Bào ngư - món ăn và vị thuốc quý

Chia sẻ: Ka Ka | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
99
lượt xem
25
download

Bào ngư - món ăn và vị thuốc quý

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng với yến sào và vi cá mập, bào ngư cũng được xem là món ăn quý trong các bữa tiệc sang trọng. Nó còn là vị thuốc độc đáo trong cả Đông và Tây y, giúp sáng mắt, trị ho và tăng cường sinh lực cho nam giới. Thành phần dinh dưỡng của bào ngư: Do có hình dạng giống cái tai, bào ngư còn được gọi là hải nhĩ. Tuy có lượng cholesterol khá cao, song bào ngư lại không gây ảnh hưởng cho người bị chứng cholesterol cao, do có sự cân bằng trong thành phần. Trong...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bào ngư - món ăn và vị thuốc quý

  1. Bào ngư - món ăn và vị thuốc quý Cùng với yến sào và vi cá mập, bào ngư cũng được xem là món ăn quý trong các bữa tiệc sang trọng. Nó còn là vị thuốc độc đáo trong cả Đông và Tây y, giúp sáng mắt, trị ho và tăng cường sinh lực cho nam giới. Thành phần dinh dưỡng của bào ngư: Do có hình dạng giống cái tai, bào ngư còn được gọi là hải nhĩ. Tuy có lượng cholesterol khá cao, song bào ngư lại không gây ảnh hưởng cho người bị chứng cholesterol cao, do có sự cân bằng trong thành phần.
  2. Trong 100 g bào ngư chứa: chất đạm 17,05 g; đường (carbonhydrat) 5,89 g; chất béo 0,75 g; cholesterol 84,7 mg; các loại vitamin B1, B2, khoáng chất và nguyên tố vi lượng. Trong chất đạm cũng có đủ 19 loại axit amin thiết yếu cho cơ thể ở lượng mức tương đối cao như Threonin 0,73 mg; Isoleucin 0,75 mg; Valin 0,7 mg; và axit glutamic 2,31 mg. Theo y lý Trung Quốc, bào ngư có khả năng bổ âm, tăng khí, hạ nhiệt, tăng cường sinh lực cho nam giới, giúp sáng mắt, trị ho, khó tiêu. Người ta còn tìm thấy trong bào ngư các hợp chất có tác dụng diệt khuẩn có tên là Paolin I và Paolin II. Cả hai đều có tính chịu nhiệt cao, 95 độ C trong vòng 45 phút. Trong đó, Paolin I là protein có phân tử lượng cao, từ 5.000 đến 10.000. Một hợp chất khác của bào ngư cũng có tác dụng kháng khuẩn được gọi là "Phần C tan trong nước". Kết hợp giữa Paolin I và "Phần C" có thể làm giảm tử vong ở chuột thí nghiệm bị nhiễm khuẩn Streptococcus pyogenes và Straphylococcus aureus kháng Penicillin. Còn kết hợp Paolin II và "Phần C" có thể ngăn ngăn được 99% số virus Polio và Influenza A trong các thử nghiệm trên tế bào thận khỉ. Nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ bào ngư có chứa canxi carbonat, magiê, sắt, silic, photphat và clorua. Vì vậy, Đông y thường dùng vỏ bào ngư để làm thuốc, được gọi là Thạch quyết minh, có vị mặn, tính hàn, tác động vào kinh mạch thuộc thận và can, giúp hạ hỏa, trị nhức đầu, chóng mặt, đỏ mắt..
  3. Dùng nhiều thuốc trị ho có làm trẻ biếng ăn? Cháu ngoại tôi 26 tháng tuổi. Trước đây cháu khỏe mạnh, lên cân đều, ăn uống tốt. Cách đây 3 tháng cháu bị ho, mẹ cháu cho cháu đi khám thầy thuốc tư và mua về một số thuốc. Tôi hỏi dược sĩ thì biết đó là viên celesten (màu xanh) và viên cédestarnin (màu hồng). Tôi theo dõi thấy cháu uống thuốc đó thì nhanh hết ho, nhưng lại rất hay ho trở lại, tháng nào cũng phải dùng thuốc. Tôi rất lo lắng vì cháu ngày càng xanh xao và biếng ăn. Rất mong quý báo cho biết 2 loại thuốc đó là thuốc gì, tác dụng như thế nào? (Hoài Sơn - Ba La, Hà Đông, Hà Tây) - Theo quy luật chung của sự phát triển, trẻ trên 6 tháng hết miễn dịch mà mẹ truyền cho nên chúng phải chủ động tự tạo sức đề kháng cho mình bằng cách
  4. sản sinh ra kháng thể khi bị nhiễm bệnh từ môi trường bên ngoài. Mũi họng tiếp xúc đầu tiên với vi khuẩn nên trẻ rất hay bị viêm mũi họng. Ho là một phản xạ bảo vệ cơ thể khi có dị vật hoặc những kích thích tác động vào đường hô hấp để tống đờm rãi hoặc dị vật ra khỏi đường thở, tránh viêm phế quản, phổi. Ho còn là triệu chứng của viêm mũi họng, có thể là viêm mũi họng xuất tiết, viêm V.A mạn tính chảy mủ xuống họng miệng hoặc viêm mũi họng dị ứng... Viêm mũi họng là một bệnh lây theo đường hô hấp khi nước bọt, nước mũi của bệnh nhân bắn vào không khí, dễ gây thành dịch. Bệnh thường gặp trong mùa đông xuân khi trời lạnh nhiều và độ ẩm cao. Theo thống kê của Chương trình nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính tại Việt Nam, viêm mũi họng chiếm khoảng 70-80% trẻ em. Các bệnh mũi họng còn ảnh hưởng nhiều đến ruột. Triệu chứng ho xuất hiện khi thay đổi thời tiết, khi ăn phải những thức ăn mà cơ thể trẻ không thích hợp. Tùy theo đặc tính của ho: ho khan hay ho có kèm đờm trắng, đờm xanh, vàng. Ho từng cơn hay ho từng cái một, ho ban ngày hay ho vào ban đêm khi ngủ. Ho có kèm theo các triệu chứng khác như sốt, chảy nước mũi, ngạt tắc mũi, đau mỏi cơ thể. Tiếng nói, tiếng khóc đục. Vì ho chỉ là một triệu chứng của rất nhiều bệnh nên cháu phải được khám và điều trị đúng nguyên nhân mới khỏi được triệt để, tránh được những tai biến khi dùng thuốc không đúng, bệnh sẽ vừa không khỏi bệnh mà để lại những hậu quả không tốt cho cơ thể trẻ. Ho chỉ hết khi nguyên nhân gây ra ho bị loại trừ và vì ho là một phản xạ để bảo vệ cơ thể nên chỉ dùng những thuốc giảm ho khi ho thành từng cơn kéo dài, ho làm ảnh hưởng tới việc ăn uống của trẻ do ho nhiều gây nôn trớ... Celesten với thành phần chính là betamethason hàm lượng 0,5mg là một steroid tổng hợp, có tính kháng viêm mạnh, chống dị ứng, được dùng điều trị
  5. những rối loạn có đáp ứng. Betamethason là một glucocorticoid gây hiệu quả chuyển hóa sâu rộng và khác nhau, đồng thời làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể đối với những tác nhân kích thích. Celesten được dùng trong những bệnh nội tiết, cơ-xương, rối loạn chất tạo keo, da, dị ứng, mắt, hô hấp, máu, ung thư và những bệnh khác có đáp ứng với corticoid. Celesten được dùng trong rối loạn nội tiết như: thiểu năng vỏ thượng thận, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh, viêm tuyến giáp không mưng mủ và tăng calci huyết có liên quan đến ung thư. Rối loạn về xương - cơ: với vai trò như một điều trị bổ sung trong thời gian ngắn giúp cho bệnh nhân khắc phục qua giai đoạn cấp tính và lan tràn, trong chứng thấp khớp do vẩy nến, viêm khớp dạng thấp, viêm dính khớp sống, viêm bao hoạt dịch cấp và bán cấp... Điều chỉnh liều thuốc tùy theo mức độ đáp ứng tăng giảm của bệnh, đáp ứng của từng cơ địa, trong những trường hợp nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Celesten có thể che khuất một vài biểu hiện của nhiễm trùng. Khi sử dụng thuốc này khả năng đề kháng của cơ thể giảm và không có khả năng khu trú nhiễm trùng. Sử dụng corticoid kéo dài có thể gây đục thủy tinh thể, đặc biệt là ở trẻ em, bệnh tăng nhãn áp gây nguy hại đến thần kinh mắt và có thể làm tăng các nhiễm trùng nấm hoặc virut thứ phát ở mắt. Ở liều trung bình hoặc liều cao, celesten có nguy cơ gây tăng huyết áp và tăng giữ muối nước, tăng bài tiết kali, calci. Thuốc chỉ dùng cho trẻ trên 24 tháng tuổi. Do bị giảm miễn dịch nên những bệnh nhân điều trị bằng celesten cần tránh tiếp xúc với các nguồn lây bệnh, đặc biệt là thủy đậu và sởi, nhất là trẻ em. Các rối loạn tâm thần có thể xảy ra trong quá trình điều trị celesten, đồng thời có thể làm nặng thêm các rối loạn tâm lý và khuynh hướng bị bệnh tâm thần. Nên thận trọng dùng celesten trong những trường hợp viêm loét dạ dày, đại tràng không đặc hiệu, có nguy cơ bị thủng. Sử dụng celesten có khả năng gây rối
  6. loạn mức độ tăng trưởng và ức chế sản xuất corticoid nội sinh ở trẻ em. Corticoid có thể làm thay đổi tính di động và số lượng tinh trùng ở một vài bệnh nhân. Do biến chứng của celesten phụ thuộc vào liều lượng và thời gian điều trị cho nên việc quyết định điều trị có thể có lợi hay có hại khác nhau ở từng bệnh nhân. Viên cédestarnin (màu hồng) mà bạn mô tả chúng tôi không rõ là thuốc gì nên nếu cần bạn đưa đến bệnh viện hoặc nhà thuốc gần nhất để tham khảo và trao đổi thêm về thành phần của thuốc, tác dụng và những biến chứng của thuốc cần được biết rõ trước khi cho cháu bé sử dụng.
  7. Rau khúc chữa bệnh Rau khúc có tác dụng tiêu đờm, trị ho, hen suyễn, cảm sốt, thấp khớp, chữa bệnh tăng huyết áp, đắp ngoài trị rắn cắn. Dưới đây là bốn bài thuốc trị bệnh từ loại rau này. Rau khúc hay rau khúc vàng, thân thảo cao từ 40-50cm, màu trắng, có lông như bông, lá nguyên mọc so le thuôn hình dải, tù, có mũi cứng ở đỉnh, thon hẹp dần lại ở gốc dài từ 4-7cm, rộng 5-10mm có lông mềm, hoa màu vàng ánh, rau khúc mọc nhiều ở các bãi đất trống, ruộng khô, nhiều nhất ở các tỉnh phía bắc. Người dân thường lấy lá để làm bánh khúc và cũng dùng rau khúc để làm thuốc chữa bệnh, Rau thường được thu vào mùa xuân, mùa hè rửa sạch dùng tươi hay phơi khô để dùng dần. Rau khúc có vị ngọt, tính bình, có tác dụng tiêu đờm, trị ho, hen suyễn, trị cảm sốt, thấp khớp, chữa bệnh tăng huyết áp, đắp ngoài trị rắn cắn. Trị rắn cắn: Lấy một nắm lá khúc tươi, rửa sạch giã nát đắp vào chỗ rắn cắn. Trị ho: Rau khúc 30g, gừng tươi 3 lát sắc uống 3 lần trong ngày, mỗi lần uống từ 40-50ml, uống trước khi ăn, uống 5 ngày liền. Trị hen suyễn: Rau khúc 30g, củ mài 20g, hành khô 10g, gừng tươi 3 lát sắc uống, ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 40-50ml, uống sau bữa ăn 20-30 phút, sắc uống từ 5-7 ngày.
  8. Trị viêm họng: Rau khúc 30g, lá rẻ quạt 5g, gừng tươi 3 lát, sắc uống 3 lần trong ngày, mỗi lần uống 40-50ml, sắc uống từ 5-7 ngày.
Đồng bộ tài khoản