hầu như không hạn chế, tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường
vốn trong nước với thị trường vốn nước ngoài. trái phiếu quốc tế còn đóng vai trò
là công cụ để thực hiện chính sách quản lý nợ quốc gia.Tuy nhiên do đây là một
hình thức huy động vốn rất mới mẻ tại Việt Nam vì vậy đòi hỏi khi phát hành phải
lựa chọn loại trái phiếu phát hành ,thời gian đáo hạn,thị trường phát hành đồng
thời cần cân nhắc thận trọng giữa huy động vốn qua phát hành trái phiếu với các
hình thức huy động khác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này.
2.Thực trạng về vai trò của nguồn vốn nước ngoài đối với tăng trưởng và
phát triển kinh tế ở Việt Nam
2.1Về mặt kinh tế:
- ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu
cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế:
Đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ
trọng chiếm 13,1% vào năm 1990 đã tăng lên mức 32,3% trong năm 1995. Tỷ lệ
này đã giảm dần trong giai đoạn 1996-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính khu vực (năm 2000 chiếm 18,6%) và trong 5 năm 2001-2005 chiếm khoảng
16% tổng vốn đầu tư xã hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 16% (Theo Niên
giám Thống kê cơ cấu vốn đầu tư thực hiện của khu vực ĐTNN năm 2003 là 16%,
năm 2004 là 14,2%, năm 2005 là 14,9% và năm 2006 là 15,9%, ước năm 2007 đạt
trên 16%).


Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Từ năm
1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm
7,56%, trong đó: (i) 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công
nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); (ii) 5 năm 1996-2000: tăng
6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng
5,75%). Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp hơn 2 lần năm
1990: (iii) 5 năm 2001-2005: tốc độ tăng GDP đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%;
công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%; (iv) Năm 2006 đạt 8,17%
(nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%, dịch vụ tăng 8,29%
và (iv) Năm 2007 đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng
10,6%, dịch vụ tăng 8,6%.
- ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng
cao năng lực sản xuất công nghiệp:
Trong 20 năm qua ĐTNN đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng
của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước
trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các ngành
công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công trình lớn đã
hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công trình trọng
điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến
độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ
xuất khẩu...
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn
mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ
trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm (từ
23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2005 và năm 2006).
Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong
5 năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ
thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và 2005.
Đặc biệt, một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc..) tỷ lệ này đạt
đến 65-70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn.
ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của
nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy,
thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da
giày, dệt may… Hiện ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công
nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng
điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi,
25% hàng may mặc.
ĐTNN đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem
lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ.


- ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam,
phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò
và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy... Nhất
là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất
linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công
nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v)
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các
thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết
các doanh nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết
nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
Trong nông-lâm-ngư nghiệp, ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm
lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.
- Tác động lan tỏa của ĐTNN đến các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế:
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số lượng
các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác
động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa
doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng
lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Sự lan tỏa này
có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang
giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN
cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng
trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- ĐTNN đóng góp đáng kể vào NSNN và các cân đối vĩ mô:
Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam,
mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng.
Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân
sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân
sách trong khối doanh nghiệp ĐTNN đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân
24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã nộp ngân
sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-
2005.
ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân
đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc
chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc
tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu...


- ĐTNN góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế
quốc tế:
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh,
cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực
ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước,
chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm
31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55%
trong các năm 2005, 2006 và 2007.
ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu
khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng
may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều
sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới.
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách
sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng
đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu
tại chỗ.
Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước
hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
2.2 Về mặt xã hội
- ĐTNN góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao
động, cải thiện nguồn nhân lực:
Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,2 triệu
lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác theo kết quả điều tra của
WB cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ
trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện
đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người tăng lên
hàng năm. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân
kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ
thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt,
học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam cũng đã thúc
đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức
quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên
thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc
tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài
trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình
công nghệ hiện đại.


- ĐTNN góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế
với khu vực và thế giới:
ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa
Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa
phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt
Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng
đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định
thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo
hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước
ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.
Về mặt môi trường:
Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế trung ương), đa
số các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có
77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn
tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam). Đáng chú ý là 60% doanh nghiệp ĐTNN trong
lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn (so
sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước). Không có doanh nghiệp
ĐTNN nào được điều tra vi phạm tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
III.Thực trạng mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước
ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Đối với những nước đang phát triển và chậm phát triển thì vấn đề thiếu vốn là 1
vân đề nên giải. Không một quốc gia nào treen con đường phát triển kinh tế mà chỉ
dựa vào nguồn vốn thu hút từ bên ngoài va cũng ko có một quốc gia nào chỉ dựa
vào vốn nội bộ mà không tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài nhất là trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Vì thế 2 nguồn vốn này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau.
Trước hết ta càn xem xét tác động nguồn vốn trong nước đối với nguồn vốn nước
ngoài. Nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định trong phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Các doanh nghiệp trong nước có lơn mạnh mới có đủ sức hợp tác
làm ăn vơi đối tác nước ngoài. Hơn nữa nguồn vốn trong nước (đặc biệt là nguồn
vốn NSNN) được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng càng hiện đại,
càng đồng bộ thì hoạt động đầu tư càng thuận lợi và ki đó, dòng vốn tư nước ngoài
chảy vào càng nhiều.
Cùng với sự khai thông của nguồn vốn trong nước, nguồn vốn đầu tư nước ngoài
cũng liên tục tăng đóng góp phần đáng kể trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1. Mối quan hệ kết hợp giữa 2 nguồn vốn làm tăng tổng vốn đầu tư toàn
xã hội
Mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
kinh tế ở Việt Nam thể hiện trước tiên ở sự kết hợp giữa nguồn vốn trong nước và
nguồn vốn nước ngoài làm tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Điều đó thể hiện rất
rõ trong các số liệu thực tế về tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 1995 –
2007:
TỔNG VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1995-2007
Đơn vị: Tỷ đồng
Tổng số Kinh tế Kinh tế ngoài Khu vực có vốn
Nhà nước nhà nước đầu tư nước ngoài
1995 72447 30447 20000 22000
1996 87394 42894 21800 22700
1997 108370 53570 24500 30300
1998 117134 6503 2780 24300
1999 131171 76958 31542 22671
2000 151183 89417 34594 27172
2001 170496 101973 38512 30011
2002 200145 114738 50612 34795
2003 239246 126558 74388 38300
2004 290927 139831 109754 41342
2005 343135 161635 130398 51102
2006 404712 185102 154006 65604
2007 521700 208100 184300 129300
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Năm 1995, tổng nguồn vốn toàn xã hội là 72.447 tỷ đồng, trong đó vốn trong
nước chiếm 50.447 tỷ đồng, vốn nước ngoài chiếm 22.000 tỷ đồng. Theo thời gian,
từ năm 1995 đến 2007, cùng với sự gia tăng vượt bậc của nguồn vốn đầu tư trong
nước (tăng 577% lên tới 392400 tỷ đồng) lẫn nguồn vốn đầu tư nước ngoài (tăng
487,7% lên tới 129300 tỷ đồng) thì tổng nguồn vốn toàn xã hội đã tăng lên 521.700
tỷ đồng (tăng 620%). Chúng ta có thể nhìn thấy điều đó rất rõ qua xu thế đi lên khá
dốc của đồ thị biểu diễn sự gia tăng tông vốn đầu tư toàn xã hội. Đặc biệt trong
những năm gần đây, nguồn vốn nước ngoài đã có sự bứt phá khá mạnh mẽ, gia
tăng liên tục với tốc độ tăng cao, quy mô lớn, bắt đầu xuất hiện những làn sóng
FDI vào Việt Nam (2007) càng làm cho tiềm lực tổng vốn đầu tư toàn xã hội Việt
Nam thêm lớn mạnh.
Như đã nói khá chi tiết trong phần lí thuyết về mối quan hệ giữa nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn nước ngoài, chính việc gia tăng về số lượng của tổng
nguồn vốn đầu tư toàn xã hội do sự gia tăng đơn của 2 nguồn vốn, tính một cách
hợp lí chúng ta sẽ có phần đầu tư lớn hơn dành cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế


Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1994-2004


Năm Tăng trưởng kinh tế Vốn đầu Lao Năng suất nhân tố tổng hợp
(%) tư động TFP
1994 100 28.8 23.1 48.1
1995 100 28.4 20.6 51
1996 100 34.4 16.5 49.1
1997 100 42.5 18.6 38.9
1998 100 56.3 26 17.7
1999 100 68.8 47 4.2
2000 100 48.5 21.5 30
2001 100 49.3 26.9 23.8
2002 100 48.7 27.3 24
2003 100 49.6 27.1 23.3
2004 100 47.2 28.3 24.5


Nguồn: Từ Quang Phương và tập thể tác giả bộ môn kinh tế đầu tư
Đề tài khoa học cấp bộ” tác động về việc sử dụng vốn đầu tư tới chất lượng tăng
trưởng kinh tế Việt Nam: thực trạng và giải pháp”-2005


Theo bảng số liệu và nhìn vào đồ thị ta có thể thấy rõ rằng: chất lượng tăng
trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ 1994-2004 chủ yếu theo bề rộng trong
đó nhân tố vốn auầ tư chiếm vai trò quan trọng chủ yếu tác động đến tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Vậy là sự gia tăng tổng số vốn đầu tư toàn xã hội kéo theo
bước tăng trưởng và phát triển đáng kể của nền kinh tế Việt Nam
2.Sự kết hợp giữa 2 nguồn vốn góp phần tăng trưởng kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác
động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Tổng sản phẩm trong nước trong những
năm 1992-1997 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8-9% đã đột ngột giảm
xuống chỉ còn tăng 5,8% vào năm 1998 và tăng 4,8% vào năm 1999. Nhưng từ
năm 2000 đến nay, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ
tăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước (Năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng
6,89%; năm 2002 tăng 7,08%; năm 2003 tăng 7,34%; năm 2004 tăng 7,79% và
năm 2005 ước tính tăng 8,43%). Tính ra trong 5 năm 2001-2005, bình quân mỗi
năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,51%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2005 gấp
1,44 lần năm 2000.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong 5 năm
2001-2005 đạt 7,51% không những cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân 6,95% mỗi
năm trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế có
tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới (Theo số liệu của Ngân hàng Thế
giới và ESCAP thì tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong
những năm 2000-2004 của Trung Quốc là 8,5%; Hàn Quốc 5,5%; Thái Lan và
Ma-lai-xi-a 5,0%; In-đô-nê-xi-a 4,6%; Phi-li-pin 4,5%; Xin-ga-po 4,1%).


Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
5 năm 2001-2005
%
2001 2002 2003 2004 Ước BQ
tính mỗi
2005 năm
2001-
2005
Tổng số 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
- Nông lâm nghiệp và 3,62 3,83
thuỷ sản 2,98 4,17 4,36 4,04
- Công nghiệp và xây 10,39 9,48 10,48 10,22 10,65 10,24
dựng
- Dịch vụ 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 6,96


Sở dĩ tổng sản phẩm trong nước đạt được tốc độ tăng trưởng như trên là do hầu
hết các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đều có mức tăng trưởng khá
cao. Ước tính năm 2005 so với năm 2000, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ
sản tăng 30% với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 5,42%, trong đó nông nghiệp tăng
4,11%/năm, lâm nghiệp tăng 1,37%/năm, thuỷ sản tăng 12,12%/năm; giá trị sản xuất
công nghiệp gấp 2,1 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,02%, trong đó công nghiệp
Nhà nước gấp 1,73 lần, bình quân mỗi năm tăng 11,53%; công nghiệp ngoài Nhà
nước gấp 2,69 lần, bình quân mỗi năm tăng 21,91%; công nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài gấp 2,17 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,8%; tổng mức bán lẻ
hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế gấp 1,96 lần; tổng mức lưu
chuyển hàng hoá ngoại thương gấp 2,3 lần, bình quân mỗi năm tăng 18,18%, trong
đó xuất khẩu gấp 2,24 lần, bình quân mỗi năm tăng 17,5% nhập khẩu gấp gần 2,36
lần, bình quân mỗi năm tăng 18,58%.




Tốc độ tăng của một số ngành
và một số lĩnh vực kinh tế 2001-2005


Năm Tốc độ
2005 tăng
so bình
với quân
năm mỗi
2000 năm
(Lần) trong 5
năm
2001-
2005
(%)
- Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1,44 7,51
1994
- Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản 1,32 5,42
theo giá so sánh 1994
- Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so 2,10 16,02
sánh 1994
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch 1,96 14,41
vụ theo giá thực tế
- Tổng mức lưu chuyển hàng hoá ngoại 2,30 18,18
thương theo giá thực tế


Trong 5 năm 2001-2005, kinh tế nước ta không những tăng trưởng tương đối
cao mà cơ cấu kinh tế còn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: (1) Nông lâm nghiệp và thuỷ
sản; (2) Công nghiệp và xây dựng; (3) Dịch vụ, thì tỷ trọng giá trị tăng thêm theo
giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xây
dựng đã tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49% năm 2002;
39,47% năm 2003; 40,21% năm 2004 và năm 2005 ước tính chiếm 41,04%. Khu
vực nông lâm nghiệp và thủy sản tuy đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 5,42% về
giá trị sản xuất và 3,83% về giá trị tăng thêm, nhưng tỷ trọng trong tổng sản phẩm
trong nước đã giảm từ 24,53% .Năm 2000 xuống 23,24% năm 2001; 23,03%
năm 2003; 21,81% năm 2004 và ước tính năm 2005 chỉ còn 20,89%. Khu vực dịch
vụ vẫn duy trì được tỷ trọng chiếm trên dưới 38% tổng sản phẩm trong nước. Tỷ
trọng của ba khu vực qua các năm như trên đã thể hiện rất rõ nền kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải giữ
vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Yêu cầu có tính nguyên tắc này đã
được bảo đảm trong suốt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế những năm vừa qua. Mặc
dù trong những năm 2001-2005, số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm đáng kể
do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của khu vực kinh
tế Nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước vẫn duy trì ở mức trên 38% (Năm
2001 chiếm 38,40%, năm 2002 chiếm 38,38%; 2003 chiếm 39,08%; 2004 chiếm
39,10%; năm 2005 ước tính chiếm 38,42%). Kinh tế ngoài Nhà nước được khuyến
khích phát triển nên thường xuyên tạo ra 46-47% tổng sản phẩm trong nước. Khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng. Năm 2000 khu vực
này tạo ra 13,28% tổng sản phẩm trong nước và đến năm 2005 đã tạo ra 15,89%.
Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước năm 2001-2005
theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
%
2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Kinh tế Nhà 38,40 38,38 39,08 39,10 38,42
nước
Kinh tế ngoài 47,84 47,86 46,45 45,77 45,69
Nhà nước
Kinh tế tập 8,06 7,99 7,49 7,09 6,83
thể
Kinh tế tư 7,94 8,30 8,23 8,49 8,91
nhân
Kinh tế cá thể 31,84 31,57 30,73 30,19 29,95
Kinh tế có vốn 13,76 13,76 14,47 15,13 15,89
ĐTNN


3.Sự kết hợp giữa 2 nguồn vốn tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế-xã
hội
Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và
giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài
sản lưu động, tài sản trí tuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực; đồng
thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm
nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa
các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác vào cuộc sống.
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển như vậy nên
trong những năm vừa qua đã có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn
nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn cho đầu tư phát
triển. Nhờ vậy, tổng số vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001-2005 theo giá thực tế
đã đạt trên 1200 nghìn tỷ đồng, gấp trên 2 lần tổng số vốn đầu tư phát triển huy
động được trong kế hoạch 5 năm 1996-2000. Tính ra, vốn đầu tư phát triển bình
quân mỗi năm trong 5 năm 2001-2005 đạt trên 240 nghìn tỷ đồng, bằng 201,6%
mức bình quân mỗi năm trong kế hoạch 5 năm 1996-2000.
Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 35,42% năm
2001 lên 37,16% năm 2002; 37,76% năm 2003; 38,45% năm 2004 và ước tính
năm 2005 là 38,67%. Tỷ lệ đầu tư của nước ta hiện nay chỉ thấp hơn Trung
Quốc, còn cao hơn hầu hết các nước trong khu vực (Tỷ lệ đầu tư so với tổng sản
phẩm trong nước năm 2004 của Trung Quốc là 45,7%; Hàn Quốc 29,3%; Thái
Lan 37,8%; Ma-lai-xi-a 22,5%; Phi-li-pin 19,6%; In-đô-nê-xi-a 19,5%;
Xin-ga-po 15,3%.




Tỷ lệ vốn đầu tư so với
tổng sản phẩm trong nước 2001 - 2005
Tỷ đồng
Tỷ lệ vốn
Vốn Tổng sản đầu tư so
đầu tư phẩm trong với tổng
theo giá nước theo sản phẩm
thực tế giá thực tế trong nước
(%)


Tổng số 5 năm 2001 - 1 200
2005 217 3 183 665 37,70
2001 170 496 481 295 35,42
2002 199 105 535 762 37,16
2003 231 616 613 443 37,76
So bộ 2004 275 000 715 307 38,45
Ước tính 2005 324 000 837 858 38,67
Trong tổng số vốn đầu tư 5 năm 2001-2005 thì vốn đầu tư trong nước
chiếm tới 84%, cao hơn hẳn tỷ lệ 78,6% của những năm 1996-2000. Sở dĩ có
được kết quả này một mặt do Nhà nước tăng cường đầu tư, nhưng mặt khác còn
do các chính sách khuyến khích kinh tế ngoài Nhà nước phát triển, trong đó có
Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân đã góp
phần rất quan trọng. Trong 5 năm 2001-2005 đã có gần 14 vạn doanh nghiệp dân
doanh đăng ký thành lập với tổng số vốn đăng ký lên tới 294 nghìn tỷ đồng. Nhờ
vậy số vốn của khu vực này chiếm trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ
22,6% năm 2001 lên 26,2% năm 2002; 29,7% năm 2003; 30,9% năm 2004 và
ước tính năm 2005 là 32,4%.
Cùng với việc triển khai nhiều giải pháp huy động các nguồn vốn trong
nước, việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài tiếp tục được chú trọng, nhất là thu
hút vốn FDI và vốn ODA. Trong 5 năm 2001-2005 đã cấp giấy phép cho 3745 dự
án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với số vốn đăng ký 19,9 tỷ USD. Đến nay trên
lãnh thổ nước ta đã có các nhà đầu tư của trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong
đó có 100 công ty đa quốc gia. Số vốn ODA do các nhà tài trợ cam kết dành cho
nước ta trong 5 năm 2001-2005 cũng lên tới trên 15 tỷ USD, đưa tổng số vốn ODA
cam kết trong 13 Hội nghị quốc tế về ODA dành cho Việt Nam từ năm 1993 đến nay
lên trên 32 tỷ USD. Số vốn ODA cam kết này đã được hiện thực hoá bằng nhiều hiệp
định cụ thể với tổng trị giá 24 tỷ USD và thực tế đã giải ngân được 16 tỷ USD,
trong đó 5 năm 2001-2005 giải ngân được 8 tỷ USD.
Nhờ đẩy mạnh đầu tư nên năng lực của hầu hết các ngành, các lĩnh vực đều
tăng lên đáng kể. Tính chung trong 5 năm 2001-2005, công suất điện tăng
4863MW, trong đó thủy điện 720MW, nhiệt điện than tăng 800MW, nhiệt điện
khí tăng 3343MW; công suất khai thác than tăng 15,4 triệu tấn; công suất khai
thác dầu thô tăng 2,2 triệu tấn; công suất khai thác khí đốt tăng 5,1 tỷ m3; công
suất cán thép tăng 2390 nghìn tấn; công suất sản xuất xi măng tăng 10,1 triệu tấn;
công suất sản xuất phân hoá học tăng 760 nghìn tấn; năng lực tưới của các công
trình thuỷ lợi tăng 595 nghìn ha và năng lực tiêu tăng 235 nghìn ha; công suất
cung cấp nước sạch tăng 1,8 triệu m3; các khách sạn tăng 26,5 nghìn phòng.
Ngành giao thông vận tải đã làm mới, nâng cấp và cải tạo được 4575 km
quốc lộ và trên 65 nghìn km đường giao thông nông thôn; năng lực thông qua
cảng biển tăng 23,4 triệu tấn; năng lực thông qua cảng sông tăng 17,2 triệu tấn và năng
lực thông qua của các sân bay tăng 8 triệu lượt hành khách. Ngành bưu điện tiếp tục
đầu tư cơ sở hạ tầng và đổi mới công nghệ nên. Mạng viễn thông phát triển nhanh. Đến
cuối năm 2005 cả nước đã có trên 15,8 triệu thuê bao điện thoại, trong đó 8,7 triệu
thuê bao di động và 7,1 triệu thuê bao cố định, nâng số máy điện thoại cố định
bình quân 100 dân từ 4,2 máy năm 2000 lên 19,1 máy năm 2005.
Một phần vốn đầu tư đã dành cho chương trình phát triển kinh tế-xã hội và
xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ tại các xã đặc biệt khó khăn. Tính chung từ năm
1999 đến hết năm 2005 chương trình đã được đầu tư trên 8850 tỷ đồng. Nhờ vậy,
đến hết năm 2004 đã có 97% số xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô đến trung tâm
xã; 100% số xã có trạm y tế; 70% số xã có điểm bưu điện văn hoá; 90% số xã có
trạm truyền thanh; 65% số xã có công trình nước sạch và 50% số hộ được sử
dụng nước sạch.
Ngoài những công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng với những năng
lực tăng thêm nêu trên, trong những năm 2001-2005 còn khởi công hàng trăm công
trình nhóm A và hàng nghìn công trình nhóm B và nhóm C, trong đó có những công
trình quan trọng như cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, cầu Cần Thơ,
đường Hồ Chí Minh, nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy thủy điện Sơn La...
Trong số này, nhiều công trình sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong những năm
tới, chắc chắn sẽ phát huy tác dụng tích cực đối với việc thực hiện kết hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 2006-2010 và những năm tiếp theo.
4. Mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn còn là một cú hích cho năng lực khoa
học công nghệ Việt Nam
Như đã nói trong chương I, mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn còn là một cú
hích cho năng lực khoa học công nghệ quốc gia. Đối với mỗi quốc gia, khoa học
công nghệ là nguồn lực phải được xây dựng lâu dài, nếu chỉ dựa vào nội lực
(nguồn vốn đầu tư trong nước) thì quá trình phát triển rất chậm không theo kịp với
trình độ phát triển chung của khu vực và thế giới, vì thế cần có sự bổ sung từ
nguồn vốn nước ngoài. Thực tế Việt Nam là một minh chứng rõ ràng cho điều này.
Đầu những năm 80, khoa học công nghệ nước ta ở trong tình trạng lạc hậu
xa so với thế giới; nguồn vốn đầu tư cho khoa học công nghệ chỉ duy nhất từ ngân
sách nhà nước, mặt khác quy mô nguồn vốn không lớn, sử dụng lại không hiệu quả
do cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nên không đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Giai đoạn 1987 – 1996, cùng sự đổi mới trong cơ chế quản lí kinh tế, phát triển đất
nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, lĩnh vực khoa học công nghệ ngày
càng trở nên quan trọng và được chính phủ dành nhiều ưu tiên nguồn vốn, tạo điều
kiện thuận lợi để ngành này tham gia vào tất cả các lĩnh vực trong cả nước, từng
bước thay đổi mặt chất của nền kinh tế.
Chính lúc đó, phép cộng Nguồn vốn đầu tư trong nước với Nguồn vốn đầu
tư nước ngoài đã làm cho Khoa học công nghệ ở nước ta có được những bước tiến
dài ấn tượng. Các nguồn vốn cho hoạt động khoa học công nghệ trở nên đa dạng,
bao gồm: vốn do Ngân sách Nhà Nước cấp; vốn của các tổ chức nghiên cứu khoa
học và của doanh nghiệp được hình thành từ phần trích lập quỹ, do liên doanh liên
kết hay thực hiện các hợp đồng về nghiên cứu và chuyển giao công nghê; vốn vay
ngân hàng theo các quy định của pháp luật, viện trợ của các tổ chức chính phủ, phi
chính phủ trong và ngoài nước. Sự đầu tư với tổng nguồn vốn lớn, từ xuất phát
điểm rất thấp, Việt Nam trở thành nước có công nghệ viễn thông phát triển nhanh,
hệ thống năng lượng đủ đáp ứng nhu cầu nền kinh tế quốc dân, ngành công nghệ
sinh học có khả năng tạo ra nhiều cây trồng vật nuôi có năng suất cao, vượt trội.
Trong giai đoạn 1996-2000 Việt Nam dành 7.249 tỷ đồng đầu tư cho khoa học
công nghệ Năm 2003, Chính phủ đã thông qua kế hoạch đầu tư 45.000 tỷ đồng cho
20 công trình giao thông và 16 công trình thuỷ lợi lớn trong giai đoạn 2003-2010.
Ch­¬ng III: Gi¶i ph¸p t¨ng c­êng vai trß vµ mèi quan hÖ gi÷a hai nguån vèn
trong qu¸ tr×nh thóc ®Èy t¨ng tr­ëng vµ ph¸t triÓn kinh tÕ ViÖt Nam.

I. Gi¶i ph¸p t¨ng c­êng vai trß cña hai nguån vèn

Sù nghiÖp CNH-H§H vµ ph¸t triÓn kinh tÕ ®ßi hái ph¶i cã mét l­îng vèn ®Çu
t­ rÊt lín. NÕu trong nh÷ng n¨m ®Çu cña thËp niªn nµy, tèc ®é t¨ng tr­ëng lµ do
thay ®æi c¬ cÊu kinh tÕ,lµm gi¶i phãng c¸c nguån lùc vµ thiÕt lËp c¸c c¬ chÕ gi¸ c¶
®Ó ®iÒu tiÕt c¸c nguån lùc kinh tÕ ®ã. §Õn nh÷ng n¨m cuèi cña thËp kû nµy, viÖc
chuyÓn biÕn c¸c môc tiªu kinh tÕ vÜ m« sang ­u tiªn hµng ®Çu vµo c¸c biÖn ph¸p
chuyÓn ®æi kinh tÕ theo chiÒu s©u nh»m ph¸t huy hiÖu qu¶ cña c¬ chÕ kinh tÕ míi
h­íng vµo CNH-H§H.

§Ó thùc hiÖn thµnh c«ng CNH-H§H, §¶ng ta ®· chØ ra quan ®iÓm, ®Þnh
h­íng sau: ®æi míi c¬ cÊu ®Çu t­ g¾n liÒn víi viÖc n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vèn
nhµ n­íc, kÕt hîp hµi hoµ gi÷a nguån vèn trong n­íc vµ nguån vèn n­íc ngoµi.
§Çu t­ theo ®óng ch­¬ng tr×nh ®Çu t­ c«ng céng mµ chÝnh phñ ho¹ch ®Þnh , tËp
trung vµo nh÷ng dù ¸n mang l¹i hiÖu qu¶ kinh tÕ x· héi cao, nh­ng hiÖu qu¶ tµi
chÝnh thÊp . Ngay ®èi víi nh÷ng dù ¸n lo¹i nµy, chÝnh phñ chÝnh phñ còng cÇn t×m
nh÷ng ph­¬ng ¸n kªu gäi ®Çu t­ t­ nh©n ë chõng mùc cao nhÊt cã thÓ ®­îc nh­ më
réng c¸c h×nh thøc ®Çu t­ BOT, BTO, BT trong n­íc. §Çu t­ tËp trung vµo c¸c
nghµnh then chèt cña nÒn kinh tÕ , nh÷ng nghµnh cã tÝnh ®ét ph¸ t¹o ®µ cho c¸c
nghµnh kh¸c ph¸t triÓn . Cã thÓ dïng c¸c chÝnh s¸ch vÜ m« cña nhµ n­íc ®iÒu tiÕt
nÒn kinh tÕ , khuyÕn khÝch c¸c thµnh phÇn kinh tÕ tham gia ®Çu t­ theo ®Þnh h­íng
cña nhµ n­íc . Quan ®iÓm chung cña vèn ng©n s¸ch sÏ gi¶m dÇn hoÆc ®Çn rót lui
khái c¸c nghµnh , nh÷ng lÜnh vùc mµ ®Çu t­ t­ nh©n cã thÓ ®¶m nhËn .

x©y dùng nh÷ng ch­¬ng tr×nh ®Çu t­ quy m« lín ,g¾n víi môc tiªu dµi h¹n
vµo nh÷ng nghµnh, vïng, khu vùc cã t¸c ®éng m¹nh mÏ ®Õn chuyÓn dÞch c¬ cÊu
kinh tÕ vµ qu¸ tr×nh CNH-H§H ®Êt n­íc (¦u tiªn ®Çu t­ ph¸t triÓn c¬ së h¹ tÇng ).

ph©n c«ng l¹i lao ®éng gi÷a c¸c vïng vµ trong tõng vïng b»ng c¸ch ph¸t
triÓn nh÷ng nghµnh thu hót nhiÒu lao ®éng nh»m tranh thñ lîi thÕ c¹nh tranh trong
héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ bëi gi¸ lao ®éng cña ta thÊp h¬n so víi c¸c n­íc
c¶i thiÖn m«i tr­êng ®Çu t­ th«ng tho¸ng h¬n , mÒm deo h¬n ®Ó thu hót
dßng vèn FDI . §ång thêi chó träng khai th¸c tiÒm n¨ng vèn trong d©n c­ vµ khu
vùc t­ nh©n

®Çu t­ h¬n n÷a cho gi¸o dôc ®µo t¹o , khoa häc c«ng nghÖ ®Ó x©y dùng
nguån nh©n lùc ®Êt n­íc h­íng tíi nÒn kinh tÕ tri thøc .

§Ó ®¹t ®­îc sù ph¸t triÓn cao vµ bÒn v÷ng cÇn cã nh÷ng kho¶n ®Çu t­ lín.
Dù kiÕn ®Çu t­ trong 15 n¨m tíi lµ:

B¶ng 6: Dù b¸o nghiªn cøu ®Çu t­ ®Õn n¨m 2010
(Nguån: B¸o kÕ ho¹ch vµ §Çu t­)



1996-2000 2001-2010

Tæng ®Çu t­ 41-42 tû 170-250 tû

Vèn trong n­íc 50% >70%

Vèn n­íc ngoµi 20-22 tû 50-75 tû

Trong ®ã:

-ODA 7-8 tû 15-20 tû

-FDI 13-15 tû 35-55 tû



1. §èi víi nguån vèn trong n­íc.

Nhà nước ta cần đổi mới cơ chế quản lý đầu tư sử dụng vốn nhà nước. Một
thực tế dễ thấy ở nước ta: vốn nhà nước dễ bị coi là “của chùa”, từ đó dễ dẫn
đến hiện tượng sử dụng phí phạm không có trách nhiệm. Chính vì thế, ta
phải làm rõ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể trực tiếp tham gia quản
lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư này; cụ thể :
Một là,tổ chức, nghiên cứu bổ sung cơ chế, chính sách theo hướng loại bỏ
dần tình trạng khép kín, tách chức năng quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh
trong xây dựng ở từng Bộ, từng tỉnh, thành phố ở tất cả các khâu. áp dụng cơ chế,
giải pháp mạnh trong quản lý dự án, quản lý công trình đầu tư xây dựng công trình;
phân định rõ quyền và trách nhiệm của cá nhân, của tổ chức trong từng khâu như
chủ đầu tư, chủ dự án, tư vấn, thiết kế, nhà thầu, giám định, thẩm định, nghiệm thu,
cấp phát, giải ngân, thanh toán, quyết toán và quản lý công trình sau đầu tư. áp
dụng rộng rãi cơ chế đấu thầu lựa chọn chủ dự án, chủ đầu tư, lựa chọn tư vấn, nhà
thầu, giám sát, thẩm định dự án. Những chủ thể được chọn phải chịu trách nhiệm
về pháp lý, về kinh tế từng khâu, từng việc trong quá trình triển khai dự án.

Đẩy nhanh việc tổ chức, sắp xếp lại các nhà thầu trong nước đủ mạnh để nâng
cao năng lực cạnh tranh trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, khắc
phục tình trạng có quá nhiều nhà thầu phụ, mua đi, bán lại công trình, hạng mục
công trình đã trúng thầu, thông thầu, móc ngoặc, nội gián trong đấu thầu và việc bỏ
giá thầu quá thấp.

Đồng thời siết chặt kỷ cương trong bộ máy nhà nước, nâng cao trách nhiệm và
thẩm quyền của chủ đầu tư. Bố trí nhân sự Ban quản lý dự án phải đủ năng lực để
quản lý, điều hành dự án. Chú trọng nâng cao phẩm chất của cán bộ, công chức
đảm trách từng khâu trong đầu tư xây dựng.

Hai là, nâng cao chất lượng, tầm nhìn dài hạn, tính đồng bộ, tính liên kết
pháp lý trong công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng.

Tiến hành rà soát toàn bộ quy hoạch đã có, bao gồm quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ, tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, quy hoạch lĩnh vực, quy hoạch sản phẩm chủ yếu để điều chỉnh, bổ
sung gắn với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trên cơ sở đó loại bỏ quy hoạch “treo”. Đồng thời phải có tầm nhìn dài hạn,
mang tính chiến lược trong công tác quy hoạch, quan tâm và đề cao tính liên vùng,
khắc phục tình trạng khép kín trong địa giới hành chính tỉnh, thành phố.

Tăng cường phân cấp, phân quyền, phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng; gắn
quyền với trách nhiệm trong công tác quy hoạch giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư với
các Bộ quản lý ngành, các tỉnh, thành phố. Có quy định pháp lý về việc các Bộ,
ngành, địa phương khi xây dựng và quyết định kế hoạch đầu tư phải tuân thủ quy
hoạch, kế hoạch đã được cơ quan, cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm mục tiêu
ưu tiên; bố trí vốn tập trung; chỉ bố trí kế hoạch đầu tư khi đã xác định chắc chắn
khả năng nguồn vốn và chỉ triển khai thực hiện khi có đủ thủ tục đầu tư theo quy
định. Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các Bộ, các ngành, các cấp, các cơ
quan, đơn vị trong nghiên cứu, lập, thẩm định, tư vấn, tham gia ý kiến, xét duyệt
quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng.

Ba là,tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát, trước hết là các biện pháp
giám sát và kiểm soát nội bộ, sau đó là các biện pháp kiểm tra, thanh tra từ bên
ngoài. Hình thành, duy trì và nâng cao tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ
bằng chính quy trình đầu tư, quy trình nghiệp vụ quản lý vốn, quản lý đầu tư, bằng
các quy tắc tổ chức, bố trí cán bộ, quy định trách nhiệm và quyền hạn từng khâu,
từng công việc của quá trình đầu tư, từ chuẩn bị đầu tư đến tổ chức thi công, quyết
toán công trình, dự án.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán các dự án công trình, tập trung những
khâu yếu kém, dễ xảy ra tiêu cực, phát hiện và làm rõ, xử lý nhanh, dứt điểm
nghiêm minh các sai trái, vi phạm. Tăng cường vai trò của cơ quan dân cử, của tổ
chức nghề nghiệp, của đoàn thể quần chúng trong giám sát, phát hiện và đánh giá
hoạt động đầu tư.

Bốn là,tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới cơ chế, chính sách
đầu tư, trước mắt tập trung triển khai có hiệu quả Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật
Kinh doanh bất động sản, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán... Thực hiện
nghiêm các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Xây dựng
và sử dụng vốn đầu tư xây dựng, vốn ODA, vốn tín dụng nhà nước và các nguồn
vốn công trái, trái phiếu... Sớm có quy định pháp lý về công tác quy hoạch, kế
hoạch, về quản lý nợ chính phủ, nợ quốc gia... Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế
phân bổ vốn đầu tư, vốn cho chương trình mục tiêu quốc gia trên cơ sở tôn trọng
nguyên tắc đầu tư, tôn trọng tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức theo hướng công khai
minh bạch và có chủ định rõ rệt, hạn chế tối đa sự tuỳ tiện trong bố trí, phân bổ
vốn, chấm dứt cơ chế xin cho vừa không có hiệu quả vừa làm hư hỏng bộ máy, hư
hỏng cán bộ.

Năm là , tiếp tục cải cách hành chính trong đầu tư xây dựng, trước hết tập
trung vào cải cách thủ tục hành chính, thủ tục đầu tư, thủ tục xem xét, phê duyệt dự
án, phân bổ và bố trí vốn, thủ tục giải ngân và thanh toán... Nâng cao hiệu lực, hiệu
quả và tính minh bạch, công khai của bộ máy quản lý đầu tư, quản lý dự án. Tăng
cường phối hợp thông tin giữa các Bộ, ngành và địa phương, làm tốt chức năng
quản lý ngành trong đầu tư xây dựng, hỗ trợ tích cực cho địa phương trong nâng
cao chất lượng và hiệu quả đầu tư, khắc phục yếu kém và lúng túng trong quy
hoạch.
2/Đối với nguồn vốn nước ngoai

Trong t×nh h×nh hiÖn nay khi nÒn kinh tÕ n­íc ta ®ang cã xu h­íng gi¶m
m¹nh, cô thÓ n¨m 1986 tû lÖ t¨ng tr­ëng cña n­íc ta t­¬ng ®èi cao lµ 9,34%
n¨m1987 lµ 8,15% sang; n¨m 1998; 1999 gi¶m xuèng chØ cßn 5,8% vµ 4,7% th×
nguån vèn cho ®Çu t­ ph¸t triÓn ngµy cµng trë lªn quan träng vµ cÇn thiÕt. Nã gióp
viÖc thùc hiÖn c«ng nghiÖp ho¸, hiÖn ®¹i ho¸ ®Êt n­íc 1 c¸ch nhanh chãng h¬. Do
vËy cïng víi viÖc kh¬i dËy vµ ph¸t huy tèi ®a néi lùc, ph¶i tiÕp thu thùc hiÖn nhÊt
qu¸n l©u dµi chÝnh s¸ch thu hót c¸c nguåm lùc bªn ngoµi nh­ nghÞ quyÕt trung
­¬ng IV ®· chØ râ: Muèn lµm ®­îc ®iÒu nµy trong bèi c¶nh quèc tÕ c¹nh tranh g¨y
gÆt, vèn ®Çu t­ n­íc ngoµi vµo ViÖt Nam ®ang ch÷ng l¹i vµ cã xu h­íng giảm sút
thì chúng ta phải nhanh chóng có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, tạo dựng
môi trường đầu tư hấp dẫn và tổng thể có thể cạnh tranh với các nước trong khu
vực, thậm chí đối với các lĩnh vực như nông-lâm-ngư nghiệp; các đaa bàn miền núi
nông thôn, các ưu đãi nói chung cũng phải cao hơn trong khu vực. Mặt khác hiệu
quả sử dụng và quản lý các dự án cũng phải được nâng cao, tạo lợi thế hơn hẳn các
nước khác trong khu vực và các nước được ưu tiên nhận khoản viện trợ cho đầu tư
phát triển (ODA).
2.1. Trong ngắn hạn
-Tiếp tục thực hiện việc giảm chi phí đầu tư, bổ sung chính sách ưu đãi thiết
thực, khuyến khích đầu tư đối với các dự án sản xuất và chế biến nông, lâm, thuỷ
sản. Miễn thuế thuê đất trong những năm đầu, mở rộng thúc đẩy thực hiện miễn
thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư sản xuất như luật đầu tư nước ngoài bổ sung
mới đây đã đưa ra (quyết định 53/1999/QĐ-Thủ tướng Chính phủ về một số biện
pháp khuyến khích đầu tư phát triển trực tiếp nước ngoài); áp dụng thuế thu nhập
doanh nghiệp ưu đãi nhất….
Xây dựng chính sách đặc biệt khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ
sản xuất phụ tùng, linh kiện phục vụ chương trình nội địa hoá.
-Tiếp tục ban hành chính sách cải thiện môi trường đầu tư: xem xét cho phép
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thế chấp quyền sử dụng đất,
cho phép góp vốn bằng quyền sử dụng đất của doanh nghiệp Việt Nam. Xử lý nối
lỏng các vấn đề về ngoại hối, hỗ trợ tín dụng, cầm cố thế chấp, đăngg ký quyền sở
hữu tài sản bảo lãnh tiền vay… kiến nghị sửa đổi thuế thu nhập cá nhân theo
hướng mở rộng diện nộp thuế nhưng giảm thuế suất và tăng mức thu nhập bắt
đầu chịu thuế để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài sử
dụng người Việt Nam vào các cương vị quản lý, điều hành, giảm chi phí không
hợp lý cho các doanh nghiệp.
-Đa dạng hoá các lĩnh vực và hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
thông qua việc mở rộng hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, cho phép các
thành phần kinh tế hợp tác đầu tư với nước ngoài, cho phép khu vực dân doanh
được góp vốn liên doanh hoặc mua cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất.
-Nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu công nghiệp, hạn chế thành lập
các khu công nghiệp mới, vận động đầu tư lấp đầy các khu công nghiệp, đảm bảo
hạ tổng ngoài hàng rào…
-Nghiên cứu bổ sung 1 số điều của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo
hướng tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng hơn, đảm bảo giữ vững
độc lập, chủ quyền, tiến tới một khung pháp lý chung giữa đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài.
-Nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực điều hành của nhà nước đối với hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài cụ thể là tập trung vào xây dựng và hoàn chỉnh
quy hoạch thu hút đầu tư, đổi mới công tác xúc tiến vận động đầu tư. Đơn giản thủ
tục hành chính, chuyển giao phần chủ yếu viêc quản lý trực tiếp cho chính quyền
địa phương, các bộ tập trung vào nghiên cứu và xây dựng luật pháp, chính sách, cơ
chế, hướng dẫn và kiểm tra giám sát.
- Tăng cường vai trò công tác cán bộ, kể cả các cơ quan quản lý Nhà nước,
không ngừng đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật cho các doanh nghiệp
nhằm đủ sức đóng góp vai trò quyết định trong việc đấu tranh bảo vệ lợi ích của
bên Việt Nam, khắc phục khâu yếu nhất trong các liên doanh thời gian qua là khâu
cán bộ. Cùng với giải pháp trước mắt cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì
nhà nước ta cũng phải có 1 giải pháp trong lâu dài sao cho hợp lý.
2.2. Giải pháp trong dài hạn
-Cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao hiệu
lực quản lý nhà nước với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
-Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ Chính phủ với các bộ tổng hợp, cán bộ
quản lý các ngành, UBND trong quản lý hoạt động đầu tư tập trung nước ngoài
theo thẩm quyền trách nhiệm. Triệt để kiên quyết hơn trong việc quy định rõ ràng
minh bạch thủ tục hành chính ở mọi khâu, mọi cấp, công khai các quy trình, thời
hạn, trách nhiệm xử lý các thủ tục hành chính tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về
cải cách hành chính trong khu vực đầu tư.
-Quy định cụ thể trách nhiệm kinh tế, hình sự đối với các cá nhân, tổ chức
trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, tránh tình trạng trốn trách nhiệm một
cách chung chung đưa tới hậu quả nghiêm trọng. Hạn chế kiểm tra và can thiệp tuỳ
tiện của các cơ quan công an, kiểm soát, thuế vụ tránh hình sự hoá các quan hệ
kinh tế.
-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ nhằm tạo môi trường
đầu tư thực sự hấp dẫn, thông thoáng. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật cũng cần sửa đổi những ảnh hưởng xấu đến tiến trình phát triển
kinh tế xã hội. Luật đầu tư nước ngoài 3 lần sửa đổi bổ sung năm 1990, 1992, 1996
và vừa qua kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá X cũng đã thông qua luật sửa đổi bổ sung
một số điều của luật đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm cải thiện môi trường pháp
lý. Mặc dù khắc phục được một số hạn chế song vẫn còn một số quy định còn cứng
nhắc, nhiều chỗ vẫn chưa thông thoáng so với một số nước trong khu vực như việc
giải phóng mặt bằng còn khá khó khăn, thời gian kéo dài, cần được khắc phục dần
dần. Bên cạnh đó cũng cần có sự thống nhất giữa các luật giữa luật đầu tư trực tiếp
nước ngoài với bộ luật lao động để đảm bảo tuyển dụng lao động, với luật thuế để
có chính sách thuế thích hợp.
-Đảm bảo ổn định pháp luật và chính sách, giữ vững nguyên tắc để tạo niềm
tin. Các quy định của pháp luật, các thông tư hướng dẫn thực hiện của chính phủ,
Bộ ngành phải được nghiêm chỉnh chấp hành không thêm bớt, sửa chữa 1 cách
tuỳ tiện, bỏ cách hiểu "phép Vua thua lệ làng".
+Nâng cao chất lượng quy hoạch đầu tư. Quy hoạch đầu tư tốt sẽ tạo ra hiệu
quả kinh tế xã hội được nâng cao. Xây dựng hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài phải là
một bộ phận hữu cơ trong quy hoạch đầu tư chung của cả nước. Quy hoạch phải
gắn với an ninh quốc phòng để dễ kiểm soát, có như vậy thì mới tránh được đầu tư
tràn lan, theo phong trào phung phí các nguồn lực.
+Thực hiện tốt chiến lược con người, chuẩn bị cán bộ quản lý, đào tạo mộtt
số lượng lao động có tay nghề cao sẵn sàng làm việc trong nhiều lĩnh vực. Yếu tố
con người cũng rất quan trọng mang tính quyết định thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Trong những năm qua nhu cầu lao động, kỹ thuật và lao động lành nghề ở
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài rất cao nhưng ta không đáp
ứng nổi. Chính vì vậy là một điều ái ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu
tư vào nước ta. Mặt khác cũng vì yếu tố này bị hạn chế cho nên dẫn tới những thua
thiệt cho phía Việt Nam, hạn chế cho nên dẫn tới những thua thiệt cho phía Việt
Nam và trình độ lao động không cao cũng dẫn tới những thua thiệt cho phía Việt
Nam và trình độ lao động không cao cũng dẫn tới tính không hấp dẫn trong thu
hút vốn nước ngoài.
+Đổi mới đẩy mạnh công tác vận động đầu tư với chính phủ. Cần có hình
thức như mở hội nghị các nhà đầu tư, tài trợ, họp báo, tiếp xúc với nhà đầu tư,
quảng cáo, cán bộ ngành cần tổ chức phối hợp nghiên cứu tình hình kinh tế, thị
trường đầu tư, chính sách các nước, các tập đoàn để có chính sách vận động đầu tư.
+Bên cạnh đó cần giữ vững ổn định về chính trị, an ninh, xã hội, phát huy
những nét đẹp văn hoá của dân tộc Việt Nam như tính cần cù, chịu khó, thông
minh, không ngại khổ. Tạo niềm tin cho các nhà đầu tư vào Việt Nam.
Tăng cường vai trò thu hút vốn nước ngoài mà cơ bản là nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA). Đây là nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, nó được
dùng để viện trợ không hoàn lại, cho vay không lấy lãi hoặc cho vay với mức lãi
suất ưu đãi cho các nước gặp khó khăn về vốn (chủ yếu là các nước đang phát triển
và các nước kem phát triển) để phát triển nền kinh tế. Chính vì thế mà việc tăng
cường thu hút nguồn vốn ODA sẽ gắn liền với việc quản lý và sử dụng nguồn vốn
này có hiệu quả. Ngoài ra nó còn phụ thuộc lớn vào tình hình chính trị, tình hình
kinh tế văn hoá xã hội của quốc gia đi vay. Như vậy để tăng cường thu hút ODA
thì chúng ta phải có những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý và sử
dụng ODA.
- Trước mắt cần chú trọng đến công tác đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ,
bồi dưỡng cho thông thạo chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, ngoại ngữ để nâng cao
chất lượng đàm phán nhằm đạt được yêu cầu tối thiểu về lãi suất, thời hạn
vay,thẩm định giá, định mức chi tiêu, phí tư vấn, chính sách đối với chuyên gia
trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi.
- Tất cả các dự án sử dụng ODA đều phải thực hiện tốt các khâu của quy
trình dự án đầu tư, thực hiện đúng các quy định về đầu tư xây dựng trong nước và
phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là khâu lựa chọn dự án, đấu thầu xây lắp và
mua sắm vật tư thiết bị tư vấn…
- Đơn giản hoá và nâng cao chất lượng khâu thẩm định dự án, tổ chức đấu
thầu, xét chọn thầu, đàm phán các hợp đồng vay bảo đảm tuân thủ đúng pháp luật
trong nước và thông lệ quốc tế, công khai hoá các quy trình, thủ tục, thời hạn, trách
nhiệm xử lý trong quá trình triên khai dự án.
- Phân tích cụ thể các điều kiện vay, các điều kiện ràng buộc để bố trí sử
dụng vốn hiệu quả, chấm dứt tình trạng sắp xếp nhà tài trợ mới xây dựng dự án,
kiên quyết loại bỏ dự án không có luận chứng kinh tế kỹ thuật khả thi, chủ động
lựa chọn danh mục các dự án sử dụng theo mục tiêu đã định trước khi huy động
vốn, khắc phục tình trạng bố trí sử dụng vốn dàn trải.
- Nghiên cứu đồng bộ và có khoa học các biện pháp chuyển đổi nợ thành
đầu tư trong nước, xin xoá nợ, mua bán nợ tăng khả năng trả nợ hoặc làm giảm
nghĩa vụ trả nợ trong tương lai.
- Các ngành, địa phương và đơn vị xin sử dụng ODA cần tính toán hiệu quả
và xác định đầy đủ nghĩa vụ nghĩa vụ trả nợ, chịu trách nhiệm chính trong quá
trình sử dụng vốn và đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Đối với 1 số lĩnh vực sử
dụng ODA lớn cần phải nghiên cứu chính sách huy động và hoàn trả nợ trong từng
giai đoạn, đảm bảo đầu tư sinh lời và có phương án thu 1 phần phí để hoàn trả nợ
nước ngoài.

- Nhà nước thực hiện tốt chức năng định hướng trong quản lý kinh tế là điều
kiện kiên quyết để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng ODA. Đặc biệt chú
trọng về chất lượng quy hoạch tổng thể các nguồn vốn đầu tư, phù hợp và gắn với
quy hoạch ngành, lãnh thổ, lĩnh vực ưu tiên, mặt hàng sản xuất chủ lực… từ đó sẽ
lựa chọn dự án khả thi, dự án ưu tiên đầu tư nguồn vốn vây ODA.
- Công tác vận động ODA cần được đổi mới cơ bản về nội dung và phương
thức thực hiện, chú trọng khâu soạn thảo đề cương nghiên cứu khả thi thi, giao việc
cho tư vấn, cần mạnh dạn chối bỏ nguồn vốn không đáp ứng yêu cầu, định hướng
và hiệu quả đầu tư của Nhà nước, nâng cao tính chủ động của phía Việt Nam với
bên nước ngoài.
- Luật hoá các hoạt động tư vấn gián tiếp nước ngoài, trong đó có việc quản
lý và sử dụng hiệu quả ODA, bởi lẽ hiện tại chúng ta có khá nhiều văn bản pháp lý
dưới luật về lĩnh vực này, nhưng thực tế quản lý không hiệu quả vừa gây lên tình
trạng quản lý chồng chéo giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước, vừa chưa tạo
được hành lang pháp ý thống nhất để điều tiết có hiệu quả các hoạt động vay nợ
nước ngoài.
- Để có sơ sở phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan hữu
trách trong việc ra quyết định và quản lý nguồn vốn cũng như đơn giản hoá thủ tục
hành chính cần thiết phải hoàn thiện thể chế có một cơ quan chịu trách nhiệm toàn
diện từ khâu chuẩn bị dự án đến thực hiện và vận hành khai thác dự án. Có thể
nghiên cứu thành lập cơ quan liên ngành (như uỷ ban quốc gia về quản lý nợ) làm
nhiệm vụ tổng hợp, phân tích thông tin, đánh giá tình hình xem xét trong mối quan
hệ không tách rời vốn các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng tổng sản phẩm
trong nước (GDP), kim ngạch xuất khẩu, cán cân thanh toán, bội chi ngân sách …
để đề xuất chiến lược vay vốn và trả nợ nước ngoài, trong đó có việc vay và trả nợ
ODA.
- Cùng với những giải pháp trên đòi hỏi nhà nước ta cũng không ngừng tăng
cường, giữ vững ổn định chính trị xã hội tạo ra một môi trường thuận lợi để các tổ
chức đầu tư có thể yên tâm đầu tư vào nước ta, tránh những tổn thất do sự bạo loạn
về chính trị xã hội có thể xảy ra. Ngoài ra nhà nước ta cũng nhanh chóng thúc đẩy
và giải quyết những khoản nợ còn tồn đọng từ lâu. Nhằm tạo niềm tin thu hút vốn
nước ngoài trong thời gian tới.
II.Giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn

1. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước

Các cơ quan cấp giấy phép đầu tư thường xuyên rà soát, phân loại các dự án
đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép đầu tư để có những biện pháp thích hợp
kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Đối với các doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh: các Bộ, các Ngành
và Uỷ Ban Nhân Dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền, cần có sự động viên
khen thưởng kịp thời để khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động tốt tiếp tục phát
triển, đồng thời cần có biện pháp thích hợp để tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, các
nghĩa vụ thuế.. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu của khu vực
đầu tư nước ngoài.

Đối với các dự án đã đầu tư thực hiện, các Bộ, các Ngành và Uỷ Ban Nhân
Dân cấp tỉnh tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, nhất là trong khâu
đền bù, giải phóng mặt bằng để nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ bản, đưa
doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh.

Đối với các dự án chưa triển khai xong xét thấy vẫn có khả năng thực hiện,
cần thúc đẩy việc triển khai trong một khoảng thời gian nhất định và giải quyết các
vướng mắc, kể cả việc điều chỉnh mục tiêu và quy mô hoạt động của dự án.

Đối với các dự án chưa triển khai và không có triển vọng thực hiện, kiên
quyết thu hồi giấy phép đầu tư, dành địa điểm cho các nhà đầu tư khác.

*Thống nhất tập trung quản lý điều hành hoạt động đầu tư nước ngoài theo
nguyên tắc tập trung, thống nhất quản lý về quy hoạch, cơ cấu, chính sách và cơ
chế; tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư nước
ngoài cho Uỷ Ban Nhân Dân cấp tỉnh.

Tăng cường sự quản lý điều hành thống nhất của chính phủ, phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương và địa phương trong quản lý
hoạt động đầu tư nước ngoài; Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ
quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh.

Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra của các Bộ, Ngành, Trung ương. Có cơ
chế xử lý các trường hợp vi phạm luật pháp, chính sách, quy hoạch trong việc thực
hiện chủ trương phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài; kể cả việc chấm
dứt hiệu lực của các giấy phép đầu tư cấp sai quy định.

Có các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn các địa phương tự ý ban hành các
chính sách vượt quá khung quy định của luật pháp hiện hành (Nhất là về miễn
giảm thuế, tiền thuê đất quá thời hạn).

*Rà soát một cách có hệ thống các văn bản, quy định liên quan đến hoạt
động đầu tư nước ngoài do các Bộ, Ngành và các địa phương ban hành; Kiên
quyết bãi bỏ các quy định không phù hợp với luật pháp về đầu tư nước ngoài và
chỉ đạo của chính phủ.

2.Cải tiến các thủ tục hành chính

Duy trì thường xuyên việc tiếp xúc trực tiếp giữa cơ quan quản lý nhà nước với
nhà đầu tư nước ngoài.Cải tiến mạnh thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài theo hướng tiếp tục đơn giản hoá việc cấp phép đầu tư, mở rộng phạm
vi các dự án thuộc diện đăng ký cấp phép đầu tư. Lập tổ công tác liên ngành do Bộ
Kế Hoạch và Đầu Tư chủ trì để rà soát có hệ thống tất cả các loại giấy phép, các
quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đó có kiến nghị bãi bỏ
những loại giấy phép, quy định không cần thiết đối với hoạt động đầu tư nước
ngoài. Các Bộ, Ngành, địa phương quy định rõ ràng, công khai các thủ tục hành
chính, đơn giản hoá và giảm bớt các thủ tục không cần thiết; kiên quyết xử lý các
trường hợp sách nhiễu, cửa quyền, vô trách nhiệm của cán bộ công quyền.
3.Đẩy mạnh công tác vận động, xúc tiến đầu tư

Cần có những biện pháp thúc đẩy mạnh việc vận động, xúc tiến đầu tư
hướng vào các thị trường trọng điểm, các đối tác có tiềm lực về công nghệ, tài
chính. Xây dựng địng hướng chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài từ các địa bàn
trọng điểm như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc

Bố trí tài chính cho hoạt động xúc tiến đầu tư(kể cả việc in ấn tài liệu phát
miễn phí cho các nhà đầu tư tiềm năng); sử dụng kinh phí vào các hoạt động tập
trung, hiệu quả và tiết kiệm.

Phối hợp chặt chẽ hoạt động xúc tiến đầu tư với hoạt động xúc tiến thương
mại - du lịch và các hoạt động ngoại giao của lãnh đạo Nhà nước các cấp.

Tập trung làm tốt hơn các thông tin tuyên truyền về đầu tư nước ngoài kể cả
tuyên truyền luật pháp, chính sách, tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Xây
dựng trang Web về đầu tư nước ngoài, xây dựng hệ thống thông tin về đầu tư nước
ngoài.

4.Công tác cán bộ và đào tạo

Xây dựng dự án về đào tạo công dân lành nghề làm việc cho các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài.

Xây dựng quy chế cán bộ Việt Nam tham gia Hội đồng quản trị và quản lý
doanh nghiệp liên doanh, quy định rõ tiêu chuẩn tuyển chọn về chính trị, chuyên
môn và nghiệp vụ; trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ làm việc tại các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Xây dựng đề án tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức đối với cán bộ
làm công tác đầu tư nước ngoài, cán bộ quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; tổ chức thường xuyên việc tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, luật pháp
cho các cán bộ Việt Nam hiện nay đang làm việc tại các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài.
Những kiến nghị

a/ Thiết lập một cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ
thương mại, Phòng thương mại Việt Nam, Hội đồng trung ương các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nước, Bộ khoa học và Môi trường,
Bộ ngoại giao, Bộ nội vụ... Làm sao để cú thể dữ vững dược tầm quan trọng của
nguồn vốn trong nước

b/ Xúc tiến quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp.

c/ Thành lập quĩ đầu tư phát triển ở các địa phương và các quỹ hỗ trợ vốn, tư
vấn cho các doanh nghiệp trẻ.

d/ Cải cách hệ thống ngân hàng sao cho có thể thu hút vốn nhàn rỗi một cách
hữu hiệu.

Chúng ta đang có những thuận lợi cơ bản, đó là những thành tự ban đầu của
công cuộc đổi mới mang lại, những nguồn lực trong nước và ngoài nước đang
được hội tụ lại cho một khát vọng chung của cả dân tộc quyết tâm phấn đấu xây
dựng một quốc gia giàu mạnh. Trong dòng chảy sôi động của kỹ nguyên Châu
Á - Thái Bình Dương, chắc chắn nguồn nội lực Việt Nam sẽ hội nhập tích cực
với dòng FDI của thế giới để tạo ra một sức tỏa sáng cho một quá trình cùng
phát triển của khu vực đi theo hướng Rồng bay.

Kết luận



Từ lý thuyết và thực tế đã chứng minh: Muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế
phải kích thích đầu tư. Muốn đầu tư có hiệu quả trước hết phải huy động được
nguồn vốn lớn. Nghiên cứu kinh tế chỉ ra rằng: nguồn vốn trong nước đóng vai trò
quyết định còn nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Từ nhận thức được
vấn đề này, việc tăng cường vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong việc
thuc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế thật sự rất cần thiết. Bên cạnh đó, việc
tranh thủ thu hút, huy động vốn đầu tư nước ngoài cũng là một bàn đạp vững chắc
cho phát triển kinh tế. Cho nên, vấn đề tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
như thế nào có hiệu quả luôn là một bài toán kinh tế cần nhiều thời gian để nghiên
cứu và thử nghiệm trong thực tế Việt Nam hiện nay
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản