BÊ TÔNG ĐẦM LĂN - PHẦN 1

Chia sẻ: hoangquocvinh

Định nghĩa: ACI 116 định nghĩa Bê tông đầm lăm là ” bê tông được đầm bằng xe lu; ở trạng thái chưa đông kết, chịu được tải trọng lu khi được đầm nén”. Bê tông đầm lăn thường được trộn bằng thiết bị trộn liên tục, vận chuyển bằng xe ben hoặc băng tải, và được trải bằng xe ủi theo từng lớp (đợt) trước khi đầm nén.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: BÊ TÔNG ĐẦM LĂN - PHẦN 1

RCC - ROLLER COMPACTED CONCRETE (PART 1)

Definition

ACI 116 defines RCC as “concrete compacted by pneumatic roller; in its unhardened
stage, will support a (vibratory) roller while being compacted. RCC is usually mixed
using high-capacity continuous mixing or batching equipment, delivered with trucks
or conveyors, and spread with one or more bulldozers in layers (also called lifts) prior
to compaction.

RCC is used mainly for: Dam / Mass concrete (described in ACI 207.5R, ICOLD,
USACE) and Pavements (described in ACI 325.10R)

BÊ TÔNG ĐẦM LĂN - PHẦN1

Định nghĩa: ACI 116 định nghĩa Bê tông đầm lăm là ” bê tông được đầm bằng xe
lu; ở trạng thái chưa đông kết, chịu được tải trọng lu khi được đầm nén”. Bê tông
đầm lăn thường được trộn bằng thiết bị trộn liên tục, vận chuyển bằng xe ben
hoặc băng tải, và được trải bằng xe ủi theo từng lớp (đợt) trước khi đầm nén.

Bê tông đầm lăn được dùng chủ yếu trong: Đập/Bê tông khối lớn (mô tả trong
ACI 207.5R, ICOLD, USACE) và đường (mô tả trong ACI 325.10R)

(Còn tiếp)

GLOSSARY:

ACI (American Concrete Institute) : Bộ tiêu chuẩn của Viện bê tông Hoa Kỳ .

Pneumatic: thuộc về khí

Roller: Xe lu

Bulldozer: Xe ủi

Conveyor: Băng tải

Batching equipment: Thiết bị trộn bê tông.

Pavement (US english): Đường (bê tông)

LANGUAGE FOCUS:

Passive Voice ( be + Past Participle of Verb) is usually used in technical documents:
Dạng bị động thường được dử dụng trong các văn bản kỹ thuật.

While + V-ing: Trong khi

Prior to + Noun: Trước
Những đập bê tông đầm lăn (RCC­roller compacted concrete) lớn 
ở một số nước và vùng lãnh thổ Đông Nam Á. 
Thống kê đến cuối năm 2005 tại một số nước và vùng lãnh thổ Đông Nam Á (Việt 
Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Myanma, vùng phía đông Malayxia, vùng đông 
nam Trung Quốc) ... 

Những đập bê tông đầm lăn (RCC-roller compacted concrete) lớn
ở một số nước và vùng lãnh thổ Đông Nam Á.
Thống kê đến cuối năm 2005 tại một số nước và vùng lãnh thổ Đông Nam Á (Việt
Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Myanma, vùng phía đông Malayxia, vùng đông nam
Trung Quốc) cho kết quả :
Đập Nước Chiều cao (m) Thể tích RCC (triệu m3) Năm
hoàn thành

Đập RCC cao hơn 90m
Guangzhao TQ 196 0,82 2007
Longtan (giai đoạn 1) TQ 192 4,6 2007
Guanyinyan TQ 160 2010
Jin’anqiao TQ 2009
Sơn La V 139 3,1 2009
Bản Vẽ V 135 1,43 2008
Yeywa M 132 2,55 2009
Shapai * TQ 132 0,365 2001
Jiangya TQ 131 1,1 1999
Baise TQ 130 1,995 2006
Hongkou TQ 130 0,681 2008
Wudu TQ 123 1,151 2007
Suofengying TQ 122 0,421 2005
Gelantan TQ 120 2008
Pengshui TQ 117 2008
Mainhuatan TQ 113 1,1 2001
Dachaoshan TQ 111 0,757 2001
Jing Hong TQ 110 0,626 2006
Yantan TQ 110 0,188 2001
Shimenzi * TQ 109 0,188 2001
Zhaolaihe * TQ 107 0,166 2005
Bailianya * TQ 104 0,485 2007
Đồng Nai 3 V 102 1,15 2008
Linhekou * TQ 100 0,229 2003
Hội Quảng V 99 0,4 2007
Daxia TQ 94 2009
Khun Dan TL 93 5,4 2005


Đập RCC cao hơn 150m (dự kiến trong tương lai
gần)
Ta Sang M 235 8,6
Longtan (giai đoạn 2) TQ 217 (nâng cao đập từ 192m lên 217m)
Jiudianxia TQ 180 0,93
Nam Theun L 177 2,3 2010
Kamchay C 150 2,7

Chú thích :
● “ * ” là đập vòm RCC.
● V: Việt Nam; L: Lào; C: Cămpuchia; TL: Thái Lan; M: Myanma; TQ: Trung
Quốc.

( Theo “Hydropower & Dams”)
Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn

ThS. Nguyễn Như .Oanh
NCS. Đại học Vũ Hán - Trung Quốc

Tóm tắt : Cho đến nay vẫn chưa có quy định thống nhất đối với các phương pháp
thiết kế cấp phối BTĐL. Hiện nay đã có mấy phương pháp tính toán cấp phối
BTĐL và mỗi phương pháp có sự khác nhau đôi chút, vì mỗi phương pháp có cách
thành lập khác nhau. Nhưng hầu hết các phương pháp đều phải dùng một số giả
định và kinh nghiệm, mỗi phương pháp đã phân tích được lý luận để thiết kế cấp
phối bê tông đầm lăn, hiện nay đang từng bước nghiên cứu, và đã đạt được nhiều
kết quả tốt. Dưới đây giới thiệu sơ lược các bước thiết kế cấp phối BTĐL, sau đó
đối với một số phương pháp thiết kế cấp phối cho mỗi công trình có tính đại biểu
sẽ giới thiệu thêm.

Abstract: Up to now, It have not consensus regulation on design and propertioning of
Roller compacted concrete (RCC) mix methods. Now a day, there are several
calculate methods that each have some diffrents, because of different foundation
methods. But almost methods have to base on some assumptions and experiences,
each method have given argument anlysis for design and proportioning roller
compacted conceret mix, Now, it have been reaseaching and obtained very much
results. This peper preliminary introduce step by step for design and proportioning
roller compacted concrete mix. It have introduced more datail for each example
works.

I. Các bước thông thường thiết kế cấp phối BTĐL :

1. Thu thập tài liệu cần thiết để thiết kế cấp phối:

Trước khi tiến hành thiết kế cấp phối BTĐL phải thu thập các tài liệu kỹ thuật,
toàn bộ vấn đề có liên quan đến thiết kế cấp phối; bao gồm:

(1) Vị trí bộ phận công trình sử dụng bê tông đầm lăn; (2) Yêu cầu kỹ thuật được
đưa ra của bê tông đối với thiết kế công trình như cường độ, biến hình, tính chống
thấm, tính bền, nhiệt thuỷ hoá, thời gian ngưng kết của hỗn hợp bê tông, độ CV,
dung trọng bê tông, vv.. (3) Trình độ kỹ thuật thi công. (4) Phẩm chất, đơn giá của
nguyên vật liệu sử dụng cho công trình.v.v..

2. Thiết kế cấp phối sơ bộ.

a) Xác định sơ lược các tham số cấp phối yêu cầu:

Xác định đường kính lớn nhất của cốt liệu thô và tỷ lệ của các cấp hạt trong cốt
liệu thô, đối với bê tông dùng xây dựng công trình thuỷ công thường là bê tông khối
lớn, đường kính lớn nhất của cốt liệu lớn thường chọn là 80mm. Tỷ lệ mỗi cấp cỡ
hạt là bao nhiêu, có thể dựa vào trạng thái của cốt liệu thô hoặc dung trọng tự
nhiên, khi dung trọng càng lớn (độ rỗng càng nhỏ), sự phân tăng của cốt liệu thô
càng giảm, nguyên tắc xác định là phải thông qua thí nghiệm. ở Trung Quốc có
nhiều tham số cho bê tông đầm lăn cần phải xác định. Tỷ lệ 3 cấp cỡ hạt của cốt
liệu thô thường chọn là 4:3:3 hoặc là 3:4:3. Tuỳ theo công trình vào loại lớn, trung
bình hay nhỏ. Sau khi xác định DMax của cốt liệu thô và các cấp cỡ hạt thì có thể
xác định được các tham số cấp phối. Trong BTĐL có xi măng, vật liệu hỗn hợp
hoạt tính (Gồm tro bay hoặc Puzơlan), nước, cát, đá được ký hiệu lần lượt là: C,
F , W , S , G để biểu thị thông thường mối quan hệ giữa Nước và lượng Vật liệu
kết dính biểu thị là tỷ lệ: W/(C+F).

Quan hệ giữa Vật liệu hỗn hợp hoạt tính ( Tro bay hoặc puzơlan) và lượng Vật
liệu kết dính dùng tỷ lệ: F/(C+F) hoặc F/C để biểu thị.

Quan hệ giữa Cát và lượng Cát và Đá ( gọi là mức ngậm cát) dùng tỷ lệ: S/(S+G).

Quan hệ giữa lượng vữa và cát và lượng dùng cát được biểu thị bởi: (C+F+W)/S

(cũng có thể dùng hệ số dư lượng vữa a để biểu thị lượng vữa đủ để lấp đầy lỗ
rỗng các hạt cát). Đó là 4 tham số cấp phối của bê tông đầm lăn, việc lựa chọn các
tham số cấp phối cần phải thông qua các phương pháp dưới đây để tiến hành:

1. Phương pháp lựa chọn phân tích thí nghiệm đơn nhân tố.

Do mỗi tham số cấp phối bê tông đầm lăn có ảnh hưởng đến các tính năng của
BTĐL ở mức độ khác nhau, do đó có thể chọn tính năng nào có ảnh hưởng rõ rệt
nhất, thì tiến hành thí nghiệm đơn nhân tố để xác định, tham số cần xác định là tỷ
lệ W/(C+F) lượng vật liệu hỗn hợp hoạt tính thường thông qua nghiên cứu xem xét
sự ảnh hưởng của nó đến cường độ nén và tính bền của bê tông để quyết định lựa
chọn.

Tỷ lệ vữa cát phải thông qua thí nghiệm xem sự ảnh hưởng của nó đến dung trọng
vữa cát để xác định và hàm lượng cát phải dựa vào thí nghiệm dung trọng bê tông
để xác định giá trị tốt nhất đồng thời có xem xét tới tình trạng phân tầng của cốt
liệu thô của hỗn hợp bê tông.

2. Phương pháp lựa chọn thiết kế thí nghiệm trực giao.

Có thể xem 4 tham số tỷ lệ phối hợp là những nhân tố thiết kế thí nghiệm trực
giao, mỗi nhân tố lấy 3 đến 4 mức độ khác nhau, lựa chọn trình tự thí nghiệm trực
giao thích đáng. Dùng phương pháp phân tích trực quan hoặc phương pháp phân tích
phương sai của mỗi nhân tố và mối quan hệ giữa chúng với các tính năng của bê
tông, từ đó lựa chọn ra các tham số cấp phối.. Phải thấy rằng Phương pháp lựa
chọn thiết kế thí nghiệm trực giao đối với thí nghiệm vật liệu ở trong phòng trong
tình trạng chủ động là rất phù hợp, nhưng trước khi chính thức thi công, cần phải
thông qua thí nghiệm hiện trường để kiểm nghiệm độ chính xác của các tham số
đã lựa chọn.

3. Phương pháp lựa chọn so sánh loại công trình.

Đối với các công trình vừa và nhỏ thường không có khả năng thông qua thí nghiệm
để xác định các tham số cấp phối bê tông, phải tham khảo các công trình tương tự
để sơ bộ chọn các tham số cấp phối, sau đó tiến hành thiết kế sơ bộ cấp phối.

2. Tính toán lượng dùng vật liệu trong 1m3 bê tông đầm lăn:

Để tính toán cấp phối BTĐL cũng cần phải dựa vào môt số giả thiết :

1. Giả thiết thể tích tuyệt đối:

Phương pháp này giả sử rằng thể tích của hỗn hợp bê tông đầm lăn bằng tổng thể
tích tuyệt đối của các loại vật liệu tạo thành bê tông cộng với hàm lượng không
khí trộn vào bê tông, ta có công thức:

C/ + F/ + W/ + S/ + C/ +10a = 1000 (2- 1)

Trong đó C, F, W, S, G là lượng dùng xi măng, vật liệu hỗn hợp hoạt tính, nước,
cát và đá trong 1m3 bê tông đầm lăn (kg)

, , - Khối lượng riêng của xi măng vật liệu hỗn hợp và nước (kg/dm3)

, - Dung trọng xốp của cát và sỏi (kg/dm3)

a: Hệ số biểu thị hàm lượng khí trong hỗn hợp BTĐL, nếu không trộn phụ gia dẫn
khí - Thường lấy a = 1 � 3.

2 Giả thiết về dung trọng bê tông:

Giả định dung trọng của hồn hợp BTĐL sau khi trộn là một số xác định được; do
vậy ta có thể viết được công thức:

C + F + S + W + G = gcon (2 - 2)

Trong đó: các ký hiệu có ý nghĩa giống như trên.

3. Giả thiết về lấp đầy và bao bọc:

Giả thiết này là: (1) vữa vật liệu kết dính bao bọc các hạt cát và lấp đầy lỗ rỗng
giữa các hạt cát tạo thành vữa cát,

(2) Vữa cát bao bọc cát hạt cốt liệu thô và lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu
thô, hình thành lên bê tông đồng nhất. Lấy a và b làm chỉ tiêu để so sánh.

Với : hệ số a biểu thị tỷ số giữa thể tích vữa vật liệu kết và thể tích lỗ rỗng của
cát.

Hệ số b biểu thị tỷ số giữa thể tích vữa cát so với thể tích lõ rỗng giữa các hạt cốt
liệu thô. Do cần có thêm 1 lượng vữa dư nhất định, nên a, b đều phải lớn hơn 1;
Trong thực tế giá trị a của BTĐL thông thường lấy từ 1,1 đến 1,3; và hệ số b
thường từ 1,2 đến 1,5

Từ đó ta có hệ phương trình sau:
(2.3)

(2.4)

Từ đó tính được: (2.5)

và (2.6)

Nếu gọi các tham số cấp phối bê tông là:

W/(C+F) = K1 và F/(C+F)=K2

Thì : (2.7)

Và (2.8)

W = K1(C + F) (2.9)

Trong các công thức trên: PS và PG là độ rỗng của cát và đá ở trạng thái đầm chặt

Va: Hệ số biểu thị thể tích lỗ rỗng của bê tông.

g'S g'G : Dung trọng xốp ở trạng thái đầm chặt của cát và đá.

Các ký hiệu khác vẫn có ý nghĩa như trên. Dựa vào tham số cấp phối bê tông và các
công thức trên có thể tính toán ra được lượng dùng mỗi loại vật liệu cho mỗi 1 m3
bê tông đầm lăn.

3- Trộn thử - Điều chỉnh.

Để tính toán ra lượng dùng mỗi loại vật liệu kể trên là phải dựa vào một số giả
thiết và công thức kinh nghiệm, hệ số kinh nghiệm, hoặc là lợi dụng những tài liệu
kinh nghiệm đã có. Các thông số của nó là phải thông qua thí nghiệm trong phòng
để xác định, do điều kiện thí nghiệm và tình hình thực tế có sự khác nhau, cũng có
thể không phù hợp hoàn toàn với thực tế nên bắt buộc phải thông qua các mẫu trộn
thử để điều chỉnh độ công tác của hỗn hợp bê tông và dung trọng thực tế của hỗn
hợp bê tông.

Dùng cấp phối đã xác định sơ bộ được để tiến hành trộn thử bê tông , xác định giá
trị Vc của hỗn hợp bê tông, nếu như độ Vc lớn hơn yêu cần thiết kế, thì phải giữ
nguyên lượng cát và tăng thêm cốt liệu thô và điều chỉnh lượng nước sao cho tỷ lệ
W/(C+F+S) không thay đổi, Ngược lại thì giảm lượng cát dùng và lượng nước
tương ứng.

4. Xác định cấp phối trong phòng.

Khi tỷ lệ W/(C+F) của bê tông không thoả mãn yêu cầu đối với các chỉ tiêu yêu cầu
của BTĐL, như các chỉ tiêu cường độ và tính bền của bê tông - thông thường có
thể sử dụng 3 cấp phối khác nhau, mỗi một cấp phối qua trộn thử, điều chỉnh để
đạt được cấp phối mới, thường tỷ lệ W/(C+F) trong hai loại cấp phối phải điều
chỉnh tăng hoặc giảm 5% lượng XM để trộn thử. Lượng dùng nước của 3 loại cấp
phối không giống nhau, lượng cát có thể dựa vào độ Vc để thay đổi, điều chỉnh
tăng thêm cho thoả đáng. Mỗi một cấp phối phải căn cứ vào cường độ và tính bền
của các mẫu thí nghiệm, bảo dưỡng cho đến khi tuổi bê tông theo quy định và tiến
hành thí nghiệm. Sau đó dựa vào kết quả thí nghiệm để xác định được cấp phối
trong phòng.

Để xác định dung trọng thực tế của hỗn hợp bê tông phải tính toán được lượng vật
liệu dùng thực tế của cấp phối bê tông đã điều chỉnh được ở trong phòng .

(qua trộn thử, điều chỉnh để đưa ra được cấp phối ở trong phòng..)

5. Tính toán lại cấp phối hiện trường thi công.

Sau khi thí nghiệm trong phòng đưa ra được cấp phối bê tông trong phòng, thông
thường coi vật liệu cát, đá có trạng thái bề mặt khô bão hoà, Nhưng ttại hiện
trường thường hàm lượng nước thực tế trong cát, đá so với thí nghiệm trong phòng
là khác nhau, vì vậy mà lượng vật liệu thực tế ở hiện trường phải căn cứ vào tình
hình nước có trong cát, đá để tiến hành điều chỉnh.

Giả sử tỷ lệ lượng nước có trong cát ở hiện trường thi công là a%, của đá là b%.
Thì cấp phối trong phòng sẽ được tính đổi thành cấp phối hiện trường là :

C’ = C; F’ = F ; S’ = S (1+ a%)

G’ = G (1 +b%); W’ = W - S x a% - G x b%

Trong công thức trên: C, F, W, S, G là lượng vật liệu của cấp phối tính được trong
phòng.

C’, F, W’, S’, G’: lượng dùng mỗi loại vật liệu ở hiện trường thi công thực tế. Khi
hàm lượng hạt quá kém của cát đá ở công trình vượt quá phạm vi quy phạm quy
định, cũng phải tiến hành tính đổi cấp phối bê tông trong phòng.

6. Thí nghiệm đầm nén hiện trường và điều chỉnh cấp phối.

Khi một công trình đang thi công BTĐL đều bắt buộc phải tiến hành thí nghiệm
đầm lèn hiện trường, ngoài việc để xác định các tham số thi công, kiểm nghiệm hệ
thống vận hành sản xuất, thi công và tình trạng máy móc đồng bộ, các biện pháp
quản lý thi công, ngoài ra còn thông qua thí nghiệm đầm lèn hiện trường để có thể
kiểm nghiệm lại cấp phối của bê tông đã thiết kế ra xem có thích ứng với thiết bị
thi công không (Bao gồm cả tính đầm lèn, tính dễ đầm chặt v.v.) và tính năng
chống phân tầng của hỗn hợp bê tông. Khi cần thiết có thể phải dựa vào tình hình
đầm lên thực tế để điều chỉnh lại cấp phối bê tông cho hợp lý.


: Dung trọng xốp ở trạng thái đầm chặt của cát và đá.
Kết luận :

Bê tông đầm lăn (BTĐL) là một loại bê tông có công nghệ sản xuất và thi công mới
và tiến bộ, hiện đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Ngay nước láng
giềng của Việt nam là Trung Quốc có điều kiện khí hậu gần tương tự Việt nam
cũng đã ứng dụng BTĐL vào việc xây dựng các công trình, đặc biệt là ứng dụng
vào việc xây dựng các đập Thuỷ công từ nhiều năm nay.

Hiện nay BTĐL đang có xu hưóng được nghiên cứu và ứng dụng ở nước ta, đặc
biệt là trong công tác xây dựng đập bê tông trọng lực khối lớn. Vì vậy BTĐL cần
được nghiên cứu đầy đủ từ vật liệu chế tạo, công nghệ thiết kế và thi công, trong
đó có khâu thiết kế cấp phối BTĐL sao cho đạt được yêu cầu đặt ra với công trình,
vừa đảm bảo kỹ thuật và kinh tế trong đIều kiện thời tiết , khí hậu và tình hình vật
liệu của Việt nam là vấn đề rất cần thiết và cấp bách được đặt ra cho các nhà
khoa học, kỹ thuật nước ta để nhanh chóng làm chủ công nghệ thiết kế và thi công
BTĐL ở Việt Nam.



Paving with roller compacted concrete:
RCC topped with asphalt quickly
provides a durable street
Concrete Construction, Feb, 2005 by William D.
Palmer, Jr.
• E-mail
• Print
• Link

"This is the finest product for city streets to come along in years," said Marty Savko
of Nickolas Savko & Sons, Columbus, Ohio. "I first read about roller compacted
concrete (RCC) pavement in 1995 and it sounded interesting so I did some research
then sent our engineers to some jobs to learn more. The more we learned, the better it
sounded, so I convinced the city to try it. Since 2001, over 100 street projects have
been constructed with RCC pavements in central Ohio. Now we are producing
100,000 cubic yards of RCC a year."

Most Popular Articles in Business
Research and Markets : Tesco Plc - SWOT Framework Analysis
Do Us a Flavor - Ben & Jerry's Issues a Call for Euphoric New Flavors
eBay made easy: ready to start an eBay business? These 5 simple steps will ...
Katrina's lawsuit surge: a legal battle to force insurers to pay for flood ...
Wal-Mart's newest distribution center opened last month near the southwest ...
More »
Savko's first RCC street project was in Gahanna, Ohio. "Here in Gahanna, we like
RCC for residential street rebuilds," said city engineer Karl Weatherholt. "We're able
to get residents back on the street much faster than with an ordinary concrete base."

What is RCC?

RCC was first developed as a paving material in 1976. Some Canadian builders had
the idea of doubling the amount of cement in a soil cement mix to stabilize the surface
at a log sorting yard. They got much more than they had expected--it was strong and
durable, and it went down quickly and easily. A 1998 Portland Cement Association
(PCA) study of this log sorting yard in British Columbia found quite a bit of
cracking--not surprising since this was very early in the development of the
construction method. Nonetheless, the yard continues in full service today and "the
operators report that they are very satisfied with the performance of the RCC
pavement."

RCC is a very dry (zero-slump) concrete mix with 3/4 inch maximum size aggregate
and overall well-graded aggregate so that it remains stable under the action of a
vibratory roller. The RCC is placed using dump trucks and a modified asphalt paver,
then rolled to get the needed compaction. The resulting surface looks a little rough,
but it gains strength rapidly and the very low water-cement ratio soon far surpasses
conventional concrete with an equivalent amount of cement. Since it is not as smooth
as finished concrete, RCC is typically used as the surface course primarily for
industrial areas, parking lots, or low-speed applications (less than 35 mph). For
example, the Georgia DOT is currently constructing RCC shoulders on 15 miles of I-
285 in Atlanta.

In central Ohio, composite roadways (concrete base with asphalt overlay) have been
the standard for city streets for many years. The higher strength concrete base course
is more durable and prevents the rutting that might occur with a full-depth asphalt
base course. A study of city streets in Columbus by Michael Darter of ERES, a
Champaign, Ilk-based engineering firm, concluded that the concrete base provided a
load-carrying capacity about four times greater than full-depth asphalt.

Savko's brainstorm was to replace the conventional concrete with RCC. In this
application in central Ohio, RCC is normally placed in a single 6-inchthick layer with
a 1 1/2-inch-thick asphalt topping. Occasionally, designers specify it at up to 9 inches
thick, although Savko believes that this is over-designed because the RCC is so much
stronger than engineers believe it will be. It can easily achieve 7000-psi compressive
strength and 700-psi flexural strength. David Luhr, a PCA engineer and program
manager for RCC said, "The higher strength of the RCC allows for the design of a
thinner pavement section and will provide longer pavement life."

City streets

Using RCC as the base course for city streets with a thin asphalt overlay is quickly
gaining popularity in Ohio and elsewhere. For one thing, since RCC is basically a
wet, compacted gravel, light traffic can go onto the new pavement almost
immediately--within 10 feet behind the paver in extreme cases. This allows streets to
be reopened much more quickly than with conventional concrete--usually about 2
hours after the RCC goes down. Residents can get back home the same evening after
paving. Emergency vehicles can get return almost immediately if necessary. Truck
traffic, however, should be kept off the pavement for a few days to allow the RCC to
gain strength.

As a base course, RCC is much stronger than asphalt, and cheaper and faster going
down than conventional concrete. "In one of the Columbus projects," said Luhr, "the
city required the contractor to obtain 400psi flexural strength before they could switch
traffic back over to the completed RCC. The contractor was able to obtain that in
about 24 hours. If the design calls for an asphalt or concrete surface over the RCC, the
surfacing operation can begin within a few hours after placing the RCC."

Construction tactics

Because of the very low water content, RCC mixing is not as productive using a
central mix plant--so a pug mill is often used, a very high-energy mixing device.
Savko bought his own pug mill. Coming out of the mixer, the material looks very
much like wet gravel, and it is then transported to the construction site in dump
trucks. "The important thing is to control the moisture content," said Savko. "We keep
it at 8%. Even 1% over that is too much--the roller starts leaving marks."


Paving with roller compacted concrete:
RCC topped with asphalt quickly
provides a durable street
Concrete Construction, Feb, 2005 by William D.
Palmer, Jr.
• E-mail
• Print
• Link

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản